1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình điều chế sét hữu cơ từ bentonit Bình Thuận

111 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 5,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu về bentonit và điều chế sét hữu cơ từ bentonit ở Việt Nam, trong luận văn này chúng tôi trình bày các kết quả khảosát quá trình điều chế sét

Trang 1

Luận văn tốt nghiệp

Quá trình điều chế sét hữu cơ từ bentonit Bình Thuận

Trang 2

MỞ ĐẦU

Bentonit là loại khoáng sét tự nhiên, thuộc nhóm smectit gồm montmorilonit vàmột số khoáng khác Bentonit có các tính chất đặc trưng là trương nở, kết dính, hấpphụ, trơ, nhớt và dẻo [1,3,4,35,37] Do những tính chất này mà bentonit được ứngdụng từ xa xưa như làm đồ gia dụng (bát đĩa, nồi, chum, vại…) và ngày nay được sửdụng làm chất xúc tác [2,8,10,20,39], chất tạo huyền phù trong sơn, thuốc nhuộm,vecni, làm chất hấp phụ trong xử lý nước thải [11,17,20,26,27], khử giấy, mực, làmchất đầu chế tạo nanocompozit [7,14]…

Sét hữu cơ là sản phẩm của quá trình tương tác giữa sét bentonit và các hợp chấthữu cơ phân cực hoặc các cation hữu cơ, đặc biệt là các amin bậc 1, bậc 2, bậc 3, bậc

4 có mạch thẳng, nhánh và vòng [9,11,25,31] Sét hữu cơ có tính chất đặc biệt như ưahữu cơ, nhớt, hấp phụ Do có những tính chất trên mà sét hữu cơ được ứng dụng làmchất chống sa lắng trong sơn, dầu nhờn, mực in,… và gần đây là điều chế vật liệunanocompozit, làm chất hấp phụ các chất hữu cơ và dầu mỏ trong xử lý môi trườngnước [17,20,26,27,30]

Do có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau, sét hữu cơ đã và đang đượccác nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu ngày càng nhiều Ở Việt Nam có một trữlượng khoáng sét dồi dào song mới được khai thác trong phạm vi nhỏ và mới được sửdụng làm vật liệu gốm, vật liệu xây dựng, xử lý môi trường,… mà chưa được nghiêncứu nhiều để nâng cao tính năng sử dụng Do đó việc nghiên cứu để sử dụng mộtcách có hiệu quả nguồn khoáng sét ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa khoahọc và thực tiễn của các nhà khoa học Việt Nam

Để đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu về bentonit và điều chế sét hữu

cơ từ bentonit ở Việt Nam, trong luận văn này chúng tôi trình bày các kết quả khảosát quá trình điều chế sét hữu cơ từ bentonit Bình Thuận hàm lượng MMT >90% vớicetyl trimetyl amoni bromua và dodecyl amoni clorua, sau đó tiến hành xác định cấutrúc và tính chất của sản phẩm sét hữu cơ điều chế được

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN1.1 Giới thiệu về bentonit [1,3,4]

Bentonit là loại khoáng sét tự nhiên thành phần chính là montmorilonit (MMT)

vì vậy nó còn có tên là MMT Công thức đơn giản nhất của MMT là

Al2O3.4SiO2.nH2O ứng với nửa tế bào đơn vị cấu trúc Trong trường hợp lí tưởng,công thức của MMT là Si8Al4O20(OH)4 ứng với một đơn vị cấu trúc Tuy nhiên thànhphần của MMT luôn khác với thành phần biểu diễn lý thuyết do có sự thay thế đồnghình của ion kim loại Al3+, Fe3+, Fe2+, Mg2+… với ion Si4+ trong tứ diện SiO4 và Al3+trong bát diện AlO6 Như vậy thành phần hóa học của MMT ngoài sự có mặt của Si

và Al còn thấy các nguyên tố khác như Fe, Zn, Mg, Na, K… trong đó tỷ lệ Al2O3 :SiO2 từ 1: 2 đến 1: 4 [1,3-6]

Ngoài thành phần chính là MMT, trong bentonit còn chứa một số khoáng sétkhác như hectorit, saponit, beidelit, nontronit,… và một số khoáng phi sét như canxit,pirit, manhetit, một số muối kim loại kiềm khác và hợp chất hữu cơ

1.1.1 Cấu trúc của bentonit

Cấu trúc không gian mạng lưới của montmorilonit được trình bày trên hình 1

Trang 4

Hình 1.1 Cấu trúc không gian mạng lưới của montmorilonit

Trong trường hợp lý tưởng, các nguyên tử Si nằm ở tâm của các tứ diện, còn cácnguyên tử Al nằm ở tâm các bát diện của MMT Do MMT có cấu trúc 2:1 dạng dioctanên cấu trúc lớp của MMT đã được hình thành từ hai lá tứ diện liên kết với một lá bátdiện ở giữa tạo nên một lớp aluminosilicat Giữa các lớp aluminosilicat là các cation

có khả năng trao đổi bị hydrat hóa Khoảng cách giữa các lớp trong cấu trúc cơ bảncủa MMT là 9,6Å, khoảng cách này bị thay đổi ít hay nhiều tùy thuộc vào số lượng,bản chất các cation trao đổi và lượng nước bị hấp phụ, thường có thể đến 15Å

Sơ đồ cấu trúc không gian mạng lưới của MMT ở hình 1.1 là cấu trúc trung hòađiện Nếu Si4+ ở tâm tứ diện hay Al3+ ở tâm bát diện bị thay thế đồng hình bởi cáccation dương có điện tích nhỏ hơn thì các mạng lưới đó tích điện âm Điện tích âmcủa mạng lưới sẽ được bù trừ bằng các cation mang điện tích dương như Na+, K+,

Ca2+, Fe2+, Mg2+ ở khoảng không gian giữa các lớp Các cation này có khả năngtrao đổi với các cation kim loại hoặc cation hữu cơ khác Như vậy dung lượng traođổi cation của MMT tương đương với điện tích của các lớp

1.1.2 Tính chất của bentonit

1.1.2.1 Tính chất trao đổi ion [10]

Trang 5

Đặc trưng cơ bản của bentonit là khả năng trao đổi ion do trên bề mặt của cáclớp sét có các trung tâm (O, OH) mang điện tích âm có khả năng hấp phụ và trao đổication Đồng thời, tính chất đó có được là do sự thay thế đồng hình của các cation Ví

dụ như khi Si4+ trong mạng tứ diện bị thay thế bởi Al3+ hoặc Fe3+, hoặc Al3+ trongmạng bát diện bị thay thế bởi Mg2+, Fe3+, Cr3+, Zn2+ , thì sự thay thế các ion điệntích cao này bằng các ion điện tích thấp hơn sẽ gây ra sự thiếu hụt điện tích dươngtrong cấu trúc tứ diện và bát diện tạo ra điện tích âm trên bề mặt phiến sét

Đối với bentonit, sự thay thế đồng hình chủ yếu xảy ra trong lớp bát diện, ở giữahai lớp tứ diện của phiến sét Do đó liên kết của cation với bề mặt lớp sét là liên kếtyếu và các cation đó có thể bị thay thế bởi các cation khác Khả năng trao đổi mạnhhay yếu phụ thuộc vào lượng điện tích âm bề mặt và số lượng ion trao đổi Nếu sốlượng điện tích âm càng lớn, số lượng cation trao đổi càng lớn thì dung lượng trao đổicàng lớn

Khả năng trao đổi ion của lớp aluminosilicat còn phụ thuộc vào điện tích và bánkính ion của cation trao đổi Cation có điện tích thấp dễ trao đổi hơn cation có điệntích cao:

Me+ > Me2+ > Me3+

Đối với cation cùng điện tích, bán kính ion càng nhỏ thì khả năng trao đổi cànglớn, có thể sắp xếp theo trật tự sau:

Li+ > Na+ > K+ > Cu2+ > Fe2+ > Al3+

Tuy nhiên khả năng trao đổi của bentonit chủ yếu vẫn phụ thuộc vào điện tích

âm bề mặt và điện tích âm trong mạng lưới Bề mặt của bentonit gồm bề mặt trong và

bề mặt ngoài Khả năng trao đổi ion bề mặt ngoài phản ánh kích thước hạt tinh thể,phụ thuộc vào sự đứt gãy liên kết và khuyết tật bề mặt Kích thước hạt càng nhỏ thìkhả năng trao đổi càng lớn Khả năng trao đổi ion bề mặt trong phản ánh lượng điệntích âm trên mạng lưới và khả năng hấp phụ của bentonit Nó phụ thuộc vào lượngcation bù trừ trong mạng lưới Số lượng cation càng lớn thì khả năng trao đổi

Trang 6

càng lớn Dung lượng cation trao đổi dao động từ 80 đến 150 meq/100g Dung lượngtrao đổi anion dao động từ 15 đến 40 meq/100g.

Sự trao đổi ion của bentonit còn liên quan đến sự thay thế các nguyên tử hyđrotrong các nhóm hyđroxyl của montmorilonit Theo một số nghiên cứu thì ở đỉnh củacác tứ diện SiO2 hướng ra ngoài của lớp cấu trúc, các nguyên tử oxi được thay thế bởicác nhóm hiđroxyl và các nhóm này đảm nhiệm việc duy trì liên kết yếu giữa các lớp

và góp phần vào sự cân bằng điện tích Ngoài ra trong cấu trúc của bentonit còn cócác nhóm hiđroxyl khác nằm ở đỉnh các bát diện Trong sáu đỉnh của bát diện có haiđỉnh là nhóm OH còn bốn đỉnh kia là oxi, trong đó nhóm hiđroxyl của liên kết Si –

OH không có khả năng trao đổi hiđro Nhóm hiđroxyl của liên kết Al – OH có tínhaxit yếu nên khả năng trao đổi yếu Nhóm Si – O –Al có tính trao đổi mạnh nên cótính quyết định đến trao đổi cation H+

1.1.2.2 Tính chất trương nở [9,37]

Khi nước, các phân tử phân cực hoặc các cation bị hấp phụ vào khe trống giữacác lớp sẽ làm tăng chiều dày lớp cấu trúc, tính chất này gọi là tính chất trương nở.Mức độ trương nở phụ thuộc vào bản chất khoáng sét, cation trao đổi, sự thay thếđồng hình của các ion trong các lớp và sự có mặt của các ion, các phân tử phân cựctrong môi trường phân tán Lượng nước được hấp phụ vào giữa các lớp sét phụ thuộcvào khả năng hydrat hóa của các cation trao đổi

Khi bentonit hấp phụ hơi nước hay tiếp xúc với nước, các phân tử nước phâncực sẽ thâm nhập vào bên trong các lớp, làm khoảng cách này tăng lên ít nhất 14 15Åtùy thuộc vào loại bentonit và lượng nước bị hấp phụ Sự tăng khoảng cách d001 đượcgiải thích là do sự hydrat hóa của các cation giữa các lớp

Độ trương nở của bentonit phụ thuộc vào bản chất cation trao đổi trên bề mặtlớp sét Ví dụ, ion Na+ với điện tích +1 có thể liên kết với một tâm tích điện âm trênmặt lớp sét Do vậy khi bị hyđrat hóa, bentonit Na có khả năng trương nở từ khoảngcách ban đầu giữa 2 phiến sét là từ 9,2Å đến ít nhất 17Å Trong môi trường kiềm

Trang 7

bentonit-Na bị hiđrat hóa mạnh hơn, lớp nước hấp phụ tăng mạnh Do vậy trong môitrường kiềm, huyền phù bentonit-Na rất bền vững.

Cation Ca2+ liên kết với 2 tâm tích điện âm trên 2 phiến sét do vậy khi

bentonit-Ca bị hydrat hóa, khoảng cách giữa 2 phiến sét chỉ tăng từ 12,1Å đến 17Å Điều nàyhạn chế sự trương nở hay khả năng tạo độ nhớt của bentonit-Ca Độ trương nở củabentonit-Ca từ 100 đến 150%, đối với bentonit-Na độ trương nở lớn hơn

1.1.2.3 Tính hấp phụ [1,7]

Tính chất hấp phụ của bentonit được quyết định bởi đặc tính bề mặt và cấu trúclớp của chúng Với kích thước hạt nhỏ hơn 2µm và có cấu trúc mạng tinh thể dạnglớp nên bentonit có bề mặt riêng lớn Diện tích bề mặt của bentonit gồm diện tích bềmặt ngoài và diện tích bề mặt trong Diện tích bề mặt trong được xác định bởi bề mặtcủa khoảng không gian giữa các lớp trong cấu trúc tinh thể Bề mặt ngoài phụ thuộcvào kích thước hạt Sự hấp phụ bề mặt trong của bentonit có thể xảy ra với chất bị hấpphụ là các ion vô cơ, các chất hữu cơ ở dạng ion hoặc chất hữu cơ phân cực Các chấthữu cơ phân cực có kích thước và khối lượng nhỏ bị hấp phụ bằng cách tạo liên kếttrực tiếp với các cation trao đổi nằm giữa các lớp hoặc liên kết với các cation đó qualiên kết với nước hoặc liên kết với các trung tâm mang điện tích trên bề mặt các lớpsét Nếu các chất hữu cơ phân cực có kích thước và khối lượng phân tử lớn, chúng cóthể kết hợp trực tiếp vào vị trí oxi đáy của tứ diện trong mạng lưới tinh thể bằng lựcVan der Walls hoặc liên kết hiđro Sự hấp phụ các chất hữu cơ không phân cực, cácpolime và đặc biệt là vi khuẩn chỉ xảy ra trên bề mặt ngoài của bentonit [5,6]

Do bentonit có cấu trúc lớp và độ phân tán cao nên có cấu trúc xốp phức tạp và

bề mặt riêng lớn Cấu trúc xốp ảnh hưởng rất lớn đến tính chất hấp phụ của cáckhoáng sét, đặc trưng của nó là tính chọn lọc đối với chất bị hấp phụ Chỉ có phân tửnào có đường kính đủ nhỏ so với lỗ xốp thì mới chui vào được Dựa vào điều này

Trang 8

người ta có thể dùng bentonit hoạt hóa làm vật liệu tách chất Đây cũng là một điểmkhác nhau giữa bentonit và các chất hấp phụ khác.

1.1.2.4 Tính kết dính

Khi trộn với nước, bentonit sẽ có khả năng kết dính mạnh nên từ thời xa xưa conngười đã biết sử dụng loại sét này để nặn thành các vật dụng nhằm mục đích phục vụđời sống Lợi dụng tính chất kết dính này, trong các xưởng đúc gang, bentonit đượcdùng làm chất kết dính để vê quặng bột thành viên trước khi đưa vào lò nung, hoặclàm chất kết dính trong khuôn cát để đúc

1.1.3 Ứng dụng của bentonit

1.1.3.1 Làm chất xúc tác trong các quá trình tổng hợp hữu cơ [1,10,12,28]

Do có độ axit cao nên bentonit có thể được dùng làm chất xúc tác trong các phảnứng hữu cơ Bề mặt của bentonit mang điện tích âm do sự thay thế đồng hình của cácion Si4+ bằng ion Al3+ ở tâm tứ diện và ion Mg2+ thay thế ion Al3+ ở tâm bát diện.Các ion thay thế Al3+, Mg2+ có khả năng cho điện tử nếu tại đó điện tích âm củachúng không được bù trừ bởi các ion dương Do vậy tâm axit Lewis được tạo thành từion Al3+ và ion Mg2+ ở các đỉnh, các chỗ gãy nứt và các khuyết tật trên bề mặtbentonit Nếu lượng Al3+ và Mg2+ tăng lên ở bề mặt bentonit sẽ làm tăng độ axitLewis của chúng

Trang 9

Trên bề mặt bentonit tồn tại các nhóm hiđroxyl Các nhóm hiđroxyl có khả năngnhường proton để hình thành trên bề mặt bentonit những tâm axit Bronsted Số lượngnhóm hiđroxyl có khả năng tách proton tăng lên sẽ làm tăng độ axit trên bề mặt củabentonit.

Trong các vật liệu sét chống (pillared clays), giữa cột chống và các lớpaluminosilicat của bentonit có những liên kết cộng hóa trị thực sự Các liên kết nàydẫn đến sự giải phóng các phân tử nước và proton làm tăng độ axit và bền hóa cấutrúc của bentonit chống

Việc biến tính bentonit bằng phương pháp trao đổi cation kim loại đa hóa trị như

Ti4+, Zr4+, Al3+, Si4+, tạo ra vật liệu sét chống có độ axit và độ xốp cao hơn, có khảnăng xúc tác cho một số phản ứng hữu cơ Ví dụ; việc sử dụng sét chống làm chấtxúc tác axit rắn trong phản ứng hữu cơ ở pha lỏng thuận lợi hơn nhiều so với axitlỏng Sau khi kết thúc phản ứng chỉ cần lọc hỗn hợp phản ứng có thể tách chất xúctác rắn ra khỏi hỗn hợp phản ứng

Ngoài ra, do bentonit có khả năng hấp phụ cao nên có thể hấp phụ các chất xúctác trên bề mặt trong giữa các lớp Vì vậy, bentonit được sử dụng làm chất mang xúctác cho nhiều phản ứng tổng hợp hữu cơ

1.1.3.2 Làm vật liệu hấp phụ [18]

Bentonit được dùng rộng rãi làm chất hấp phụ trong nhiều ngành công nghiệp.Trong công nghiệp lọc dầu, lượng bentonit được sử dụng với lượng rất lớn, bao gồmbentonit tự nhiên và bentonit đã hoạt hóa Lượng bentonit tự nhiên tiêu tốn cho quátrình lọc dầu là 25% khối lượng dầu và lượng bentonit đã hoạt hóa bằng 10% khốilượng dầu Việc sử dụng bentonit làm chất hấp phụ ưu việt hơn hẳn phương pháp cũ

là phương pháp rửa kiềm Lượng bentonit mất đi trong quá trình tinh chế chỉ bằng0,5% lượng dầu được tinh chế Ngoài ra, phương pháp dùng bentonit còn có mức haophí dầu thấp do tránh được phản ứng thủy phân

Trong công nghiệp hóa than, bentonit được sử dụng để tinh chế benzen thô vàcác bán sản phẩm khác

Trang 10

Với tư cách là một chất hấp phụ đặc biệt tốt, bentonit có thể tạo ra các dung dịchkhoan với chất lượng đặc biệt cao và chi phí nguyên liệu thấp Vì thế, cùng với sựphát triển của ngành thăm dò và khai thác dầu, lượng bentonit được sử dụng trongviệc chế tạo dung dịch khoan ngày càng tăng Ngày nay ở Mỹ, lượng bentonit được

sử dụng làm dung dịch khoan chiếm tới 40% tổng sản lượng bentonit của nước này

Các chức năng quan trọng của bentonit trong dung dịch khoan là:

+ Làm tăng khả năng lưu chuyển của dung dịch khoan do có độ nhớt cao ngay

cả khi nồng độ chất rắn thấp

+ Tạo huyền phù với các tác nhân và mùn khoan gây lắng khi ngừng lưu

chuyển dung dịch khoan vì một lí do nào đó

+ Ngăn cản sự mất dung dịch vào các tầng có áp suất thấp, thấm nước nhờ việctạo nên lớp bánh lọc không thấm nước trên thành lỗ khoan Lớp bánh lọc này khôngchỉ ngăn khỏi bị mất dung dịch mà còn có tác dụng như một cái màng cứng làm bềnthành lỗ khoan

Ngoài ra, do có khả năng hấp phụ tốt nên bentonit còn được sử dụng làm chấthấp phụ các chất hữu cơ và dầu mỏ trong xử lý môi trường…

1.1.3.3 Làm vật liệu điều chế sét hữu cơ và nanocompozit [4,13]

Gần đây với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ nano, nhiều ngành côngnghiệp đã sử dụng bentonit ngày càng nhiều Công nghệ nano sử dụng sét hữu cơ trộnvới các chất khác để chế tạo ra các vật liệu mới Ví dụ, sét hữu cơ được trộn với cácpolime để chế tạo các nanocompozit, gọi là composit-nano-bentonit Các polime cóthể được trộn thêm các hạt nanobentonit khi được kéo thành màng sẽ cho màng kínhơn rất nhiều so với polime không trộn vì khi kéo, cán, các lá nanobentonit này nằmsong song với bề mặt, có khả năng ngăn cản hiệu quả nhiều loại phân tử đi qua Cáchạt nanobentonit này trộn với polime không những kín mà còn bền hơn nhiều, do đóđáp ứng yêu cầu làm các ống mềm để truyền dẫn thuốc, dẫn máu trong y tế

Trang 11

1.1.3.4 Dùng trong một số lĩnh vực khác

Một lượng lớn bentonit đã được sử dụng làm chất độn trong công nghiệp sảnxuất vật liệu tổng hợp (xà phòng, vải sợi ) Đặc biệt trong công nghiệp sản xuất giấy,việc trộn thêm bentonit làm tăng hàm lượng cao lanh, giảm lượng xenlulo cần cótrong giấy, làm tăng đáng kể chất lượng và giảm giá thành của giấy

Trong công nghiệp bia, rượu, bentonit hấp phụ các chất hữu cơ, các chất béo,các sản phẩm phụ không mong muốn trong quá trình lên men, đồng thời hấp phụ cảion sắt, đồng và các tác nhân gây bệnh của rượu, lại không làm mất hương vị củarượu, bia

Bentonit còn được sử dụng làm sạch nguồn nước mặt Do bentonit làm kết tủacác vẩn đục, hấp phụ các ion gây độc, một lượng lớn vi khuẩn gây bệnh và chất hữu

cơ có trong nước với giá thành tương đối rẻ

Do có đặc tính trơ, không độc hại nên bentonit còn được dùng làm phụ gia trongthuốc tiêu hóa thức ăn và giúp điều tiết axit cho động vật, làm phụ gia dược phẩm

1.1.4 Làm giàu, làm sạch bentonit

Các mỏ bentonit kiềm trên thế giới thường có hàm lượng MMT cao, nên cáccông trình nghiên cứu về làm giàu, làm sạch bentonit kiềm để nâng cao hàm lượngMMT-Na của các tác giả trên thế giới không nhiều Đối với những mỏ bentonit kiềm

có hàm lượng MMT cao như bentonit kiềm Wyoming (Mỹ) người ta có thể trực tiếp

sử dụng mà không cần qua giai đoạn làm giàu, hoặc biến tính nó để thu được sảnphẩm cho những mục đích khác nhau

Tuy nhiên đối với loại quặng bentonit có hàm lượng MMT thấp - như bentonitTuy Phong, Bình Thuận của Việt Nam, người ta phải sử dụng phương pháp tuyểntrọng lực như của các tác giả ở công trình [2] hoặc phương pháp ướt như của các tácgiả ở Mỹ ở các công trình [3,4] Theo phương pháp này, bentonit được pha với nướctheo một tỷ lệ thích hợp Sử dụng chất phân tán Na(PO3)6 để làm lắng các khoáng

Trang 12

phi sét theo nhiều giai đoạn, sau đó huyền phù mịn được lọc, sấy khô và nghiền mịn

để thu sản phẩm Một số tác giả khác sử dụng phương pháp tuyển thủy xyclon, xử lýnhiệt và hóa học để nâng cao hàm lượng MMT trong bentonit

Trên thế giới số lượng khoáng bentonit kiềm thổ (chứa các cation Ca+2, Mg+2,

…) với hàm lượng MMT cao tương đối nhiều, nhưng dạng bentonit kiềm lại mang lạinhiều ứng dụng hơn trong nhiều lĩnh vực, vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu đểchuyển hóa bentonit kiềm thổ về dạng bentonit kiềm Những nghiên cứu này đã có từtrước những năm 1950 tại nhiều nước như Mỹ, Liên Xô cũ, [1,2, ] Ngày nay côngnghệ chuyển hóa bentonit kiềm thổ sang dạng bentonit kiềm đã được đưa vào nhiềunhà máy vận hành và sản xuất ra hàng trăm nghìn tấn sản phẩm cho những lĩnh vựckhác nhau, như ở Hàn Quốc mỗi năm sản xuất hơn 800 nghìn tấn sản phẩm bentonithoạt hóa cho những mục đích khác nhau Phương pháp hoạt hóa để chuyển bentonitkiềm thổ về dạng bentonit kiềm như sau: quặng bentonit kiềm thổ được phân cấp,đập, nghiền đến cỡ hạt thích hợp Sau đó quặng được trộn đều với tác nhân hoạt hóa(là các muối của natri như Na2CO3, NaCl, ) theo một tỷ lệ thích hợp và nung hỗnhợp trong lò quay với nhiệt độ trong khoảng 300 500oC, sản phẩm hoạt hóa sau đấyđược đóng bao và đưa đi sử dụng Một điều đáng lưu ý ở đây là quặng bentonit kiềmthổ trên thế giới thường có hàm lượng MMT cao nên quặng được đưa vào hoạt hóangay mà không qua giai đoạn làm giàu, còn đối với quặng bentonit kiềm thổ Di Linh-Lâm Đồng của chúng ta, do hàm lượng MMT không cao (khoảng 30 40%) nên để sửdụng cho một số mục đích chế tạo vật liệu sét hữu cơ thì trước khi hoạt hóa nên làmgiàu quặng để nâng hàm lượng MMT

Người ta cũng sử dụng các tác nhân hoạt hóa khác như axit vô cơ (H2SO4,HNO3, HCl) và các chất hữu cơ khác để hoạt hóa bentonit kiềm và bentonit kiềm thổnhằm thu nhanh các sản phẩm hoạt hóa cho những mục đích sử dụng khác nhau

1.1.5 Giới thiệu về bentonit Bình Thuận – Việt Nam

Ở nước ta bentonit được phát hiện ở nhiều nơi: Cổ Định (Thanh Hóa), Di Linh(Lâm Đồng), Bình Thuận, Mộc Châu v.v với trữ lượng dồi dào Trong đó mỏ

Trang 13

bentonit Bình Thuận có trữ lượng lớn hàng trăm triệu tấn, mới được tìm thấy năm

1987

Bình Thuận được đặc trưng bởi khí hậu khô nóng, lượng mưa ít và là nơi phân

bố rộng rãi đá magma giàu kiềm (giàu Na và K) Với những đặc điểm trên bentonit

tạo thành bởi hai quá trình thủy phân và quá trình hấp phụ trao đổi cation Trữ lượng

có thể khai thác được ở Nha Mé khoảng 42 triệu tấn còn ở thung lũng Vĩnh Hảo

khoảng 33 triệu tấn [6] Hàm lượng MMT-Na trong sét Bình Thuận khá thấp, khoảng

từ 12% đến 20% Tạp chất chủ yếu trong khoáng sét là canxit, thạch anh vi tinh thể,

phenspat, cao lanh Trên bảng 1.1 đưa ra thành phần hóa học của bentonit Bình Thuận

[3,6]

Trong thực tế, tùy theo mục đích sử dụng cho từng lĩnh vực mà đòi hỏi về hàm

lượng montmorilonit cũng khác nhau, như khi dùng làm khuôn đúc trong ngành thép

hoặc để sử dụng trong nông nghiệp thì có thể dùng bentonit nguyên khai hay chỉ qua

khâu xử lý quặng sơ bộ, còn nếu dùng cho mục đích làm chất xúc tác, sử dụng trong

ngành y, dùng để sản xuất sét hữu cơ thì đòi hỏi phải làm sạch, làm giàu bentonit để

nâng hàm lượng montmorilonit trong bentonit lên cao Có hai phương pháp hoạt hóa

bentonit thường được sử dụng là hoạt hóa bằng kiềm, hoạt hóa bằng axit

Bảng 1.1 Thành phần hóa học của bentonit Bình Thuận

Thành phầnSiO 2 Al 2 O 3 Fe 2 O 3 TiO 2

hóa họcHàm lượng68,4

(% trọng lượng)

1.2 Giới thiệu về sét hữu cơ [15]

Sét hữu cơ là sản phẩm được tạo thành bởi sự thay thế cation vô cơ trong một số

sét thuộc nhóm smectit có thể trao đổi với cation hữu cơ của nhiều dạng khác nhau

Cation hữu cơ được sử dụng gồm các cation amoni hữu cơ (bậc 1, bậc 2, bậc 3, bậc 4,

mạch thẳng, mạch nhánh, mạch vòng), các aminoaxit, ancol,… trong đó

Trang 14

các cation amoni hữu cơ bậc 4 được dùng phổ biến nhất Cụ thể là các loại khoáng sétmontmorilonit, beidelit và nontronit đã được chế hóa với các dung dịch muối amonihữu cơ khác nhau Khoáng sét hấp phụ các cation hữu cơ, làm tăng khoảng cách giữacác lớp so với cùng loại khoáng sét đã được làm bão hòa bởi cation nhỏ hơn nhưcanxi hoặc hydro Liên kết của các cation hữu cơ với lớp silicat của montmorilonittạo thành một tập hợp hữu cơ - vô cơ, có tính chất đặc biệt là ưa hữu cơ, nên có khảnăng hấp phụ các hợp chất hữu cơ trong môi trường lỏng trội hơn hẳn khiến chúng trởthành tiềm năng hữu ích trong nhiều ứng dụng.

Các nghiên cứu về tương tác giữa các khoáng sét và các hợp chất hữu cơ đãđược thực hiện từ những năm đầu của thế kỷ XX và tăng lên không ngừng về sốlượng và đa dạng về đề tài Nghiên cứu sự thâm nhập của các phân tử hữu cơ vàokhoảng cách giữa các lớp của các khoáng sét tự nhiên cũng đã được bắt đầu từ nhữngnăm 20 của thế kỉ XX, sau khi xuất hiện phương pháp nhiễu xạ tia X vào năm 1913.Một trong những bài báo sớm nhất là của Smith vào năm 1934 đã thông báo về sựtương tác của khoáng sét với nicotin Tuy nhiên, việc ứng dụng các khoáng sét làmvật liệu hấp phụ hữu cơ thì đã được con người thực hiện sớm nhất là khoảng 7.000năm trước công nguyên

Hiện nay, ứng dụng quan trọng của các sét hữu cơ là trong lĩnh vực điều chế cácpolime nanocompozit Việc thêm sét hữu cơ vào môi trường polime sẽ làm tăng cáctính chất hóa học, vật lý và cơ học của môi trường và làm giảm giá thành trong một

số trường hợp Điển hình là sét hữu cơ thay thế các chất độn (fillers) talc hoặc thủytinh ở tỷ lệ 3:1 Ví dụ, việc sử dụng 5% sét hữu cơ có thể thay thế cho 15 50% chấtđộn như canxi cacbonat để làm giảm giá thành và làm tăng các tính chất cơ học Séthữu cơ là vật liệu thương mại ưu thế nhất để điều chế các polime nanocompozit,chiếm khoảng 70% khối lượng đã sử dụng [28]

Sét hữu cơ cũng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Các ứng dụng này bao gồm các chất hấp phụ, các tác nhân kiểm soát tính lưu biến trong sơn, dầu

Trang 15

mỡ, mỹ phẩm, các sản phẩm chăm sóc dành cho cá nhân, chất lỏng khoan giếngdầu, làm chất hấp phụ dầu tràn trên biển,

Trong số các khoáng sét, smectit, đặc biệt là montmorilonit đã được sử dụngrộng rãi để điều chế các sét hữu cơ vì các tính chất đặc biệt của nó, chẳng hạn nhưdung lượng trao đổi ion cao, có khả năng trương nở mạnh, có các tính chất hấp phụcao và diện tích bề mặt lớn Ngoài montmorilonit, các khoáng sét khác cũng đã được

sử dụng, như hectorit (Vougaris và Petridis, 2002), fluoro-hectorit tổng hợp nhân tạo(Gorassi và các cộng sự, 2003), sepiollit (Akyüz và Akyüz, 2003),

1.2.1 Cấu trúc của sét hữu cơ [21-24,28]

Sự tương tác của khoáng sét với các hợp chất hữu cơ đã được nhiều nhà khoahọc nghiên cứu Bản chất của sự tương tác này là hấp phụ các chất hữu cơ phân cựcnhư ancol và liên kết ion giữa các cation và anion trên bề mặt và ở rìa cạnh của cáclớp sét Tuy nhiên sự hấp phụ các phân tử hữu cơ lên các trung tâm điện tích dươngphân bố ở bề mặt cạnh và rìa các phiến sét thường rất nhỏ nên ít được xem xét

Sự hấp phụ các chất hữu cơ phân cực như rượu bậc thấp, glycol và các amin trên

bề mặt phiến sét có chứa các trung tâm mang điện tích âm cũng tương tự như hấp phụnước ở cùng một mức năng lượng hấp phụ như nhau Vì vậy các hợp chất hữu cơphân cực khi tiếp xúc với các khoáng sét sẽ dễ dàng đẩy và chiếm chỗ các phân tửnước nằm ở khoảng không gian giữa 2 lớp sét tạo thành sét hữu cơ

Các phân tử liên kết yếu với oxi bề mặt của đỉnh tứ diện đơn vị cấu trúc trong sétbằng lực Van der Walls Do vậy các phân tử hữu cơ phân cực trên bề mặt lớp sét rấtlinh dộng và dễ dàng bị thay thế bằng các phân tử khác

Sự định hướng của các ion amoni hữu cơ trong các khoáng sét đã lần đầu tiênđược Lagaly và Weiss (1989) đề xuất và được đưa ra trên hình 1.2

Trang 16

Hình 1.2 Các sự định hướng của các ion ankyl amoni trong các khoảng cách giữa các lớp silicat: a) lớp đơn; b) lớp kép; c) lớp giả tam phân tử; và d), e) sắp xếp kiểu parafin của các ion ankyl amoni với góc nghiêng khác nhau của các mạch ankyl.

Sự sắp xếp khác nhau của các phân tử hữu cơ giữa các lớp aluminosilicat phụthuộc vào điện tích của lớp sét và độ dài mạch của các ion hữu cơ Như có thể thấytrong hình 1.2, các ion hữu cơ có thể nằm song song với nhau trên bề mặt lớpaluminosilicat để hình thành một lớp đơn, lớp kép hoặc giả tam phân tử Bên cạnh đómột cấu trúc nghiêng kiểu parafin với các đuôi chìa ra xa khỏi bề mặt có thể đượchình thành phụ thuộc vào mật độ sắp xếp và độ dài mạch Trong các lớp giả tam phân

tử, một số đuôi mạch cacbon có thể chuyển vị trí lên một lớp khác, vì vậy sự giãncách được xác định bằng độ dày của ba mạch ankyl ([Lagaly và Weiss, 1969],[Lagaly, 1981], [Lagaly, 1986] và [Bergaya và các cộng sự 2006])

Sự hình thành các lớp đơn, lớp kép và lớp giả tam phân tử của các ion ankylamoni giữa các lớp aluminosilicat của montmorilonit đã được Lagaly và các cộng sự(1976) nghiên cứu Khoảng cách giữa các lớp aluminosilicat của montmorilonit chứaankyl amoni thay đổi theo độ dài của ankyl amoni (hình 1.3)

Trang 17

Hình 1.3 Sự thay đổi khoảng cách giữa các lớp aluminosilicat của montmorilonit chứa ankyl amoni theo độ dài mạch cacbon (n c ) do sự tạo thành các lớp đơn, các lớp kép, và các lớp giả tam phân tử của các

ion ankyl amoni

Cấu trúc lớp đơn được đặc trưng bởi khoảng cách giữa các lớp aluminosilicat

vào khoảng 1,35nm Sự hình thành cấu trúc lớp đơn là có thể nếu Ac(=), là diện tíchđòi hỏi cho các cation sắp xếp nằm dọc theo lớp với nc nguyên tử cacbon trong mạch,trở nên lớn hơn so với diện tích đương lượng Ae, là diện tích có thể sử dụng được đối

với mỗi cation có hóa trị 1 trong một lớp đơn ở giữa hai lớp silicat Nếu như Ac(=) >

Ae, thì phần cuối của các mạch ankyl sẽ bắt buộc phải nằm trong phạm

vi lớp đơn Khi xâm phạm giới hạn Ac(=) = Ae, các lớp kép của các ion ankyl amoninằm phẳng sẽ được hình thành với các khoảng không cơ sở khoảng 1,75 nm Các cấu

trúc lớp kép không thể tồn tại nếu Ac(=) > 2Ae Vì cấu trúc 3 lớp của các ion

ankyl amoni là rất không bền do sự đẩy điện tích, cấu trúc các mạch ankyl sẽ đượchình thành theo kiểu parafin Trong cấu trúc theo kiểu parafin, các góc giữa các mạch

và lớp silicat tăng lên khi tăng điện tích lớp Vì thế, mức độ tăng trung bình củakhoảng cách giữa các lớp aluminosilicat khi tăng độ dài mạch của cation sẽ biến đổitheo mật độ điện tích của bề mặt lớp (Lagaly và Weiss, 1989)

Trang 18

Trong một số trường hợp, các mạch ankyl có xu hướng hình thành cấu trúc theokiểu parafin hơn là các lớp giả tam phân tử Xu hướng này do sự tụ hợp kiểu parafinkhiến các nhóm amoni phù hợp với các nguyên tử oxi trên bề mặt hơn so với trườnghợp các mạch sắp xếp đặc khít trong các lớp giả tam phân tử (Lagaly, 1986) Vi cấutrúc của các mạch ankyl cũng có thể được mô tả theo thuật ngữ của các vùng vô địnhhình và kết tinh tinh thể giống như mô hình hai pha của polime, ở đây sự sắp xếp cácmạch trong vùng vô định hình là thấp hơn khoảng 10 20% so với trong vùng kết tinh(Lagaly và các cộng sự 1976).

Vaia và các cộng sự (1994) đã đề nghị một cách mô tả thực tế hơn dựa trên cácthực nghiệm về XRD và FTIR để thăm dò cấu trúc giữa các lớp và cấu trúc pha củaankyl amoni Bằng cách theo dõi sự chuyển dịch tần số dao động của nhóm CH2 (giaođộng kéo căng và giao động bắt chéo) như là một hàm số của độ sắp xếp đặc khít giữacác lớp, độ dài mạch và nhiệt độ, họ phát hiện thấy rằng các phân tử thâm nhập tồn tại

ở các trạng thái với mức độ trật tự khác nhau Các trạng thái phân tử biến đổi từ giốngpha rắn sang giống pha lỏng

Sự có mặt của trạng thái mất trật tự có cấu trúc giống với chất lỏng là phổ biếnhơn trong khi một trạng thái có trật tự (cấu hình tất cả đều là trans) chỉ có mặt trongcác trường hợp đặc biệt Nói chung, khi mật độ sắp xếp giữa các lớp hoặc độ dàimạch giảm xuống hoặc khi nhiệt độ tăng lên thì các mạch đã thâm nhập sẽ chấp nhậnmột cấu trúc giống chất lỏng mất trật tự hơn do sự tăng tỷ số cấu hình gauche/trans

Khi giá trị diện tích bề mặt/mol nằm trong một khoảng nào đó các chuỗi mạchankyl được sắp đặt không hoàn toàn mất trật tự mà giữ lại một vài kiểu sắp đặt có trật

tự và định hướng nhất định, giống với trạng thái tinh thể lỏng Vì các mạch trongtrạng thái giống với trạng thái lỏng được tự do chuyển động và tái định hướng nênchúng có thể đạt đến cân bằng nhanh hơn nhiều so với khi chúng ở trong trạng tháirắn

Trang 19

Hình 1.4 đưa ra các kiểu tập hợp đuôi ankyl đã được Vaia và các cộng sự (1994)đưa ra Khi số các nguyên tử cacbon tăng lên thì sự sắp xếp các mạch tuân theo nhữngcấu trúc có trật tự hơn.

Hình 1.4 Các cách tập hợp đuôi ankyl được Vaia và các cộng sự (1994) đưa ra: a) độ dài mạch ngắn, lớp đơn ở bên; b) độ dài mạch trung bình, mất trật tự

trong mặt phẳng và đan vào nhau để hình thành kiểu lớp kép; c) mạch dài: trật tự giữa các lớp tăng lên dẫn đến tạo thành một môi trường polime tinh thể lỏng.

Hackett và các cộng sự (1998) đã sử dụng sự mô phỏng phân tử để nghiên cứucác sự định hướng của các đuôi ankyl trong các khoáng sét được biến tính hữu cơ.Hình 1.5 đưa ra các hình ảnh của các phân tử chất hoạt động bề mặt trên các lớpaluminosilicat Sự sắp xếp bền là một lớp đơn với khoảng cách giữa các lớpaluminosilicat là 1,32nm, trong khi lớp kép và lớp ba thì tương ứng với các khoảngcách giữa các lớp aluminosilicat là 1,80nm và 2,27nm Các sự mô phỏng đã chỉ rarằng sự sắp xếp mất trật tự của các mạch cacbon ở trạng thái giống với chất lỏngkhông nằm phẳng như ở lớp đơn thay vào đó lại quấn vào các mạch trong lớp đốidiện Trong lớp kép, gần như một nửa số nhóm CH2 ở trong lớp đối diện với nhómamoni, trong khi trong lớp ba các nhóm CH2 được trông đợi sẽ nhảy vào lớp giữanhưng tương đối ít số lượng của nhóm này sẽ được tìm thấy trong lớp đối diện ở cuốimạch Khi mật độ cation hữu cơ tăng cao, sự tăng độ dài mạch cacbon làm tăng tuyếntính khoảng cách giữa các lớp aluminosilicat, thường thì các cấu trúc với khoảng cáchgiữa các lớp aluminosilicat có độ sai lệch tối thiểu so với khoảng cách trong các cấutrúc lớp đơn hoặc lớp kép sẽ được hình thành Các ankan mạch dài tạo thành các cấutrúc với một sự phân bố rộng rãi của khoảng cách giữa các lớp làm

Trang 20

tăng chiều rộng của các pic XRD, mặc dù khoảng cách giữa các lớp aluminosilicat vẫn rất gần với một lớp đơn hoặc lớp kép.

Hình 1.5 Mẫu phân tử của các chất hoạt động bề mặt với các độ dài mạch khác nhau thâm nhập vào trong các sét có dung tích trao đổi cation khác nhau với:

a) lớp đơn (C 9 , CEC = 0,9 meq/g); b) lớp kép (C11, CEC = 1,0 meq/g); c) lớp ba (C19, CEC = 1,5 meq/g)

Một phương pháp mô tả sự sắp xếp mạch cacbon của chất hoạt động bề mặt làthông qua số các cấu hình trans và gauche Số phần trăm cấu hình trans tăng lên mộtcách đột ngột có quan hệ mật thiết với độ dài mạch cực đại trước khi hệ thống chuyển

từ lớp đơn sang lớp kép, bởi vì tại điểm này, các phân tử chất hoạt động bề mặt thíchcấu hình tất cả trans hơn để sắp xếp một cách hiệu quả nhất và cung cấp một số caonhất các nhóm CH2 và CH3 trong phạm vi một lớp đơn

Liên kết hyđro giữa các phân tử hữu cơ với khoáng sét có thể là quan trọng, đặcbiệt đối với các phân tử có chứa các nhóm OH, NH2, và NH3 (Moore và Reynolds,1997)

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng dodecyl ammoni clorua và cetyl trimetylamoni bromua làm tác nhân hữu cơ để khuếch tán vào khoảng không giữa các lớptrong cấu trúc của bentonit

Trang 21

1.2.2 Tính chất và ứng dụng của sét hữu cơ [17,21,29]

1.2.2.1 Tính chất của sét hữu cơ

* Tính hấp phụ

Trong cấu tạo của sét hữu cơ có các gốc hiđrocacbon là nhóm ưa dầu, mỡ nênsét hữu cơ có khả năng hấp phụ các chất hữu cơ Vì vậy đã có nhiều công trình nghiêncứu sử dụng sét hữu cơ để hấp phụ dầu tràn trên biển, loại bỏ các chất hữu cơ khỏimôi trường nước

* Tính lưu biến

Sét hữu cơ có khả năng trương nở tốt trong các dung môi hữu cơ, là chất ưa hữu

cơ Khi được phân tán vào môi trường là các chất hữu cơ nó làm tăng độ phân tán củacác chất hữu cơ Do đó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như trong làmchất chống sa lắng trong sơn, trong mực in, làm sạch nước bị ô nhiễm bởi dầu mỡ

1.2.2.2 Ứng dụng của sét hữu cơ

* Làm chất hấp phụ [25]

Sét hữu cơ có chức năng tương tự như cacbon hoạt tính, nhựa trao đổi ion vàmàng lọc để tách dầu/nước Bột sét ưa dầu có thể là 1 hợp phần hoặc nguyên liệuchính của bột sét đông tụ Chúng là chất hấp phụ cực mạnh để loại bỏ dầu, chất hoạtđộng bề mặt, và các dung môi, bao gồm metyl etyl xeton, t-butyl ancol (TBA) và cácchất khác

Do loại bỏ dầu và dầu nhờn ở tỷ lệ thể tích/khối lượng cao, sét ưa hữu cơ có thểtiết kiệm tới 50% chi phí hoặc hơn Sét hữu cơ có thể dùng trong pha trộn nhiên liệu

ở nhà máy nhựa đường hoặc làm chất ổn định

Ứng dụng môi trường của sét ưa hữu cơ bao gồm: làm sạch nước bề mặt ở bãirác cũ và hồ chứa nước ngầm Ứng dụng trong công nghiệp bao gồm máy nén khôngkhí, làm lạnh nước, máy nén khí

* Làm chất chống sa lắng trong môi trường hữu cơ [25,26]

Trang 22

Khác với bentonit thông thường, sét hữu cơ trương nở và tạo gel trong dung môihữu cơ Nhờ vậy sét hữu cơ ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Ví dụ, trongcông nghiệp dầu khí sét hữu cơ được dùng làm chất tạo cấu trúc cho dung dịchkhoan, trong sơn lưu hóa nhiệt, chất làm sạch dầu trong nhũ tương dầu/nước Ngoài

ra, sét hữu cơ vừa có khả năng tan trong nước vừa có khả năng tan trong dung môihữu cơ nên khi kết hợp với các phần tử trong sơn sẽ tạo huyền phù Sét hữu cơ có cấutrúc rất ổn định ngay cả khi trong dung dịch có mặt một lượng lớn các cation kimloại Độ bền của các sét hữu cơ chứa các cation amin bậc 4 một phần là do lực Vander Walls giữa các mạch hiđrocacbon với bề mặt sét Vì vậy, huyền phù bentonit hữu

cơ trong dầu khá ổn định nhiệt, điều này cho phép sét hữu cơ có ứng dụng trong việclàm chất chống sa lắng trong môi trường hữu cơ như sơn, dầu, mực in, dầu nhờn…

* Làm nguyên liệu điều chế nanocompozit [7,9,16]

Vật liệu sét hữu cơ có thể cho vào polime, chất dẻo, nhựa để tạo ra vật liệunanocompozit có sức bền cấu trúc được nâng cao Cũng có thể sử dụng sét hữu cơlàm phụ gia lưu biến như chất ức chế sự cháy Vật liệu sét stevensit - hữu cơ có tínhchất thuận lợi là dị thể và dễ dàng tạo ra do đó tạo thành sản phẩm cuối Hơn nữa,tính chất của vật liệu này là dễ phân tán hơn nhiều, ví dụ trong polime, do sự phân bốđiện tích thích hợp hơn, tính chất kị nước, sự tách lớp, sự sắp xếp và kích thước thíchhợp hơn

1.2.3 Các phương pháp điều chế sét hữu cơ [32,33,38…]

Quá trình tổng hợp sét hữu cơ dựa trên các cơ chế của các phản ứng mà khoángsét có thể có với các hợp chất hữu cơ Để điều chế sét hữu cơ, người ta thường dùnghai phương pháp chủ yếu sau:

1.2.3.1 Phương pháp ướt

Trang 23

Phương pháp ướt là phương pháp trao đổi giữa cation hữu cơ với bentonit đãhoạt hóa trong môi trường nước Có ba phương pháp điều chế sét hữu cơ trên cơ sởphương pháp ướt:

* Phương pháp khuếch tán trong môi trường nước

Phương pháp này dựa trên sự khuếch tán của các chất hữu cơ và bentonit trongmôi trường nước Sự khuếch tán được thực hiện nhờ khuấy liên tục hỗn hợp bentonit

và các tác nhân hữu cơ trong môi trường nước ở điều kiện (nhiệt độ, pH, tỷ lệ hữucơ/sét, ) nhất định Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, thực hiện dễ dàng vàchi phí thấp Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam cũng nhưtrên thế giới Một dạng thiết bị điều chế sét hữu cơ trong phòng thí nghiệm mà chúngtôi sử dụng để điều chế sét hữu cơ được đưa ra trên hình 1.6

Hình 1.6 Thiết bị điều chế sét hữu cơ theo phương pháp khuyếch tán trong

nước trong phòng thí nghiệm có dung tích 2 lít và 10 lít

Trang 24

điểm của phương pháp này là cho hiệu suất cao hơn phương pháp khuếch tán, tuynhiên do chi phí lớn về thiết bị và năng lượng nên phương pháp này chưa được ứngdụng rộng rãi.

* Phương pháp thủy nhiệt

Trong phương pháp này, quá trình điều chế sét hữu cơ được thực hiện trong thiết

bị thủy nhiệt, để có thể thực hiện phản ứng ở nhiệt độ cao và áp suất cao Phươngpháp thủy nhiệt có nhiều ưu điểm:

- Cho phép điều chế sản phẩm có tính đồng nhất cao, với thành phần hóa họcđược điều chỉnh một cách dễ dàng: quá trình cho phép lấy những lượng chính xácchất đầu trộn với nhau theo tỷ lệ hóa học của sản phẩm đạt được như mong muốn.Điều này đặc biệt quan trọng trong việc tổng hợp các vật liệu cao cấp, đòi hỏi tỷ lệchính xác của các cấu tử trong vật liệu

- Cho phép điều chỉnh được tính chất của sản phẩm thông qua điều chỉnh cácđiều kiện phản ứng như: pH, nhiệt độ, nồng độ, tốc độ, thời gian của sự thủy phân, sựkết tinh ảnh hưởng hình thái học, độ lớn và tính chất của các hạt sản phẩm cuối

Các phân tử hữu cơ có thể thâm nhập vào trong các khoáng sét khô bằng phản ứng pha rắn mà không cần dùng dung môi Sự vắng mặt các dung môi trong quá

Trang 25

trình điều chế là môi trường tốt và làm cho quá trình điều chế phù hợp hơn với việccông nghiệp hóa Sự thâm nhập của các hợp chất trung tính vào sét khô montmorilonit

và vermiculit khô là ví dụ không cần thiết phải được giải thích bằng sự vận chuyểnchúng giữa các lớp sét Các cation có thể duy trì sự tiếp xúc với một lớp sét, nghĩa làcác nguyên tử oxi của bề mặt silicat chiếm cứ các vị trí phối trí của các cation

Thời gian phản ứng theo phương pháp khô thường ngắn hơn so với phương phápướt Tuy nhiên trong thực tế nếu sản xuất bentonit hữu cơ theo phương pháp khô mức

độ hấp phụ thay thế bằng các cation hữu cơ chỉ đạt được giá trị cực đại là 80% trên bềmặt lớp sét [34] Do vậy trong thực tế người ta ít áp dụng phương pháp khô để sảnxuất bentonit hữu cơ

Trong quá trình nghiên cứu xây dựng quy trình điều chế sét hữu cơ trong phòngthí nghiệm, chúng tôi đã sử dụng phương pháp khuếch tán trong dung dịch nước vìphương pháp này dễ thực hiện, trang thiết bị đơn giản và đặc biệt là nó dễ triển khaivới quy mô sản xuất lớn trong thực tế sau này

1.3 Mục đích và nội dung nghiên cứu của luận văn

1.3.1 Mục đích

Tìm được các điều kiện thích hợp về tỷ lệ chất hữu cơ/bentonit, nhiệt độ huyềnphù, pH huyền phù và thời gian khuấy trộn cho quá trình điều chế sét hữu cơ từbentonit Bình Thuận hàm lượng >90% với dodecylamoni clorua và cetyl trimetylamoni bromua Từ đó xây dựng được quy trình chuẩn điều chế sét hữu cơ từ bentonitBình Thuận >90% và hai amin trên với quy mô phòng thí nghiệm

1.3.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên chúng tôi sẽ thực hiện những nội dung nghiên cứu sau:

Trang 26

* Điều chế sét hữu cơ từ bentonit Bình Thuận hàm lượng >90% và cetyl

trimetyl amoni bromua (CTAB)

- Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ cetyl trimetyl amoni bromua/bentonit

- Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ huyền phù

- Khảo sát ảnh hưởng của pH huyền phù

- Khảo sát ảnh hưởng của thời gian khuấy trộn

- Xây dựng quy trình điều chế chuẩn

- Áp dụng điều chế sản phẩm sét hữu cơ có chất lượng cao

* Điều chế sét hữu cơ từ bentonit Bình Thuận hàm lượng >90% và dodecyl amoni clorua (DAC)

- Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ dodecyl amoni clorua/bentonit

- Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ huyền phù

- Khảo sát ảnh hưởng của pH huyền phù

- Khảo sát ảnh hưởng của thời gian khuấy trộn

- Xây dựng quy trình điều chế chuẩn

- Áp dụng điều chế sản phẩm sét hữu cơ có chất lượng cao

Trang 27

CHƯƠNG II THỰC NGHIỆM

2.1 Hóa chất, dụng cụ và thiết bị

2.1.1 Hóa chất

* Bentonit Bình Thuận (Việt Nam) đã qua tinh chế, làm giàu và hoạt hóa bằng axit, có hàm lượng bentonit >90% và có dung lượng hấp phụ >90mđlg/100g sét

* Tác nhân hữu cơ:

- Cetyl trimetyl amoni clorua (kí hiệu là CTAB) là thương phẩm của hãng Merk(CHLB Đức), có công thức C19H42NBr, là chất bột màu trắng, có khối lượng phân tử364,46 g/mol, nhiệt độ nóng chảy 250-256oC

- Dodecylamin (DA) là thương phẩm của hãng Merck, có công thức phân tử

C12H27N, là chất rắn màu trắng, khối lượng phân tử 185,346 g/mol, nhiệt độ nóngchảy 28-30oC, nhiệt độ sôi 247-249oC, khối lượng riêng 0,806 g/cm3

- Phễu lọc chân không bằng thủy tinh có màng lọc bằng sứ

- Cối nghiền sứ đường kính Ф = 15cm

2.1.3 Thiết bị

- Máy khuấy từ gia nhiệt Veia của Cole Parmer Instrument Company

- Tủ sấy chân không Memmert (Đức)

- Máy nhiễu xạ tia X D8 Advanced Brucker (Đức)

Trang 28

- Cân Mettler Tolledo (Thụy Sỹ) có độ chính xác ±0,0001g

- Máy phân tích nhiệt Labsys TG/DSC SETARAM (Pháp)

2.2 Phương pháp điều chế sét hữu cơ

2.2.1 Chuyển dodecylamin thành muối dodecyl amoni clorua

Dodecylamin sử dụng trong đề tài này là amin mạch dài ít tan trong nước, mặtkhác sự hình thành sét hữu cơ là sự thay thế các cation vô cơ ở giữa các lớp sét bằngcác cation hữu cơ, vì vậy để quá trình điều chế đạt hiệu quả cao chúng tôi chuyểnamin này thành dạng muối amoni dễ tan Dưới đây là các bước chuyển dodecylaminthành muối dodecyl amoni clorua (DAC):

- Cân lượng chính xác dodecylamin, cho vào cốc 250 ml

- Hòa tan amin bằng etanol 96%

- Thêm từ từ HCl đặc (dư 10%), vừa thêm vừa khuấy đều cho phản ứng hoàntoàn

- Cô cạn để đuổi axit dư

2.2.2 Qui trình điều chế sét hữu cơ

Quá trình điều chế sét hữu cơ có thể được tiến hành theo các phương pháp ướthoặc khô Tuy nhiên hiện tại chúng tôi không có thiết bị nghiền trộn kèm gia nhiệtthích hợp cho việc điều chế sét hữu cơ theo phương pháp khô, nên chúng tôi chọnphương pháp ướt dựa vào quá trình trao đổi cation amoni hữu cơ với các cation cótrong lớp sét và trên bề mặt sét trong dung dịch nước trong điều kiện thường

Trong luận văn này chúng tôi tiến hành điều chế sét hữu cơ từ bentonit BìnhThuận và hai tác nhân hữu cơ là cetyl trimetyl amoni clorua (ký hiệu là CTAB) vàmuối dodecyl amoni clorua (DAC) bằng phương pháp khuếch tán trong môi trườngnước Các bước điều chế gồm:

- Cân lượng chính xác bentonit bằng cân điện tử có độ chính xác ±0,0001g.Hòa vào một thể tích nước cất thích hợp trong cốc chịu nhiệt Khuấy mạnh ở nhiệt độkhoảng 70oC trong 2h để sét trương nở tối đa, tạo huyền phù bentonit

Trang 29

- Cân chính xác lượng muối amoni hữu cơ bằng cân điện tử có độ chính xác

±0,0001g Hòa tan lượng muối này vào một thể tích nước cất nhất định Điều nhiệt dung dịch trong 1h

- Điều chỉnh pH của cả hai dung dịch đến giá trị phù hợp (sử dụng các dungdịch HCl và NaOH loãng và giấy chỉ thị pH của hãng Merk)

- Đổ từ từ dung dịch muối amin vào huyền phù bentonit, đồng thời khuấy liêntục trong một khoảng thời gian nhất định trên máy khuấy từ gia nhiệt Veia của ColeParmer Instrument Company Kiểm tra pH, nhiệt độ của dung dịch phản ứng và giữ

ổn định trong suốt thời gian tiến hành phản ứng

- Lọc nóng bằng phễu lọc có bơm hút chân không Rửa sản phẩm ít nhất 3 lầnbằng nước cất nóng

- Sấy sản phẩm trong tủ sấy chân không trong 24h ở 800C Lấy sản phẩm ranghiền bằng cối sứ thành bột mịn

- Xác định cấu trúc và tính chất của sản phẩm bằng các phương pháp: phươngpháp nhiễu xạ tia X; phương pháp phân tích nhiệt

2.3 Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc và tính chất vật liệu

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp: phương pháp nhiễu xạ tiaX; phương pháp phân tích nhiệt để xác định cấu trúc và tính của sản phẩm

2.3.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X

Các mẫu bentonit và các sản phẩm sét hữu cơ được xác định cấu trúc bằngphương pháp nhiễu xạ tia X Giản đồ XRD của các mẫu được ghi trên nhiễu xạ kếAdvanced Brucker (CHLB Đức) tại Khoa Hóa học, Trường Đại Học Khoa Học TựNhiên Với các điều kiện ghi như sau:

+ UAK = 40 KV, IAK = 40mA

+ Ống anot bằng Cu có bước sóng Cu Kα: 1,54056Å

+ Bước ghi: 0.030/step

+ Thời gian ghi cho mỗi bước: 0.6s/step

+ Khoảng ghi 2θ: từ 0.50 đến 100

+ Môi trường không khí

Trang 30

Cấu trúc lớp của bentonit và khoảng cách giữa các lớp (d001) được xác định dựavào vị trí pic nhiễu xạ trên giản đồ XRD.

2.3.2 Phương pháp phân tích nhiệt

Các sản phẩm sét hữu cơ và mẫu bentonit Bình Thuận (dùng để so sánh) đượctiến hành ghi giản đồ phân tích nhiệt trên máy Labsys TG/DSC SETARAM (Pháp),tại Khoa Hóa Học, Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Với các chế độ ghi như sau:

+ Khoảng ghi nhiệt độ: từ nhiệt độ phòng đến 8000C

+ Tốc độ nâng nhiệt độ: 50/phút

+ Môi trường không khí

Hàm lượng hữu cơ trong sét hữu cơ (%) của cation amoni hữu cơ vào bentonitđược xác định bằng hiệu các pic mất khối lượng trên giản đồ phân tích nhiệt của mẫusét được chế hóa khi có mặt và không có mặt muối amoni Cụ thể, lấy hai mẫubentonit có khối lượng bằng nhau trong đó một mẫu là bentonit không có tác nhânhữu cơ và một mẫu là sét hữu cơ được điều chế theo quy trình 2.2.2 Sau đó tiến hànhghi giản đồ phân tích nhiệt của hai mẫu trên

Hàm lượng cation amoni hữu cơ trong sét hữu cơ được xác định theo côngthức:

m(%) = mhc(%) - m bent (%)

Trong đó:

m(%): hàm lượng hữu cơ trong sét hữu cơ

mhc(%): tổng % các pic mất khối lượng của mẫu sét hữu cơ

mbent (%): tổng % các pic mất khối lượng của mẫu bentonit được chế hóa không có tác nhân hữu cơ

Trang 31

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Khi được khuấy trộn với bentonit, các cation amoni hữu cơ trong dung dịchmuối amin sẽ thâm nhập và trao đổi với các cation ở vùng không gian giữa các lớpsét Quá trình này làm tăng khoảng cách giữa các lớp sét, tức làm tăng giá trị d001 haytương ứng làm giảm giá trị góc 2 ứng với pic cực đại trên giản đồ Hàm lượng amonihữu cơ trong sản phẩm sét hữu cơ thu được thể hiện mức độ thâm nhập của các cationamoni hữu cơ vào khoảng không gian giữa các lớp sét Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởngtới sự thâm nhập của các cation amoni hữu cơ vào giữa các lớp sét Trong luận vănnày chúng tôi khảo sát bốn yếu tố ảnh hưởng đến khoảng cách giữa các lớp sét (d001)

và hàm lượng hữu cơ trong sản phẩm, theo chúng tôi là quan trọng nhất, đó là: tỷ lệmuối amoni hữu cơ/bentonit; nhiệt độ huyền phù; pH của dung dịch; thời gian phảnứng

3.1 Khảo sát quá trình đ iều chế sét hữu cơ từ bentonit và CTAB

3.1.1 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình điều chế đến giá trị d 001 và hàm lượng amoni hữu cơ trong sét hữu cơ từ bentonit và CTAB

3.1.1.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ cation amoni hữu cơ/bentonit

Tỷ lệ CTAB/bentonit sử dụng trong việc điều chế sét hữu cơ là một yếu tố rấtquan trọng Tỷ lệ này nhỏ sẽ dẫn đến hàm lượng hữu cơ trong sản phẩm sét hữu cơthấp, khoảng cách giữa các lớp sét thấp, còn nếu quá lớn thì sẽ bị dư thừa gây lãngphí hóa chất, không có hiệu quả kinh tế Vì vậy, trước tiên chúng tôi đặt vấn đề khảosát ảnh hưởng của tỷ lệ CTAB/bentonit đến chất lượng sét hữu cơ được đánh giáthông qua giá trịh d001 và hàm lượng hữu cơ có trong sản phẩm

Các mẫu sét hữu cơ được điều chế theo quy trình đã nêu ở mục 2.2.2 với cácđiều kiện cụ thể như sau: huyền phù (bentonit và muối amoni hữu cơ) được điềuchỉnh đến pH bằng 7, nhiệt độ 600C và được khuấy trộn trong thời gian 5h, ở tốc độkhuấy ổn định 500 vòng/phút, tỷ lệ CTAB/bentonit được biến đổi từ 90 đến170mmol/100g bentonit khô Sản phẩm sét hữu cơ điều chế được được chụp giản đồnhiễu xạ tia X để xác định cấu trúc lớp của sản phẩm, giá trị 2 và khoảng cách

Trang 32

giữa các lớp sét (d001); ghi giản đồ phân tích nhiệt để xác định hàm lượng hữu cơ

trong sản phẩm sét hữu cơ, từ đó đánh giá được mức độ thâm nhập của cation amoni

hữu cơ vào bentonit, tìm được mức độ ảnh hưởng của yếu tố đang khảo sát đến giá trị

d001 của sản phẩm sét hữu cơ và hàm lượng hữu cơ trong sản phẩm Cuối cùng xác

định được điều kiện thích hợp nhất cho quá trình điều chế sét hữu cơ

Từ giản đồ nhiễu xạ tia X và giản đồ phân tích nhiệt, chúng tôi đưa ra kết quả

khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ CTAB/bentonit đến giá trị d001 và hàm lượng cation

cetyl trimetyl amoni trong sản phẩm trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ CTAB/bentonit đến giá trị d 001

và hàm lượng cation cetyl trimetyl amoni trong sản phẩm

Tỷ lệ CTAB/bentonit(mmol/g)

d001 (Å)Hàm lượng hữu cơtrong sản phẩm (%)

* Ảnh hưởng của tỷ lệ CTAB/bentonit đến giá trị d001

Giản đồ XRD của mẫu sét hữu cơ được điều chế từ CTAB và bentonit Bình

Thuận hàm lượng >90% ở tỷ lệ CTAB/bentonit là 140mmol/100g được đưa ra trên hình

3.1

Hình 3.1 Giản đồ XRD của mẫu sét hữu cơ điều chế từ CTAB và bentonit Bình

Thuận hàm lượng >90% ở tỷ lệ CTAB/bentonit là 140mmol/100g

Trang 33

Từ giản đồ trên ta thấy rõ, sét hữu cơ điều chế được có cấu trúc lớp với giá trị

d001 = 40,650 Å tương ứng ở góc 2 ~ 2,17o

Giản đồ XRD của các mẫu sét hữu cơ điều chế với các tỷ lệ CTAB/bentonit(mmol/100g) khác nhau được đưa ra ở hình 3.2

Hình 3.2 Giản đồ XRD của các mẫu sét hữu cơ được điều chế ở các

tỷ lệ CTAB/bentonit khác nhau (mmol/100g bentonit khô)

Từ các giản đồ XRD trên hình 3.2 có thể thấy, các mẫu sét hữu cơ điều chế đượcđều có cấu trúc lớp với giá trị d001 khá lớn thay đổi từ ~30 đến ~ 40 Å

Đồ thị sự phụ thuộc của giá trị d001 vào tỷ lệ CTAB/bentonit (mmol/100g) được đưa ra ở hình 3.3

Từ các giản đồ XRD thu được trên hình 3.2 và đồ thị trên hình 3.3 có thể thấy,khi lượng CTAB trong dung dịch tăng, tương ứng với tỷ lệ CTAB/bentonit(mmol/100g) tăng từ 90 đến 140, thì khoảng cách giữa các lớp sét tăng lên, thể hiện ởgiá trị d001 tăng lên từ 30,74 đến 40,65 Å; giá trị 2 của pic cực đại giảm từ 2,87oxuống 2,17o

Trang 34

Hình 3.3 Sự phụ thuộc giá trị d 001 vào tỷ lệ CTAB/bentonit

Tuy nhiên sau đó thì sự tăng lượng CTAB trong dung dịch có xu hướng làmgiảm khoảng cách d001 Điều này có thể được giải thích như sau: thời điểm đầu, tươngứng với sự tăng tỷ lệ CTAB/bentonit, sự trao đổi giữa cation hữu cơ với các cation vô

cơ có mặt ở giữa các lớp sét xảy ra mạnh hơn nên giá trị d001 tăng lên; nhưng khi tỷ lệCTAB/100g bentonit đạt đến giá trị 140mmol/100g thì nồng độ cation amoni hữu cơtrong huyền phù sét có thể coi là đã đạt bão hòa Khi tỷ lệ CTAB/bentonit vượt quágiá trị 140mmol/100g thì các đuôi hữu cơ của các ion amoni hữu cơ trong dung dịchnước có xu hướng tập hợp lại thành hạt keo, các hạt keo đó có bề mặt tích điệndương, có kích thước lớn nên không có khả năng thâm nhập nên quá trình trao đổi củacác cation hữu cơ với cation vô cơ giảm; vì vậy giá trị d001 dần giảm xuống, tươngứng với giá trị 2 của pic cực đại tăng lên

Như vậy, khi tiến hành khảo sát sự phụ thuộc của giá trị d001 vào dãy tỷ lệCTAB/bentonit, chúng tôi nhận thấy rằng tại tỷ lệ CTAB/bentonit bằng140mmol/100g, giá trị d001 lớn nhất, tức khoảng cách giữa các lớp sét hữu cơ là lớnnhất

Vì vậy, chúng tôi có thể kết luận, tỷ lệ CTAB/bentonit thích hợp nhất để thuđược sản phẩm sét hữu cơ có khoảng cách giữa các lớp sét cao là 140mmol/100g, tại

Trang 35

tỷ lệ này, giá trị d001 đạt ~40Å Giá trị tỷ lệ này được sử dụng trong các nghiên cứu

tiếp sau

* Ảnh hưởng của tỷ lệ CTAB/bentonit đến hàm lượng hữu cơ trong sản phẩm

Để xác định hàm lượng các cation amoni hữu cơ trong sản phẩm, chúng tôi đã

tiến hành ghi giản đồ phân tích nhiệt của các mẫu bentonit được chế hóa khi có mặt

và không có mặt các muối amoni hữu cơ

Trong hình 3.4 là ví dụ về giản đồ phân tích nhiệt của một mẫu sét hữu cơ điều

chế từ CTAB và bentonit Bình Thuận hàm lượng >90% tại tỷ lệ CTAB/bentonit là

Hình 3.4 Giản đồ phân tích nhiệt của mẫu sét hữu cơ điều chế từ CTAB và bentonit

Bình Thuận hàm lượng >90% ở tỷ lệ CTAB/bentonit là 140mmol/100g

Hình 3.4 cho thấy có 3 hiệu ứng mất khối lượng tại 106,54oC (-3,79%), tại

282,88oC (-17,31%) và 446,31oC (-18,60%) Các hiệu ứng này đều có kèm theo hiệu

Trang 36

35

Trang 37

Với mẫu sét được chế hóa tương tự nhưng không có tác nhân hữu cơ, giản đồ

phân tích nhiệt được đưa ra trên hình 3.5 Trên giản đồ 3.5 có xuất hiện các pic ở

140,26oC (-7,44%) và 670,36oC (-4,06%) tương ứng với tổng khối lượng mất khi

Hình 3.5 Giản đồ phân tích nhiệt của mẫu sét được chế hóa tương tự

nhưng không có tác nhân hữu cơ

Hàm lượng amoni hữu cơ trong sản phẩm sét hữu cơ được tính toán theo công

thức đã nêu ở mục 2.3.2

m(%) = mhc(%) - m bent (%)

Vậy hàm lượng cation cetyltrimetylamoni trong sản phẩm sét hữu cơ điều chế từ

CTAB và bentonit Bình Thuận ở tỷ lệ CTAB/bentonit là 140mmol/100g bằng:

Trang 38

36

Trang 39

Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ CTAB/bentonit đến hàm lượng cationcetyl trimetyl amoni trong sản phẩm đã được đưa ra trong bảng 3.1 Đồ thị sự phụthuộc của hàm lượng hữu cơ trong sản phẩm vào tỷ lệ CTAB/bentonit (mmol/100g)được đưa ra ở hình 3.6.

Hình 3.6 Sự phụ thuộc của hàm lượng hữu cơ trong sản phẩm sét hữu cơ điều

chế được vào tỷ lệ CTAB/bentonit

Từ đồ thị trên hình 3.6 có thể thấy, khi nồng độ CTAB trong huyền phù sét tăngtương ứng với tỷ lệ CTAB/bentonit thay đổi từ 90 đến 140mmol/100g, hàm lượngcation cetyl trimetyl amoni trong sản phẩm tăng lên và đạt cực đại là 28,20% tại tỷ lệCTAB/bentonit là 140mmol/100g

Tuy nhiên sau đó thì sự tăng nồng độ CTAB trong huyền phù bentonit khônglàm biến đổi đáng kể hàm lượng amoni hữu cơ trong sản phẩm nữa Điều này có thểđược giải thích tương tự như đối với giá trị d001 Tức là tại tỷ lệ CTAB/bentonit bằng140mmol/100g, nồng độ cation cetyl trimetyl trong huyền phù sét cũng như hàmlượng của nó trong không gian giữa các lớp sét coi như đã đạt bão hòa Nếu tỷ lệCTAB/bentonit tăng vượt quá giá trị 140mmol/100g thì hàm lượng cation amoni hữu

cơ trong sản phẩm giảm xuống do các đuôi hữu cơ của amin có xu hướng tập hợpthành các hạt keo không có khả năng thâm nhập vào giữa các lớp sét

Kết luận:

Trang 40

Qua kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng của tỷ lệ CTAB/bentonit đến giá trị d001

và hàm lượng cation amoni hữu cơ trong sản phẩm, chúng tôi thấy rằng, khi tiến hànhkhuấy trộn huyền phù (CTAB và bentonit) trong thời gian 5h, nhiệt độ huyền phù là

60oC, pH bằng 7 thì tại tỷ lệ CTAB/bentonit là 140mmol/100g, giá trị d001 đạt cực đạibằng 40,65Å và hàm lượng cation cetyl trimetyl amoni cũng đạt cực đại bằng 28,20%.Như vậy theo chúng tôi, tỷ lệ CTAB/bentonit thích hợp để điều chế sét hữu cơ từCTAB và bentonit Bình Thuận hàm lượng >90% là 140mmol/100g Chúng tôi duy trìđiều kiện này trong các thí nghiệm tiếp theo

3.1.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ huyền phù

Theo các công trình khoa học [25,26] đã công bố thì nhiệt độ có ảnh hưởng khálớn đến quá trình điều chế sét hữu cơ Nếu nhiệt độ quá thấp thì sự thâm nhập của cáccation hữu cơ vào bentonit thấp Vì vậy yếu tố thứ hai mà chúng tôi tiến hành khảo sát

là ảnh hưởng của nhiệt độ huyền phù, từ đó tìm ra nhiệt độ thích hợp cho quá trìnhđiều chế sét hữu cơ từ bentonit Bình Thuận và CTAB

Các mẫu sét hữu cơ được điều chế theo quy trình đã nêu ở mục 2.2.2 với cácđiều kiện cụ thể như sau: huyền phù (bentonit và muối amoni hữu cơ) có tỷ lệCTAB/bentonit là 140mmol/100g được điều chỉnh đến pH bằng 7 và được khuấy trộntrong thời gian 5h, ở tốc độ khuấy ổn định 500 vòng/phút Nhiệt độ huyền phù đượcbiến đổi từ 30 đến 90oC

Sản phẩm sét hữu cơ điều chế được được chụp giản đồ nhiễu xạ tia X để xácđịnh cấu trúc lớp của sản phẩm, giá trị 2 và khoảng cách giữa các lớp sét (d001); ghigiản đồ phân tích nhiệt để xác định hàm lượng hữu cơ trong sản phẩm sét hữu cơ, từ

đó đánh giá được mức độ thâm nhập của cation amoni hữu cơ vào bentonit, tìm đượcmức độ ảnh hưởng của yếu tố đang khảo sát đến giá trị d001 của sản phẩm sét hữu cơ

và hàm lượng hữu cơ trong sản phẩm Cuối cùng xác định được điều kiện thích hợpnhất cho quá trình điều chế sét hữu cơ

Ngày đăng: 27/08/2020, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bình, Hoạt tính xúc tác của bentonit Thuận Hải đã được biến tính trong phản ứng chuyển hóa một số hợp chất hữu cơ, Luận án tiến sĩ Hóa học, ĐHKHTN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt tính xúc tác của bentonit Thuận Hải đã được biến tínhtrong phản ứng chuyển hóa một số hợp chất hữu cơ
2. Vũ Đình Cự, Nguyễn Xuân Chánh (2001), Công nghệ nano điều khiển đến từng phân tử, nguyên tử, NXBKH- KT Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ nano điều khiển đến từng phân tử, nguyên tử
Tác giả: Vũ Đình Cự, Nguyễn Xuân Chánh
Nhà XB: NXBKH- KT Hà Nội 2001
Năm: 2001
3. Thân Văn Liên, Nghiên cứu qui trình xử lý, hoạt hoá bentonit Việt Nam để sản xuất bentonit xốp, Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài hợp tác theo nghị định thư với Hàn Quốc, Hà Nội, tháng 5, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu qui trình xử lý, hoạt hoá bentonit Việt Nam để sản xuất bentonit xốp
4. Thân Văn Liên và cộng sự, Làm giàu, làm sạch và hoạt hoá bentonit Di Linh - Lâm Đồng và bentonit Tuy Phong, Bình Thuận, Hội nghị Khoa học và Công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ VI, Đà Lạt tháng 10 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm giàu, làm sạch và hoạt hoá bentonit Di Linh - Lâm Đồng và bentonit Tuy Phong, Bình Thuận
5. Ngô Sỹ Lương, Nguyễn Trọng Nghĩa, Thân Văn Liên, Điều chế sét hữu cơ từ bentonit Bình Thuận và cetyl trimetyl amoni bromua, Tạp chí hoá học T46, số 2A, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chế sét hữu cơ từbentonit Bình Thuận và cetyl trimetyl amoni bromua
6. Nguyễn Viết Lược, Lê ái Thụ (1999), Bentonit Thuận Hải, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bentonit Thuận Hải
Tác giả: Nguyễn Viết Lược, Lê ái Thụ
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1999
7. Nguyễn Đức Nghĩa (2007), Hóa học nano công nghệ nền và vật liệu nguồn, Nhà xuất bản Khoa Học Tự nhiên và Công Nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học nano công nghệ nền và vật liệu nguồn
Tác giả: Nguyễn Đức Nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Tự nhiên và Công Nghệ Hà Nội
Năm: 2007
8. Nguyễn Hoàng Nghị, Lý thuyết nhiễu xạ tia X, Nhà xuất bản Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết nhiễu xạ tia X
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
9. Trần Xuân Phương, Nghiên cứu tổng hợp bentonit hữu cơ làm chất tạo cấu trúc cho dung dịch khoan gốc dầu, Luận văn thạc sĩ, ĐHQGHN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổng hợp bentonit hữu cơ làm chất tạo cấu trúc cho dung dịch khoan gốc dầu
10. Ngô Thị Thuận, Trần Như Mai, Nguyễn Thị Thanh Bảo, Một số ý kiến ảnh hưởng cấu trúc lỗ xốp đến phản ứng phân bố lại bất đối xứng toluen, Tuyển tập các công trình hội nghị hóa học lần thứ 3, 1998.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến ảnh hưởngcấu trúc lỗ xốp đến phản ứng phân bố lại bất đối xứng toluen
11. Anatolie Pushniak (2003), Method for acidic activation of bentonite. MD 2 739 F1. 14.01.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Method for acidic activation of bentonite
Tác giả: Anatolie Pushniak
Năm: 2003
12. Antonio Gonzales, Kevin L. Nichols (1998), Oganoclay compositions, US Patent 5,780,376, Jul. 14, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oganoclay compositions
Tác giả: Antonio Gonzales, Kevin L. Nichols
Năm: 1998
13. Bauer Carl (1997), Formulations including improved organoclay compositions, WO 97/09375. 13.03.97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Formulations including improved organoclay compositions
Tác giả: Bauer Carl
Năm: 1997
14. Bekh N. I (2001), Method for preparation of activated bentonite, (Russia) RU 2 196 117 C1. 06.08.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Method for preparation of activated bentonite
Tác giả: Bekh N. I
Năm: 2001
15. Charles A. Cody, Edward D.Magauran (1992), Method of treating waste water for organic containminatnts with water dispersible organically modified smectite clay compositions, US Patent 5,130,028, Jul.14, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Method of treating waste water for organic containminatnts with water dispersible organically modified smectite clay compositions
Tác giả: Charles A. Cody, Edward D.Magauran
Năm: 1992
16. Chuen-Shyong Chou, Dennis Paul Lorah, Aqueous nano composite dispersions, US 2002/0086908 A1, Jul.4, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aqueous nano composite dispersions
17. David E. W. Vaughan (1999), Pillared interlayered clays materials useful as catalysts and sorbents, U.S. Patent. 4,176,090, Date of Patent: Nov. 27.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pillared interlayered clays materials useful as catalysts and sorbents
Tác giả: David E. W. Vaughan
Năm: 1999
18. David Jarus (2005), Nanoclay-containing composites and methods of making them. WO 2005/056644 A2. Jun. 23, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nanoclay-containing composites and methods of making them
Tác giả: David Jarus
Năm: 2005
19. Emmanuel P. Glennelis, Composite of high melting polymer and nanoclay with enhanced properties. US 2005/0137287 A1. Jun. 23, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Composite of high melting polymer and nanoclay with enhanced properties
20. Fethi Kooli, Yan Liu, Solhe F. Alshahateet, Mouslim Messali, Faiza Bergaya (2009), “Reaction of acid activated montmorillonites with hexadecyltrimethylammonium bromide solution”, Applied Clay Science 43 (2009) 357–363 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reaction of acid activated montmorillonites with hexadecyl trimethylammonium bromide solution”, "Applied Clay Science
Tác giả: Fethi Kooli, Yan Liu, Solhe F. Alshahateet, Mouslim Messali, Faiza Bergaya
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w