Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Phác họa rõ nét cuộc sống của người Việt Nam di cư tự do ở Lào; - Phân tích quá trình hội nhập của người Việt Nam di cư tự do ở Lào và những vấn đề phát sinh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-BOUATHONG VILAPHAN
NGƯỜI VIỆT DI CƯ TỰ DO
Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO (TRONG TRƯỜNG HỢP LÀNG THẠT LUỔNG,
THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NHÂN HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-BOUATHONG VILAPHAN
NGƯỜI VIỆT DI CƯ TỰ DO
Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO (TRONG TRƯỜNG HỢP LÀNG THẠT LUỔNG,
THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Nhân học
Mã số: 60310302
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN CHÍNH
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một côngtrình nào khác Các bảng biểu, số liệu được thu thập và phân tích dựa trên nguồn sốliệu của các Cơ quan thống kê quốc gia, Chính quyền làng Thạt Luổng thuộc Thủ
đô Viêng Chăn, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Các nguồn tài liệu tham khảođược trích dẫn đầy đủ và trung thực
Hà Nội, tháng
năm 2019
Xác nhận của người hướng dẫn Tác giả
PGS.TS NGUYỄN VĂN CHÍNH BOUATHONG VILAPHAN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn với đề tài “Người Việt Nam di cư tự do ở Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào (Trường hợp làng Thạt Luổng, Thủ đô Viêng
Chăn)”, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập
thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy, cô giáo trong Khoa Nhân học và Phòng Đào tạo đã giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS Nguyễn Văn Chính người thầy đã gợi mở những ý tưởng đầu tiên của luận văn và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn đúng với mục tiêu đề ra.
Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Chính quyền làng Thạt Luổng
- thủ đô Viêng Chăn; các cô chú, anh chị em cũng như cộng đồng người Việt Nam
di cư tại quê hương mới trên đất Lào thân yêu đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này tại địa phương.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
BOUATHONG VILAPHAN
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NGƯỜI VIỆT NAM Ở LÀO: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 5
1.1 Vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Lịch sử nghiên cứu 7
1.3 Lý thuyết và phương pháp tiếp cận 11
Kết luận Chương 1 24
CHƯƠNG 2 NGƯỜI VIỆT DI CƯ TỰ DO Ở LÀNG THẠT LUỔNG 25
2.1 Tóm tắt lịch sử di cư của người Việt sang Lào 25
2.2 Tình hình di cư tự do của người Việt Nam từ sau đổi mới đến nay và đặc điểm của cộng đồng người Việt tại Lào 29
Kết luận Chương 2 45
CHƯƠNG 3 SỰ HỘI NHẬP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM DI CƯ TỰ DO 46
3.1 Sự hội nhập về đời sống kinh tế 46
3.2 Sự hội nhập về đời sống xã hội 48
3.3 Sự hội nhập về văn hóa lối sống 54
3.4 Sự hội nhập về đời sống tâm linh 63
3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong cuộc hội nhập của của người Việt Nam di cư tự do tại làng Thạt Luổng 64
Trang 63.6 Vấn đề bảo tồn tiếng Việt và văn hóa truyền thống trong cộng đồng người
Việt Nam di cư tự do tại làng Thạt Luổng 68
Kết luận Chương 3 70
CHƯƠNG 4 CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ LÀO ĐỐI VỚI NGƯỜI DI CƯ TỰ DO TẠI LÀO, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI LÀNG THẠT LUỔNG 71
4.1 Chính sách đối với người Việt Nam di cư tự do tại Lào 71
4.2 Những khó khăn, thách thức mà cộng đồng người Việt Nam di cư tại Lào phải đối mặt về chính sách 88
Kết luận Chương 4 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT DI CƯ TỰ DO TẠI LÀNG THẠT LUỔNG
PHỤ LỤC 2: DANH MỤC BẢN PHOTOCOPY CÁC CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC LÀO LIÊN QUAN NGƯỜI NHẬP CƯ NƯỚC NGOÀI
Trang 7Cộng hoà Dân chủ Nhân dânCộng hòa Xã hội Chủ nghĩaNhân dân cách mạng
Nhà xuất bản
Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ
TT Số hiệu Tên Hình, Bảng Số
trang
1 Hình 2.1 Vị trí làng Thạt Luổng tại thủ đô Viêng Chăn 33
2 Hình 2.2 Chùa Thạt Luổng – biểu tượng Phật giáo nổi tiếng 33
7 Bảng 2.4 Chi tiêu sinh hoạt chủ yếu của người Việt Nam di 42
cư tự do tại làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn
8 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu ngành buôn bán của người Việt Nam di cư 39
tự do tại làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu ngành nghề buôn bán của người Việt Nam
9 di cư tự do tại làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng 40
Chăn
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di cư (migration) không phải là một hiện tượng mới trong lịch sử phát triểnkinh tế - xã hội của bất cứ quốc gia nào Trong lịch sử Việt Nam đã chứng kiếnnhiều cuộc di cư lớn nhỏ do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ việc khai hoang lấnbiển, mở mang bờ cõi từ thời đầu dựng nước, cho đến các cuộc di dân có tổ chứcvới các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước, luôn là mối quan tâmnghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội cả ở trong và ngoài nước, trong đó cónhân học
Việc người dân Việt Nam di cư tự do không những tác động tới đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội tộc người, mà còn tác động đến các mối quan hệ quốc tế, hợp tácphát triển giữa Việt Nam với các quốc gia Với khoảng 2.337 km đường biên giới
chung, địa thế “núi tựa núi”, “lưng tựa lưng” đã tạo nên mối quan hệ láng giềng
thân thiện lâu đời giữa hai nước Việt Nam - Lào Trong lịch sử, Lào là mảnh đấtthuận lợi cho người Việt đến sinh sống Sự thân thiện, tính cởi mở của người Lào đãđiều kiện tốt cho bộ phận dân cư Việt Nam hội nhập vào xã hội Lào Ngày nay, đaphần họ đã trở thành một bộ phận của Lào, cùng với người Lào, họ đã đóng góp vềnhiều mặt cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Lào
Tuy nhiên, sự hội nhập giữa hai cộng đồng dân cư vốn có các đặc trưng vănhóa khác biệt cũng có những vấn đề đặt ra trong hầu hết các khía cạnh của đời sống
xã hội, kinh tế, văn hóa và chính trị của đất nước Lào cũng như đến quan hệ giữahai nước và hai chính phủ Việt – Lào Do đó, việc nghiên cứu quá trình hội nhập ấyvừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao nhận thức vềcộng đồng người Việt Nam sinh sống tại Lào, giúp cho nhân dân hai nước hiểu biết
về văn hóa, lối sống của nhau, thông qua đó vun đắp cho mối tình hữu nghị ViệtNam – Lào ngày càng bền vững hơn
Việc nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở nước ngoài từ lâu đã nhận được sựquan tâm của các học giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, hầu hết các công trìnhthường dừng lại ở góc độ lịch sử, văn hóa, kinh tế của cộng đồng Việc nghiên cứudưới góc độ nhân học, nhận diện tổng thể từ lịch sử di dân, định cư cho đến biến đổidân cư - dân tộc, hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, địa vị pháp lí và vai trò của
Trang 10họ trong mối bang giao Việt – Lào trong giai đoạn hiện nay vẫn có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn cao; góp phần nâng cao nhận thức về cộng đồng người Việt Nam sinhsống tại Lào, giúp nhân dân hai nước hiểu biết về văn hóa, lối sống của nhau, thôngqua đó, vun đắp cho mối tình hữu nghị Việt Nam – Lào ngày càng bền vững
Hiện nay, có 5 trung tâm người Việt tập trung cư trú tại Lào là Pắc Sế (Chăm
pa sắc), Xa văn na khệt, Thà Khẹc (Khăm Muộn), Viêng Chăn và Luông Phrabang.Trong đó, thủ đô Viêng Chăn, với tư cách là trung tâm chính trị - hành chính quốcgia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, đãthu hút một lượng lớn kiều bào Việt Nam đến làm ăn sinh sống Vì vậy, nghiên cứu
di cư và sự hội nhập văn hóa của người Việt Nam di cư tại Lào ở Viêng Chăn, cụ thể
là làng Thạt Luổng trường hợp mang tính điển hình
Xuất phát từ những nhận thức trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Người Việt di cư tự
do ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Trường hợp làng Thạt Luổng, Thủ đô Viêng Chăn)” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quan
Luận văn được nghiên cứu nhằm nhận diện chân dung các vấn đề liên quanđến người Việt Nam di cư tại làng Thạt Luổng, Thủ đô Viêng Chăn, từ đó, đề xuấtcác chính sách thích hợp với cộng đồng này
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Phác họa rõ nét cuộc sống của người Việt Nam di cư tự do ở Lào;
- Phân tích quá trình hội nhập của người Việt Nam di cư tự do ở Lào và những vấn đề phát sinh;
- Chính sách của Chính phủ Lào và chính quyền địa phương đối với người Việt Nam di cư tự do ở Lào;
- Đề xuất các chính sách thích hợp để đảm bảo sự phát triển hài hòa của người Việt di cư với cộng đồng địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Cộng đồng người Việt Nam di cư tự do, làm ăn sinh sống tại làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn
Trang 11* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn.
- Về thời gian: Từ năm 2000 đến 2018.
4 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài
- Nguồn tài liệu tham khảo: Bao gồm các cuốn sách, các bài viết đã công bốtrên các tạp chí, công trình đề tài nghiên cứu về người Việt ở Lào đã được xuất bản;các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về cộng đồng người Việt trêncác lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, nhân học; các công trình khoa học cấp Nhà nước,cấp Bộ, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các báo cáo trong các hội thảo, các bài báotrên các tạp chí chuyên ngành; các cuốn hồi ký, nhật ký, ghi chép (được xuất bảnhoặc chép tay) của các thế hệ người Việt đã và đang sinh sống ở Lào; các bài báođiện tử, các website có liên quan đến đề tài
Bên cạnh đó, tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cộng độngngười Việt sinh sống ở làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn để khắc họa rõ nét cuộcsống hiện tại thông qua các buổi phỏng vấn, điều tra bằng bảng hỏi Thông qua đó,cho thấy những góc nhìn đa chiều từ lịch sử, chính sách của chính quyền cũng như
từ chính những người trong cuộc về sự hội nhập, chuyển đổi trong đời sống ngườiViệt Nam di cư tự do tại Lào
4.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi thì trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luậnvăn, tác giả cũng gặp phải những khó khăn nhất định Bên cạnh nguồn tài liệu thamkhảo phong phú nhưng chủ yếu tập trung về đề tài di cư nói riêng, hoặc ở phạm vi
Trang 12rất rộng về quốc gia Do đó, để có thể tiếp cận được tài liệu về mặt lý thuyết, tác giả
đã phải đào sâu nghiên cứu từ những tài liệu tổng quan, từ đó phát triển thêm cácnội dung riêng của mình
Cũng trên cơ sở đối tượng và phạm vi nghiên cứu hẹp, nên tác giả lựa chọnphương pháp nghiên cứu điền dã, trực tiếp xuống địa bàn để cùng sinh hoạt vớicộng đồng người Việt tại đây Trong quá trình đó, do tiếng Việt của tác giả cònnhiều hạn chế, trong khi những người Việt di cư tại đây có người không nói đượctiếng Lào, hoặc chưa hiểu nội dung truyền đạt của tác giả Vì vậy, việc bất đồngngôn ngữ đôi khi cũng gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiệnLuận văn
Tuy nhiên, với sự cố gắng của bản thân cùng với sự giúp đỡ rất nhiệt tình củachính quyền làng Thạt Luổng, của cộng đồng người Việt di cư tại đây, tác giả đã cónhững tư liệu quý để hoàn thành Luận văn của mình Do đó, những khó khăn trênkhông phải là điều gây cản trở quá lớn đối với tác giả
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
bố cục thành 4 chương sau:
Chương 1 Người Việt Nam ở Lào: Vấn đề nghiên cứu, lý thuyết và phương pháp tiếp cận
Chương 2 Người Việt di cư tự do ở làng Thạt Luổng
Chương 3 Sự hội nhập của người Việt Nam di cư tự do
Chương 4 Chính sách của Chính phủ Lào đối với người di cư tự do, thách thức đối với cộng đồng người Việt Nam tại làng Thạt Luổng.
Trang 13CHƯƠNG 1 NGƯỜI VIỆT NAM Ở LÀO: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 1.1 Vấn đề nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Người Việt di cư tự do ở Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào (Trong trường hợp làng Thạt Luổng Thủ đô Viêng Chăn)”, tác giả đã xác định
trọng tâm nghiên cứu bằng việc trả lời những câu hỏi sau:
- Tại sao một bộ phận người Việt Nam di cư tự do đến Lào và lịch sử quá trình
di cư của họ tới Lào như thế nào?
- Tại sao lại chọn làng Thạt Luổng thủ đô Viêng Chăn làm địa điểm nghiên cứu?
- Đặc điểm của cộng đồng người Việt Nam di cư tự do đến làng Thạt Luổng,thủ đô Viêng Chăn hiện nay: (1) Lịch sử hình thành cộng đồng người Việt di cư tự
do tại làng Thạt Luổng? (2) Công việc, thu nhập của người Việt di cư tự do tại làngThạt Luổng? (3) Đời sống hôn nhân hội nhập Việt – Lào trong truyền thống gia đìnhcủa cộng đồng người Việt di cư tại làng Thạt Luổng? Từ đó chỉ ra, những thách thức
mà cộng đồng người Việt di cư tại làng Thạt Luổng phải đối mặt?
- Quá trình hội nhập của người Việt di cư tại làng Thạt Luổng thể hiện như thếnào qua: (1) Đời sống kinh tế? (2) Đời sống xã hội? (3) Văn hóa lối sống? (4) Đờisống tâm linh Bên cạnh đó, những vấn đề bảo tồn về tiếng nói và bản sắc truyềnthống của dân tộc Việt Nam được thực hiện ra sao?
- Chính sách của Chính phủ Lào như thế nào đối với cộng đồng người Việt di
cư sinh sống tại làng Thạt Luổng, thông qua các nhóm quy định về: (1) Địa vị pháp
lý của người Việt di cư tại làng Thạt Luổng? (2) Quản lý lao động nước ngoài, trong
đó có lao động Việt Nam di cư tại làng Thạt Luổng? (3) Quản lý văn hóa, giáo dục,trong đó có lao động Việt Nam di cư tại làng Thạt Luổng? (4) Tác động của chínhsách của Chính phủ Lào tới cuộc sống của người Việt di cư tại Lào
Việc xác định các vấn đề nghiên cứu dựa trên những lý do sau:
Thứ nhất, từ quá khứ đến hiện tại, việc người Lào tới Việt Nam cũng như
người Việt Nam tới Lào làm ăn sinh sống là chuyện thường xuyên xảy ra Quá trình
di dân của người Việt đã diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử phát triển đất nước Để
Trang 14lý giải hiện tượng này cần thiết phải nghiên cứu lý do tại sao người Việt Nam chọnLào là địa điểm để di cư và luận giải dưới góc độ của lịch sử.
Thứ hai, người Việt Nam di cư tới Lào phân bố tại rất nhiều tỉnh thành của đất
nước song tập trung đông tại làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn Việc nghiên cứucác yếu tố về lịch sử, đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội tại làng Thạt Luổng chothấy sự thu hút đông đảo người Việt di cư tự do tới đây, từ đó cũng góp phần tạo nênđặc trưng của cộng đồng người Việt di cư tự do tới làng Thạt Luổng, trả lời cho câuhỏi tại sao lại lựa chọn làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn làm địa điểm nghiêncứu
Thứ ba, việc nghiên cứu, khắc họa đời sống của cộng đồng người Việt Nam di
cư tự do tới làng Thạt Luổng cho thấy cái nhìn chân thực nhất thông qua góc nhìn
về đời sống kinh tế, văn hóa, hôn nhân gia đình
Đây là tiền đề quan trọng để tác giả đào sâu vào việc tìm hiểu quá trình hộinhập của người Việt Nam di cư tới làng Thạt Luổng trên các phương diện về đờisống kinh tế, xã hội, văn hóa lối sống và đời sống tâm linh Qua đó, phác họa đượcquá trình để tồn tại và thích nghi trên một đất nước mới, buộc người Việt Nam di cưtới đây phải có sự chuyển mình để thích ứng, đồng thời cũng vẫn giữ được bản sắc
và truyền thống văn hóa của dân tộc, đất nước mình
Và cũng trên cơ sở thực trạng cuộc sống của người Việt Nam di cư tại làngThạt Luổng, tác giả tìm hiểu được tác động của chính sách của Chính phủ Lào đốivới đời sống của họ thông qua các quy định về địa vị pháp lý cũng như chính sáchquản lý đối với người lao động nước ngoài, trong đó có người Việt Nam
Hơn nữa, người Việt Nam tại Lào đã trở thành một công đồng không nhỏ,trung bình cứ một triệu người Lào thì có tới hơn năm nghìn người Việt cùng sinhsống Đây là một tỷ lệ không nhỏ giữa người dân di cư và người bản địa Điều này
có thể tạo ra những tác động nhất định đối với đời sống cư dân sở tại và của chínhcộng đồng người di cư Việt Nam Nhận thức rằng, quá trình hội nhập của người ViệtNam tại Lào có những thuận lợi nhưng cũng gặp những trở ngại, khó khăn, tháchthức nhất định Do vậy, việc tìm hiểu đời sống cộng đồng người Việt Nam di cư tự
do tại Lào, ở một địa điểm cụ thể, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng
Trang 15nhằm đưa ra các luận cứ khoa học để Chính phủ hai Nhà nước, đặc biệt là Chínhphủ Lào có những chính sách hoạch định phù hợp với cộng đồng dân cư này.
1.2 Lịch sử nghiên cứu
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về vấn đề người Việt Nam ở Lào
Dưới góc độ về nguồn gốc của các công trình nghiên cứu, có thể kể tới cáccông trình nghiên cứu như sau:
* Các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam:
Một số công trình đề cập tới mối quan hệ giữa người Việt và người Lào trong
quá khứ như: “Đất nước Lào - lịch sử và văn hóa” của tác giả Lương Ninh (1996); bài viết “Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào” của tác giả Phạm Đức Thành (2004); cuốn “Lịch sử Đông Nam Á” của các tác giả Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh (2005); cuốn sách chuyên khảo “Lịch sử Đông Nam Á”, tập 4 do Trần Khánh
chủ biên năm 2012 Các tác phẩm này đã cung cấp cho tác giả những kiến thức cơbản về bối cảnh Việt Nam và Đông Á, về các nhân tố khách quan và chủ quan tácđộng đến sự di cư và quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng người Việt ởLào, dù chỉ ở mức độ khái quát
Các công trình nghiên cứu về quá trình di dân, định cư của người Việt tại Lào
và những biến đổi trong đời sống cộng đồng người Việt tại Lào như: Sách chuyên
khảo “Người Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn, (Nxb Chính trị Quốc gia năm 1997); cuốn “Việt kiều Lào – Thái với quê hương” của tác giả Trần Đình Lưu (Nxb Chính trị Quốc gia năm 2004); bài viết “Tài liệu lưu trữ
thời kỳ thuộc địa Pháp liên quan đến đề tài – Cộng đồng người Việt ở Lào” của tác
giả Nguyễn Hào Hùng (Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007, tr.71-78); bài
viết “Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào” của tác giả Vũ Thị Vân Anh ( Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số (2), tr.37-43); bài viết “Vai trò kinh
tế của người Việt tại Lào” của tác giả Phạm Đức Thành ( Tạp chí nghiên cứu Đông
Nam Á, số 2/2007, tr.19-26)
Đặc biệt, cần phải kể đến công trình “Di cư và chuyển đổi lối sống: Trường
hợp Cộng đồng người Việt ở Lào” do tác giả Nguyễn Duy Thiệu chủ biên xuất bản
năm 2008 Công trình này đã chỉ ra 6 vấn đề chính trong Di cư và chuyển đổi lốisống trong Cộng đồng người Việt ở Lào là: (1) Nguyên nhân và các đợt di dư chính
Trang 16của người Việt đến Lào; (2) Những chuyển đổi trong phương thức kiếm sống vàtrong đời sống vật chất của cộng đồng người Việt tại Lào; (3) Những chuyển đổitrong đời sống xã hội và đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt tại Lào; (4)Chuyển đổi bản sắc văn hóa trong nhóm hôn nhân chồng Lào vợ Việt; (5) Nghi lễvòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao thoa văn hóa Việt – Lào; (6) Luậtpháp và chính sách của Chính phủ Lào đối với người nước ngoài và người Việt Namtại Lào Đây là những nội dung vô cùng quý báu giúp tác giả xác định được nhữngvấn đề cần tập trung nghiên cứu khi thực hiện đề tài.
Các bài viết của các học giả người Việt Nam thường tập trung đi sâu vào việc
lý giải lý do tại sao người Việt lại di cư tới Lào, các yếu tố ảnh hưởng tới cuộc sốngcủa người Việt tại Lào cũng như quá trình biến đổi cuộc sống để tự thích nghi vớimôi trường mà chưa có sự đánh giá thích đáng tới những tác động từ việc di cư đótới các mặt đời sống của cư dân Lào nơi có nhiều người Việt sinh sống Đây là điềutác giả nghĩ rằng các công trình nghiên cứu đa phần thể hiện góc nhìn một chiều, do
đó, không thể tránh việc dẫn tới những kết luận mang tính phiến diện về vấn đề này
* Các công trình nghiên cứu của học giả Lào:
Khác với số lượng các bài viết và công trình nghiên cứu khá đa dạng của cáchọc giả người Việt Nam, thì các công trình nghiên cứu của học giả người Lào vềvấn đề người Việt Nam di cư tự do đến Lào lại khá khiêm tốn Việc khai thác và tìmhiểu các nội dung liên quan tới đề tài hầu như được khai thác thông qua các công
trình nghiên cứu tổng quan như “Historic Relationship between Laos and Viet Nam
through the Quy Hop Documents (XVII-XIX centuries) của tác giả Kạp muang
Phuon (2001); Về tình hình di dân tự do xuyên biên giới giữa Việt Nam với Lào,
Campuchia có nghiên cứu Di cư bất hợp pháp trong tiểu vùng Mê Kôngcủa Skeldon
Ronald (2010)
Rất ít các công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề di cư của người Việt Nam tới
Lào như bài viết “Việc di cư của người Việt Nam đến định cư tại thị xã Xa văn na
khệt từ năm 1893-1945” của tác giả Promana – Thawatchai in trong cuốn “Việt Nam: đất nước con người và văn hóa” do Srinakharinwirot University xuất bản năm
2007; bài viết “Bước đầu tìm hiểu luật pháp và chính sách của Chính phủ Lào đối
với người nước ngoài và người Việt Nam tại Lào” của tác giả Amthilo
Trang 17Latthanhot đăng trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007, tr.63-71; và cuốn
“Những biến đổi trong phương thức kiếm sống và trong đời sống vật chất của cộng
đồng người Việt ở Lào” của tác giả Khămpheng Thipmuntaly xuất bản năm 2008.
Thông qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu của các học giả Lào, tác giảthấy được những phân tích và đánh giá về vấn đề người Việt Nam di cư tới Lào từlăng kính của chính những người dân Lào Họ không đi sâu vào việc trả lời câu hỏi
“Tại sao”, mà cung cấp cho người đọc góc nhìn chân thực về cuộc sống hiện tại của
người dân Việt Nam ở Lào và khắc họa vấn đề mang tính hiện tượng theo cách nhìncủa họ, bước đầu đặt trong mối quan hệ giữa cá thể với tập thể, giữa người dân vớinhững chế định quản lý nhà nước – pháp luật Đây là nội dung quan trọng để tác giảtìm hiểu và phục vụ trực tiếp cho việc triển khai thực hiện Chương 4 của Luận văn
* Các công trình nghiên cứu của các học giả quốc tế:
Các học giả quốc tế đã cung cấp những đánh giá và phân tích khách quan vềvấn đề di cư tại Việt Nam nói riêng và các nước Đông Nam Á nói riêng Tuy nhiên,các học giả quốc tế cũng chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu về việc ngườiViệt Nam di cư đến Lào Các nội dung liên quan tới đề tài được chắt lọc trongnhững công trình nghiên cứu tổng quan về lịch sử di dân Việt Nam, tình trạng hônnhân liên tộc người… Điển hình là công trình của M Giovanna Merli (1997),
Estimation of International Migration for Vietnam, 1979-1989 (Ước lượng về di cư quốc tế ở Việt Nam, 1979-1989); The Human Rights Solidarity for Women and
Migration (2001), Migrant Women and Inter-ethnic Marriage (Phụ nữ di cư và hôn
nhân liên tộc người) bàn về vai trò của di cư với phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa
hoặc hình thành quan hệ tộc người mới thông qua hôn nhân Cùng với đó, di cư tự
do xuyên biên giới của những người đồng tộc là vấn đề rất phức tạp trong quản lýdân cư ở vùng biên giới hiện nay
1.2.2 Đánh giá nội dung nghiên cứu và những đóng góp của Luận văn
Trên cơ sở tiếp cận với nguồn tài liệu nghiên cứu về vấn đề người Việt Nam di
cư tự do tới Lào cho thấy các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp khá tổng quan
về những khía cạnh khác nhau xung quanh vấn đề di cư, người Việt Nam di cư đếnLào và sự hội nhập của cộng đồng người Việt Nam di cư tự do tại Lào Đây là
Trang 18những nguồn tư liệu quý báu giúp tác giả có thể tham khảo để bổ sung, hoàn thiệnLuận văn của mình một cách tốt nhất.
Tuy nhiên, nhìn vào tổng thể tư liệu mà tác giả có điều kiện tiếp xúc và khaithác cho thấy, những nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Lào chưa nhiều Đặcbiệt, việc tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng này cũngchưa được các tác giả thực sự quan tâm Hoạt động và đóng góp của cộng đồngngười Việt ở Lào đến nay vẫn chưa thực sự có sự nhìn nhận và đánh giá tươngxứng Để có một cái nhìn hệ thống lý giải về cộng đồng người Việt ở Lào nói riêng
và trên thế giới nói chung rõ ràng còn là mảng đề tài khá trống vắng, đòi hỏi nhữngđầu tư nghiên cứu hoàn chỉnh trong thời gian tới
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa kết quả của những công trình đi trước, Luận văn sẽ
đi sâu nghiên cứu về vấn đề cuộc sống và sự hội nhập của cộng đồng người ViệtNam di cư tự do tại một địa điểm cụ thể như Thủ đô Viêng Chăn hay làng ThạtLuổng, thủ đô Viêng Chăn dưới góc độ nhân học, nhằm bổ khuyết cho những thiếusót trong việc nghiên cứu cộng đồng người Việt tại Lào về cuộc sống và nhữngchuyển đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm linh của cộng đồng ngườiViệt tại địa điểm cụ thể - làng Thạt Luổng Thủ đô Viêng Chăn Hay nói cách khác,tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp tư liệu một cách có hệthống về thực trạng đời sống thực tế về kinh tế, văn hóa, xã hội, tinh thần của ngườiViệt Nam di cư tại Lào, giúp cho mọi người, đặc biệt là hai Chính phủ Việt Nam vàLào hiểu biết đúng các vấn đề liên quan đến người Việt Nam di cư tự do tại Lào, để
có thái độ ứng xử hoặc có các chính sách thích hợp đối với cộng đồng người này.Cùng với đó, những kết quả nghiên cứu của Luận văn về sự di cư và chuyểnđổi văn hóa – đời sống của cộng đồng người Việt Nam di cư tại làng Thạt Luổng,thủ đô Viêng Chăn nhằm đưa ra cái nhìn tổng quát về những vấn đề nảy sinh trongvấn đề này như chủ quyền lãnh thổ, vấn đề sử dụng nguồn lợi để mưu sinh, vấn đềchủng tộc, vấn đề biến đổi bản sắc văn hóa… có thể gây nên hiềm khích giữa ngườibản địa và người nhập cư; là cơ sở để hoạch định chính sách, quản lý nhà nước vàxây dựng đời sống văn hóa cơ sở đối với người Việt Nam di cư tự do tại Lào, nhằmhạn chế xung đột có thể xảy ra, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhândân các dân tộc Việt Nam, các bộ tộc Lào, tăng cường giao lưu văn hóa giữa hai
Trang 19dân tộc Cùng với đó là các kiến nghị với cơ quan hữu quan trong việc thực hiệnchính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài như: Chính sách thu hút nguồn lựccủa kiều bào, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống Việt đối với cộng đồng ngườiViệt ở Lào nói riêng, người Việt ở nước ngoài nói chung.
Kết quả luận văn góp phần nâng cao nhận thức về cộng đồng người Việt Namsinh sống tại Lào, giúp nhân dân hai nước hiểu biết về văn hóa, lối sống của nhau,
từ đó, vun đắp cho mối tình hữu nghị Việt Nam – Lào ngày càng bền vững hơn.Ngoài ra, công trình này là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan hữuquan, các học giả và những người quan tâm đến vấn đề cộng đồng người Việt ở Lào
1.3 Lý thuyết và phương pháp tiếp cận
1.3.1 Cơ sở lý thuyết
Luận văn đã tham khảo, vận dụng và các lý thuyết di cư như thuyết tân cổđiển, thuyết mạng lưới xã hội, thuyết cấu trúc… vào việc nghiên cứu vấn đề cộngđồng người Việt ở Lào dưới góc độ một cộng đồng di cư ra nước ngoài và có mốiquan hệ chặt chẽ với đất nước Việt Nam Cụ thể là:
* Lý thuyết mạng lưới xã hội:
Những nghiên cứu về di cư trên thế giới gần đây ngày càng quan tâm đến ảnhhưởng của các yếu tố văn hóa - xã hội đối với di cư, trong đó, mạng lưới xã hội đãđược xem như một nhân tố quan trọng quyết định toàn bộ quá trình chuyển cư.Trên bình diện xã hội học, khái niệm mạng lưới xã hội dựa trên cơ sở lý thuyết
hệ thống và tương tác xã hội Mạng lưới xã hội là một tập hợp liên kết giữa các cánhân hay các nhóm dân cư nhất định [6, tr.16] Đặc trưng rõ nét nhất của mạng lưới
xã hội phục vụ cho mục đích di dân là sự liên kết xã hội giữa những người dichuyển Thông qua quan hệ họ hàng, bạn bè, người thân, những người di chuyển cóthể tiếp nhận các thông tin và sự trợ giúp cần thiết tại nơi mà họ sẽ chuyển đến.Chính ở đây các quan hệ lâu bền dựa trên nền tảng gia đình trở nên hết sức quantrọng, sự gắn kết chặt chẽ với nhau giữa người di chuyển với người ở nơi đến, tạonên những liên kết thông qua gia đình, thân tộc tin cậy hơn nhiều so với những quan
hệ với người ngoài
Mạng lưới xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích các loại hình didân, quá trình định cư và thích ứng của người di chuyển cũng như ý định chuyển cư
Trang 20trong tương lai Bởi di dân vốn là một quá trình có nhiều yếu tố bất trắc, một mạnglưới xã hội tin cậy sẽ góp phần làm giảm thấp những rủi ro do thiếu thông tin Cácliên kết xã hội giữa nơi xuất cư và nơi nhập cư, sẽ làm giảm cái giá phải trả cho quátrình di dân, đồng thời làm tăng cơ hội thành công của đối tượng di chuyển tại nơichuyển đến Gia đình, bạn bè, người thân tại nơi chuyển đến thường giữ vai trò cưumang, tư vấn, cung cấp thông tin, giúp liên hệ việc làm cũng như vượt qua khó khănban đầu [7, tr.80] Do đó, thuyết mạng lưới xã hội được sử dụng để tìm hiểu nguyênnhân, xu hướng di cư, sự hòa nhập của cộng đồng người Việt Nam tại nơi chuyểnđến (Lào).
* Lý thuyết hút – đẩy:
Ravenstein trong cuốn “Law of Migration” (1889) đưa ra mô hình “hút – đẩy”
và bảy qui luật động thái dân số, trong đó, ông cho rằng di cư để tìm kiếm cơ hộimới và để gạt bỏ rủi ro ở nơi đang sống, lực hút bao giờ cũng lớn hơn lực đẩy đốivới những người di cư bởi có người di cư vì họ bị đẩy khỏi nơi sinh sống [22, tr.8].Thông thường người di cư sẽ lựa chọn giữa lực hút và lực đẩy, cuối cùng họ thườngchọn lực hút bởi con người thường bị ước muốn tốt đẹp hơn thôi thúc di cư thay vìchạy khỏi tình thế không thỏa mãn hiện thời Ravenstein chứng minh rằng dòng di
cư bao giờ cũng gắn với sự di chuyển đến các trung tâm công nghiệp và thươngmại Tiếp nối và phát triển lý thuyết của Raveinstein, Everett S.Lee đã đưa ra các
phân tích về di cư lao động được trình bày trong công trình nghiên cứu “Lý thuyết
về di cư” xuất bản năm 1966 tại Mỹ Ông lập luận rằng các quyết định di cư được
dựa trên 4 nhóm nhân tố: 1/ Các nhân tố gắn bó với nơi ở gốc; 2/ Các yếu tố gắn vớinơi sẽ đến; 3/ Các trở ngại của quá trình di cư; 4/ Các nhân tố thuộc về người di cư.Tiêu biểu cho lý thuyết lực hút và lực đẩy là: Pipton (1976) Khi nghiên cứu nhữngngười di dân từ nông thôn ra đô thị đã chia họ ra làm hai nhóm chính Nhóm thứnhất: những người nghèo khổ thiếu ruộng đất, ít học hành bị tác động của “lực đẩy”
ra khỏi vùng, đến các đô thị hoặc đến các vùng khác kiếm kế sinh nhai Nhóm thứhai: những người tương đối khá giả có học vấn thường bị tác động của “lực hút” từcác vùng đô thị hoặc các vùng có điều kiện phát triển kinh tế lôi cuốn [9, tr.13].Lực đẩy, là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, vănhóa… ở vùng xuất phát (vùng xuất cư) đang gây ra nhiều khó khăn cho người dân ở
Trang 21đây Đó là sự không đáp ứng được các nhu cầu sinh sống về vật chất, tinh thần, vềviệc làm, sự khan hiếm về đất canh tác, tiền công ít… khiến họ phải ra đi tìm kiếmmột vùng đất mới đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của họ.
Lực hút, là những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội,chính trị, văn hoá ở nơi đến (vùng nhập cư) đã cuốn hút người di dân ở nơi khác dichuyển đến làm ăn sinh sống Lực hút thường là khả năng có được việc làm, thunhập cao, thuận tiện trong sản xuất kinh doanh…và các điều kiện về giáo dục đàotạo, y tế, hệ thống dịch vụ xã hội tốt hơn
Như vậy, lý thuyết lực hút - lực đẩy chỉ có ý nghĩa liệt kê các nhân tố tác độngđến quá trình di dân, không giải thích được tại sao trong cùng một hoàn cảnh lại có một
số người di chuyển, một số người khác lại không di chuyển và các yếu tố nào quyếtđịnh sự di dân Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng, thực chất di dân là một vấn đề xãhội phức tạp, đối tượng tham gia di dân rất đa dạng Việc di chuyển ngoài các động cơ
cá nhân còn liên quan đến rất nhiều các yếu tố khác như: tình trạng hôn nhân, thay đổinghề nghiệp, việc làm, lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tôn giáo và các mối quan hệtrong gia đình cũng như các mối quan hệ cá nhân với cộng đồng dân cư mà họ sẽchuyển đến Do đó, Lý thuyết “hút – đẩy” được áp dụng để xác định rõ nguyên nhân di
cư của người Việt Nam sang Lào trong suốt chiều dài lịch sử
1.3.2 Các phương pháp tiếp cận
Luận văn được triển khai trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê nin,quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam vềcộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, của Đảng và Nhà nước Lào đối với ngườinước ngoài, ngoại kiều nói chung, người Việt Nam tại Lào nói riêng
Để giải quyết những nhiệm vụ do đề tài luận văn đặt ra, tác giả dựa vào cácphương pháp chủ yếu là:
(1) Định nghĩa khái niệm
* Di cư tự do
Di cư có thể có nhiều hình thức và có nhiều cách phân loại khác nhau, nếu căn
cứ vào hình thức tổ chức có thể chia làm di cư có tổ chức và di cư không có tổ chức
Di dân tự do (tự phát, hay di dân không có tổ chức) là hiện tượng di dân do mộtngười, một hộ gia đình, hoặc nhóm hộ tự thực hiện không theo một phương án,
Trang 22chương trình và sự quản lý, điều hành của bất kỳ một cơ quan hoặc tổ chức nào[24] Nói cách khác, di cư tự do là dòng di dân tự phát không do Nhà nước hoặcmột nhóm xã hội nào tổ chức, bảo trợ hoặc đầu tư trong quá trình di chuyển Mọi loliệu do cá nhân, gia đình hoặc nhóm người quyết định Dòng di dân này thể hiệnbản chất tự nguyện, tính năng động của con người trong xã hội Ngoài ra nó còn thểhiện sức thu hút của nơi đến và lực đẩy của nơi đi.
Di cư tự do được phân loại thành hai hình thức: Di cư tự do hợp pháp
(documented migrant) được hiểu là những người “ đã, đang và sẽ làm một công
việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” Di cư
tự do bất hợp pháp được hiểu là người di cư không có giấy tờ (undocumentedmigrant), trong đó, họ là những người không được trao các quyền được một nướccho phép vào, ở lại và làm một công việc được trả lương tại quốc gia đó Di cư tự
do là một hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu được diễn ra dưới nhiều nền kinh tếkhác nhau và đặc biệt ngày càng mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường trong thời kỳcông nghiệp hoá, đô thị hoá đất nước
* Những đặc điểm chung của quá trình di cư
Di cư là một quá trình thay đổi nơi cư trú trong khoảng thời gian nào đó và nó
do các yếu tố khác nhau tác động, tạo nên đặc điểm ở một một số khía cạnh:
- Sự chọn lọc về tuổi tác: Theo nhiều nghiên cứu thì việc di cư diễn ra ở những
người trẻ bước vào độ tuổi lao động chiếm to lệ lớn Thanh niên thích nghi và hòanhập với cuộc sống mới, họ là lực lượng lao động mới, dễ dàng thay đổi hơn Cũngchính vì tính chọn lọc trong tuổi tác mà những vùng nhập cư có cơ cấu tuổi trẻ hơn
- Sự chọn lọc theo giới tính, việc di cư nữ hoặc nam, nhiều hoặc ít hơn phụ
thuộc vào không gian, thời gian khác nhau, phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu mà
có thể có sự khác biệt
- Tình trạng hôn nhân: Trong những lý luận về di cư, người ta cũng thường đề
cập đến tình trạng hôn nhân, thông thường to lệ những người chưa có gia đình hoặcđang có gia đình là những đối tượng có to lệ lớn trong dân số Ở những nước đangphát triển, thường người trẻ chưa lập gia đình di cư nhiều hơn Điều này cũng giốngnhư các nước đang phát triển thời kỳ trước Tuy nhiên, ngày nay ở các nước pháttriển, những người có gia đình cũng có khả năng di cư như những người có giađình
Trang 23- Nghề nghiệp, trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn hoặc có
trình độ tay nghề thường dễ thay đổi công việc, do đó họ năng động hơn so với đốitượng khác Những lao động lành nghề thường di cư nhiều hơn Những người cóchuyên môn có tỷ lệ cao hơn cả Có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa trình độhọc vấn và sự chọn lọc di cư Nghiên cứu này sẽ xem xét vấn đề trình độ học vấnvới di cư việc làm có sự tác động như thế nào
* Nguyên nhân, động cơ của các cuộc di cư
Vấn đề di cư thường liên quan đến kinh tế Nhiều nhà nghiên cứu đã đồng ýchỉ ra rằng kinh tế có ảnh hưởng quan trong đối với sự biến động của dân cư Mọi
sự thay đổi về kinh tế đều có thể tác động đến sự di chuyển của người dân từ địaphương này đến địa phương khác Và sự di chuyển đấy thường liên quan đếnnguyên nhân là kinh tế, kinh tế đề cập có thể là kinh tế vĩ mô, hay kinh tế gia đìnhcủa người di cư Yếu tố bao trùm nhất cho nguyên nhân và mọi cuộc di chuyển dân
cư ở nông thôn ra thành thị, trong nước ra nước ngoài hiện nay là lý do kinh tế(thiếu việc làm, thu nhập quá thấp ở nơi đi) Việc đổi mới cơ chế quản lý, mở rộngquyền tự do làm việc cách sống đã tạo ra sự tiền đề cơ bản cho sự di chuyển Cácchính sách phát triển, đô thị hóa và công nghiệp hóa ở các đô thị lớn tạo ra những
cơ hội mở rộng việc làm có thu nhập cao hơn đã thúc đẩy và làm tăng các dòngnhập cư vào đô thị, đặc biệt các đô thị lớn Sự phát triển của đô thị ngày càng diễn
ra nhanh chóng Với sự tăng trưởng kinh tế công nghiệp cao ở khu vực đô thị, đã tạonhiều việc làm mới Đô thị có một sức hút hấp dẫn đối với lao động từ nông thôntới Sự chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị cũng là, một yếu tốquan trọng tác động đến hiện tượng di cư, lao động nông thôn vào đô thị tìm việcdưới nhiều hình thức khác nhau Chính sách về cư trú của người nhân ngày càngđược thuận lợi Việc giao lưu đi lại trong phạm vi cả nước, giữa thành thị - nôngthôn được dễ dàng, nhanh chóng hơn rất nhiều so với trước đây Do đó thông tin vềviệc làm đến với người lao động cần việc ở cả nông thôn và thành thị ngày nay càngnhanh, nhạy hơn rất nhiều
* Nhân tố tác động tới di cư
Theo Michael P Todao, những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư rất khácbiệt và phức tạp Bởi vì, di cư là quá trình chọn lựa quyết định của cá nhân liên
Trang 24quan đến hoàn cảnh kinh tế, xã hội, giáo dục và điều kiện tự nhiên cụ thể Tựu
chung lại, quá trình di cư luôn chịu tác động của yếu tố “nhân tố đẩy” và “nhân tố
hút” hay quá trình di cư xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa hai vùng: vùng
đi và vùng đến Sự kết hợp giữa nhân tố đẩy và nhân tố kéo đã thúc đẩy quá trình di
cư diễn ra
Ảnh hưởng của các yếu tố “đẩy” ở nơi xuất cư: Hiện tượng lao động từ nông
thôn ta các đô thị tìm việc là do nhiều yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội tác động
Nó là kết quả tác động của “lực đẩy” từ các vùng nông thôn nghèo như: dư thừa laođộng, thiếu đất canh tác Đời sống thấp kém, cùng các tác động của “lực hút” từ khu
đô thị có các điều kiện hoạt động kinh tế và sinh hoạt hấp dẫn hơn, có cơ hội tìmkiếm việc làm và thu nhập cao hơn ở nông thôn Những nhân tố chính tạo nên các
“lực đẩy” và “lực hút” này bao gồm: Quỹ đất đai ngày càng giảm, kể cả số lượng vàchất lượng, chương trình sử dụng đất đai có hiệu quả lâu bền gặp phải khó khăn làkhả năng đầu tư, đặc biệt là những vùng điều kiện tự nhiên khắc nhiệt và đời sốngdân cư còn nghèo đói Do thiếu việc làm và việc làm kém hiệu quả ở những vùngnày, nên lao động phải di chuyển để tìm việc làm và làm việc Đời sống của những
hộ nông dân những năm gần đây có khá lên, song còn một bộ phận dân cư không ítnằm trong diện đói nghèo Những hộ nghèo, thậm chí cả những hộ có mức sốngtrung bình, đều thiếu việc làm Tình trạng thiếu việc làm là phổ biến ở nông thôn.Ngoài ra, việc làm ở nông thôn lại có thu nhập không cao, chưa tìm được cơ sở pháttriển kinh tế hiệu quả Mặt khác, do tồn tại của một số chính sách của nhà nước, đặcbiệt là chính sách giá cả, giá nông sản thấp hơn giá hàng công nghiệp, dịch vụ.Cùng với việc tìm phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tại địa phương, họphải di chuyển để tìm việc làm và làm việc ở nơi khác – đó là các thành phố - đểtăng thêm thu nhập
Các yếu tố thuộc về “hút” ở đầu nhập cư: Sự tăng trưởng kinh tế cao, cùng
với sự phát triển kinh tế của khu vực tư nhân (nhất là lĩnh vực xây dựng nhà ở) hiệnnay đòi hỏi nhiều lao động giản đơn, nặng nhọc, cần nhiều người phục vụ và ngườibuôn bán nhỏ, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày ở đô thị Đây cũng là mộttrong những sức hút về “cung” – “cầu” lao động ở thành phố tới dòng người laođộng ngoại tỉnh đổ về các thành phố lớn ngày càng nhiều Điều kiện kiếm tiền ở
Trang 25thành phố cao hơn nhiều so với nông thôn hiện nay là một lực hút quan trọng để người nông dân tới đô thị tìm và làm việc.
Theo cách tiếp cận kinh tế, người ta đã xem xét quá trình di dân xem đó là sự hài hòa từ hai phía cung (supply) và cầu (demand) lao động và việc làm
* Tác động của di cư được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, từ góc độ bản
thân người di cư và gia đình của họ ở nơi đi cũng như cộng đồng xã hội nơi đến cả
về mặt tích cực lẫn tiêu cực:
Thứ nhất, về tác động tích cực:
- Di cư góp phần giải quyết việc làm cho lao động dư thừa và xóa đói giảm
nghèo ở nông thôn Do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, những năm gần đây,
nhiều nông dân bị mất đất sản xuất - là tư liệu sản xuất chủ yếu, hậu quả là hàngtriệu nông dân bị mất việc làm Do đó, họ phải chuyển đổi sang ngành nghề phinông nghiệp Hơn nữa, quá trình đô thị hóa diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh,nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành, lao động tại chỗ không đápứng kịp nên các nhà sử dụng lao động có xu hướng tuyển dụng lao động nông thôn.Lao động nông thôn ra thành phố làm việc, ngoài khoản chi tiêu dùng tại các thànhphố, một phần thu nhập của họ sẽ được chuyển về nông thôn, đây là một trongnhững nguồn lực góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo [21]
- Di cư góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn Đa số người lao
động ở nông thôn trước khi di cư làm nghề nông Sau khi di cư, họ đã có sự thay đổi
cơ bản về nghề nghiệp, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Đây là một xu hướngtất yếu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là một trong những giải pháp đẩymạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, góp phần cải thiện đờisống, nâng cao thu nhập của các hộ gia đình, ngoài ra người lao động có nhiều cơhội tiếp cận với các dịch vụ xã hội như y tế giáo dục, thông tin, văn hóa…
- Di dân đã góp phần bổ sung một lực lượng lao động lớn và trẻ hóa cho các
thành phố Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở các thành phố lớn đòi hỏi
nhiều về nguồn nhân lực Trong khi đó, lao động dư thừa tiềm tàng chủ yếu vẫn ởkhu vực nông thôn và do đó đã trở thành nguồn cung lao động chủ yếu cho cácthành thị Số liệu thống kê cho thấy lao động nhập cư ở độ tuổi cơ bản từ 15 đến 40tuổi - chiếm tỷ lệ cao nhất trong thành phần dân nhập cư, chiếm khoảng 65 - 67%
Trang 26Điều đặc biệt ở đây là lao động nhập cư vào các thành phố là lao động bổ sung chứkhông phải lao động thay thế cho lao động địa phương Tại các khu công nghiệp,khu chế xuất ở Viêng Chăn, lực lượng lao động là dân nhập cư chiếm 42,93%.
- Di cư đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các thành phố: Lao động nhập
cư vào các thành phố không chỉ là nguồn lực cho phát triển, họ còn đóng góp vàotăng trưởng sản lượng (Tổng sản phẩm trong nước - GDP) của địa phương thôngqua việc tiêu dùng cá nhân như: ăn uống, thuê nhà ở, một số dịch vụ xã hội khác…
- Di cư làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở thành thị với nhiều nét văn
hóa từ các vùng miền khác nhau du nhập vào theo dân nhập cư Người nhập cư tạo
dựng sinh kế ở nơi đến, du nhập văn hóa của cư dân bản địa, đồng thời cũng có ảnhhưởng trở lại đối với văn hóa của các cộng đồng này bởi lẽ mỗi người dân nhập cưđều mang theo những nét văn hóa riêng của vùng, miền, quê hương họ nhưng cómột điều chúng ta phải thừa nhận là những dòng văn hóa đó không xung đột mà hòanhập vào nhau làm phong phú thêm đời sống văn hóa đô thị Thông qua quá trình di
cư, người lao động có cơ hội giao lưu, tiếp thu các yếu tố văn hóa mới nhưng vẫngiữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, quê hương mình
Thứ hai, về tác động tiêu cực:
- Thiếu lao động ở nông thôn vào những thời điểm thu hoạch mùa màng Di
dân với mục đích chủ yếu là tìm kiếm việc làm trong quá trình đô thị hóa vừa là xuthế khách quan vừa trở thành phong trào ở nhiều địa phương, để lại nông thônnhững người già và trẻ em Hệ quả tất yếu xảy ra đó là thiếu lao động ở nông thônvào những thời điểm vụ mùa, tạo nên sự mất cân đối cục bộ, thay đổi trong cấu trúc
và phân công lao động gia đình gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp
và những hoạt động khác ở nông thôn
- Một số vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh Quá trình lao động di cư từ nông
thôn ra thành thị bên cạnh tạo điều kiện cho người di cư có cơ hội được tiếp xúc với
xã hội đô thị, học hỏi nhiều điều hay, nhiều kiến thức mới thì quá trình di dân cũnglàm nảy sinh một số vấn đề xã hội phức tạp do hậu quả của người lao động đưa vềnông thôn Những người nhập cư sống xa gia đình thường ít bị ràng buộc nên dễ bịcám dỗ, sa ngã vào các tệ nạn xã hội như: nghiện hút, mại dâm, cờ bạc, lô đề, trộmcướp… và các tệ nạn này sẽ theo lao động về nông thôn
Trang 27- Tạo sức ép trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội ở các thành phố: Đa phần
người nhập cư không có khả năng mua được nhà để ở, họ phải đi thuê nhà, tạo sức
ép cho nhà ở Hơn nữa, khi lượng người di cư đến các thành phố đông, cùng với đóphương tiện giao thông sử dụng tăng lên tương ứng, kết cấu hạ tầng giao thông đôthị không đáp ứng kịp đã gây nên tình trạng kẹt xe ở hầu hết các đô thị, nhiều hệquả phái sinh khác như ô nhiễm tiếng ồn, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường
là một trong những thách thức của các đô thị Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo tiếp cậncông bằng các dịch vụ có chất lượng về chăm sóc y tế, giáo dục và các dịch vụ xãhội khác cho người nhập cư cũng là gánh nặng cho các thành phố Ở một khía cạnhkhác, di dân từ nông thôn vào các thành phố làm cho kết cấu hạ tầng giao thông,cảnh quan đô thị bị phá vỡ, làm chệch hướng mục tiêu xây dựng đô thị văn minh,hiện đại Người nhập cư quen với lối sống ở nông thôn, tâm lý và cách hành xửmang đậm tính tiểu nông đã tạo nên những tác động nghịch chiều Đây rõ ràng làmột rào cản đối với quá trình phát triển bền vững của các đô thị
- Gia tăng sức ép về quản lý trật tự xã hội cho các cấp chính quyền: Lao động
tự do di chuyển vào các thành phố, đặc biệt là di cư mùa vụ tìm việc làm trong thờigian nhàn rỗi, họ thường không đăng ký tạm trú, điều này gây ra những khó khănnhất định cho việc quản lý nhân khẩu tại các đô thị, dẫn đến hiện tượng mất trật tựcông cộng và an toàn xã hội, làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề phức tạp cho dân cư
đô thị và trở thành gánh nặng đối với công tác quản lý trật tự xã hội của các cấpchính quyền Những người di cư đa số có những hạn chế nhất định về chuyên môn,tay nghề nên họ làm đủ các loại công việc từ công nhân cho đến thợ nề, từ buôn bánrong đến người dọn vệ sinh Do vậy, họ tiếp xúc với nhiều tầng lớp trong xã hội,
dễ bị ảnh hưởng các thói hư tật xấu, góp phần làm phức tạp thêm những vấn đề xãhội vốn đã nan giải ở các đô thị gây khó khăn cho công tác quản lý
* Cộng đồng dân cư:
Có nhiều khái niệm khác nhau về cộng đồng (Community) Theo một số tàiliệu của các tổ chức quốc tế và các tổ chức NGOs tại Việt Nam, cộng đồng là mộtthuật ngữ được sử dụng rộng rãi, như sau: Cộng đồng có thể được định nghĩa theođịa lý: cụm tuyến dân cư, một làng nhỏ hay vùng lân cận trong một thị trấn; Cộngđồng có thể được định nghĩa qua sự chia sẻ kinh nghiệm, ví dụ nhóm có sở thích
Trang 28đặc biệt, nhóm dân tộc thiểu số, nhóm chuyên gia, ngôn ngữ, đặc biệt là các nhómđối mặt với hiểm hoạ thiên tai v.v…; Cộng đồng có thể được định nghĩa theo lĩnhvực, ví dụ như nông dân, ngư dân, kinh doanh v.v…; Cộng đồng cũng có thể được
sử dụng để đề cập đến các nhóm bị ảnh hưởng và các nhóm này có thể hỗ trợ giảmnhẹ hiểm hoạ và tình trạng dễ bị tổn thương Trong các cuốn từ điển tiếng Việt,không có khái niệm cộng đồng dân cư mà chỉ có khái niệm về cộng đồng hay cộng
đồng xã hội Theo Từ điển tiếng Việt, cộng đồng được hiểu là “toàn thể những
người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt
xã hội” [2, tr.192] Những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung đó có thể là
thành phần giai cấp, nghề nghiệp, địa điểm sinh tụ và cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tínngưỡng, tâm lý, lối sống Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính
ổn định và bền vững của một cộng đồng xã hội
Các học giả Việt Nam cũng đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về cộng đồng.Theo Tô Duy Hợp (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức(chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộcbởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổigiữa các thành viên Các đặc điểm đó có thể là đặc điểm về kinh tế xã hội; đặc điểm
về huyết thống; mối quan tâm và quan điểm; môi trường, nhân văn Theo khái niệmcủa Trương Văn Tuyển (2007) thì cộng đồng là một nhóm người có chung một haynhiều đặc điểm nào đó, cộng đồng là một khái niệm rộng tùy vào cách tiếp cận củanghiên cứu, các tiêu chí của nghiên cứu, các hoạt động mà cộng đồng sẽ bao gồmmột hay nhiều các đối tượng xã hội khác nhau Vì thế một cá nhân cùng lúc là thànhviên của nhiều cộng đồng khác nhau và một cộng đồng lớn có thể bao gồm nhiềucộng đồng nhỏ Tác giả Đinh Phi Hổ (2011) có nhận định về cộng đồng theo 2
hướng: “Cộng đồng như là một hình thể xã hội thực tế thể hiện qua tính địa
phương” hoặc “Cộng đồng được xem xét trong phạm vi rất rộng của những hoạt động và những đặc tính cụ thể điển hình cho cuộc sống hàng ngày nhưng không cần thiết tương đồng với nhau về một phương diện nào đó” [23, tr.6] Trong bài viết
“Phát triển cộng đồng ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng các tiếp cận trong bối
cảnh mới” [37], các tác giả Trình Văn Tùng và Nguyễn Thị Thu Trang đã chỉ ra
rằng, có nhiều khái niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng tựu chung, khái niệm này
Trang 29bao hàm những tiêu chí chính sau: Đơn vị hành chính, lãnh thổ; Sự liên hệ lẫn nhau,chia sẻ nền tảng chung (văn hóa, tôn giáo, chủng tộc,…); Chia sẻ mối quan tâmchung về những vấn đề cụ thể (nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, ônhiễm môi trường, khan hiếm nguồn nước, thất học, bệnh tật…).
Thuật ngữ “cộng đồng” còn được hiểu như là một phân thể/đơn vị/nhóm ngườitrong hệ thống xã hội, ở đó mọi người ý thức được những đặc trưng và tính chất chung
về những gì mà mình đang có Quan niệm mácxít cho rằng: Cộng đồng là mối quan hệqua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thànhviên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợpthành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động kháccủa họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sảnxuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các
mục tiêu và phương tiện hoạt động [32] Vậy, cộng đồng chính là tập hợp những người
cùng sống và hoạt động trong một môi trường tương đồng nhất định như cùng khu vực địa lý, có chung đặc điểm tâm lý, tình cảm gắn bó, hệ giá trị chuẩn mực, điều kiện sống Cộng đồng bao gồm các tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho quan điểm và hoạt động của họ [4, tr.16].
Cộng đồng dân cư là một dạng của cộng đồng Hiểu một cách đơn giản nhất,cộng đồng dân như là nhiều người, nhiều nhà, gia đình, cá thể, nhóm cùng sốngtrong một khoảng không gian hoặc là những người cùng sinh sống trong một khuvực lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính họ gắn bó, liên kết cùng nhau thực hiện lợi ích,nghĩa vụ [4]… Khái niệm cộng đồng dân cư xuất hiện đồng thời với sự ra đời củamột quốc gia, dân tộc, hay nói xa xưa hơn là của cả lịch sử loài người Theo Đại từ
điển tiếng Việt thì dân cư là "toàn bộ những người đang cư trú trên một địa bàn
lãnh thổ nhất định một cách tự nhiên trong lịch sử và phát triển không ngừng” [20,
tr.158] Hoặc có thể định nghĩa dân cư là “tập hợp những người có những điểm
giống nhau làm thành một khối như là xã hội” [2, tr.461] Theo đó, cộng đồng dân
cư có thể hiểu là một nhóm dân cư sinh sống trong một thực thể xã hội, trong mộtđịa vực nhất định, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và có cùng hệ giá trị chuẩn mực Dướigóc độ pháp lý, cộng đồng dân cư được quy định tại Khoản 24 Điều 2 Luật Lâm
nghiệp 2017 như sau: “Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam sinh
Trang 30sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục, tập quán” Tác giả Trương Hồng Quang đã
chỉ ra rằng, cộng đồng dân cư có thể tồn tại dưới các hình thức sau đây: Các cộngđồng theo khu vực địa lý: ví dụ như cộng đồng dân cư Bắc, Trung, Nam; Các cộngđồng dân cư theo vùng miền đặc thù: đô thị, nông thôn, dân tộc, miền núi,…; Cộngđồng dân cư ở khu vực giao thoa: giao nhau giữa hai khu vực, vùng, miền,… [39]
Cộng đồng dân cư có những đặc điểm sau: Thứ nhất, cộng đồng dân cư mang
tính chất đặc trưng cho một cộng đồng người, qua đó thực hiện các nghĩa vụ và
hưởng các quyền lợi của công dân, dân tộc Thứ hai, nói đến cộng đồng dân cư là
nói đến một tập thể gắn kết cao, mang tính chất xã hội nhiều hơn so với các loại
cộng đồng khác Thứ ba, về mặt kinh tế, cộng đồng dân cư là một tập hợp của nhiều
thành phần kinh tế
Từ đó, trong phạm vi luận văn này, tác giả quan niệm cộng đồng người Việt ở
Lào là một cộng đồng xã hội ở quy mô nhỏ mà thành phần là những người có chung nguồn gốc từ đất nước Việt Nam, sang Lào sinh sống tập trung, ổn định trong một không gian địa lý; sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Việt và tiếng Lào; cùng nhau lưu giữ những nét văn hóa, tín ngưỡng truyền thống và có mối quan hệ khăng khít với nhau.
(2) Phương pháp định lượng thông qua điều tra, phỏng vấn các đối tượng cung cấp thông tin bằng bảng hỏi:
Tác giả tiến hành phỏng vấn, tìm hiểu tư liệu thực tế bằng cách sử dụngphương pháp nghiên cứu định lượng bằng bảng hỏi để tiến hành thu thập thông tin
về nghề nghiệp, mức thu nhập, chi tiêu, các vấn đề về kết hôn, đời sống gia đình củacác hộ gia đình người Việt Nam tại làng Thạt Luổng thủ đô Viêng Chăn Các số liệutrên sẽ giúp tác giả rất lớn trong việc phân tích, tổng hợp, xác định các thông tínviên tiềm năng cho đề tài nghiên cứu trong quá trình điền dã và là căn cứ để sosánh, đối chiếu với tình hình thực tế
Qua số liệu thu thập được từ bảng hỏi tác giả sẽ chọn ra được các đối tượngthông tín viên tiềm năng có thể cung cấp cho tác giả những thông tin quan trọng chonghiên cứu của mình để tiến hành phỏng vấn sâu
Trang 31Cùng với đó, tác giả còn kết hợp thêm phương pháp lịch sử và phương pháplogic, nhằm phục dựng một cách khách quan và toàn diện về sự hình thành, quátrình phát triển và một số nhận xét về cộng đồng người Việt ở Lào Ngoài ra, đểhoàn thành luận văn, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liênngành khác như: Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích đối chiếu, so sánh,…
(3) Phương pháp định tính thông qua:
- Phỏng vấn chuyên sâu:
Theo đó, tác giả sẽ phỏng vấn một số cá nhân, hộ gia đình trong cộng đồng người Việt tại Lào cùng người dân sở tại theo ba nhóm:
(i) Một là, Chính quyền làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn;
(ii) Hai là, người dân sở tại làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn;
(iii) Ba là, bộ phận những người Việt Nam di cư tự do tại Lào đang sinh sống tại làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn
Việc chia các đối tượng nghiên cứu thành 3 nhóm như vậy là để thuận tiện choviệc quan sát các mức độ hội nhập xã hội khác nhau của cộng đồng người Việt tạiLào một cách toàn diện
- Điền dã dân tộc học
Đây là phương pháp đặc thù của nhân học; là quá trình nhà nghiên cứu phảihòa nhập vào cộng đồng đó, để làm cách nào xóa mờ một cách tối đa khoảng cáchgiữa nhà nghiên cứu và cộng đồng nghiên cứu Lý tưởng nhất là khiến họ chấp nhậnnhư mình là một thành viên của cộng đồng Đề làm được điều này, bản thân tác giảphải cùng ăn, cùng ở và cùng làm với cộng đồng Tham gia càng nhiều, càng tốt vàocuộc sống của người dân Tuy nhiên, với khoảng thời gian không nhiều, việc khiến
họ chấp nhận tác giả như một thành viên của cộng đồng là một thách thức không hềđơn giản Tuy nhiên, tác giả có thể cố gắng chiếm thiện cảm và tạo dựng lòng tin ởmột mức độ mà họ có thể tâm sự một cách thoải mái nhất có thể Vì nhiều khi chínhnhững người không quá thân thiết như tác giả lại là những người có mà họ có thể dễdàng bộc lộ những suy nghĩ mà bình thường không dám nói ra cho những ngườibiết quá rõ về bản thân họ
Trang 32Theo kế hoạch, tác giả dự kiến sẽ thực hiện một số chuyến điền dã đến làngThạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn để nghiên cứu, xem xét, khảo sát cuộc sống củangười Việt Nam di cư tự do tại đây như sau:
- Tháng 11/2018, tác giả đến thủ đô Viêng Chăn, làng Thạt Luổng, thủ đôViêng Chăn để thu thập những nguồn tài liệu và thông tin ban đầu về địa bàn nghiêncứu, thống kê số người Việt Nam di cư tại thủ đô Viêng Chăn, tại làng Thạt Luổng,thủ đô Viêng Chăn
- Tháng 01/2019, tác giả trở lại làng Thạt Luổng để thu thập thêm số liệu, tiếnhành phỏng vấn sâu các trường hợp thông tín viên tiềm năng: (1) Việt Kiều hoặcnhững người làm ăn sinh sống lâu dài tại Lào; (2) Những người Việt Nam mới sang
cư trú tại Lào trong thời gian chưa lâu hoặc họ chỉ sang Lào làm ăn theo mùa vụ
- Tháng 3/2019, quay trở lại tiếp tục thu thập, bổ sung thêm thông tin
- Tháng 5/2019, đây là lần cuối cùng tác giả đến địa bàn nghiên cứu để bổ sung tư liệu và hoàn thiện luận văn
Kết luận Chương 1
Vấn đề người Việt Nam di cư tự do tới làng Thạt Luổng nói riêng và tại Làonói chung gồm nhiều nội dung liên quan tới bối cảnh lịch sử, đặc điểm cộng đồngngười Việt sinh sống tại làng Thạt Luổng trong mối tương quan với cộng đồngngười bản địa về các phương diện đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội, tâm linh Theochiều dài lịch sử về mặt lý luận, vấn đề di cư đã được nhiều học giả trong và ngoàinước quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu trước đó thường được triển khai ở mức
độ phạm vi địa lý rộng lớn, do đó, mang tính tổng quát cao Và cho tới nay lại chưa
có một công trình nào nghiên cứu cụ thể và chi tiết về vấn đề người Việt Nam di cư
tự do tới làng Thạt Luổng, thủ đô Viêng Chăn Để thực hiện Đề tài này, tác giả đãvận dụng các cơ sở lý thuyết về mạng xã hội và lý thuyết hút – đẩy, cùng với sự kếthợp linh hoạt các phương pháp tiếp cận định tính, định lượng nhằm xác định vàphân tích, làm sáng tỏ vấn đề Đây là tiền đề quan trọng để tác giả tăng tính thuyếtphục trong việc triển khai các Chương tiếp theo của Luận văn
Trang 33CHƯƠNG 2 NGƯỜI VIỆT DI CƯ TỰ DO Ở LÀNG THẠT LUỔNG
2.1 Tóm tắt lịch sử di cư của người Việt sang Lào
Quá trình thiên di của người Việt đến Lào trong suốt chiều dài lịch sử của haidân tộc có thể chia ra làm 04 giai đoạn chính sau:
2.1.1 Thời kỳ phong kiến Nhà Nguyễn
Trong lịch sử và thực tiễn thiên di của người Việt Nam, quá trình di dân củangười Việt đến Lào tạo thành các đợt di cư bắt đầu diễn ra từ thời phong kiến nhàNguyễn khi người Việt sang Lào để tránh bị đàn áp vì chính sách “bình Tây sátĐạo” của chính quyền nhà Nguyễn Đây có thể coi là giai đoạn đầu tiên bắt đầu quátrình di dân lâu dài tạo thành các cộng đồng người Việt tại Lào Bên cạnh đó, những
lý do xuất phát từ thiên tai, mất mùa, đói kém, sưu cao thuế nặng cũng là lý do quantrọng khiến người Việt Nam phải ròi bỏ quê hương để di cư sang Lào
Hơn thế nữa, việc di cư của người dân Việt Nam còn diễn ra trong bối cảnh xãhội rối ren với hàng loạt cuộc nổi dậy chống triều đình và các cuộc khởi nghĩa củanông dân Đến thời kỳ tiếp theo, sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước đầuhàng thực dân Pháp thì các cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra khắp nơi, tiêu biểu làphong trào Cần Vương Phong trào Cần Vương bắt đầu từ năm 1885, kéo dài đượctrên 10 năm đến năm 1896 thì bị thực dân Pháp đàn áp dập tắt Cuộc khởi nghĩa thấtbại khiến vua Hàm Nghi bị bắt nên một số người trong nhóm ủng hộ theo vua HàmNghi chống Pháp trong phong trào Cần Vương đã phải chạy sang Lào tránh nạn đểtránh sự tàn sát Các cuộc lánh nạn diễn ra khắp nơi Những người Việt sang lánhnạn tại Lào đầu tiên tập trung sinh sống ở khu vực Xiềng Vang (Xieng Wang) tỉnhKhăm Muộn của Lào Theo ông Hồng, một người dân làng Xiềng Vang, thì làngXiềng Vang này được thành lập từ năm 1892 do ông Đặng Văn Phèng cùng một số
bà con ở Quảng Bình tham gia cuộc cách mạng của cụ Phan Bội Châu bị Pháp lùngbắt nên chạy tới đây Từ đó người Việt trốn đi thì lấy nơi đây làm điểm tới và cái tênXiềng Vang được lấy của ông Xiêng còn Vang là chỗ bình yên Hiện nay, nơi đâyvẫn còn giữ được và bảo tồn gần như nguyên vẹn nhiều di tích, phong tục tập quán
và ngôn ngữ Việt cũng như lưu giữ nhiều hoài niệm về quá trình di cư sang Lào củacha ông họ
Trang 342.1.2 Thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp
Trong một thời kỳ dài từ 1858 đến năm 1896, Thực dân Pháp tiến hành xâmlược và bình định Đông Dương Từ năm 1899, nước Lào – xứ Ai Lao bị thực dânPháp sáp nhập vào Liên Bang Đông Dương Sau khi ổn định xong Đông Dương, từ
năm 1897 đến những năm đầu của thế kỷ XX, Pháp tiến hành “Chương trình khai
thác thuộc địa lần thứ nhất” Trong thời gian này, số lượng người Việt sang Lào đã
tăng lên nhanh chóng cả chính thức và phi chính thức do thực dân Pháp điều độngđưa sang và cả do di dân tự phát Nhiều dòng người Việt Nam di cư đã đổ sang Lào,tập trung ở các tỉnh miền Trung và Nam Lào
Việc người Việt di cư đến Lào đông đảo nhất trong thời kỳ Đông Dương thuộcPháp, bởi lẽ, nước Lào vốn là nơi đất rộng, người thưa, núi và cao nguyên chiếmphần lớn diện tích của đất nước, nhưng do nhân lực tại chỗ quá thiếu, mãi sau chiếntranh thế giới thứ nhất (1911-1918), Pháp mới bắt đầu tổ chức khai thác xứ Lào vớiphương hướng sử dụng nhân lực của các xứ khác trong Đông Dương thuộc Pháp.Bên cạnh việc thực dân Pháp điều động người Việt sang Lào, trong thời kỳnày, những người thợ thủ công, công nhân nông nghiệp, nhà buôn đã tự phát rờikhỏi làng bỏ sang lập nghiệp tại Lào Hơn nữa, thời kỳ những năm 1931-1932, ViệtNam đang bị Pháp khủng bố trắng, người Việt hoạt động chống Pháp trốn sang cácbản mường Lào, dựa vào sự che dấu, đùm bọc, nuôi nấng của người Lào rất đông,
số bị Pháp truy lùng cuối cùng bị bắt giữ tại Lào cũng không ít Đến những năm
1941 đến 3/1945, Pháp – Nhật thỏa hiệp cai trị liên bang Đông Dương, số dânnghèo ở Việt Nam tiếp tục tìm đến Lào để kiếm sống ngày càng nhiều [36, tr.36].Những chính sách cai trị và khai thác thuộc địa của chính quyền thực dân Pháp
đã khiến cho số lượng người Việt di cư sang Lào trong giai đoạn này tăng lên nhanhchóng Vào năm 1910, số lượng người Việt ở Lào chỉ là 4.000 người, thì đến năm
1943, số lượng người Việt ở Lào đã tăng lên 44.500 người Theo nghiên cứu của tácgiả E Pietrantoni tại 6 thành phố của Lào: Thủ đô Viêng Chăn, Kinh đô Luông PhaBăng, Thà Khẹc, Xa văn na khệt, Pak xế, Xiêng Khoảng, thì vào năm 1943, trongtổng số cư dân 51.150 người có đến 30.300 là người Việt [43] Có thể nói, trải quacác giai đoạn di dân đến thời kỳ này, các cộng đồng Việt kiều ở Lào đã dần đượchình thành và ổn định và vẫn duy trì được nhiều bản sắc vốn có của quê nhà
Trang 352.1.3 Thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Trong thời kỳ kháng chống chống Pháp – Mỹ, có một lượng lớn di chuyển dân
cư tại Việt Nam trong những năm chiến tranh ác liệt Phần lớn là do sơ tán khỏi cácvùng tranh chấp Một số khác sang Lào làm ăn hoặc đi chơi, thăm họ hàng bị mắckẹt lại do cuộc chiến của Pháp tại Đông Dương
Trên cơ sở pháp lý của Hiệp định thành lập Liên quân Lào-Việt, những năm1945-1947, Liên quân Lào-Việt hình thành đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bộđội chủ lực, bộ đội địa phương của Khu 4 (Việt Nam) sang chiến đấu Tiếp theo đó,trong những năm 1948-1950, một số đơn vị Quân tình nguyện của các liên khu 3, 4,
5 và 10 (Việt Nam) lần lượt được cử sang Lào giúp bạn xây dựng cơ sở, phát triểnlực lượng kháng chiến Tuy nhiên, trong thời kỳ này, các dân thường người Lào và
cả người Việt (phần lớn là Việt Kiều) đã bị giết hai Vì vậy, hàng nghìn người Việt
ở Lào vượt sông Mê Kông thoát sang Thái Lan để tránh cuộc càn quét trả đũa của Pháp Số lượng người Việt tại Lào vì vậy giảm nhiều
Tiếp sau thời kỳ chiến tranh Đông Dương là thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.Sau năm 1954, đế quốc Mỹ đã nhảy vào thế chân Pháp tại Đông Dương Phát huytruyền thống đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp,một lần nữa, quân đội hai nước Việt-Lào đoàn kết giúp đỡ nhau quyết tâm khángchiến chống Mỹ xâm lược Theo yêu cầu của Chính phủ kháng chiến và Mặt trậnNeo Lào Ít-xa-la, tháng 8- 1954, Bộ Quốc phòng Việt Nam cử Đoàn 100 cố vấnquân sự sang giúp quân dân Lào đấu tranh vì hòa bình, trung lập và hòa hợp dân tộc
(1954-1959) Tiếp đó, những năm 1960-1968, khi Mỹ thực hiện “Chiến tranh đặc
biệt” ở Lào, Bộ Quốc phòng Việt Nam lần lượt cử các Đoàn: 959, 463, 565 chuyên
gia quân sự và các Đoàn: 335, 766, 866, 763, 968 Quân tình nguyện sang giúp bạnxây dựng lực lượng, chiến đấu bảo vệ căn cứ Trung ương và các khu căn cứ, vùnggiải phóng của Lào Những năm 1973-1975, theo yêu cầu của cách mạng Lào, một
bộ phận Quân tình nguyện Việt Nam ở lại giúp bạn bảo vệ vùng giải phóng, chống
âm mưu, thủ đoạn phá hoại hiệp định của Mỹ và chính quyền Viêng Chăn Đến giữanăm 1975, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Quân tình nguyện Việt Nam tiến hànhnhiều hoạt động hỗ trợ tích cực quân và dân Lào giành chính quyền về tay
Trang 36nhân dân, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (2-12-1975), hoàn thànhcuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân 30 năm ở Lào.
Trong thời kỳ này, nhiều lực lượng phe phái nổi lên nên cuộc sống của ngườidân Lào nói chung và bà con Việt kiều ở Lào cũng có nhiều xáo trộn và ảnh hưởng,không được hưởng cuộc sống yên bình, làm ăn yên ổn bởi họ phải chạy giặc, tản cưtrốn tránh mong tìm con đường sống
2.1.4 Thời kỳ sau năm 1975
Sau năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời Tuy nhiên, thờigian này, người Việt tại Lào gặp rất nhiều khó khăn do họ sinh sống bằng các nghềtiểu thương và dưới chính sách bài ngoại Do đó, số người Việt tại lào thời kỳ này
đã giảm đáng kể, phần lớn vượt biên thoát ra nước ngoài
Từ năm 1977, trong thời kỳ phát triển kinh tế, Lào và Việt Nam tiếp tục xâydựng đất nước, phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị Khoảng 7.000 sinh viênLào được cử sang Việt Nam học tập, nhiều người trong số này đã kết hôn với ngườiViệt Nam và khi quay về Lào, họ đã mang theo gia đình Việt Nam của họ Điều nàycũng tạo nên làn sóng mới người Việt Nam di cư đến Lào
Qua giai đoạn này, đến thời kỳ tái thiết xây dựng đất nước và nền kinh tế hộinhập với khu vực và thế giới, cả Việt Nam và Lào đều bước vào thời kỳ đổi mới vàphát triển kinh tế Thời kỳ mở cửa và phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh vực đã tácđộng và tạo ra những động lực nhất định tạo nên những trào lưu di cư mới củangười Việt ngày một gia tăng và hình thành những làn sóng di dân sang Lào trongnhững thập niên gần đây
Nhìn chung do nhiều nguyên nhân khiến người Việt Nam ở Lào nhưng tựuchung lại có thể rút ra hai nguyên nhân chính: Chiến tranh và các yếu tố chính trị.Cho dù vì nguyên nhân gì thì hiện tại ước tính có khoảng 80.000 người Việt đangsinh sống tại Lào [46], được phân thành ba bộ phận: Một bộ phận đã trở thànhngười Lào, mang quốc tịch Lào; một bộ phận được công nhận là Việt Kiều, hưởngquy chế Việt kiều được cư trú và làm ăn sinh sống tại Lào; bộ phận khác bởi nhiều
lý do chưa có đầy đủ các quy định để trở thành Việt kiều và những người mới đếnLào làm ăn theo mùa vụ
Trang 372.2 Tình hình di cư tự do của người Việt Nam từ sau đổi mới đến nay và đặc điểm của cộng đồng người Việt tại Lào
2.2.1 Tình hình di cư tự do của người Việt Nam từ sau đổi mới đến nay
Từ những những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, làn sóng người Việt Nam
sang Lào buôn bán đã tăng mạnh bao gồm những người “di cư tự do” đến Lào để
tìm kiếm công ăn việc làm theo mùa vụ, đa phần từ những vùng quê nghèo miềnTrung Việt Nam, nơi có đường biên giới khá dài tiếp giáp với Lào Những người di
cư tự do hầu hết đều không có giấy tờ và chịu nhiều rủi ro trong quá trình di dânnhư bị trục xuất về nước Điều này được thể hiện phần nào qua lời kể của những
người trong cuộc đã từng trải qua: “… Tôi quê ở Ngọc Lâm, Quảng Bình… Tôi
sang đây từ năm lên 13 từ những năm 85-86 cơ… Hồi đấy do quê mất mùa… với lại gia đình cũng nghèo đói quá nên sang đây… thích thì đi tự do thôi,… chẳng có giấy
tờ gì đâu… Đợt đấy nhiều người sang cả gia đình đấy những do không có giấy tờ… Lào họ đuổi về hết, đuổi nhiều người về Việt Nam rồi… Chồng tôi người Việt nhưng
có quốc tịch rồi nên tôi được ở lại Lào…” [18, tr.84].
Ngoài ra còn có những người di dân theo kiểu “xâm canh, xâm cư” ở các vùng
biên giới giữa hai nước Việt – Lào vì các mục đích sinh kế theo mùa vụ hoặc lâudài, những người di dân loại này thường là những người dân vùng biên qua lại buôn
bán trao đổi hàng hóa Số lượng những người “xâm canh xâm cư” khó xác định
được chính sách nhưng cũng chiếm tỷ lệ khá lớn và ngày càng gia tăng khi các hoạtđộng buôn bán vùng biên và xuất nhập khẩu biên mậu đang trên đà phát triển khôngchỉ ở các cửa khẩu chính thức được mở giữa Việt Nam và Lào mà còn ở cả nhữngvùng giáp ranh biên giới giữa hai nước [18, tr.85]
Bước sang thế kỷ XXI, người Việt Nam di cư sang Lào phần lớn là vì mụcđích kinh tế Một số không nhỏ sang lao động ở Lào Theo bản báo cáo của Hiệphội các nhà đầu tư Việt Nam sang Lào (AVIL) năm 2016 thì có khoảng 13.000 laocông người Việt tại Lào, phục vụ trong nhiều ngành, từ thủy điện, xây cất, lâm sản,đến đồn điền cao su
Người Việt tập trung sinh sống tại một số khu vực, thành phố lớn của Lào,trong đó, thủ đô Viêng Chăn hiện nay có khoảng trên 10.000 người Việt Nam sinhsống Với một cộng đồng người Việt khá đông đảo ở Lào thì quá trình di dân của
Trang 38người Việt đã có những tác động không nhỏ đến hầu hết các khía cạnh của đời sống
xã hội, kinh tế, văn hóa và chính trị của đất nước Lào cũng như đến quan hệ giữahai nước trong quá khứ, hiện tại và tương lai [18, tr.86]
2.2.2 Một số đặc điểm của cộng đồng người Việt ở Lào
Thứ nhất, cộng đồng người Việt tại Lào do 3 bộ phận hợp thành: Một, bộ phận
người Việt đã nhập quốc tịch Lào (người Lào gốc Việt) Về mặt pháp lý họ đượchưởng đầy đủ mọi quyền lợi và phải thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ công dân Lào,nhưng chứng minh thư nhân dân của Lào vẫn có những dấu hiệu để phân biệt giữangười Lào gốc Lào với người Lào gốc Việt Hai, những người được sinh ra hoặc đãlàm ăn sinh sống lâu đời tại Lào, họ có quyền đăng ký hộ khẩu tại Lào, nhưng làcông dân Việt Nam Ba, những người Việt Nam mới sang cư trú tại Lào trong thờigian chưa lâu hoặc họ chỉ sang Lào làm ăn theo mùa vụ Ba bộ phận dân cư này cónhững chế độ pháp lý khác nhau Đương nhiên, không phải tất cả mọi thành viêncủa người Việt tại Lào - nhất là nhóm người chỉ sang Lào làm ăn theo thời vụ - đềutham gia vào đời sống cộng đồng
Thứ hai, nguồn gốc xuất cư rải rác tại nhiều địa phương trong cả nước Theo
số liệu điều tra vào tháng 4/2005 của nhóm tác giả Nguyễn Duy Thiệu trên 316 hộngười Việt Nam làm ăn sinh sống tại Lào, thì họ đến Lào từ 35 tỉnh, thành phố khácnhau, phân bố khắp ba miền Bắc Trung Nam của Việt Nam, nhưng đại bộ phận tậptrung ở hai vùng chính: khu vực Bắc Trung Bộ và khu vực đồng bằng Bắc Bộ, màmỗi miền như vậy, tập quán, lối sống rất khác nhau Các tỉnh có đường biên giápvới Lào như Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Quảng Trị đã cóhàng nghìn người di cư tự do Cụ thể: mỗi năm tỉnh Nghệ An có từ 5.000 đến 6.000lao động tự do đi làm việc tại Lào[5]; cả tỉnh Thừa Thiên - Huế có khoảng 6.000 laođộng đang làm việc tại Lào[10]
Thứ ba, về độ tuổi, sức khỏe và trình độ học vấn của người di cư tự do: Tại các
nước đang phát triển, di cư lao động diễn ra thường xuyên hơn ở lứa tuổi lao độnghiệu quả nhất Trên 80% số người di cư nằm trong độ tuổi từ 18 đến 30 Nếu xét cảnhững độ tuổi lớn hơn, thì có đến 90% số người di cư có tuổi từ 18 đến 50
Khoảng 98% số người di cư tự đánh giá có tình trạng sức khỏe tốt hoặc rất tốt.Sức khỏe là một chiều cạnh đặc thù khác của tính chọn lọc di cư Thường những
Trang 39thành viên gia đình với sức khỏe tốt sẽ có nhiều khả năng di cư hơn Ngoài ra, di cư
là một trong những chiến lược sinh kế của gia đình, nhằm giảm thiểu rủi ro, nhữngthành viên có sức khỏe tốt hơn được ưu tiên đi kiếm việc làm ở nước ngoài
Trình độ học vấn của người di cư được đo bằng mức độ học vấn cao nhất đạtđược: hơn 65% số người được hỏi đã tốt nghiệp cấp 3, khoảng 6% số người trả lời
đã tốt nghiệp ở những bậc học cao hơn [25] Nhìn chung, người di cư đều có trình
độ học vấn tương đối khá so với chỉ số trung bình của cả nước Điều này có thểđược coi là bằng chứng về vốn con người đang trở nên cơ động hơn hoặc do tính
chọn lọc trong di cư, đặc biệt là di cư lao động quốc tế.
Thứ tư, về phân bố lao động di cư tại Lào không đồng đều: Các khu vực Trung
và Nam Lào thu hút tới 163 dự án của Việt Nam, chiếm 78% tổng số dự án của ViệtNam đầu tư sang Lào [3] Do đó số lượng người lao động tự do làm việc trong các
dự án, công trình tại hai khu vực này nhiều hơn khu vực Bắc Lào Khu vực TrungLào có số lượng lao động tự do người Việt Nam lớn nhất, tập trung chủ yếu tại thủ
đô Viêng Chăn Theo ước đoán của tác giả Phạm Thị Mùi, lao động tự do ngườiViệt Nam hiện nay tại khu vực Trung Lào tập trung nhiều nhất với khoảng 45%, khuvực Nam Lào chiếm 30% và Bắc Lào là 25% [25]
Thứ năm, về đặc điểm nghề nghiệp và thu nhập của người di cư:
Theo quy định của Luật Lao động Lào, người nước ngoài không được làmcông chức trong các bộ máy công quyền và chính quyền, không được sở hữu đất đaibất động sản và không được cấp thẻ môn bài để sản xuất kinh doanh tại Lào [12]
Do không có đất, người lao động tự do thường làm ruộng thuê, làm công nhân trongcác công trường, dự án, nhà máy hay trở thành những người bán hàng, tham gia vàonhiều lĩnh vực dịch vụ giải trí…
Tài liệu điều tra trên thực tế cho thấy người Việt trên đất Lào đã làm rất nhiềunghề: May mặc; Thợ nề, thợ mộc; Thầu khoán; Buôn, bán vàng bạc, giày dép; Mởtrường học tư; Làm nghề kim hoàn; Mở nhà máy làm tôn, sắt, lắp ráp ô tô; Đónggiày, làm quạt máy chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ Người Việt khá thành côngtrong lĩnh vực kinh doanh nhỏ lẻ so với người bản xứ Chị Thy chủ một cửa hàngtạp hóa bán buôn rất sầm uất trong những ngày Tết Lào, gian hàng nằm tại một vị tríđắc địa của chị đang được sửa sang lại cho sang trọng và hiện đại hơn, chị Thy
Trang 40cho biết: “Em mở được 4 năm rồi ạ, thường thường khách của em là người Lào,
người Việt ít lắm….” Những cửa hiệu massage, cắt tóc nam nữ, hay lớn hơn như
cây xăng, bán vật liệu xây dựng đầy dẫy trong thành phố Viêng Chăn Anh Lâm,
một thợ làm đầu ở Viêng chăn cho tác giả biết: “Tôi tên là Lâm, quê ở Nghệ An,…
Ở Việt Nam kiếm tiền không được thì sang đây làm nghề cắt tóc, gội đầu, làm móng tay, cũng vì mình không có vốn nên phải làm nhỏ lẻ.”
Về thu nhập, trong các dự án, công ty liên doanh giữa Việt Nam và Lào, mức
lương trung bình lao động kỹ năng là 500 USD/người/tháng, mức lương của laođộng phổ thông khoảng 250 USD/người/tháng Lao động di cư tự do người ViệtNam tìm việc bên ngoài các dự án có thu nhập khoảng 200 - 300 USD/người/tháng
Anh Ri, một công nhân xây dựng người Huế cho biết: “sang đây mỗi tháng làm
được 6 triệu đồng Việt Nam, (khoảng gần 300 USD).” Bà Hoa, một phụ nữ làm
nghề giúp việc nhà ở Pakse tiếp lời: “Hiện tại mỗi tháng tôi kiếm được 2 triệu kíp
(khoảng 250 USD)” Tuy khoản thu nhập không cao nhưng có thể giúp đỡ được
nhiều cho chi tiêu trong gia đình ở Việt Nam và giải quyết được công ăn việc làmtrước mắt cho người lao động
Tóm lại, để kiếm sống, đa phần người Việt ở Lào đã lựa chọn nghề buôn bán
nhỏ, số còn lại tập trung hoạt động trong các ngành dịch vụ, một bộ phận đã nhậpquốc tịch Lào lâu ngày cũng được chấp nhận làm cán bộ trong hệ thống cơ quan nhànước ở Lào Mặc dù là cư dân nông nghiệp rất thành thạo làm lúa nước nhưng sốngười Việt đến Lào làm ruộng để kiếm sống chiếm một tỷ lệ rất thấp (6% trên cảnước) Sự chuyển đổi phương thức kiếm sống này là tiền đề để họ chuyển đổi lốisống theo hướng xa rời dần lối sống truyền thống của cha ông họ ở quê nhà
2.2.3 Giới thiệu khái quát về địa bàn nghiên cứu
“Thạt Luổng” hay “Thạp Luổng” trong tiếng Lào có nghĩa là “tháp lớn” Sự
tích hình thành làng Thạt Luổng gắn với sự kiện dời đô về Viêng Chăn của Vua Xẹtthả-thi-lạt, dân cư từ Luong Phrabang cũng theo về Viêng Chăn, và hòa nhập sinhsống cùng với cư dân gốc tại đây, trong đó có Làng (bản) Thạt Luổng (That Luang).Hiện nay, làng Thạt Luổng là một làng (bản) nằm về phía đông của huyện thuộchuyện Xay-sệt-tha, có diện tích 955,586 m2 (diện tích toàn huyện là 147km2)