1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng google earth trong thiết kế bài giảng địa lí 10 theo định hướng phát triển năng lực

88 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CHU THỊ KIỀU TRINH SỬ DỤNG GOOGLE EARTH TRONG THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ngành: Lý luận và Phương ph

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

CHU THỊ KIỀU TRINH

SỬ DỤNG GOOGLE EARTH TRONG THIẾT KẾ

BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

CHU THỊ KIỀU TRINH

SỬ DỤNG GOOGLE EARTH TRONG THIẾT KẾ

BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Địa lí

Mã ngành: 8140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ VŨ SƠN

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học trong đề tài là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong công trình này là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất

cứ công trình nào đã được công bố trước đó Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Tác giả

Chu Thị Kiều Trinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa sau đại học, khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo những điều kiện tốt nhất giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Vũ Sơn đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh ở các trường thực nghiệm sư phạm đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Thái nguyên,tháng 4 năm 2018

Tác giả

Chu Thị Kiều Trinh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử phát triển Google Earth và việc ứng dụng Google Earth trong dạy học 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6

7 Những điểm mới và đóng góp của đề tài 10

8 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG GOOGLE EARTH TRONG THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Một số khái niệm trong dạy học 11

1.1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 13

1.1.3 Địa cầu ảo Google Earth 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Chương trình địa lí lớp 10 Trung học phổ thông 29

1.2.2 Tâm sinh lí của học sinh lớp 10 và vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực 33

1.2.3 Thực trạng về dạy và học địa lí ở một số trường Trung học Phổ thông tỉnh Thái Nguyên 34

Trang 6

Chương 2 THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ 10 THPT THEO ĐỊNH

HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 40

2.1 Yêu cầu trong thiết kế bài giảng theo định hướng phát triển năng lực 40

2.1.1 Yêu cầu chung 40

2.1.2 Yêu cầu cụ thể 41

2.2 Tiêu chí, quy trình xây dựng một tiết học có ứng dụng Google Earth 41

2.2.1 Tiêu chí 41

2.2.2 Quy trình 42

2.3 Thiết kế một số bài giảng môn địa lí lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực 44

2.3.1 Phân tích khả năng ứng dụng Google Earth trong dạy học địa lí 10 44

2.3.2 Thiết kế một số giáo án môn Địa lí lớp 10 45

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 57

3.1 Mục đích thực nghiệm 57

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 57

3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 57

3.4 Cách thức tiến hành thực nghiệm 58

3.5 Tổ chức thực nghiệm 58

3.5.1 Chọn trường thực nghiệm 58

3.5.2 Chuẩn bị thực nghiệm 58

3.5.3 Nội dung thực nghiệm 59

3.5.4 Kịch bản dạy học thực nghiệm 60

3.5.5 Kiểm tra, đánh giá 60

3.6 Kết quả thực nghiệm 60

3.6.1 Tổng hợp điểm kiểm tra 60

3.6.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 62

3.7 Khảo sát ý kiến chuyên gia, giáo viên, học sinh 65

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 70 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNTT Công nghệ thông tin

CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

GIS Geographic Information System

HTTCDH Hình thức tổ chức dạy học

PC Personal Computer - Máy tính cá nhân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh các công cụ trực quan trong dạy học Địa lí 28

Bảng 1.2 Cấu trúc chương trình địa lí 10 ban cơ bản 30

Bảng 1.3 Thống kê kết quả khảo sát từ giáo viên 35

Bảng 1.4 Thống kê kết quả khảo sát từ học sinh lớp 10 37

Bảng 1.5 Thống kê cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các trường THPT 38

Bảng 2.1 Quy trình xây dựng tiết học 42

Bảng 2.2 Một số bài học sử dụng hiệu quả Google Earth 44

Bảng 3.1 Trường, lớp và số học sinh tham gia thực nghiệm 59

Bảng 3.2 Tổng hợp điểm bài 5 60

Bảng 3.3 Tổng hợp điểm bài 38 thực hành 61

Bảng 3.4 So sánh kết quả lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 62

Bảng 3.5 Kết quả phân loại điểm của hai lớp 63

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Định hướng chức năng và cấu trúc của năng lực 14

Hình 1.2 Giao diện Google Earth 23

Hình 1.3 Hình ảnh huyện Đồng Hỷ (năm 2013) nhìn từ Google Earth 25

Hình 1.4 Hình ảnh huyện Đồng Hỷ (năm 2015) nhìn từ Google Earth 25

Hình 1.5 Ngày và đêm trên Trái Đất nhìn từ Google Earth 26

Hình 1.6 Xác định khoảng cách bằng Google Earth 26

Hình 1.7 Vũ Trụ nhìn từ Google Earth 27

Hình 1.8 Mặt Trăng nhìn từ Google Earth 27

Hình 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm bài 5 61

Hình 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm bài 38 62

Hình 3.3 Biểu đồ so sánh tần số xuất hiện điểm kiểm tra 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Quá trình toàn cầu hóa về các lĩnh vực đang diễn ra mạnh mẽ Hội nhập quốc tế cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng thông tin truyền thông, nền kinh tế tri thức,… đã tạo ra cơ hội cho nền giáo dục Việt Nam tiếp cận các xu thế mới, mô hình giáo dục, chương trình giáo dục tiên tiến, hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục

Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông (THPT) là vấn đề thời sự, vừa cấp bách, vừa cơ bản đối với sự nghiệp giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Yêu cầu đổi mới là cần đề cao vai trò của người học, chống lại thói quen học tập thụ động, bồi dưỡng năng lực tự học giúp cho người học có khả năng học tập suốt đời hay nói cách khác là đòi hỏi người thầy phải áp dụng các phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực phù hợp với thực tiễn Đứng trước yêu cầu đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin (CNTT), đặc biệt là Internet đã làm xuất hiện nhiều phương pháp dạy học mới như dạy học từ xa, dạy học tương tác qua máy vi tính, CNTT hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học, việc ứng dụng CNTT trên thực tế cũng đã đem lại kết quả đáng kể và những chuyển biến lớn trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học các bộ môn văn hoá, CNTT với ưu thế đặc biệt chẳng những đã có tác dụng thiết thực nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ lên lớp của giáo viên (GV) mà còn đang được đẩy mạnh làm khâu đột phá để đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS)

Theo xu hướng phát triển của công nghệ, nhiều phương tiện trực quan mới đã ra đời và có khả năng ứng dụng hiệu quả trong các lĩnh vực có liên quan đến yếu tố không gian, trong đó có phần mềm Google Earth Phần mềm Google Earth là sản phẩm công nghệ cao, phổ thông, nguồn mở, kỹ thuật sử dụng đơn giản, được cung cấp miễn phí Sản phẩm đã được ứng dụng rộng rãi tại nhiều

Trang 11

nước tiên tiến trên thế giới Có thể chia sẻ thông tin giữa các nhóm người/người được thuận lợi và nhanh chóng Ứng dụng trong việc khảo sát, xác định chính xác toạ độ, xác định sơ bộ cao độ, đo chiều dài, đo diện tích, tham quan du lịch Tập huấn trong thời gian ngắn là có thể sử dụng thành thạo chương trình

Có thể nói, Google Earth đã mang lại một hình thức tìm kiếm thông tin mới, giúp khám phá và hiểu hơn về Trái Đất mà tiết kiệm được chi phí và thời gian

đi lại, chỉ cần có điện thoại hoặc máy tính kết nối Internet

Địa lí là một môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm, cần liên hệ thực tế và có tính thời sự rất cao Nên cần những hình ảnh thực tế để

HS có cái nhìn cụ thể về vấn đề đang học và lựa chọn Google Earth là một công

cụ hữu hiệu

Với những lý do trên, tác giả đã chọn: “Sử dụng Google Earth trong thiết

kế bài giảng địa lí 10 theo định hướng phát triển năng lực” làm đề tài nghiên

cứu cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Địa lí

2 Lịch sử phát triển Google Earth và việc ứng dụng Google Earth trong dạy học

2.1 Lịch sử phát triển Google Earth

Google Earth là một chương trình một phần mềm mô phỏng quả địa cầu

có tên gọi gốc là Earth Viewer

Nhằm đa dạng hoá loại hình thông tin tìm kiếm, năm 2004 Google đã mua lại phần mềm địa cầu ảo nổi tiếng là Keyhole để kết hợp nó với những tính năng của Google Maps Đến năm 2005, sản phẩm này được đổi tên thành Google Earth và chạy được trên các hệ điều hành Linux, MAC OS và MS Windows Hiện nay có sẵn cho thiết bị Android và iOS

Google Earth vẽ bản đồ Trái Đất là một quả địa cầu ảo 3D, trên đó là những hình ảnh địa lí được lấy từ ảnh vệ tinh, các ảnh chụp trên không và từ hệ thống thông tin địa lí GIS

Trang 12

Google Earth không phải là một hệ thống thông tin địa lí (GIS) với khả năng phân tích sâu rộng của ArcGIS hoặc MapInfo, nhưng là dễ dàng hơn để

sử dụng hơn so với các gói phần mềm khác Tuy nhiên do dữ liệu của Google Earth đến từ nhiều nguồn khác nhau nên chúng có độ phân giải khác nhau, vì vậy dẫn tới một số vùng trên Trái Đất có độ nét cao ngay cả ở mức độ nhà cửa, đường phố, còn một số nơi lại rất mờ dù ở khoảng cách xa Hiện Google Earth đang cố gắng từng bước cải thiện để được độ nét mong muốn

2.2 Quá trình nghiên cứu, ứng dụng Google Earth trong dạy học

2.2.1 Trên thế giới

Theo tài liệu từ trang web thenextweb.com về vấn đề ứng dụng Google

Earth vào dạy học thì trên thế giới khoa học, toán học, địa lí và lịch sử chỉ là một vài trong số các môn học mà Google Earth có thể được sử dụng như một công cụ giảng dạy hiệu quả Google Earth là một công cụ mang lại cho các bài học địa lí một cấp độ hoàn toàn mới bằng cách cung cấp trải nghiệm tương tác sâu sắc cho HS Đó là một ứng dụng cung cấp cho HS kinh nghiệm học tập phong phú hơn và tài liệu tham khảo tốt hơn

Tại EarthAt Dominion University, sinh viên tạo tài liệu giảng dạy bằng Google Earth và Google Sketch-up bằng cách đưa ra một loạt các tệp KML chỉ vào các tấm kiến tạo, thung lũng núi, núi lửa Các sinh viên đã sử dụng Google Earth như một công cụ để trình bày các đại diện của động đất và dự báo các cơn dư chấn Dự án khoa học Google Earth của trường đã nhận được tài trợ

từ Quỹ Khoa học Quốc gia

Các trường trung học / tiểu học đã sử dụng Google Earth để dạy HS về vĩ

độ và kinh độ bằng cách yêu cầu HS ghi lại tọa độ của các địa điểm Tạo kế hoạch bài học phong phú về phương tiện sử dụng video và Wikipedia Trên một bài đăng tại Random Connection đã chỉ ra quá trình làm thế nào Google Earth có thể được sử dụng để tạo ra các bài học tương tác cho HS Bài báo đưa độc giả qua các bước sử dụng dấu vị trí, bảng phân tích Wikipedia và trình tạo

Trang 13

vòng tròn KML để tìm và đánh dấu nghiên cứu trên bản đồ Ngoài ra, đề cập đến video YouTube, Vimeo và TeacherTube có thể được đặt trong dấu vị trí của Google Earth như thế nào Các GV có thể sử dụng các bước này để tạo các chuyến tham quan và bài học ảo tương tác cho HS Và HS có thể đi đến các dấu

vị trí khác nhau và xem các video có liên quan về vị trí [19]

Như vậy trên thế giới, việc ứng dụng Google Earth vào dạy học, nhất là dạy học địa lí đã trở nên khá phổ biến và đem lại nhiều hiệu quả giáo dục

2.2.2 Ở Việt Nam

Trong dạy học ở Việt Nam, việc ứng dụng Google Earth vẫn còn khá hạn chế, mới chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm, thu phóng và hiển thị các đối tượng

trên phần mềm Tiêu biểu hơn cả là nghiên cứu “Sử dụng phần mềm Google

Earth trong thiết kế bản đồ dạy học Lịch sử và Địa lí” của tác giả Lê Thiên

Nhiên được đăng tải trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục số 49/9-2009 Tác giả khẳng định việc soạn bài giảng điện tử trong giảng dạy Lịch sử là rất khó khăn và tốn kém thời gian nhất là thiết kế và sử dụng hiệu quả bản đồ Lịch sử Google Earth được đánh giá là đơn giản nhưng hiệu quả cao trong việc thiết

kế các dạng bản đồ trong dạy học Lịch sử, Địa lí cũng như việc tạo các bản đồ câm trong việc kiểm tra, đánh giá HS

Năm 2015, thầy giáo Lê Văn Trung của trường THCS Tiên Lục (Lạng

Giang - Bắc Giang) đã nghiên cứu và đưa ra sáng kiến kinh nghiệm “Phương

pháp sử dụng sản phẩm ứng dụng Google Earth trong công tác dạy học địa lí”

Qua thực nghiệm giảng dạy, tác giả thấy rằng giờ học địa lí đã có sự thay đổi đáng

kể, HS lĩnh hội kiến thức nhanh, tiếp nhận thông tin địa lí nhẹ nhàng hơn, học tập chủ động, sáng tạo không nặng nề và yêu thích, chú tâm vào bộ môn hơn

Năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng đã tiến hành nghiên cứu “Sử

dụng Google Earth trong dạy học môn địa lí ở trường THCS” và đã đề xuất

được một số hướng khai thác hiệu quả phần mềm Google Earth nhằm hỗ trợ cho việc dạy học địa lí ở trường THCS

Trang 14

Gần đây nhất, PGS.TS Đỗ Vũ Sơn - Giảng viên trường ĐHSP Thái

Nguyên đã có những nghiên cứu trong việc “Trải nghiệm sáng tạo Địa lí bằng

Địa cầu ảo 3D Google Earth” và đưa ra được các hoạt động trải nghiệm trên

Google Earth mà giáo viên có thể tự thiết kế như:

- Tổ chức tham quan, tìm hiểu địa phương qua du lịch ảo bằng Google Earth

- Tìm hiểu sự vận động của lớp vỏ Trái Đất qua các thời kì (Thuyết Kiến tạo mảng)

- Tìm hiểu các châu lục trên Trái Đất

- Tổ chức du lịch ảo các thành phố lớn, các địa danh nổi tiếng trên thế giới

- Tìm hiểu văn hóa các dân tộc trên Thế giới

Như vậy, có thể thấy rằng: việc ứng dụng Google Earth trong việc dạy học Địa lí đã có hiệu quả nhất định, tuy phần lớn mới chỉ khai thác đến các chức năng cơ bản Các nghiên cứu vẫn chưa khai thác được hết các tính năng vượt trội của phần mềm như chức năng 3D, chức năng mô hình hóa, chức năng hiển thị dữ liệu đa thời gian, … Trong khi đó, các chức năng này có thể đem lại nhiều thế mạnh trong việc hỗ trợ dạy học theo hướng trực quan sinh động Do vậy, việc đề xuất các hướng khai thác mới trong Google Earth vẫn còn là chủ

đề cần tiếp tục được nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm khẳng định tầm quan trọng, tính tất yếu, tính hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Địa lí THPT; Đồng thời đưa ra được một

số hình thức tổ chức dạy học có sử dụng phần mềm Google Earth nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, hình thành một số năng lực cho học sinh trong học tập địa lí 10 ở trường THPT

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

1) Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng Google Earth trong thiết kế bài giảng địa lí 10 theo định hướng phát triển năng lực

Trang 15

2) Xây dựng quy trình ứng dụng Google Earth trong thiết kế bài giảng địa lí; Thiết kế một số giáo án địa lí 10 theo định hướng phát triển năng lực

3) Triển khai dạy học thực nghiệm tại một số trường THPT và đánh giá kết quả thực nghiệm Khảo sát ý kiến người học, GV và chuyên gia

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu quy trình và cách thức ứng dụng CNTT, cụ thể là phần mềm Google Earth trong dạy học địa lí 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nội dung: Ứng dụng phần mềm Google Earth trong thiết kế

bài giảng môn Địa lí lớp 10 THPT (Ban cơ bản);

- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

- Về thời gian: Năm học 2017 - 2018;

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1 Quan điểm nghiên cứu

6.1.1 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Dạy học đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”

Sử dụng Google Earth trong dạy học địa lí 10 sẽ giúp tích cực hóa các hoạt động của HS, giúp giải quyết các vấn đề về sử dụng đồ dùng trực quan, kênh hình cho GV, tăng cường các kĩ năng địa lí và giúp bài học đạt hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó HS được đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS

để các em biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế

Trang 16

6.1.2 Quan điểm công nghệ dạy học

Công nghệ dạy học là một khoa học đặt cơ sở lí luận cho việc ứng dụng những thành tựu hiện đại của khoa học kĩ thuật vào quá trình dạy học Công nghệ dạy học được xem như sự phối hợp hữu cơ giữa công nghệ tổ chức nhận thức và công nghệ trang thiết bị dạy học bao gồm các yếu tố mang tính đồng

bộ, toàn diện về nội dung dạy học, các hệ thống đánh giá nhằm tích cực hóa quá trình dạy học

Google Earth là sản phẩm công nghệ cao, kĩ thuật sử dụng đơn giản, phổ thông Thông qua Google Earth có thể xác định được chính xác tọa độ địa lí, khoảng cách, địa danh, lịch sử lãnh thổ … Đây là công cụ hỗ trợ hiện đại đem lại nhiều hiệu quả tích cực trong công tác dạy học địa lí

6.2 Phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích hệ thống hóa tài liệu

- Căn cứ vào mục đích nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập,

phân tích tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như trong các sách báo, tạp chí, các luận văn, các công trình đề tài nghiên cứu khoa học, các phần mềm nghiên cứu ứng dụng vào học tập có liên quan

- Để việc thiết kế bài giảng đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục, tôi chú ý đến việc nghiên cứu tài liệu chuẩn cho việc thiết kế bài giảng là SGK Địa

lí 10 THPT hiện hành thuộc ban cơ bản, các tài liệu về tâm lí học đại cương, tâm lí học sư phạm, tâm lí học lứa tuổi để đảm bảo cho việc thiết kế bài giảng đạt hiệu quả cao nhất

6.2.2 Phương pháp điều tra quan sát, tổng kết kinh nghiệm

- Việc áp dụng các phương pháp phương tiện dạy học cho phù hợp với khả năng của HS là một quá trình thử nghiệm lâu dài, đòi hỏi người GV phải có nhiều kinh nghiệm Để đạt hiệu quả trong việc ứng dụng Google Earth vào giảng dạy ở trường phổ thông cần phải tìm hiểu kĩ về thái độ tiếp nhận của GV

và HS, tìm hiểu thực tế việc dạy học Địa lí và thiết kế bài giảng Địa lí 10 THPT, đặc biệt là những chương trình có sử dụng CNTT trong dạy học

Trang 17

- Tiến hành dự giờ một số giờ ở các trường THPT có sử dụng CNTT để

từ đó rút ra kinh nghiệm và bổ xung những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu

6.2.3 Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành

để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học Chú ý sử dụng đủ và hiệu quả các thiết

bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học

tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Google Earth là một công cụ rất hữu ích nhằm tăng cường tính trực quan

và thí nghiệm, thực hành trong dạy học địa lí 10 Sử dụng Google Earth trong dạy học địa lí 10 có thể giúp HS hình thành nhiều năng lực như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, năng

Trang 18

lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng CNTT và TT, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực sử dụng số liệu thống kê, năng lực

sử dụng ảnh, hình vẽ, video clip, mô hình

6.2.4 Phương pháp sử dụng phương tiện dạy học hiện đại

Công nghệ dạy học hiện đại là các công nghệ dạy học gắn liền với việc

sử dụng những thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông và các thiết

bị kĩ thuật số nhằm thay đổi căn bản hoạt động truyền thụ và tiếp nhận tri thức,

kỹ năng, không chỉ là trong giờ học lên lớp mà cả trong các hoạt động tự học,

tự tìm hiểu, kiểm nghiệm, nghiên cứu của HS sau giờ lên lớp Điển hình nhất cho công nghệ dạy học hiện đại là việc sử dụng máy tính, mạng máy tính và các phần mềm ứng dụng vào trong tất cả các khâu của quá trình dạy học

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào quá trình giáo dục là xu thế tất yếu Hiệu quả của việc sử dụng công nghệ, các trang thiết bị dạy học hiện đại trong quá trình giáo dục đã được khẳng định trong thực tế, nhất là khả năng làm cho bài giảng trở nên sinh động,

GV có thể định hướng HS tiếp cận với một nguồn tri thức phong phú

Mặc dù vậy, qua thực tiễn giảng dạy cho thấy, nếu lạm dụng quá mức, sử dụng không linh hoạt, phù hợp, các phương tiện dạy học hiện đại có thể gây ra những “tác dụng phụ” không mong muốn, làm giảm đi quá trình tương tác cần thiết giữa thầy và trò Do đó, cần sử dụng công nghệ, các phương tiện dạy học hiện đại sao cho phù hợp là vấn đề cần được quan tâm

6.2.5 Phương pháp thực nghiệm

- Tiến hành thiết kế một số bài giảng có sử dụng Google Earth và bước đầu tiến hành thực nghiệm bài giảng có ứng dụng Google Earth để dạy một số tiết trong chương trình Địa lí 10 THPT

- Sử dụng các phiếu thăm dò ý kiến GV và các phiếu kiểm tra kết quả học tập của HS để đánh giá những kết quả thu được và tính khả thi của đề tài

Trang 19

6.2.6 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lí kiểm tra đánh giá kết quả đạt được qua tìm hiểu thực tế, qua thực nghiệm các bản thiết kế bài giảng Địa lí có sử dụng Google Earth đối với lớp 10 THPT

7 Những điểm mới và đóng góp của đề tài

- Điểm mới: Lần đầu tiên nghiên cứu, ứng dụng được phần mềm Google

Earth để thiết kế bài giảng địa lí 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực, qua đó nhằm nâng cao chất lượng dạy học

+ Là tài liệu tham khảo cho GV, HS sư phạm và các chuyên gia;

+ Đóng góp phương pháp dạy học mới cho giáo dục địa phương

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, luận văn gồm các nội dung chính:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng Google Earth trong

thiết kế bài giảng địa lí 10 theo định hướng phát triển năng lực;

Chương 2: Thiết kế bài giảng địa lí 10 THPT theo định hướng phát triển

năng lực;

Chương 3: Thực nghiệm Sư phạm;

Trang 20

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG

GOOGLE EARTH TRONG THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ 10

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm trong dạy học

Theo giáo trình lí luận dạy học địa lí phần đại cương do PGS.TS Đặng Văn Đức chủ biên:

PPDH là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy

và trò nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Phương pháp dạy học bao gồm cả phương pháp dạy và phương pháp học

- Phương pháp dạy là cách thức GV trình bày tri thức, tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học

- Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học

Mỗi phương pháp thường gồm các yếu tố như: mục đích định trước, hệ thống những hành động liên tiếp tương ứng, phương pháp hành động, quá trình biến đổi của đối tượng bị tác động và kết quả thực tế đạt được PPDH bao gồm phương pháp dạy, phương pháp học có quan hệ chặt chẽ với phương pháp khoa học và tâm lí học của sự lĩnh hội [3, tr.74-75]

Theo Từ điển tiếng Việt: "Phương tiện là cái dùng để làm một việc gì, để

đạt một mục đích nào đó và thiết bị là tổng thể nói chung những máy móc, dụng cụ, phụ tùng cần thiết cho một hoạt động nào đó” [9]

Trang 21

Cho đến nay, trong giáo dục nói chung và trường học nói riêng đã và đang sử dụng một số thuật ngữ khác nhau khi nói về phương tiện, thiết bị phục

vụ cho quá trình dạy học như: cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, thiết bị trường học, dụng cụ học tập, giáo cụ trực quan, đồ dùng dạy học, tài liệu, học liệu v.v Trong đó có thể hiểu:

- Cơ sở vật chất bao gồm phòng thí nghiệm, vườn trường, phòng học, bàn ghế, các thiết bị kĩ thuật phục vụ các hoạt động của nhà trường như máy tính, máy in, máy photocopy, máy ảnh

- Phương tiện dạy học là toàn bộ những trang thiết bị, đồ dùng, dụng cụ được sử dụng phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và học tập trong nhà trường

Ví dụ: hệ thống tăng âm, loa, micro; ti vi và các đầu đọc VIDEO, VCD, DVD; các loại máy chiếu phim dương bản, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa phương tiện, máy vi tính; các loại tranh, ảnh, tranh giáo khoa, bản đồ, bảng biểu; các loại mô hình, vật thật; các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm; máy móc, thiết bị, dụng

cụ dạy học thực hành v.v Đôi khi, người ta coi tất cả các phương tiện kể trên cũng thuộc về cơ sở vật chất của trường học

Theo tác giả, sử dụng khái niệm theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là

thích hợp hơn cả: ”Phương tiện dạy học là một vật thể hoặc một tập hợp các

vật thể mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, định luật, hình thành các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cần thiết” [5]

 Hình thức tổ chức dạy học

Hình thức tổ chức dạy học là hình thức tác động qua lại giữa hoạt động dạy và hoạt động dạy, sự phối hợp chặt chẽ giữa GV và HS được thực hiện theo một trật tự và một số chế độ xác định Trong đó hoạt động dạy và hoạt động học thống nhất biện chứng với nhau

Trang 22

Trong nhà trường phổ thông, có nhiều hình thức tổ chức dạy học Mỗi hình thức được xác định do thời gian dạy học, đối tượng học sinh, cơ sở vật chất và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh Hình thức dạy học không những có ảnh hưởng đến hiệu quả dạy học mà còn ảnh hưởng đến việc vận dụng các phương pháp giảng dạy thích hợp với từng nội dung của bài giảng

1.1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.1.2.1 Khái niệm năng lực

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân

thể hiện mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó” [5, tr.41]

Theo từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo

cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [9, tr.660-661]

Theo cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực

là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu

đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy.” [14, tr.18-19]

Theo Tài liệu giới thiệu chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ

GD&ĐT) đã giải thích khái niệm năng lực: “Năng lực là thuộc tính cá nhân

được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính

cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [1]

Như vậy phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau

và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng, theo tác giả có thể hiểu năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

Trang 23

1.1.2.2 Cấu trúc của năng lực

Năng lực là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng… mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực

tế, hoàn cảnh thay đổi (xem hình 1.1)

Hình 1.1 Định hướng chức năng và cấu trúc của năng lực

- Vòng tròn nhỏ ở tâm là năng lực (định hướng theo chức năng)

- Bao quanh vòng tròn nhỏ là các thành tố của năng lực: kiến thức, các khả năng nhận thức, các khả năng thực hành/năng khiếu, thái độ, xúc cảm, giá trị và đạo đức động cơ

- Vòng tròn ngoài là bối cảnh (điều kiện/hoàn cảnh có ý nghĩa)

1.1.2.3 Năng lực học sinh

Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống

Bối cảnh

Xúc cảm

Kiến thức Động cơ

Giá trị và đạo đức

Các khả năng nhận thức

Thái độ

Các khả năng thực hành/năng khiếu

Năng lực

Trang 24

Có ba dấu hiệu quan trọng cần lưu ý về năng lực của HS:

- Năng lực không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức, kĩ

năng học được…, mà còn là khả năng hành động, ứng dụng/vận dụng tri thức, kĩ

năng học được để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đang đặt ra với các em

- Năng lực không chỉ là vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ phù hợp với lứa

tuổi mà là sự kết hợp hài hòa của cả ba yếu tố này, thể hiện ở khả năng hành

động (thực hiện) hiệu quả muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt mục

đích đề ra (gồm động cơ, ý chí, sự tự tin, trách nhiệm xã hội…)

- Năng lực được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các

nhiệm vụ học tập ở trong lớp học và ở ngoài lớp học Nhà trường là môi trường

giáo dục chính thống giúp HS hình thành những năng lực chung, năng lực

chuyên biệt phù hợp với lứa tuổi, song đó không phải là nơi duy nhất Những

môi trường khác như gia đình, cộng đồng… cùng góp phần bổ sung và hoàn

thiện các năng lực của các em

1.1.2.4 Quá trình hình thành năng lực

Quá trình hình thành năng lực gồm các bước tăng tiến hình thành năng

lực như:

1) Tiếp nhận thông tin

2) Xử lí thông tin (thể hiện hiểu biết/kiến thức)

3) Áp dụng/vận dụng kiến thức (thể hiện khả năng)

4) Thái độ và hành động

5) Sự kết hợp đầy đủ các yếu tố trên để tạo thành năng lực

Sự kết hợp 5 bước trên tạo thành năng lực ở người học Tuy nhiên cần

kết hợp nhiều năng lực mới tạo ra sự chuyên nghiệp, kết hợp với học hỏi kinh

nghiệm mới có thể hình thành NL nghề nghiệp

6) Tính trách nhiệm, thể hiện sự chuyên nghiệp/thành tạo

7) Kết hợp với kinh nghiệm/trải nghiệm thể hiện năng lực nghề

Trang 25

1.1.2.5 Các năng lực cốt lõi của học sinh

Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết yếu

mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc Tất cả các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo) với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi của HS Có nhiều hệ thống năng lực cốt lõi khác nhau, tuy nhiên trong các hệ thống này thường gồm có:

- Kĩ năng sống và kĩ năng nghề nghiệp

- Kĩ năng học tập và kĩ năng đổi mới

- Kĩ năng về thông tin, đa phương tiện và công nghệ

Các năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI, gồm:

- Năng lực làm chủ kiến thức các môn học cốt lõi bậc phổ thông

- Năng lực nhận thức về các chủ đề của thế kỉ XXI: nhận thức về thế giới; kiến thức về tài chính, kinh tế, kinh doanh, doanh nghiệp; kiến thức về chăm sóc sức khỏe và kiến thức dân sự

- Các năng lực tư duy và năng lực học tập: năng lực giải quyết vấn đề và năng lực tư duy phê phán, năng lực giao tiếp, năng lực đổi mới và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự học từ bối cảnh thực tế…

- Năng lực về CNTT và truyền thông

- Năng lực nghề nghiệp và kĩ năng sống: năng lực thích ứng, năng lực thúc đẩy và năng lực tự định hướng, năng lực lãnh đạo và trách nhiệm xã hội…

Những năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI cần được nhận diện như

là kết quả đầu ra (chuẩn đầu ra) của quá trình dậy và học Vì vậy nhất thiết phải phát triển được các chương trình giáo dục và vận dụng các chiến lược dạy học, các kiểu tổ chức dạy học phù hợp để nuôi dưỡng, hình thành các năng lực này

Theo dự thảo, Chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam sẽ được cấu trúc theo định hướng phát triển năng lực; các năng lực của HS khi kết thúc chương trình giáo dục phổ thông được xác định là:

Trang 26

Bên cạnh đó trong bộ môn địa lí nói riêng còn hướng tới hình thành cho

HS các năng lực chuyên biệt như:

- Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ

- Năng lực học tập ngoài thực địa

- Năng lực sử dụng bản đồ

- Năng lực sử dụng số liệu thống kê

- Năng lực sử dụng hình ảnh, hình vẽ, mô hình, video …

1.1.2.6 Một số phương pháp dạy học địa lí theo định hướng phát triển năng lực

Nhằm phát triển năng lực HS, có thể sử dụng một số phương pháp dạy học sau:

Phương pháp dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề là phương pháp GV đưa ra một chuỗi “tình huống có vấn đề”, “tình huống học tập” và hướng dẫn (điều khiển) HS giải quyết một loạt các vấn đề đó để nhận thức kiến thức địa lí Tình huống có vấn đề hay tình huống học tập là trạng thái tâm lí khi HS gặp phải một vấn đề cần giải quyết dựa vào các tri thức đã có hoặc là quá trình giải quyết vấn đề nảy sinh Thực

Trang 27

chất của phương pháp này là sự tập hợp nhiều phương pháp, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ xoay quanh việc tạo ra và giải quyết một tình huống hoặc chuỗi liên tiếp các tình huống có vấn đề

Phương pháp này phát huy được tính sáng tạo trong học tập của HS, phát triển trí tuệ, rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp ở người học Nâng cao khả năng nhận biết các đối tượng, hiện tượng địa lí từ đó phát triển năng lực cá nhân Phương pháp này còn giúp HS liên hệ và sử dụng những tri thức

đã học để tiếp thu tri thức mới; đồng thời tạo ra các mối liên hệ giữa hình đang học với các hình khác và bản đồ HS có cơ hội vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn, trước nhất là thực tiễn học tập, giải quyết mâu thuẫn giữa cái đã biết

và cái chưa biết, phát huy năng lực giao tiếp xã hội

Phương pháp này đòi hỏi sự khéo léo của GV đặt ra các câu hỏi cho HS trả lời dựa vào sự tái hiện tri thức đã có Phương pháp đàm thoại gợi mở giúp

HS mở rộng đào sâu kiến thức, củng cố và hệ thống hoá kiến thức đã tiếp thu được Đồng thời giúp HS tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình học tập của bản thân Như vậy, thực chất của phương pháp đàm thoại gợi mở là GV sử dụng hệ thống câu hỏi để vừa mở rộng, vừa đào sâu kiến thức, vừa củng cố kiến thức cho HS

Phương pháp này đặt HS vào vị trí vừa là người tìm tòi, thu thập, phân tích, tổng hợp; HS có cơ hội phát triển kĩ năng hợp tác với bạn bè, kĩ năng nói, kĩ năng viết báo cáo về một nội dung khoa học Nó còn bồi dưỡng phương pháp tự học, tự nghiên cứu; kĩ năng trình bày quan điểm của mình một cách lôgic trước công chúng, kĩ năng giao tiếp, tăng tính tự tin, mạnh dạn

Phương pháp thảo luận là phương pháp mà GV tổ chức cho HS thảo luận, trao đổi ý kiến về một vấn đề được đặt ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhận thức Mục đích của thảo luận là để đánh giá được mức độ nắm kiến thức,

kĩ năng, khả năng diễn đạt và thái độ học tập của HS

Trang 28

Hình thức thảo luận: thảo luận theo nhóm, thảo luận theo cặp, thảo luận chung cả lớp

Phương pháp này là phương pháp mà GV là người tổ chức thảo luận, HS

là chủ thể nhận thức, thảo luận, trao đổi ý kiến về một vấn đề được đặt ra dưới dạng câu hỏi hay bài tập nhận thức Đây là phương pháp hoạt động nhận thức tích cực, chủ động; là cơ hội để HS tự thể hiện mình, phát triển kĩ năng giao tiếp và trình độ tư duy; kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng tập hợp và ghi chép tư liệu

Phương pháp dạy giáo dục phát triển năng lực là:

- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và

phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông

tin, ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy

- Chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp

nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm

vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”

- Sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

- Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Trang 29

Phương pháp dạy học sử dụng công nghệ hiện đại

Với tất cả tính năng của công nghệ hiện đại thì việc truyền thụ kiến thức không còn đơn thuần chỉ là bảng đen phấn trắng nữa Sử dụng công nghệ hiện đại vào dạy học đang dần trở thành một trào lưu mạnh mẽ và là xu hướng của giáo dục thế giới Khi sử dụng công nghệ hiện đại, GV đề ra được nhiều hoạt động giúp HS tìm tòi khám phá và tự hình thành kiến thức mới thông qua hoạt động của bản thân, từ đó HS có niềm tin và hứng thú trong học tập hơn Thông qua các công nghệ hiện đại HS được rèn luyện kĩ năng thực hành và củng cố kiến thức đã học một cách đầy đủ và liên hệ thực tiễn dễ dàng hơn

Để vận dụng hiệu quả PPDH sử dụng công nghệ hiện đại người GV hiểu rõ được chức năng của phần mềm sử dụng, tìm hiểu kĩ nội dung bài dạy, phát huy hết chức năng phần mềm, tạo cho HS cảm giác đang xem một cuốn phim hấp dẫn, hình thành phương thức học tập mới, một ý thức tự giác tích cực cho mỗi HS Ngoài ra khi sử dụng PPDH này còn phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của trường và đối tượng HS Chú ý phối hợp chặt chẽ, linh hoạt các PPDH

Các phương pháp trên không sử dụng một cách đơn lẻ mà được kết hợp một cách nhuần nhuyễn trong cùng một giờ giảng phù hợp với nội dung bài học

và để đạt được hiệu quả cao nhất

1.1.2.7 Một số hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Cho đến nay trong các tài liệu về hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH)

ở nước ta cũng như nước ngoài chưa có được một sự phân loại rõ ràng, chưa được mọi người thừa nhận về các HTTCDH Tuy nhiên, hình thức tổ chức dạy học lên lớp được sử dụng chủ yếu trong các nhà trường Ngoài ra còn có các hình thức tổ chức dạy học khác như dạy theo nhóm trên lớp, tự học ở nhà,học tập ngoại khóa, thảo luận, tham quan và phụ đạo

Để phát huy ưu điểm của từng hình thức dạy học, phù hợp với đối tượng

HS, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, đặc điểm của môn học Địa lí, tác giả đưa ra một số hình thức dạy học có ứng dụng phần mềm Google Earth như sau:

Trang 30

Hình thức dạy học kết hợp giữa lí thuyết và sử dụng CNTT& TT

Giáo viên sử dụng phần mềm Google Earth kết hợp với nội dung trong sách giáo khoa để giảng dạy trên lớp Hình thức dạy giống như dạy PowerPoint nhưng khác ở chỗ giáo viên sử dụng máy tính kết nối internet để trình chiếu nội dung cần truyền tải cho học sinh quan sát trực tiếp

Ví dụ: Bài 5 Vũ Trụ Hệ Mặt Trời và Trái Đất Hệ quả chuyển động tự

quay quanh trục của Trái Đất (Địa lí lớp 10) Nội dung bài là giới thiệu khái quát về Vũ Trụ, Hệ Mặt Trời, Trái Đất và tìm hiểu về hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất Đối với bài này, giáo viên có thể sử dụng Google Earth để giảng dạy

Đây là hình thức dạy học cho học sinh sử dụng công nghệ thực tế ảo - phần mềm Google Earth trực tiếp Điều quan trọng là GV cần chuẩn bị nội dung một cách chi tiết, có hướng dẫn HS quy trình học cụ thể; kiểm soát chặt chẽ việc HS tham gia học và hoạt động trực tuyến; dành thời gian trao đổi, đánh giá HS,

Ví dụ: Bài 38 Thực hành viết báo cáo ngắn về kênh đào Xuy-ê và Panama (Địa lí lớp 10) Với bài này, giáo viên có thể tổ chức lớp học trong

phòng máy và để học sinh trực tiếp sử dụng phần mềm Google Earth để tìm hiểu về hai kênh đào

Giáo viên xây dựng và tổ chức một chuyến đưa học sinh đi tham quan,

du lịch ảo, khám phá các vùng đất khác nhau trên thế giới ngay từ màn hình máy tính của mình Giáo viên có thể chọn con đường riêng hoặc cho học sinh tham quan những địa điểm du lịch nổi tiếng trên thế giới đã được lập trình sẵn trong Google Earth Điều thú vị là dịch vụ du lịch ảo này được hoàn toàn miễn phí nên rất tiện lợi cho giáo viên thực hiện

Trang 31

1.1.3 Địa cầu ảo Google Earth

1.1.3.1 Giới thiệu về Google Earth

Google Earth là một phần mềm mô phỏng quả địa cầu có tên gọi gốc là Earth Viewer vẽ bản đồ trái đất là một quả địa cầu ảo 3D, trên đó là những hình ảnh địa lí chi tiết được lấy từ ảnh vệ tinh, các ảnh chụp trên không và từ hệ thống GIS

Google Earth thể hiện một cách tổng quan về các khu vực trên Trái Đất,

mô phỏng địa hình theo hình ảnh không gian đa chiều bằng cách kết hợp tổng thể các ảnh viễn thám Có thể lưu dấu vị trí, hình dạng và toàn bộ thư mục và nội dung của thư mục vào ổ cứng máy tính Tệp hoặc thư mục dấu vị trí được lưu dưới dạng tệp đơn lẻ trong định dạng KML hay KMZ mà chúng ta có thể

mở bất kỳ lúc nào trong Google Earth

Google Earth cung cấp khả năng tìm kiếm và khả năng để định vị, zoom, xoay, nghiêng xem Trái đất Nó cũng cung cấp các công cụ cho việc tạo dữ liệu mới và một bộ các lớp dữ liệu, như núi lửa và địa hình mà có sẵn trong Google Earth và hiển thị thông tin dữ liệu ra giao diện màn hình của Google Earth

Google Earth có ba phiên bản:

(1) Phiên bản miễn phí: đây là phiên bản dành cho gia đình và cá nhân sử dụng, phiên bản này có nhiều tính năng, bao gồm hiển thị vệ tinh và ảnh máy bay, một bộ các lớp dữ liệu có thể hiển thị dạng bản đồ, khả năng hiển thị dữ liệu của bên thứ ba, gồm các công cụ cho việc tạo dữ liệu mới, và khả năng nhập vào dữ liệu GPS Tại các trường học có thể sử dụng phiên bản miễn phí của Google Earth và Google đã tạo ra một trang web Geo Giáo dục để cung cấp thông tin hữu ích về cách sử dụng Google Earth, Maps, Sky, và SketchUp trong các lớp học tại trường Các tổ chức giáo dục đại học cũng có thể cài đặt các phiên bản miễn phí cho sử dụng phi thương mại

(2) Phiên bản “Pro” - Phiên bản này được phát triển để sử dụng với mục đích thương mại, cho phép nhập vào shapefile ESRI MapInfo và file tab, có thể đo lường khu vực vòng tròn và đa giác, và có thể in và lưu hình ảnh có độ phân giải cao

(3) Phiên bản doanh nghiệp - Sản phẩm này xử lí hình ảnh và dữ liệu không gian địa lí khác nhau cho nhân viên trong các tổ chức công ty

Trang 32

Ngoài ra có một phiên bản của Google Earth cho iPhone Sản phẩm này có thể hiển thị các hình ảnh tương tự mà có sẵn trên các phiên bản máy tính để bàn, thực hiện tìm kiếm, và liên kết đến các bài viết trên Wikipedia, nhưng nó không

có tất cả các tính năng của các phiên bản máy tính để bàn của Google Earth

Mỗi một phiên bản của Google Earth có thể được sử dụng để đọc và dữ liệu được lưu với định dạng KML (Keyhole Markup Language), trong đó cho phép các trường đào tạo, sinh viên và những người dùng khác để chia sẻ dữ liệu

Sản phẩm của Google Earth mà chúng ta thu được có thể là: Định vị địa hình như một máy GPS ngay tại văn phòng, Hệ tọa độ địa lí được quy chuẩn về hệ quốc

tế WGS84 với độ chính xác tới Centimet, Đo chiều dài và diện tích, Hình ảnh chụp chi tiết, Video clip thao tác, Giải trí bằng các tour du lịch tham quan sinh động các danh lam trên toàn thế giới, Chia sẻ thông tin địa điểm qua mạng Internet…

Google Earth không phải là một hệ thống thông tin địa lí (GIS) với khả năng phân tích sâu rộng của ArcGIS hoặc MapInfo, nhưng là dễ dàng hơn để

sử dụng hơn so với các gói phần mềm khác [15]

1.1.3.2 Tính năng của Google Earth

Hình 1.2 Giao diện Google Earth

Trang 33

Địa lí là một môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm Cần liên hệ với hình ảnh thực tế để HS có cái nhìn cụ thể về nội dung đang học Google Earth chính là một ứng dụng xem bản đồ trên toàn thế giới dễ dàng nhất, ứng dụng này cho phép người dùng di chuyển tới bất kỳ nơi nào trên Trái đất để xem được các hình ảnh vệ tinh, bản đồ, địa hình, tòa nhà 3D và các thiên

hà ở ngoài không gian cũng như trong lòng đại dương (xem hình 1.2) Các tính năng hấp dẫn có thể sử dụng trong dạy học địa lí như:

- Tính năng khám phá lịch sử và nền văn minh

Google Earth có thể cung cấp cho người dùng những thông tin về xã hội

và sự phát triển của dân số thế giới Điều này rất thuận lợi trong dạy học địa lí phần kinh tế xã hội Thông qua công cụ Historical Imagery (truy cập dưới mục View > Historical Imagery) người dùng có thể nhận một thanh trượt ở góc trên bên trái màn hình cho thấy phạm vi dân số từ ngày hiện tại trở lại đến cuối những năm 1990 Đây là một công cụ thực sự hấp dẫn khi người dùng muốn xem những thay đổi nào diễn ra trong cộng đồng không chỉ là dân số mà các kiến trúc, đấy đai hay các chi tiết thường bị bỏ qua trong các bảng thống kê trong khoảng thời gian này Người dùng có thể xem được khoảng thời gian mà những tòa nhà mới mọc lên xung quanh khu vực đang sống, ở đó có thể là một bụi cây trước khi các công trình xây dựng được khởi công Ở gần các khu vực đô thị hoặc vùng ngoại ô của một thành phố đặc biệt người dùng có thể nhìn thấy nhiều thay đổi ấn tượng hơn Toàn bộ phân khu tồn tại hiện nay là không có thực trên những hình ảnh vệ tinh cũ Tòa nhà mới, cửa hàng và trung tâm thương mại mua sắm sẽ biến mất toàn bộ khi người dùng quay trở lại thời gian cách đây hơn một thập kỷ Đó là điều hấp dẫn để người dùng có thể chọn bất kỳ vị trí nào trên Trái Đất và nhờ vào Google Earth người dùng có thể du lịch quay trở lại thời gian để xem những thay đổi tại địa điểm đó ra sao (xem hình 1.3, 1.4)

Trang 34

Hình 1.3 Hình ảnh huyện Đồng Hỷ (năm 2013) nhìn từ Google Earth

Hình 1.4 Hình ảnh huyện Đồng Hỷ (năm 2015) nhìn từ Google Earth

- Tính năng tìm hiểu sự thay đổi của ánh sáng mặt trời

Một công cụ thú vị khác là “Sun” có trong mục View > Sun Công cụ này cho phép người dùng sử dụng một thanh trượt bố trí bên trái màn hình với cách thức trượt qua bên trái để thấy sự thay đổi thời gian Khi thao tác sẽ thấy cảnh hoảng hôn và bình minh diễn ra trên Trái Đất, bóng tối từ từ biến mất và Mặt trời xuất hiện ở đường chân trời, ánh sáng sẽ từ từ thay thế bóng tối Tính năng này rất thú vị để dạy về phần Trái Đất (xem hình 1.5)

Trang 35

Hình 1.5 Ngày và đêm trên Trái Đất nhìn từ Google Earth

- Tính năng tính toán khoảng cách chính xác

Hình 1.6 Xác định khoảng cách bằng Google Earth

Một bản đồ trực tuyến cung cấp người dùng khả năng xác định khoảng cách nhưng nhìn chung nó chỉ tính theo đường đi cơ bản, không xác định rõ ràng các khúc gấp, ôm cua trên đường nên có độ chính xác không cao so với Google Earth nhờ dựa trên bản đồ thực trên vệ tinh và được tính toán kỹ càng hơn Trong Google Earth, người dùng có thể làm điều này bằng cách vào Tools -> Ruler (xem hình 1.6)

Trang 36

- Tính năng khám phá vũ trụ

Với công cụ “Sky” có thể nhìn lên bầu trời, di chuyển quanh bầu trời và kích đúp để phóng to các Thiên hà, sao, thiên thể Người dùng có thể nhìn thấy hình ảnh các không gian thực tế từ NASA cùng tên khoa học của chúng sẽ được gắn nhãn Ứng dụng cung cấp một ý nghĩa hoàn toàn mới về khái niệm thiên văn học cũng như kính thiên văn, nơi người dùng có thể tìm thấy các vấn

đề về vũ trụ theo yêu cầu Tính năng này rất thú vị để sử dụng trong dạy học địa lí phần Vũ trụ (xem hình 1.7, 1.8)

Hình 1.7 Vũ Trụ nhìn từ Google Earth

Hình 1.8 Mặt Trăng nhìn từ Google Earth

Trang 37

Ngoài ra còn nhiều tính năng khác nữa mà có thể dễ dàng ứng dụng từ Google Earth vào dạy học địa lí như: khám phá địa hình, địa danh, lãnh thổ, quốc gia, khí hậu, khảo sát thực địa, tìm hiểu sự trôi dạt các mảng lục địa, …[16]

1.1.3.3 So sánh Google Earth với một số phương tiện dạy học khác

Ứng dụng Google Earth trong dạy học địa lí 10 là phương pháp dạy học học mới, tiếp cận và sử dụng phương pháp này chưa phổ biến trong dạy học địa

lí nói chung và dạy học địa lí 10 nói riêng Qua thực tế giảng dạy địa lí 10, bên cạnh các công cụ truyền thống: bản đồ, biều đồ, quả Địa cầu, các tập bản đồ giáo khoa theo chuyên đề, tranh ảnh đã được biết đến từ lâu đời thì hiện nay với sự phát triển của CNTT có các công cụ trực quan hiện đại mới ra đời và hỗ trợ rất tích cực, hiệu quả cho việc dạy học

Cụ thể hơn, tác giả so sánh về ba công cụ: Viễn thám Google Earth, bản

đồ giấy, tranh ảnh giáo khoa (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1 So sánh các công cụ trực quan trong dạy học Địa lí

Công cụ Đặc điểm

Viễn thám Google Earth Bản đồ giấy

Tranh ảnh giáo khoa

Mật độ tổng quát hóa Có thể thay đổi được

Không thể thay đổi được

Không thể thay đổi được Khung nhìn Thay đổi được thay đổi được Không thay đổi được Không

Phân tích bảng 1.1 có thể thấy mỗi công cụ đều có những thế mạnh và hạn chế riêng Do đó, bản thân Google Earth cũng không thể đảm nhiệm hết các chức năng, nó có thể làm tốt chức năng này nhưng không thực hiện tốt chức năng khác Việc lựa chọn công cụ của Google Earth tùy thuộc vào nội

Trang 38

dung cần truyền đạt cũng như khả năng đáp ứng của Google Earth Vì vậy, phải lựa chọn những công cụ đó sao cho phù hợp với mục đích sử dụng nhằm đem lại hiệu quả cho giảng dạy địa lí 10

Về kiến thức: Hiểu và trình bày được các kiến thức phổ thông, cơ bản về:

- Trái Đất với ý nghĩa là môi trương sống của con người bao gồm các thành phần cấu tạo và tác động qua lại của chúng, một số quy luật chủ yếu của lớp vỏ địa lí

- Địa lí dân cư và một số khía cạnh văn hóa, xã hội của dân cư

- Các hoạt động kinh tế chủ yếu của con người trên Trái Đất

- Mối quan hệ giữa dân cư, các hoạt động sản xuất với môi trường và sự phát triển bền vững

Về kĩ năng

Củng cố và tiếp tục phát triển các kỹ năng:

- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng địa lí cũng như kỹ năng đọc và sử dụng bản đồ, biểu đồ, số liệu thống kê

- Thu thập, trình bày các thông tin địa lí

- Vận dụng kiến thức trong chừng mực nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí và giải quyết một số vấn đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với học sinh trên cơ sở tư duy kinh tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán

Về thái độ, hành vi

- Có tình yêu thiên nhiên, con người, ý thức và hành động thiết thực bảo

vệ môi trường xung quanh

- Có ý thức quan tâm đến một số vấn đề liên quan đến địa lí học ở trong

và ngoài nước

Trang 39

- Thấy rõ trách nhiệm của bản thân trong công cuộc xây dựng kinh tế -

xã hội của địa phương và của đất nước [2]

1.2.1.2 Cấu trúc và nội dung chương trình

Chương trình Địa lí 10 là một phần của chương trình Địa lí THPT, nó kế thừa, nâng cao kiến thức đã có ở bậc THCS, đồng thời là tiền đề cho việc trang

bị kiến thức ở các lớp 11, 12 Chương trình lớp 10 ban cơ bản được cấu tạo bởi hai phần kiến thức Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế xã hội đại cương Phần Địa lí tự nhiên đại cương chiếm ½ thời lượng của chương trình Phần Địa

lí kinh tế xã hội đại cương cũng chiếm ½ thời lượng (xem bảng 1.2)

Bảng 1.2 Cấu trúc chương trình địa lí 10 ban cơ bản

phát triển bền vững

Từ bài 41 đến bài 42

Trang 40

Về nội dung cụ thể:

 Phần Địa lí tự nhiên đại cương:

- Về lý thuyết, phần này tập trung vào bốn nội dung:

+ Bản đồ: Đối với khoa học Địa lí nói chung và môn Địa lí trong nhà trường phổ thông nói riêng bản đồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Để giúp cho học sinh học tập tốt được bộ môn Địa lí, việc trang bị các kiến thức tối thiểu về bản đồ có ý nghĩa rất lớn Các kiến thức này không chỉ được sử dụng để học tập

ở lớp 10 mà cho cả các lớp 11, 12 và các cấp học cao hơn sau này Trong nội dung này ngoài việc kế thừa những kiến thức đã có về bản đồ ở cấp trung học

cơ sở, chương trình tập chung chính vào một số các phương pháp biểu hiện các đối tượng Địa lí trên bản đồ, cách sử dụng bản đồ trong học tập và đời sống

+ Vũ trụ Hệ quả chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt trời: Các nội dung chính được đưa vào là Vũ trụ, hệ mặt trời, Trái Đất và hệ quả của vận động tự quay cũng như hệ quả của sự chuyển động xung quanh Mặt trời của Trái Đất

+ Cấu trúc của Trái Đất Thạch quyển Thuyết kiến tạo mảng: Nội dung được đưa vào phần này gần như hoàn toàn mới so với các kiến thức đã được cung cấp ở trung học cơ sở Đó đặc điểm và cấu trúc bên trong của Trái Đất, khái niệm về thạch quyển, và một nội dung hoàn toàn mới đó là thuyết kiến tạo mảng của thạch quyển

+ Tác động của nội lực, ngoại lực đến bề mặt Trái Đất: Ở phần này nội dung kiến thức được đưa vào là khái niệm, đặc điểm của các quá trình nội, ngoại lực tác động đến địa hình bề mặt Trái Đất, kết quả của các tác động đó

+ Khí quyển: Nội dung chính của phần này gồm có khí quyển, sự phân bố nhiệt độ không khí trên Trái Đất, sự phân bố khí áp và một số loại gió chính; Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển, mưa và phân bố lượng mưa trên Trái Đất

+ Thủy quyển: Các nội dung chủ yếu bao gồm các vòng tuần hoàn của nước trên Trái Đất; một số nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông; một số sông lớn trên Trái Đất Sóng, thủy triều, dòng biển

Ngày đăng: 27/08/2020, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w