Vì vậy, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài : “Phát Triển Mô Hình Kinh Tế Chia Sẻ Ở Việt Nam Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Và Kiến Nghị Giải Pháp Quản Lý Nhà Nước” để nêu lên
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế chia sẻ (KTCS) là một mô hình kinh tế mới phát triển trong bối cảnh củacuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thôngtin, việc cung cấp sản phẩm dịch vụ tới tay người tiêu dùng đã vượt qua giới hạn
về cả khoảng cách thời gian cũng như không gian địa lý, đồng thời nó ngày càngđáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng cũng như tối thiểu hóa chi phí trong quá trìnhvận hành Tuy nhiên, việc vận dụng hiệu quả mô hình kinh tế mới này không thật
sự đơn giản mà còn gây ra nhiều tranh cãi ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó
có Việt Nam
Thuật ngữ kinh tế chia sẻ hiện nay đang là một trong những chủ đề thu hút đượcnhiều sự quan tâm của các bên Theo điều tra của một dự án nghiên cứu doPricewaterhouseCoopers thực hiện, số liệu đã thể hiện chỉ với 5 lĩnh vực chính baogồm: du lịch, vận tải, tài chính, nhân lực, dịch vụ video trực tuyến và ca nhạc ứngdụng mô hình kinh tế chia sẻ trong kinh doanh có tiềm năng làm tăng doanh thutoàn cầu từ 15 tỷ đô-la trong năm 2014 lên tới khoảng 335 tỷ đô-la trong năm
2025 Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam mớichỉ hiện cụ thể ở một vài lĩnh vực, chưa thực sự phát triển mạnh Bên cạnh đó, hạtầng chính sách cho mô hình này còn chưa hoàn thiện cả ở góc độ chung cho đếntừng lĩnh vực cụ thể, đặt ra nhiều thách thức phát triển đối với loại hình này tại
Việt Nam Vì vậy, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài : “Phát Triển Mô Hình Kinh Tế Chia Sẻ Ở Việt Nam Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Và Kiến Nghị Giải Pháp Quản Lý Nhà Nước” để nêu lên thực trạng tình hình kinh tế
chia sẻ tại Việt Nam những năm gần đây, từ đó đưa ra các kiến nghị giải pháp choquản lý nhà nước trong thời gian tới để phát triển mô hình này trong bối cảnh cáchmạng công nghiệp 4.0
Nội dung bài tiểu luận sẽ tập trung làm rõ một số nội dung chính sau:
(1) Thực trạng về mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam;
(2) Thành tựu và hạn chế của mô hình kinh tế chia sẻ;
(3) Kiến nghị giải pháp quản lý nhà nước trong thời gian tới
Trang 2NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
1.1.1 Khái niệm Cách mạng Công nghiệp 4.0
Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới diễn ra vào thế kỷ 18, khinhững người công nhân sử dụng hơi nước và máy móc trong sản xuất để thay chosức người Sau đó là điện ra đời, được sử dụng trong dây chuyên sản xuất và các
mô hình sản xuất quy mô lớn, là khởi nguồn của cuộc cách mạng thứ 2 Vào nhữngnăm 1970 là khi máy tính ra đời, điều này tạo ra một loạt sự thay đổi trong cáchcon người xử lý thông tin, tự động hoá bằng robot, đây chính là cuộc cách mạngthứ 3
Hiện tại, chúng ta đang tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, haycòn gọi là Cách mạng Công nghiệp 4.0 (Industry 4.0) Cuộc cách mạng này tạo ramôi trường mà máy tính, tự động hoá và con người sẽ làm việc cùng nhau theonhững cách thức hoàn toàn mới Tại đây, robot và các loại máy móc sẽ được kếtnối vào những hệ thống máy tính, những hệ thống này sẽ sử dụng các thuật toán đểđiều khiển mà không cần sự can thiệp của con người
1.1.2 Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ diễn ra như thế nào?
CMCN 4.0 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số
và Vật lý Trong đó, những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số sẽ là: Trí tuệ nhân tạo(AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)
Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, CMCN 4.0 tập trung nghiên cứu để tạo ranhững đột phá trong nông nghiệp, thuỷ sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệmôi trường, năng lượng hoá tái tạo, hoá học và vật liệu, cùng lĩnh vực vật lý vớirobot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano
Hiện tại, CMCN 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, mộtphần châu Á Bên cạnh những cơ hội mới, trong quá trình thực hiện CMCN 4.0,các quốc gia cũng phải đối mặt với không ít những rào cản
Trang 31.1.3 Cơ hội và thách thức khi thực hiện CMCN 4.0
Áp dụng những đổi mới về công nghệ sẽ giúp quá trình sản xuất nhanh hơn, tốn ítsức người và dữ liệu được thu thập đầy đủ hơn Chất lượng sản phẩm được đảmbảo do kiểm soát được từ khâu nguyên vật liệu cho đến khi thành hình và chuyểnđến tay người tiêu dùng Hơn nữa, con người sẽ không phải trực tiếp làm việc ởnhững môi trường làm việc nguy hiểm, giảm tỷ lệ tử vong, bệnh tật trong quá trìnhlao động
Tuy nhiên, nhiều lao động sẽ mất việc làm do bị máy móc thay thế Các doanhnghiệp cũng gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nguồn nhân lực đáp ứng đượcyêu cầu của công việc Điều này có thể dẫn tới sự bất bình đẳng, thậm chí là phá
vỡ thị trường lao động Ngoài ra, CMCN 4.0 đòi hỏi các doanh nghiệp phải thayđổi Muốn tồn tại và phát triển, họ phải đầu tư và nâng cấp công nghệ, cùng lúcnâng cao chất lượng nhân sự
Những bất ổn về kinh tế sẽ dẫn đến những bất ổn về đời sống, thậm chí là chính trị.Công nghệ mới sẽ gây ra sự thay đổi về quyền lực, mối lo ngại về an ninh, làmtăng khoảng cách giàu nghèo
Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếp trên Internet cũng đặt ra tháchthức về bảo mật thông tin cho cả các hệ thống và cá nhân con người Chúng ta phảilàm gì để bảo mật khi dữ liệu có ở khắp mọi nơi và được trao đổi thường xuyêngiữa các hệ thống
Nói tóm lại, CMCN 4.0 sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế của một quốc gia,mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội nhưng cũng vô vàn thách thức và khó khăn
Trang 41.2 Kinh tế chia sẻ
1.2.1 Khái niệm nền Kinh tế chia sẻ
Trên thực tế có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế chia sẻ, hay nói một cáchkhác là không có một định nghĩa chung cho tất cả mọi trường hợp hay mọi quốcgia Mức độ rộng hẹp của các định nghĩa cũng khác nhau, cũng như các định nghĩa
có thể xuất phát từ các góc nhìn khác nhau Kinh tế chia sẻ (sharing economy) cònđược gọi theo nhiều tên khác nhau như kinh tế cộng tác (collaborative economy),kinh tế theo cầu (on-demand economy), kinh tế nền tảng (platform economy), kinh
tế truy cập (access economy), kinh tế dựa trên các ứng dụng di động (appeconomy), v.v… (Cristiano Codagnone and Bertin Martens, 2016) Ranh giới giữacác khái niệm có sự đồng nhất ở một số khía cạnh, tuy nhiên nhìn chung, tất cả cáctên gọi khác của mô hình kinh tế chia sẻ đều có bản chất là một mô hình kinhdoanh mới của kinh doanh ngang hàng, tận dụng lợi thế của phát triển công nghệ
số giúp tiết kiệm chi phí giao dịch và tiếp cận một số lượng lớn khách hàng thôngqua các nền tảng số
Đây là hệ thống kinh tế đề cao chia sẻ và hợp tác hơn tư hữu Con người thay vì sở
Trang 5Nền kinh tế chia sẻ đang phát triển vì nó tái phân phối tài nguyên đang không được
sử dụng hiệu quả (sản phẩm mua rồi nhưng không dùng, máy móc không đượckhai thác tối đa thời gian sử dụng) sang chỗ mà nó được dùng hiệu quả hơn Trong
xã hội mà ô tô chỉ được dùng trung bình 1 tiếng 1 ngày (dưới 5% thời gian), 99%
đồ gia dụng không được sử dụng lại trong 6 tháng… thì việc tái phân phối này làcần thiết để tiết kiệm tiền của người dùng và tài nguyên của xã hội
1.2.2 Lịch sử ra đời của nền kinh tế chia sẻ
Nền kinh tế chia sẻ được bắt đầu manh nha khái niệm năm 1995, khởi điểm tại Mỹvới mô hình ban đầu có tính chất “chia sẻ ngang hàng” nhưng không rõ rệt Nókhởi đầu bằng dịch vụ website thông tin cho thuê quảng cáo, người tìm việc, việctìm người… và giúp cho những cá nhân có thể kiếm được việc làm, kiếm được tiềnquảng cáo
Mô hình kinh doanh này thực sự phát triển mạnh mẽ khi nền kinh tế Mỹ rơi vàokhủng hoảng năm 2008, người dân buộc phải thay đổi cách tiêu dùng để thích ứngvới bối cảnh khó khăn
Việc “chia sẻ” những tài nguyên sẵn có bằng các ứng dụng công nghệ cùng nhữngkhoản lợi nhuận khổng lồ đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và
sử dụng tài nguyên, đã khiến mô hình kinh doanh này nhanh chóng phát triển vượt
ra khỏi biên giới Mỹ, lan rộng khắp châu Âu và toàn thế giới
Trên thực tế, mô hình chia sẻ đã có từ rất lâu: thư viện, thuê xe, CLB, phòng luyệntập, xe ôm, chia sẻ trong làng xã, thị trấn Tuy nhiên từ giữa thế kỉ 20, việc chia sẻtrở nên đắt đỏ và rắc rối hơn việc sở hữu, do sự bùng nổ của sản xuất hàng loạt(cách mạng công nghiệp) Từ đó xuất hiện chủ nghĩa tiêu dùng: xây dựng trên ýtưởng tin rằng việc tiêu dùng sẽ giúp người dân thấy hạnh phúc, việc tiêu dùnggiúp nền kinh tế phát triển mạnh hơn Giờ thì xu hướng lại đảo ngược trở lại doviệc chia sẻ dần trở nên rẻ hơn
Nền kinh tế chia sẻ thuộc một xu hướng lớn hơn bắt đầu từ thời Internet: xu hướngđảo ngược chủ nghĩa tiêu dùng Khi Internet được lan rộng, các trang như eBay vàCraigslist giúp kết nối những người có và những người cần một cách hiệu quả hơn.Chia sẻ và tái phân phối tài nguyên bắt đầu rẻ đi so với mua đồ mới và vứt đồ cũ
đi Mọi người không chỉ là người mua mà còn có thể bán thông qua thương mại
Trang 6ngang hàng Việc này giúp những thứ được lãng phí do không dùng đến được tậndụng thông qua nền tảng công nghệ Thông qua nền tảng này con người bắt đầuthay đổi quan hệ với những thứ mình tư hữu, họ nhận ra những thứ có thể đượctruy cập mà không cần sở hữu, thứ đắt đỏ trong việc duy trì, thứ không thực sự cầnthiết, thứ không được dùng thường xuyên… đều nên thuê chứ không nên mua.Điều này thay đổi tâm lý “tư hữu”
Những công ty Product Service bắt đầu phát triển mô hình tính phí theo sử dụng,thay vì theo sở hữu (ZipCar) từ 10 năm về trước Bây giờ có hàng trăm công tychia sẻ tài sản: Airbnb, RelayRides, DogVacay, LiquidSpace… Các công ty này sửdụng công nghệ điện thoại, GPS, 3G, thanh toán Online khiến cho mô hình nềnkinh tế chia sẻ hoạt động với hiệu suất cao, tiết kiệm chi phí, tăng lợi ích cho ngườicung ứng, người có nhu cầu và người trung gian Đồng thời việc tiết kiệm vốn củacông ty (không phải mua ô tô, xây khách sạn) mà sử dụng vốn cộng đồng (xe ô tôcủa người tham gia, nhà ở của người tham gia) giúp các công ty có thể lan nhanh ratoàn thế giới
Tóm lại: nền kinh tế chia sẻ là một biểu hiện của việc áp dụng công nghệ nhằmgiảm sự lãng phí trong tiêu dùng, hướng tới cộng đồng, thành phố thông minh – tàinguyên được dùng một cách hiệu quả
Trang 71.2.3 Các loại hình kinh tế chia sẻ
Theo phương pháp phân loại dựa theo hình thức người sở hữu tài sản và ngườiquyết định giá của Judith Wallenstein và Urvesh Shelat, mô hình kinh tế chia sẻđược chia ra làm ba loại chính: Mô hình nền tảng tập trung (đơn vị cung cấp nềntảng vừa sở hữu tài sản, vừa quyết định giá thành dịch vụ), mô hình nền tảng phitập trung (đơn vị cung cấp nền tảng chỉ tạo ra môi trường kết nối, người cung cấpdịch vụ là người sở hữu tài sản và cũng là người quyết định giá thành dịch vụ), môhình nền tảng hỗn hợp (chủ tài sản cung cấp dịch vụ với giá do nền tảng đưa ra vànền tảng cũng đóng một phần vai trò trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩmđược cung ứng ra ngoài thị trường) (Judith Wallenstein & Urvesh Shelat, 2017)
1.3 Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác dộng có tổ chức, bằng pháp quyền và thôngqua một hệ thống một hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lênnền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tê đất nước đã đặt ra trên cơ sở
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mởcủa và hội nhập kinh tế quốc tế
Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ cần thiết để thực hiện chức năng quản lýcủa mình như công cụ định hướng : kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triểnkinh tế,…; công cụ kinh tế, tài chính tiền tệ: chính sách đầu tư, thuế khóa, chi tiêungân sách, hệ thống ngân hàng, lãi suất, điều kiện tín dụng,…; công cụ pháp lý: hệthống pháp luật, các văn bản pháp quy,…; công cụ tổ chức, giáo dục…
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ Ở VIỆT
NAM 2.1 Các loại hình kinh tế chia sẻ chính ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên trong ASEAN cho phép thí điểm môhình kinh doanh ứng dụng dịch công nghệ kết nối vận tải (ví dụ như Uber, Grab)bắt đầu từ năm 2014 Tuy nhiên sau 4 năm hoạt động, đến tháng 4/2018, Uber đãrút khỏi thị trường Đông Nam Á và đổi lấy 27,5% cổ phần của Grab Ngay sau khiUber rút khỏi thị trường, Việt Nam đã chứng kiến một sự phát triển mạnh mẽ, thểhiện mô hình kinh tế chia sẻ là một mảng thị trường tiềm năng, đến tháng 5/2018,ứng dụng VATO xuất hiện trên thị trường hay là nhiều các hãng taxi công nghệ
Trang 8khác như Gonow của Viettel hay là ứng dụng mới phát minh hiện nay T.Net củaFPT và ngoài ra còn tạo động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp truyền thốngthay đổi phương thức hoạt động kinh doanh từ thủ công sang ứng dụng công nghệ.
Hình 1: Grab là thương hiệu dịch vụ taxi mới được biến đến rộng rãi nhất ở Việt
Nam
Trang 9Hình 2: Grabtaxi là phương tiện được sử dụng nhiều nhất trong các loại phương
tiện di chuyển.
Airbnb là một mô hình kết nối người cần thuê nhà với những gia đình có phòng
trống cần cho thuê thông qua ứng dụng di động tương tự như Uber, Grab Đây làloại hình dịch vụ tương đối mới, hoạt động theo mô hình nền tảng phi tập trung, tất
cả việc thanh toán chỉ sử dụng thẻ tín dụng và thông qua Airbnb Từ đây nhà trunggian này sẽ thu một khoản phí đối với cả người cần đặt phòng và chủ nhà Khoảnphí đối với chủ nhà ở mức 3% tổng giá trị đặt phòng, phí thu khách đặt phòng ởmức 6 - 12% và mức phí này sẽ hiển thị luôn trong quá trình khách sử dụng dịch
vụ Mức phí này vẫn đảm bảo người trả thấp hơn đặt phòng khách sạn qua cáckênh truyền thống
Ngoài ra còn nhiều dịch vụ cung cấp nền tảng (platform) được ứng dụng rộng rãi,
cụ thể là Triip.me sử dụng mô hình kinh doanh như Airbnb, trong đó sử dụngnguồn lực của cộng đồng để thiết kế nên các tour du lịch trên toàn thế giới; thayđổi phong cách hướng dẫn du lịch, phân tích giúp đỡ khách du lịch tìm hiểu sâuhơn về địa điểm và con người nơi họ muốn đến, đồng thời giúp họ kết nối với
Trang 10người dân địa phương trên toàn thế giới, hay là các dịch vụ ăn uống (foody), laođộng, hàng hóa tiêu dùng;
Dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ (peer-to-peer lending) điển hình như cungcấp nền tảng kết nối giữa bên cho vay và người đi vay như lendbiz.vn, tima.vn…;Đón nhận xu hướng cung ứng dịch vụ trên thị trường, ngày 05/6/2018, Công ty Cổphần Đổi mới Công nghệ Tài chính Fiin đã chính thức ra mắt dịch vụ cho vayngang hàng tại Hà Nội Đây là doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tronglĩnh vực P2P Lending sử dụng nền tảng công nghệ tiên tiến tại Việt Nam
Sự phát triển mỗi ngày của công nghệ kéo theo sự sáng tạo trong mở rộng quy môloại hình dịch vụ như tại Grab, dịch vụ vận tải không còn chỉ giữa người với ngườinữa mà mở rộng hơn sang dịch vụ vận chuyển hàng hóa, vận chuyển thức ăn đápứng nhu cầu thực tiễn của xã hội Hay là sự kết nối người dùng với các nhà cungcấp dịch vụ khác của Rada với nhiều lĩnh vực cụ thể về sửa chữa thiết bị gia đình,xây dựng điện nước, sân bay, vận chuyển đường dài, sửa chữa thiết bị ô tô, xemáy… Sau một năm từ tháng 4/2016 đến 4/2017, hơn 20.000 giao dịch thành với56.000 khách hàng, hơn 1.000 nhà cung cấp và 3.500 thợ/đơn vị cung cấp và Radabắt đầu thu tiền từ các giao dịch thành công; hay các ứng dụng giúp việc theo giờ,dọn dẹp vệ sinh nhà cửa của Okiaf,…
Một khảo sát mới công bố của công ty Nielsen cho thấy kinh tế chia sẻ có tiềmnăng lớn để phát triển tại Việt Nam Theo khảo sát, cứ bốn người Việt được hỏithì có 3 người cho biết thích ý tưởng kinh doanh về mô hình này (chiếm 75%).Mức độ sẵn sàng về ứng dụng thương mại điện tử (TMĐT) của doanh nghiệp vàngười dân cũng như quy mô thị trường TMĐT ở mức trung bình khá của khu vực.Bên cạnh đó, báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2016 cho hay, giá trị mua hàng trựctuyến của một người trong năm ước tính đạt khoảng 170 USD Doanh số thu từTMĐT B2C (doanh nghiệp đến khách hàng) đạt trên 5 tỷ USD, chiếm 3% tổngmức bán lẻ hàng hóa cả nước, ước tính tăng 20% so với năm 2015
Bà Lại Việt Anh - Phó Cục trưởng - Cục thương mại điện tử và Công nghệ thôngtin - cũng cho hay, mô hình kinh tế chia sẻ hiện đã xuất hiện tại Việt Nam với cáctên tuổi từ nước ngoài như Uber, Grab, Airbnb cũng như nhiều start-up trong nướcnhư Ahamove, jupviec.vn, Cơm mẹ nấu Phó Cục trưởng - Cục thương mại điện
tử và Công nghệ thông tin nhận định "Kinh tế chia sẻ" đang và sẽ mang lại nhiều
Trang 11hiệu quả tiềm năng tại Việt Nam như mang đến trải nghiệm mới đồng thời đónggóp vào tăng trưởng kinh tế; tận dụng tài nguyên nhàn rỗi một cách hiệu quả; đẩymạnh kinh tế vùng địa phương Đồng thời "Kinh tế chia sẻ" giúp đẩy mạnh ứngdụng khoa học công nghệ tiên tiến, hướng tới xây dựng đất nước theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, hòa nhập với xu hướng phát triển CMCN 4.0 của thếgiới.
Dù vậy, theo bà Lại Việt Anh, "kinh tế chia sẻ" cũng đặt ra nhiều thách thức đốivới các nhà quản lý chính sách tại Việt Nam, bao gồm môi trường kinh doanhthuận lợi, đảm bảo hài hòa lợi ích đối với các mô hình kinh doanh dịch vụ truyềnthống; kiểm soát việc minh bạch về thông tin; quản lý giao dịch điện tử, thanh toánquốc tế về thương mại bằng thẻ; quản lý chất lượng dịch vụ, sản phẩm; chống thấtthoát thuế và một số vấn đề xã hội khác nảy sinh như lao động, việc làm và an sinh
Với ngành hàng không, người tiêu dùng được hưởng lợi từ các đợt khuyến mãi liêntiếp với mức giá vé 0 đồng hoặc mức giá rẻ hơn rất nhiều so với giá công bố Thực
tế đây không hoàn toàn là các chiêu khuyến mại của các hãng hàng không mà đó làcách tận dụng số chỗ không bán hết trên chuyến bay để bán với giá rẻ, tài sản nhànrỗi được dùng để khuyến mại Như vậy trên cùng một chuyến bay, cùng hưởngchung
một dịch vụ nhưng có khách hàng vẫn trả chi phí bình thường và có khách hàng chỉphải trả chi phí rẻ hơn rất nhiều
Trang 12Hình 3: Giá cả là lí do quan tâm chủ yếu cho việc sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ
Trong ngành khách sạn, tài sản nhàn rỗi cũng đang là một vấn đề với các chủ đầu
tư Với công suất khai thác trung bình các khách sạn khoảng từ 50- 65% thì vẫncòn từ 35- 50% công suất phòng nhàn rỗi, đó là còn chưa kể tới việc để đạt đượccông suất khai thác trên 50% là điều không dễ dàng với các chủ đầu tư Vì thế,ngành công nghiệp timeshare đã ra đời, mang lại cơ hội cho cả chủ đầu tư kháchsạn và du khách
Ngoài ra., mô hình kinh tế chia sẻ còn mang đến trải nghiệm mới cho người tiêudùng về các sản phẩm dịch vụ mới, tận dụng tài nguyên nhàn rỗi một cách hiệuquả Tạo điều kiện cho người trong cộng đồng giao dịch với nhau Các giao dịchthành công giúp tạo ra quan hệ giữa người với người, tạo nên sự tin tưởng vào dịch
vụ do người không chuyên cung cấp
* Tác động tiêu cực
Mức dân sống tập trung tại các thành phố tăng, dẫn đến nhiều vấn đề về rác thải,tắc đường, parking space… nhưng cũng tạo cơ hội cho mọi người hợp tác vớinhau Chủ nghĩa tiêu dùng lan rộng với những hệ lụy tới môi trường, chất lượngsống, chất lượng đô thị, phân biệt giàu nghèo
Trang 13Doanh nghiệp truyền thống như Taxi, khách sạn cho rằng các doanh nghiệp theonền kinh tế chia sẻ không đảm bảo rằng dịch vụ của họ đạt tiêu chuẩn Ví dụ phòngtrọ, tài xế không phải đi qua những kiểm duyệt Họ cho rằng điều này khiến chogiá sản phẩm rẻ đi Đây là cạnh tranh không lành mạnh Ví dụ: Các tài xế Taxi chorằng Uber có thể khiến mình mất việc và đi biểu tình tại London, Paris…; Bạođộng tấn công taxi Uber tại Seattle.
Ngoài ra sự ra đời của loại hình kinh tế chia sẻ còn dẫn đến việc giảm thị phần vàdoanh thu của doanh nghiệp truyền thống
Hình 4: So sánh tăng trưởng của mô hình kinh tế chia sẻ và truyền thống năm
2013 và 2025
Ngoài ra, khi mô hình kinh tế chia sẻ ra đời thì doanh nghiệp truyền thống đã mất
đi một lượng không ít khách hàng dẫn đến họ phải đầu tư nhiều chi phí lớn hơn đểkhông ngừng tìm kiếm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình cho việc
Trang 142.3 Chính sách quản lí của nhà nước đối với nền kinh tế chia sẻ của Việt Nam hiện nay
Vận tải là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh và là lĩnh vực tiên phong ápdụng kinh tế chia sẻ ở Việt Nam Với sự ủng hộ, khuyến khích sử dụng các thànhtựu khoa học công nghệ và mô hình kinh doanh sáng tạo, hiệu quả trong kinhdoanh tại Việt Nam của Chính phủ, tại Công văn số 1850/TTg-KTN ngày19/10/2015, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải đãthực hiện Đề án thí điểm “Triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quản lý
và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng” Và ngay sau đó, Bộ Giaothông vận tải đã ban hành “Kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa học côngnghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng” theoquyết định số 24/QĐ-BGTVT ngày 07/1/2016 cho loại xe ô tô dưới 9 chỗ ngồi cólắp đặt thiết bị giám sát hành trình, được cấp phù hiệu xe hợp đồng theo đúng quyđịnh tại Nghị định 86/2014/NĐ-CP và Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT với thờigian thí điểm là 2 năm (từ tháng 1/2016 đến tháng 1/2018) tại 5 tỉnh, thành phố lớnbao gồm: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Quảng Ninh Hiện nay, sau
2 năm thực hiện thí điểm Đề án và Hội nghị Tổng kết 02 năm triển khai thực hiệnthí điểm ngày 19/12/2017, Bộ Giao thông vận tải đã có văn bản đề nghị Thủ tướngChính phủ cho phép các đơn vị cung cấp phần mềm và đơn vị vận tải đang thamgia thí điểm tiếp tục kéo dài thời gian hoạt động Theo Quyết định số 24/QĐ-BGTVT ngày 07/01/2016, việc đăng ký loại hình kinh doanh trên được coi là loạihình vận tải đặt xe bằng hợp đồng điện tử Cho đến nay, theo dự thảo Nghị địnhsửa đổi Nghị định 86/2014/NĐ-CP, khi đơn vị kinh doanh quyết định giá cước vàđiều hành lái xe thì được coi là đơn vị kinh doanh vận tải và có thể được coi làhình thức kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng trong trường hợp của cácnền tảng ứng dụng công nghệ như Uber hay Grab với hình thức hợp đồng điện tử.Đối với các đơn vị này, cần thực hiện các qui định đối với đơn vị cung cấp ứngdụng kết nối hợp đồng vận tải điện tử như trong Điều 20 của Dự thảo Nghị định
86 Bên cạnh đó, các điều kiện kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng, vậntải khách du lịch bằng xe ô tô được qui định chi tiết tại Điều 17 của Dự thảo Nghịđịnh sửa đổi Nghị định 86/2014/NĐ-CP Đối với vấn đề bảo hiểm, theo điểm bkhoản 2 Điều 69 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: Người kinh doanh