Xuất khẩu của Nhật Bản phải đối mặt với những cơn sóng ngược mạnh mẽ từ sự sụt giảm trong nhu cầu toàn cầu và đồng Yên tăng giá, thâm hụt thương mại đi đôi với thâm hụt ngân sách, tình h
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2012, trong khi kinh tế Châu Âu vẫn loay hoay với việc tìm cách thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công, kinh tế Mỹ có phục hồi nhưng khá chậm chạp thì suy thoái kinh tế vẫn đang hiện hữu đối với nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là cuối nửa năm Xuất khẩu của Nhật Bản phải đối mặt với những cơn sóng ngược mạnh mẽ từ sự sụt giảm trong nhu cầu toàn cầu và đồng Yên tăng giá, thâm hụt thương mại đi đôi với thâm hụt ngân sách, tình hình giảm phát vẫn bao trùm nền kinh tế, áp lực chi ngân sách và nợ công đang gia tăng đi đôi với lãi suất trái phiếu chính phủ khá cao Mặc dù Nhật bản đã đưa ra các gói kích thích kinh tế và nới lỏng chính sách tiền tệ nhiều lần trong năm nhưng cũng không đủ để tạo ra một tác động lớn đến nền kinh tế Trong gần 2 thập kỷ qua, Nhật Bản gần như đã trở thành một quốc gia ít ảnh hưởng đối với nền kinh tế toàn cầu Sự trì trệ không có lối thoát đã khiến nền kinh tế một thời lớn thứ
2 thế giới không còn tào được nhiều lực tác động đối với thế giới bên ngoài Báo cáo cho rằng, thủ tướng Shinzo Abe đang đưa ra một chính sách lớn để đưa đất nước thoát khỏi quỹ đạo của tăng trưởng thấp và giảm phát Chính sách này đã có những tác động
gì tới nền kinh tế Nhật Bản nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung Bài tiểu luận này sẽ cho mọi người cái nhìn chi tiết hơn về tác động của nó
Trang 2Chương I: TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KINH TẾ NHẬT BẢN TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ABENOMICS
1 Tổng quan về nền kinh tế thế giới
Sau 5 năm chiến đấu với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái trầm trọng nhất từ trước đến nay, nền kinh tế thế giới bắt đầu le lói phục hồi mặc dù chưa thật sự vững chắc do Mỹ và các nước khu vực Euro tiếp tục phải đối mặt với khó khăn tài chính
Theo đánh giá đưa ra tháng 11/2012 của IMF và các tổ chức tài chính khu vực cùng các báo cáo quốc gia , kinh tế toàn cầu năm 2012 tiếp tục suy giảm và chỉ tăng 3,3%; các nền kinh tế mới nổi BRICS tăng 5-5,3% ; kinh tế châu Phi tăng 4,5%; riêng châu
Á - Thái Bình Dương vẫn là khu vực tăng trưởng cao nhất 5,6% ; kinh tế các nước ASEAN cũng đạt tốc độ khá cao 5,2% nhờ nhu cầu nội địa tăng mạnh đã góp phần giảm nhẹ nhiều tác động tiêu cực
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2012 VÀ DỰ BÁO 2013 (%) Quốc gia , khu vực Năm 2012 Năm 2013
Trang 3Nhật Bản 2.2 1.0
(Nguồn: IMF, các tổ chức tài chính k hu vực, báo cáo quốc gia)
2 Tổng quan về nền kinh tế Nhật Bản
Năm 1992, kinh tế Nhật Bản bắt đầu đình trệ và rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài cho đến 2012, được gọi là "hai thập kỷ mất mát" Thời kỳ này có các vấn đề gây áp lực đối với nền kinh tế: Sự thâm hụt của ngân sách nhà nước (Cho đến năm
1992 tài chính chính phủ vẫn là thặng dư, tuy đến năm 1996 thâm hụt lũy kế đã chiếm tới 95% GDP, tỷ lệ thâm hụt lũy kế năm 2008 đã lên tới 170% GDP) và nợ xấu (từ năm 1993 đến năm 2002 đã có tới 180 ngân hàng phá sản Đặc biệt, những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính phi ngân hàng nằm ở tâm điểm của tình trạng gia tăng nợ xấu Thách thức đối với Chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe là làm sao nền kinh tế thoát khỏi tình trạng giảm phát, từng bước giảm nợ công, ứng phó với sự già hóa dân số và giảm lực lượng lao động (Tới ngày 1/1/2014, công dân Nhật Bản giảm năm thứ 5 liên tiếp, còn 126,43 triệu người Dân số giảm tại 82% trong số 1.748 thành phố, thị trấn và làng xã ở Nhật Dân số có tuổi từ 65 trở lên chiếm 24,98% tổng dân số, là tỉ lệ cao kỷ lục từ trước tới nay), hướng tới tăng trưởng kinh tế bền vững trong khi vẫn duy trì hệ thống an sinh xã hội
Trang 4Chương II: CHÍNH SÁCH ABENOMICS TẠI NHẬT BẢN
1 Chính sách Abenomics là gì?
- Abenomics là hàng loạt chính sách kinh tế của thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe được gọi là chiến lược “3 mũi tên” với trọng tâm chính gồm: thúc đẩy chi tiêu công, nới lỏng tiền tệ và tăng trưởng kinh tế sâu rộng
- Mục tiêu áp dụng chính sách Abenomics
● Tăng trưởng kinh tế bền vững trên cơ sở tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, tăng lương và tạo việc làm, tăng đầu tư trong nước và mở rộng tiêu dùng
● Cải thiện các điều kiện kinh tế vĩ mô và cấu trúc kinh doanh ở cấp vi mô của doanh nghiệp
● Củng cố quá trình phục hồi kinh tế, duy trì tính vững mạnh của tài khóa, đảm bảo niềm tin thị trường, môi trường kinh tế cởi mở, cạnh tranh công bằng và
tự do, mang lại cơ hội cho mọi người có chất lượng cuộc sống an toàn và đảm bảo
an sinh, đa dạng thành phần kinh tế xã hội, luôn năng động và sáng tạo, bền vững trong dài hạn
2 Nội dung của chính sách Abenomics
2.1 Chính sách nới lỏng tiền tệ
2.1.1 Mục đích
- Tăng lạm phát đối với đồng Yên đang tăng giá quá đà
- Việc tăng cung tiền sẽ khiến sức mạnh của đồng Yên giảm, đồng nghĩa với việc giá xuất khẩu của hàng hóa Nhật Bản sang nước ngoài trở nên rẻ hơn, qua đó thúc đẩy xuất khẩu
2.1.2 Chính sách cụ thể của Nhật Bản
- Nới lỏng việc kiểm soát giá cả thị trường và nền kinh tế, ổn định giá cả đạt mức lạm phát 2%, kiểm soát khối lượng tiền BOJ phù hợp mức lạm phát đạt 2%; tăng chi tiêu công thông qua gói kích thích kinh tế 114 tỷ USD, cho xây dựng cơ sở hạ tầng, các hệ thống phòng ngừa động đất và tăng chi tiêu quốc phòng
- Trong Chiến lược Abenomics, BOJ đã kiên trì thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trên quy mô lớn cả về số lượng và chất lượng Cụ thể, BOJ đã tăng gấp đôi lượng tiền cơ sở từ 138 nghìn tỷ Yên (cuối năm 2012) lên 270 nghìn tỷ Yên (cuối
Trang 5năm 2014) với mục tiêu làm tăng gấp đôi phần đóng góp của tiền cơ sở vào GDP
để đạt tới mức gần 60% là tỷ lệ cao nhất từ trước tới nay
- Nền kinh tế Nhật Bản có dấu hiệu giảm phát vào cuối năm 2014 đã buộc BOJ phải
mở rộng phần đóng góp của tiền cơ sở trong GDP từ 70% - 75% tới cuối năm
2015 Bước sang năm 2016, BOJ đã quyết định áp dụng chính sách lãi suất âm chưa từng có trong tiền lệ đối với các ngân hàng thương mại gửi tiền dự trữ tại BOJ với mục đích khuyến khích ngân hàng cho vay, từ đó thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế
2.2 Chính sách tài khóa linh hoạt
2.2.1 Mục tiêu
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước
- Đối phó với tình trạng dân số già của Nhật Bản
- Đầu tư cơ sở hạ tầng (liên quan đến việc phục vụ Olympic Tokyo 2020)
2.2.2 Chính sách cụ thể của Nhật Bản
- Chính sách tài khóa được thể hiện ở 2 giai đoạn Giai đoạn 1 sẽ bổ sung vào ngân
sách khoản tiền 13,1 nghìn tỷ yên với hi vọng nền kinh tế sẽ dịch chuyển Khoản tiền này dự kiến sẽ được chi tiêu chủ yếu cho các công trình công cộng Giữa tháng 5/2013, Nhật Bản đã thông qua khoản ngân sách 92,610 tỷ yên cho tài khóa 2013 nhằm thúc đẩy các chính sách kinh tế của thủ tướng Shinzo Abe Đây là lần đầu trong
17 năm qua khoản ngân sách ban đầu của Nhật Bản được kích hoạt vào tháng 5
2.3 Chính sách tăng trưởng kinh tế sâu rộng
“Mũi tên thứ ba của Abenomics là đòn bẩy quan trọng nhất với việc tự do hóa các ngành công - nông nghiệp, cải cách chính sách kinh tế để biến Nhật Bản thành một đất nước có nhiều tiềm năng cho các nhà đầu tư ” Mục tiêu đến năm 2020:
- Ngành nông nghiệp sẽ sử dụng số lượng rô-bốt gấp 20 lần so với hiện nay, các ngành còn lại tăng gấp đôi
- Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe mong muốn trong 10 tới thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản tăng thêm 15.000 USD và tăng gấp đôi tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Theo đó, FDI hằng năm của Nhật Bản phải đạt gần 345 tỷ USD
- Đẩy mạnh sản lượng nông sản xuất khẩu lên mức 1.000 tỷ yên
Trang 63 Tác động của chính sách Abenomics đối với nền kinh tế Nhật Bản
Sau hơn 1,5 năm triển khai thực hiện 3 “mũi tên” của chính sách Abenomics, đến nay, nền kinh tế Nhật Bản đã đạt được những kết quả khả quan.Tuy nhiên trong những điều đáng mừng đó thì cũng có sự xuất hiện một số rủi ro Dưới đây là phân tích tác động của chính sách Abenomics.
3.1 Tác động đến tăng trưởng GDP
Trong quý I/2013, ngay sau khi chính sách Abenomics được tiến hành, tốc độ tăng trưởng GDP đã tăng 1,3%, là mức tăng trưởng cao nhất của Nhật Bản trong một năm kể từ khi áp dụng chính sách Abenomics
Tốc độ tăng GDP từ năm 2014 đến đầu năm 2017
3.2 Tác động đến lạm phát
Trong tháng 9/2013, CPI đã tăng kỷ lục ở mức 0,7%, trở thành mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 5 năm qua Để tiếp tục hỗ trợ tài chính công, tháng 4/2014, Chính phủ Nhật Bản đã tăng thuế tiêu thụ từ 5% - 8% Điều này đã khiến CPI trong tháng 5/2014 của Nhật Bản tăng 1,4% Đến tháng 7/2014, sau một năm rưỡi
Trang 7chính sách Abenomics có hiệu lực, CPI của nước này đã tăng 3,7% CPI tăng chứng
tỏ, mục tiêu thoát khỏi giảm phát, kích thích sản xuất tiêu dùng của chính sách Abenomics đã đạt được những kết quả ban đầu
Tỉ lệ lạm phát của nhật bản từ cuối năm 2013 đến quý 3 năm 2014
3.3 Tác động đến lao động và việc làm
- Thống kê của Chính phủ còn chỉ ra rằng từ khi chính sách Abenomics bắt đầu triển khai, đã có hơn 620,000 phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động
- Số người mới bắt đầu kiếm việc giảm xuống còn 660.000 người, với tỷ lệ thất nghiệp ở nữ giới đã giảm 0,5% xuống còn 3,2%, trong khi tỷ lệ này ở nam giới vẫn giữ nguyên là 3,8% Số người thất nghiệp giảm 180.000 người xuống 2,3 triệu người, song số người kiếm được việc chỉ tăng 70.000 lên hơn 56 triệu người
(Tỉ lệ thất nghiệp của Nhật bản từ đầu 2014 đến đầu 2015)
3.4 Tác động đến vấn
đề nợ công
- Nhật Bản có số nợ công cao nhất thế giới Do việc thực hiện hai trụ cột của chính sách Abenomics là chính sách nới lỏng tiền tệ và chính sách thúc đẩy chi
Trang 8tiêu công, khiến Ngân hàng Trung ương Nhật Bản mua vào 70% trái phiếu Chính phủ mới phát hành, tương đương với 7.000 tỷ Yên/tháng
- Chính sách Abenomics đãthành công trong việc cắt giảm tỉ lệ vay 2012 - 2014 (từ 9.2% GDP xuống 7.6% GDP) bằng cách tăng thuế tiêu dùng để bù đắp cho việc hao hụt ngân sách Tuy nhiên, họ vẫn phải đi vay và tỉ lệ vẫn khá cao Có thể nói đối với nền kinh tề Nhật Bản nợ công là vấn đề bức bách nhất cần phải giải quyết
Trang 9Chương III: ẢNH HƯỞNG CỦA ABENOMICS ĐẾN NỀN KINH TẾ
THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
1 Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Abenomics và chính sách xoay trục qua châu Á của Mỹ
- Việc Nhật Bản tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được xem là sự kiện quan trọng nhất trong quan hệ giữa Mỹ với châu Á-Thái Bình Dương trong thập kỷ qua Không có một Nhật Bản hồi sinh kinh tế, châu Á sẽ ngày càng bị hút ra khỏi Mỹ và rơi vào quỹ đạo kinh tế-chiến lược của Trung Quốc
- Một khi được thực hiện, TPP - có sự tham gia của Nhật Bản - sẽ lấp đầy khoảng trống kinh tế trong chính sách châu Á của Mỹ bằng cách gia tăng luồng thương mại giữa các thành viên, khiến họ bớt phụ thuộc vào thương mại với Trung Quốc và tăng
vị thế kinh tế với nước láng giềng khổng lồ này
- Chiến lược của Mỹ ở châu Á phụ thuộc vào sự hồi sinh của nền kinh tế Nhật Bản,
mà nền kinh tế này sẽ phụ thuộc vào chương trình kinh tế ba mũi nhọn của ông Abe ( Abenomics) Hai thành tố đầu tiên của Abenomics là tài chính và tiền tệ, đã được thực hiện và dự kiến tiếp diễn trong tương lai gần Ông Abe dự kiến tiến hành cải cách cấu trúc trong nước để đánh thức nền kinh tế Nhật Bản sau giấc ngủ vùi suốt hai thập
kỷ
- Về mặt chính trị, ông Abe dựa vào các cuộc đàm phán TPP như một phương tiện để lèo lái chương trình cải cách Nguyên tắc trung tâm của chương trình này là cải thiện tính cạnh tranh và giành lại lợi thế xuất khẩu cho Nhật Bản TPP sẽ dẫn đến chi phí thấp hơn cho hàng hóa nhập khẩu, tăng cường sự tiếp cận khu vực của các nhà xuất khẩu Nhật Bản và giảm sự phụ thuộc thương mại của Nhật Bản vào Trung Quốc
- Sự thất bại của Abenomics có thể tạo ra nguy cơ bất ổn toàn cầu nghiêm trọng Tất
cả những kịch bản xấu đều gây hậu quả tệ hại là đẩy Nhật Bản đến tình trạng vỡ nợ nghiêm trọng, nhấn chìm cuộc đàm phán TPP Tồi tệ hơn là một Nhật Bản tuyệt vọng
về kinh tế có thể chuyển hướng theo con đường dân tộc chủ nghĩa độc hại, và trớ trêu
là đẩy nước này vào vòng tay của Trung Quốc cũng như phá hủy chiến lược châu Á của Mỹ
Trang 102 Thúc đẩy làn sóng đầu tư mới sang thị trường Châu Á, đặc biệt là ASEAN
- Chuyên gia kinh tế John Waz phụ trách thị trường Châu Á của Tập đoàn City Group
của Mỹ đưa ra nhận xét: “Vào thời điểm này tính lưu động của hệ thống tài chính
Nhật Bản đang hướng vào thị trường trong nước, vào việc cổ phần hóa Trên thực tế, nếu mục tiêu lạm phát ở mức 2% đạt được thì việc bắt đầu mở rộng hoạt động đầu tư
ra nước ngoài sẽ có một làn sóng mới” Chính sách Abenomics được đánh giá cao tại
HN G8 diễn ra tại Bắc Ireland
- Theo đánh giá của Ngân hàng Nhật Bản, các nhà đầu tư Nhật Bản ngoài thị trường trong nước có khả năng sẽ tập trung vào thị trường chứng khoán của Châu Á- thị trường dự đoán có khả năng đạt tăng trưởng cao nhất thế giới, mang lại nguồn lợi béo
bở cho các nhà đầu tư nước ngoài Mặt khác, Ngân hàng Nhật Bản đang cho một loạt các nước Đông Nam Á trong đó có Thái Lan, Indonesia vay tiền với lãi suất thấp để xây dựng cơ sở hạ tầng Do vậy, việc mở rộng sang thị trường Châu Á, không phải là một kế hoạch mới mẻ, nhưng nó chứng tỏ sự hấp dẫn của thị trường Châu Á đối với các nhà đầu tư Nhật Bản vốn lâu nay vẫn coi trọng thị trường này
- Sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Châu Á nói chung và Nhật Bản nói riêng được cho là một trong những kết quả thành công nhất có được nhờ chính sách chấn hưng kinh tế mang tên Thủ tướng Shinzo Abe - "Abenomics"
- Những nỗ lực giản lược các quy định về thị thực được khởi động ngay trong tuần đầu tiên khi ông Abe bắt đầu đảm nhiệm vai trò Thủ tướng vào tháng 12/2012 đã giúp lượng khách du lịch trong nước tăng gần 4 lần, từ mức trung bình hàng tháng là 697.000 lượt (năm 2012) lên 2,6 triệu lượt khách trong thời gian gần đây
- Chiến lược thúc đẩy ngành “công nghiệp không khói” của chính quyền Abe được đánh giá là đi đầu trong số các nền kinh tế phát triển trong những năm gần đây Đầu tiên, việc giảm bớt các quy định về thị thực đối với khách du lịch Trung Quốc và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã mở đường cho làn sóng du lịch Nhật Bản
- vốn luôn là điểm đến hấp dẫn của tầng lớp trung lưu đang gia tăng ở châu Á
3 Những gợi ý chính sách với Việt Nam
Từ những thành tựu về tăng trưởng kinh tế cũng như những thách thức trong thực thi chính sách Abenomics, Việt Nam có thể rút ra những bài học hữu ích trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế
Trang 11- Thứ nhất, về điều hành các chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ cần có sự phối hợp chặt chẽ, tạo thế chủ động và linh hoạt trong việc xác định mục tiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho mục tiêu đó Đồng thời, cần xác định “liều lượng” phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở mức hợp lý
Để làm được điều đó, các cơ quan hữu quan cần nghiên cứu trên cả 2 giác độ định lượng và định tính để phát huy tối đa hiệu quả của chính sách trong nền kinh tế Trong quá trình điều hành chính sách, các cơ quan chức năng cần tính đến độ trễ của chính sách để khi ban hành mức độ tác động đến đời sống xã hội ở mức hợp lý và có những giải pháp dự phòng Tránh hiệu ứng chính sách tác động “quá liều” nhằm đạt mục tiêu ngắn hạn nhưng sẽ có tác động tiêu cực trong tương lai
- Thứ hai, thách thức đặt ra đối với kinh tế Nhật Bản qua quá trình thực hiện chính
sách Abenomics là bài toán nợ công vẫn tiếp tục xu hướng gia tăng Triển vọng giảm
nợ công dường như khá mờ nhạt trong giai đoạn hiện nay Đáng lo ngại hơn, khi dân
số sụt giảm, khoản nợ được tính trên đầu người vẫn đang gia tăng Tổng nợ công của Nhật Bản đã tăng lên mức 230% GDP, tương đương với tài sản thực của toàn bộ hộ gia đình của đất nước và tính theo mức thuế hiện nay thì bằng tổng số thu từ thuế của
8 năm
Đối với Việt Nam, do chưa có sức mạnh kinh tế như Nhật Bản nên để có thể giảm bớt nợ công Việt Nam cần quyết liệt thực thi quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nợ công, đồng thời cần có các biện pháp hạn chế sự gia tăng nợ công thông qua việc tăng cường kỷ luật tài khóa, giảm dần mức bội chi NSNN theo một lộ trình phù hợp và cam kết đủ mạnh; Hình thành các cơ chế để đảm bảo việc quản lý và sử dụng nguồn vốn vay được thực hiện theo một chiến lược thận trọng Ngoài ra, từ bài học kinh nghiệm của Nhật Bản, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam cần tính toán, nghiên cứu thực thi một chính sách lãi suất thấp, kiểm soát lạm phát và quản lý nợ nước ngoài/nợ công bằng cách thắt chặt trái phiếu chính phủ
- Thứ ba, cần sự dũng cảm và quyết liệt trong triển khai các chính sách cải cách tăng
trưởng sâu rộng nhằm tái cấu trúc nền kinh tế Những nghiên cứu cho thấy, chính sách tái cơ cấu toàn diện là yếu tố mang tính quyết định đối với sự hồi sinh nền kinh tế