PGS.TS Phạm Quốc Sử trong Phát triển du lịch làng nghề nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Tây 2007 cũng có phần viết về các làng nghề ở Thường Tín, đưa ra phân tích về thế mạnh và tiềm năng p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ QUANG PHÁP
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN
THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
(Trường hợp làng Thụy Ứng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-LÊ QUANG PHÁP
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN
THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Đặng Thị Vân Chi – giảng viên khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là quá trình tìm hiểu, đúc rút ra trong học tập, nghiên cứu và làm việc của tôi Những số liệu, bảng biểu, ý kiến phục
vụ cho việc phân tích, đánh giá được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và có chú thích rõ ràng.
Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Tác giả luận văn
Lê Quang Pháp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến trường ĐHKHXNH&NV, Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin gửi tri ân tới TS Đặng Thị Vân Chi (giảng viên Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, trường ĐHKHXH&NV) – Người đã trực tiếp chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong và ngoài trường đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn.
Tôi xin cảm ơn tới các cấp chính quyền huyện Thường Tín, xã Hòa Bình tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu tại địa phương Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các hộ sản xuất và đặc biệt tới gia đình ông Vũ Văn Hiệu, nghệ nhân Nguyễn Văn Kiến, chị Nguyễn Thị Duyên, bác Nguyễn Văn Anh và rất nhiều người khác tại làng Thụy Ứng, xã Hòa Bình đã giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này.
Trân trọng cảm ơn!
Trang 5M C L C Ụ Ụ
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Mục đích nghiên cứu 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Các nguồn tư liệu 10
7 Dự kiến đóng góp của đề tài 11
8 Cấu trúc luận văn 12
NỘI DUNG 13
Chương 1: LÀNG NGHỀ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN 13
1.1 Các khái niệm 13
1.1.1 Làng nghề 13
1.1.2 Cơ chế thị trường 15
1.2 Khái quát về huyện Thường Tín 16
1.2.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành 16
1.2.2 Điều kiện tự nhiên 18
1.2.3 Dân cư – xã hội 19
1.3 Làng nghề tại huyện Thường Tín 22
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề tại huyện Thường Tín 22
1.3.2 Tình hình làng nghề ở Thường Tín 28
1.4 Yếu tố tác động tới phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín 33
1.4.1 Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền huyện Thường Tín 33
1.4.2 Cơ sở hạ tầng 34
1.4.3 Văn hóa truyền thống 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
Chương 2: LÀNG NGHỀ THỤY ỨNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 41
2.1 Ví trí địa lý và điều kiện tự nhiên 41
2.2 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 42
2.2.1 Làng nghề truyền thống Thụy Ứng trước năm 1954 42
Trang 62.2.2 Làng nghề Thụy Ứng trong thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp 1954-1986 53
2.3 Làng nghề Thụy Ứng trong cơ chế thị trường 55
2.3.1 Làng nghề Thụy Ứng từ 1986 đến 1992 55
2.3.2 Làng nghề lược sừng Thụy Ứng dưới tác động của cơ chế thị trường từ 1993 đến nay 58 2.4 Một số nhận xét về làng nghề Thụy Ứng 66
2.4.1 Quan hệ sản xuất làng nghề 66
2.4.2 Cơ hội và thách thức của làng nghề Thụy Ứng hiện nay 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG – KINH NGHIỆM TỪ LÀNG THỤY ỨNG 78
3.1 Tiềm năng phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín 78
3.1.1.Dân số và lực lượng lao động 78
3.1.2 Nguồn nguyên liệu và các ngành phụ trợ 79
3.1.3 Truyền thống văn hóa làng nghề 80
3.1.4 Sản phẩm và thị trường 80
3.2 Những vấn đề đặt ra cho việc phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín hiện nay – bài học từ làng Thụy Ứng 81
3.2.1 Cạnh tranh thị trường và đầu ra sản phẩm 81
3.2.2 Vấn đề chuyên nghiệp hóa và thương hiệu 83
3.2.3 Nguy cơ mất nghề và mai một nghề truyền thống 84
3.2.4 Vấn đề môi trường 85
3.3 Một số giải pháp cho phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín – Kinh nghiệm từ làng Thụy Ứng 86
3.3.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề trong cơ chế thị trường từ làng Thụy Ứng 86
3.3.2 Một số giải pháp cho phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín 87
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 98
Phụ lục 1: Danh sách làng nghề huyện Thường Tín 105
Phụ lục 2: Một số hình ảnh về các làng nghề ở huyện Thường Tín 112
Phụ lục 3 Lục cấp Cửu phẩm bá hộ của nghệ nhân Nguyễn Văn Phòng 121
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1: Thu nhập bình quân của một lao động có nghề 31
truyền thống tại huyện Thường Tin
2 Sơ đồ 1.2: Phân bố nghề thủ công tại huyện Thường Tín 36
trước đây
3 Sơ đồ 1.3: Phân bố nghề thủ công tại huyện Thường Tín 37
hiện nay
4 Sơ đồ 2.1: Mô tả cấu trúc không gian tại làng Thụy Ứng 51
5 Biểu đồ 2.2: Giá trị thu nhập các ngành kinh tế tại xã Hòa 61
Bình thời kỳ 2016 – 2018
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làng xã từ lâu đã là một đề tài được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu bởilàng chính là một bức tranh thu nhỏ của đất nước Việt Nam, là đơn vị cấu thành cơbản của xã hội nông thôn, mang trong mình tính truyền thống cao nhưng cũng cógiá trị mang tính quyết định cho diện mạo xã hội cho đến tận ngày nay Làng là cơtầng cho sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam từ quá khứ cho đến hiện tại vàtiếp nối với tương lai Việc tìm hiểu và nghiên cứu về làng xã chính là làm sáng tỏhơn các giá trị văn hoá – xã hội cốt lõi để phục vụ cho quá trình định vị bản sắc vănhoá dân tộc, phát triển xã hội, đất nước
Dựa vào đặc điểm tự nhiên, điều kiện lịch sử mà sẽ có những làng đi theo cáchướng phát triển khác nhau như làng nông nghiệp, làng thủ công, làng chài, làngbuôn Các nghề thủ công truyền thống được tồn tại và bảo lưu dưới mô hình làngnghề có vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế ở khu vực nông thônxuyên suốt quá trình lịch sử
Hiện nay cả nước có hơn 3000 làng nghề thủ công [84] trong đó có hơn 40%làng nghề có lịch sử tồn tại trên 100 năm Các làng nghề không chỉ đóng vài tròquan trọng đối với sinh kế của người dân, cơ cấu kinh tế chung của đất nước mà nócòn là cơ sở, môi trường tồn tại của các giá trị văn hóa truyền thống Nói cách khác,làng nghề là nơi nắm giữ tinh hoa của sự sáng tạo trong sản xuất của người ViệtNam và bảo tồn các giá trị văn hóa đặc thù
Các làng nghề để có diện mạo như hiện nay đã phải trải qua quá trình hìnhthành và biến đổi liên tục, lâu dài Đó là những biến thiên không ngừng trong tất cảcác giai đoạn lịch sử, diễn ra có thể âm thầm từ những cá thể nhỏ nhất cho tới sựchuyển dịch đồng bộ của cả cộng đồng Trên cơ sở đó, đã có không ít những làngnghề mới được sinh ra, mặt khác cũng có nhiều nghề của các làng bị mất đi, maimột hoặc biến đổi Đối với mỗi nghề, làng nghề trong từng giai đoạn lịch sử đều đốidiện với những cơ hội và thách thức riêng Vì thế, việc tìm hiểu cụ thể ở mỗi trườnghợp nghề, làng nghề sẽ mang lại nhiều kết quả có giá trị dựa trên cơ sở thực tiễn đặc
Trang 9thù để từ đó có thể có được bức tranh tổng thể về nghề và làng nghề, từ đó đưa rađược những gợi ý, đóng góp, kiến nghị cho việc phát triển của làng đó.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các làng nghề ngày càng có nhiều cơ hộicũng như thách thức trong việc tiếp tục giữ nghề, làm nghề và phát triển nghề Việctìm hiểu, nghiên cứu đối với từng trường hợp là một việc làm cấp thiết hơn bao giờhết, giúp đi sâu vào các vấn đề nội tại còn đang bị bỏ ngỏ hoặc chưa được quan tâmđúng mức trong các nghề cũng như làng nghề Từ đó sẽ thấy được những gì là ưuthế có thể gìn giữ, bảo tồn và phát triển; những gì chưa phù hợp với thời đại, có thểkhắc phục, điều chỉnh lại cho phù hợp để thích ứng với xu thế mới
Huyện Thường Tín, Hà Nội từ lâu đã được mọi người biết đến là “vùng đất
tổ trăm nghề” Tại đây có các làng nghề có lịch sử phát triển qua hàng trăm năm vàhiện nay vẫn đang tiếp tục phát triển, nhưng cũng có nhiều làng nghề thay đổi hoặc
đã mất đi nghề truyền thống,… Mỗi làng là một trường hợp mang những đặc thùriêng Làng nghề Thụy Ứng đã trải qua quá trình phát triển, biến đổi liên tục qua cácthời kì và hiện nay, trong cơ chế thị trường cũng đang đứng trước nhiều cơ hội vàthách thức Nghiên cứu về làng nghề Thụy Ứng có thể rút ra được nhiều kết quả cóđóng góp cho việc phát triển làng nghề nói chung, làng nghề ở huyện Thường Tínnói riêng
Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn “làng nghề truyền thống tại huyệnThường Tín, Hà Nội trong cơ chế thị trường (trường hợp làng Thụy Ứng)” làm đềtài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín đã xuất hiện khá nhiều trong thư
tịch trong đó phải nói tới Dư Địa chí của Nguyễn Trãi từ thế kỉ XV có viết về nghề
nấu rượu tiến vua của làng Bình Vọng và các làng Văn thuộc xã Văn Bình hiện nay
Hệ thống địa chí thời Nguyễn cũng để lại tư liệu khá cụ thể về các làng nghề trong
đó phải nói tới Đại Nam Nhất thống chí và Đồng Khánh dư địa chí.
Đầu thế kỉ XX, học giả Phan Kế Bính cũng nói về các nghề thủ công và tên một
số làng nghề của Thường Tín như bút lông Bạch Liên, thợ tiện gỗ Nhị Khê, thợ
Trang 10mộc Nhân Hiền trong cuốn Việt Nam phong tục, phần về nghề bách công Địa chí
Hà Tây phần các làng nghề (Tr 571-572) có giới thiệu về nghề làm lược sừng Thụy
Ứng, sơ lược quy trình làm nghề và các mặt hàng sản phẩm của làng
Những năm 30, Pierre Gourou trong Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ
-nghiên cứu địa lý nhân văn ở chương hai về công nghiệp làng xã đã đưa ra một bức
tranh tổng quan về các loại hình sản xuất, phân bố, đặc điểm và tính chất các nghềthủ công ở Bắc kỳ thời điểm đó Đây là một công trình có thể khai thác được lượng
tư liệu lớn, có giá trị nhờ kết quả khảo sát tỉ mỉ và khoa học của tác giả Các làngnghề và nghề thủ công ở Thường Tín cũng được ông khảo sát, thống kê, và phântích cụ thể Đặc biệt là các nhóm nghề mộc, nghề sơn và nghề thêu Nghề sừng ởThụy Ứng cũng được nói tới tuy không được phân tích kĩ
Một số làng nghề của Thường Tín trong đó có nghề lược sừng cũng được
GS Trần Quốc Vượng viết trong tập Hà Nội như tôi hiểu (2009) Ở cuốn sách này,
đặc trưng làng nghề, quan hệ làng nghề - phố nghề; vị trí và quan hệ của vùng làngnghề với kinh thành Thăng Long – thủ đô Hà Nội cũng được tác giả phân tích
GS Nguyễn Quang Ngọc trong Kết cấu kinh tế - xã hội làng Việt cổ truyền
(2017) đã tổng kết về đặc điểm của thủ công nghiệp trong kinh tế làng xã truyềnthống bao gồm nguồn gốc hình thành, vai trò đối với đời sống sản xuất, lịch sử vàđặc biệt là quan hệ giữa làng nghề nghề với khu vực đô thị
PGS.TS Phạm Quốc Sử trong Phát triển du lịch làng nghề nghiên cứu
trường hợp tỉnh Hà Tây (2007) cũng có phần viết về các làng nghề ở Thường Tín,
đưa ra phân tích về thế mạnh và tiềm năng phát triển bền vững của các làng nàytheo hướng kết hợp sản xuất truyền thống với du lịch Từ 1/8/2008, thủ đô Hà Nội
mở rộng địa giới hành chính sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, trên cơ sở này, nhữngnghiên cứu về Thường Tín nói chung, làng nghề ở huyện nói riêng trở thành một bộphận quan trọng trong mảng nghiên cứu nghề vùng đất Thăng Long – Hà Nội
Trong thời điểm này, PGS.TS Phạm Quốc Sử cũng có bài viết Các làng nghề Hà
Trang 11Tây trong khung cảnh hội nhập thủ đô Hà Nội 8 (2010) về những cơ hội và thách
thứ của các làng nghề tại Hà Tây trước việc trở thành một phần của thủ đô Hà Nội
Năm 2010, trong dịp Đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, NXB
Hà Nội đã xuất bản cuốn Làng nghề phố nghề Thăng Long – Hà Nội trên đường
phát triển do Vũ Quốc Tuấn chủ biên Cuốn sách gồm ba chương: Làng nghề, phố
nghề Thăng Long – Hà Nội trong lịch sử; Thực trạng làng nghề, phố nghề Hà Nội
và Làng nghề, phố nghề Thăng Long – Hà Nội trong thời kì phát triển mới Các tácgiả trong phần phụ lục cũng có giới thiệu sơ lược về một số làng nghề tiêu biểutrong đó có bảy làng của Thường Tín bao gồm Thụy Ứng
Một xuất bản gần đây nhất của thành phố Hà Nội là Bách khoa thư Hà Nội
phần mở rộng phần kinh tế (2017) có thông tin đầy đủ về các làng nghề trong địa
bàn thành phố nói chung, huyện Thường Tín nói riêng nhưng chỉ dừng lại ở việcthống kê các nhóm làng nghề (gồm 11 nhóm) và mô tả sơ lược về các nghề Huyện
ủy Thường Tín cũng đã nhiều lần tổ chức hội thảo khoa học và biên soạn sách địa
phương trong đó tiêu biểu nhất là 2 cuốn Thường Tín đất danh hương (2004) và
Các nhà khoa bảng trí thức và nghệ nhân tiêu biểu huyện Thường Tín 1075 – 2015
(2017) Ở cả 2 cuốn sách này đều dành một chương để viết về lịch sử hình thành vàgiới thiệu nhứng nét cơ bản về các làng nghề trên địa bàn huyện
Ngoài ra còn phải nói tới các công trình nghiên cứu là các luận văn, luận án
của các tác giả đi trước Tác giả Lê Tuấn Tú với đề tài luận văn Phát triển làng
nghề ở huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội 9 đã đưa ra thực trạng phát triển làng
nghề ở huyện Thường Tín, một số giải phát và phương hướng phát triển làng nghề ởhuyện nói chung dựa trên góc độ nghiên cứu kinh tế chính trị Nghiên cứu chủ yếudựa trên cơ sở phát triển thực tế, tác giả không lựa chọn hướng nghiên cứu liênngành mà chỉ đơn ngành nên chưa đề cập sâu tới lịch sử phát triển, phân hóa và mốiquan hệ làng nghề cũng như tìm hiểu đối tượng nghề và làng nghề cụ thể Luận văn
thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh của Nguyễn Việt Cường với đề tài Giải pháp phát
8Tham luận hội thảo
9Lê Tuấn Tú (2014), Phát triển làng nghề ở huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội (LVThS), Học viện
Chính trị, Hà Nội.
Trang 12triển làng nghề truyền thống huyện Thường Tín10 đã đưa ra kết quả khảo sát về thực
trạng sản xuất, cơ hội - thách thức đang gặp phải và giải pháp cho các làng nghề thủcông nói chung ở trên địa bàn huyện Thường Tín Nghiên cứu về cấu trúc dân cư –
xã hội của làng nghề theo trường hợp có đề tài Cấu trúc xã hội của dân cư đồng
bằng sông Hồng hiện nay (nghiên cứu trường hợp hai làng nghề ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) 11 của Nguyễn Ngọc Anh năm 2014 đã tập trung nghiên cứu
về đặc điểm và các yếu tố tác động đến cấu trúc dân cư làng nghề; trường hợp làngnghề của hai xã Vạn Điểm và Duyên Thái Luận văn thạc sĩ kiến trúc của Phạm Thị
Thu: Đánh giá không gian kiến trúc làng nghề Vạn Điểm, Thường Tín, Hà Nội12 tập
trung nghiên cứu theo hướng chuyên ngành về cấu trúc không gian, những đặc điểm
và tinh hoa kĩ thuật của người dân làng nghề chạm khắc gỗ Vạn Điểm
Đã có một số công trình nhỏ và một số bài báo, bài viết nghiên cứu và tìm hiểu
về làng nghề lược sừng Thụy Ứng, có thể nói tới như Quy hoạch bảo vệ môi trường
làng nghề Thụy Ứng, Thường Tín, Hà Nội đến năm 203013 của Phạm Anh Đức; nghiên
cứu Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt thôn sản xuất chế biến da Thụy Ứng –
Thường Tín – Hà Nội 14 … Ngoài ra còn có một số bài báo giới thiệu nghề thủ công ở
Thụy Ứng như Làng nghề lước sừng Thụy Ứng của Nguyễn Thị Hà trên trang Dân Việt, một số bài báo phản ánh về tình trạng môi trường ở Thụy Ứng như Làng nghề Thụy
Ứng: Nào cùng gây ô nhiễm 15 , báo Hà Nội Mới với bài viết
Ô nhiễm nhiễm môi trường tại làng nghề Thụy Ứng… Nhìn chung các bài viết, nghiên
cứu này mới chỉ dừng ở mức giới thiệu, tìm hiểu chuyên ngành (chủ yếu là vấn đề môitrường) mà chưa khảo sát, phân tích chuyên sâu về làng nghề Thụy Ứng
10 Nguyễn Việt Cường (2016), Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống huyện Thường Tín
(LVThS), Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Hà Nội.
11 Nguyễn Ngọc Anh (2014), Cấu trúc xã hội của dân cư đồng bằng sông Hồng hiện nay (nghiên
cứu trường hợp hai làng nghề ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội (LATS), Học viện chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội.
12 Phạm Thị Thu (2018), Đánh giá không gian kiến trúc làng nghề Vạn Điểm, Thường Tín, Hà Nội
(LVThS),
Đại học kiến trúc Hà Nội, Hà Nội.
13 Đồ án tốt nghiệp, Đại học Tài nguyên môi trường Hà Nôi năm 2016
14 Nghiên cứu của nhóm sinh viên Khoa Môi trường, Đại học tài nguyên môi trường Hà Nội năm 2015
15 Xuân Đào (2017), Làng nghề Thụy Ứng: nào cùng gây ô nhiễm, báo điện tử Pháp Luật & xã hội
7
Trang 13hay đưa ra những giải pháp, những tham vấn để thúc đẩy sản xuất nghề thủ công tạiđây.
Nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói chung và làng nghề nói riêng, đặc biệt
là các làng nghề ở khu vực ngoại thành Hà Nội như Thường Tín đã có một quá trìnhlâu dài và mới được quan tâm hơn trong thời gian gần đây Dù các công trình nghiêncứu xuất phát từ các mục đích không giống nhau nhưng cũng đã cung cấp được mộtnguồn tư liệu cụ thể và những nhận định chuyên môn sâu sắc về làng nghề Mặc dùvậy, đa phần các công trình nghiên cứu đều chỉ tập trung dưới một góc độ chuyênmôn nhất định, riêng lẻ và hầu hết là mang tính chất khảo sát, tìm hiểu lịch sử,nghiên cứu xã hội học hoặc kinh tế chính trị mà chưa có công trình nào theo hướngtiếp cận liên ngành về một đối tượng trường cụ thể đó là làng nghề Thụy Ứng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đưa ra bức tranh tổng thể, phân tích, đánh giá, đề xuất các giảipháp phát triển làng nghề Thụy Ứng và các làng nghề truyền thống trên địa HuyệnThường Tín, Hà Nội trong cơ chế thị trường
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống hoá có bổ sung một số lý luận cơ bản về phát triển làngnghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Khảo sát, phân tích, đánh giá đúng quá trình hình thành và thực trạng pháttriển làng nghề truyền thống trên địa bàn Huyện Thường Tín, trường hợp làng ThụyỨng
Từ những kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra phân tích và nêu quan điểm,
đề xuất một số giải pháp phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyệnThường Tín trong cơ chế thị trường hiện nay
8
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các làng nghề ở huyện Thường Tín,làng nghề Thụy Ứng và các nhân tố tác động tới sự phát triển làng nghề trong cơchế thị trường hiện nay
Giới hạn nghiên cứu và phân tích bao gồm: điều kiện tự nhiên – xã hội tácđộng tới sự phát triển của làng nghề; sự ra đời, quá trình phát triển và tình hình sảnxuất hiện nay của làng nghề; tác động của cơ chế thị trường và các nhân tố từ nội tạitới sự phát triển làng nghề ở huyện Thường Tín và trường hợp làng Thụy Ứng
Luận văn nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của làng nghề huyệnThường Tín, làng nghề Thụy Ứng (từ thế kỷ XV) và tập trung tìm hiểu, khảo sát,đánh giá thực trạng giai đoạn từ 1986 tới nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu về vấn đề này, luận văn đã sử dụng hướng tiếp cận liên ngành
(inter – discriplinariti) trong nghiên cứu khu vực học để có thể tận dụng được nhiều
tiêu chuẩn và các kết quả của nghiên cứu chuyên ngành khác nhau Với cách tiếpcận này, luận văn có thể khai thác và xử lý các vấn đề ở nhiều phương diện khácnhau một cách khoa học nhất bởi nghiên cứu làng xã là lĩnh vực vừa mang tính lýthuyết vừa mang tính thực tiễn cao
Về phương pháp cụ thể, khi xem xét làng nghề là một không gian xã hội –
văn hóa, luận văn đã sử dụng phương pháp khu vực học để có được tri thức đầy đủ
nhất về điều kiện tự nhiên, đời sống xã hội và quan hệ tương tác giữa con người với
tự nhiên ở một không gian cụ thể Luận văn cũng sử dụng phương pháp hệ thống –
cấu trúc xem xét làng nghề là một hệ thống riêng gồm các yếu tố hợp thành Từ sự
phát triển đặc thù của các làng nghề, luận văn đã mở rộng phạm vi nghiên cứu, tìmhiểu cả các mối quan hệ trong hệ thống và ngoài hệ thống cấu trúc Cụ thể ở trườnghợp này là mối quan hệ giữa các nghề khác nhau và quan hệ giữa các làng nghề
trong địa bàn huyện Phương pháp lịch sử cũng được luận văn sử dụng nhằm tìm
hiểu quá trình phát triển của các làng nghề theo một trình tự liên tục, có hệ thống
Trang 15Ngoài ra, luận văn còn kết hợp sử dụng một số phương pháp, thủ pháp cụ thể
trong giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu như: nghiên cứu tài liệu (xây dựng cơ sở
lý thuyết phục vụ nghiên cứu đề tài), điền dã dân tộc học (nhằm thu thập được những thông tin thực tế nhất), điều tra xã hội học (nhằm thu thập các tài liệu định lượng và định tính), phỏng vấn (nhằm thu thập được thông tin chuyên sâu, đa chiều
về tình hính sản xuất, thực tế thị trường, nhu cầu người tiêu dùng cũng), khung
phân tích SWOT trong nghiên cứu khu vực học (về bao gồm: điểm mạnh - điểm yếu
- cơ hội - nguy cơ của đối tượng là làng nghề).
6 Các nguồn tư liệu
Luận văn tham khảo và có sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn bao gồm: tư liệuchữ viết, tư liệu truyền miệng và tư liệu thu thập được qua quá trình điền dã
Về tư liệu chữ viết, luận văn đã tham khảo và khai thác tư liệu từ một số bộ
sử cũ như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,… Bên cạnh nguồn tư liệu là
các bộ chính sử thì có một nguồn tư liệu quan trọng khác là thư tịch và khảo cứu
của các triều đại phong kiến, các học giả lớn như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Kiến
văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn; một số bài viết của Phan
Kế Bính khi tìm hiểu về một số làng nghề của huyện Thường Tín; một số tài liệu
của người nước ngoài trong đó có viết về làng nghề thủ công ở Việt Nam như Xứ
Đông Dương của Paul Doumer, Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của Pierre
Gourou…
Luận văn đã tham khảo các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước vàvăn bản chỉ đạo, kế hoạch, sử dụng các số liệu tổng kết từ chính quyền các cấp quacác thời kì Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo và sử dụng tư liệu từ nhiều côngtrình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, kinh tế - xã hội, nông thôn, làng xã từ một
số tác giả đương đại như: GS Phan Huy Lê (Lịch sử & văn hóa Việt Nam – tiếp cận
bộ phận, tìm về cội nguồn…), GS Trần Quốc Vượng (Cơ sở văn hóa Việt Nam, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Hà Nội như tôi hiểu…), GS Hà Văn Tấn (Một
số vấn đề lý luận sử học), GS Ngô Đức Thịnh (Văn hóa vùng và phân vùng
Trang 16văn hóa ở Việt Nam), GS Nguyễn Quang Ngọc (Nông thôn và đô thị Việt Nam – Lịch sử, thực trạng và khuynh hướng biến đổi)….
Luận văn cũng đã tham khảo các gia phả, hương ước, bi ký và các chứng tíchvật chất ở một số làng thực địa thuộc huyện Thường Tín Bên cạnh đó, nguồn tưliệu dã sử cũng được sử dụng trong luận văn bao gồm các truyền thuyết dân gian vềlịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của các làng nghề thuộc huyện Thường Tín Đã
có nhiều tài liệu mang tính chất truyền miệng, phản ánh tương đối khách quan vềthực trạng của các làng nghề tại huyện Thường Tín nhưng đặc điểm chung của các
tư liệu này thường mang tính ước lệ cao Tuy nhiên, khi đặt nó trong mối tươngquan, liên hệ một cách tổng thể, chi tiết với các nguồn tư liệu khác thì dã sử cũng cóthể cung cấp một lượng thông tin cơ bản, phong phú để có thể tìm hiểu về các làngnghề ở Thường Tín
7 Dự kiến đóng góp của đề tài
Luận văn dựng lại quá trình hình thành, quá trình phát triển, đặc điểm, tìnhhình và điều kiện hiện nay của các làng nghề tại huyện Thường Tín
Từ nghiên cứu trường hợp làng Thụy Ứng, luận văn đã chỉ ra được nhữngthuận lợi - khó khăn trong sản xuất thủ công tại đây hiện nay, những kinh nghiệm vànhững giải pháp khắc phục khó khăn đối với sản xuất làng nghề trong cơ chế thịtrường Thông qua kết quả nghiên cứu về làng nghề ở huyện Thường Tín và trườnghợp làng Thụy Ứng, luận văn đã đưa ra những cơ hội, thách thức và các nhóm giảipháp đối với phát triển các làng nghề tại huyện Thường Tín trong cơ chế thị trườnghiện nay
Kết quả nghiên cứu có giá trị có tham mưu cho các cấp chính quyền, ngườidân làm nghề, quản trị HTX, các hội nghề… phục vụ hoạt động qui hoạch, cải tạo
và phát triển sản xuất
Ngoài ra luận văn còn có giá trị tư liệu tham khảo cho các nghiên cứu về làngnghề trên địa bàn huyện Thường Tín và thành phố Hà Nội
Trang 178 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm bốn phần lớn: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận vàphần phụ lục, tài liệu tham khảo
Phần nội dung gồm 3 chương:
- Chương 1: Làng nghề tại huyện Thường Tín
- Chương 2: Làng nghề lược sừng Thuỵ Ứng trong cơ chế thị trường
- Chương 3: Những vấn đề đặt ra cho phát triền làng nghề tại huyện Thường Tín trong cơ chế thị trường – kinh nghiệm từ làng Thụy Ứng
Trang 18NỘI DUNG Chương 1: LÀNG NGHỀ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Làng nghề
Làng nghề có thể hiểu là một không gian cộng cư, một thực thể kinh tế, vănhóa - xã hội mà ở đó phần lớn hoặc tất cả người dân sản xuất, kinh doanh sản phẩmthủ công Ở các làng này không nhất thiết toàn bộ người dân đều chỉ làm thủ công
mà người nông dân cũng có thể đồng thời là người thợ Nhiều trường hợp làng có
đa số người dân chỉ làm một nghề thủ công những cũng có làng có nhiều nghề cùngtồn tại16 Các nghề thủ công cũng phát triển vượt khỏi ranh giới làng và hình thànhcác vùng nghề, phường nghề… Làng nghề có thể hình thành bằng nhiều phươngthức khác nhau như: làng cổ truyền hình thành trước sau đó có vị tổ nghề truyền dạyhoặc người dân học nghề từ vùng khác về dần dần hình thành làng có thợ, có nghề;
do một hoăc một số người có nghề lập ra theo kiểu phường, trại sau phát triển thànhnghề mới; làng kết hợp làm nông nghiệp với làm thủ công lúc nông nhàn, dần dầnchuyển đổi cơ cấu sản xuất với nghề thủ công chiếm đa số Do vậy, nghiên cứu vềnghề thủ công và các làng nghề thủ công truyền thống không thể bó buộc khônggian trong một đối tượng làng cụ thể cần dựa vào đặc thù nghề nghiệp, điều kiệnlịch sử và hiện trạng sản xuất để đưa ra được bức tranh toàn diện và khách quannhất
Theo Nghị định số 66/2006/NĐ - CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính
phủ về phát triển ngành nghề nông thôn và Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn (năm 2016), nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí
Trang 19- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc
- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Cũng theo nghị định này, làng nghề được công nhận phải đạt cả 02 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động vào nhóm nghề (để lấy căn cứ đặt tên cho làng nghề khi được công nhận)
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
Như vậy, làng nghề thủ công truyền thống phải đạt đồng thời cả 5 tiêu chínêu trên để được công nhận
Tóm lại, làng nghề thủ công truyền thống có thể hiểu là một đơn vị dân cưhoàn chỉnh nhỏ nhất của xã hội nông thôn Việt Nam, là trung tâm sản xuất hàng hóathủ công có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài Ở các làng này có đa số ngườidân sản xuất thủ công; có lực lượng thợ, nghệ nhân nhiều thế hệ với kinh nghiệm và
kỹ thuật chuyên nghiệp; có liên kết sản xuất, mua bán, (có cùng Tổ nghề) và có ýthức về nghề và làng nghề của mình Do đó, để tìm hiểu về đối tượng làng nghềtruyền thống không chỉ quan tâm tới các khía cạnh đơn lẻ mà phải chú trọng tớinhiều mặt, nghiên cứu tổng thể về làng nghề đó theo hai chiều không gian và thờigian và xem xét tới các mối quan hệ của đối tượng cả bên trong lẫn bên ngoài
Làng nghề truyền thống có một số đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, hoạt động sản xuất nghề song song và gắn liền với canh tác nông
nghiệp và xã hội nông thôn
Thứ hai, sản xuất sản phẩm tại các làng nghề chủ yếu dựa vào kỹ thuật thủ
công
Thứ ba, các làng nghề có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, có sự kế
thừa, đóng góp công sức của nhiều thế hệ nghệ nhân17
17 Có thể ví dụ một số làng nghề như: làng gốm Bát Tràng đã có hơn 500 năm; làng nghề đúc đồng Ngũ
Xã gần 500 năm; nghế sơn son thếp vàng Kiêu Kị gần 300 năm; làng nghề lược sừng Thụy Ứng khoảng 400 năm [58].
Trang 20Thứ tư, các làng nghề truyền thống đã xây dựng được thương hiệu tên nghề
gắn liền với tên làng; người dân luôn có ý thức về nghề và làng nghề của mình
1.1.2 Cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là cơ chế hoạt động của nền kinh tế hàng hóa Quá trình sảnxuất và lưu thông hàng hóa được điều tiết theo yêu cầu khách quan của các quy luậtkinh tế vốn có như quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh, quy luậtlưu thông tiền tệ Có thể hiểu cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố kinh tế, giá cả,cung cầu, hàng tiền… trong đó các đối tượng sản xuất và đối tượng tiêu
dùng có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết ba vấn đề cơ bản:sản xuất gì? Sản xuất thế nào? Và sản xuất cho ai? Cơ chế thị trường là một trật tựkinh tế, là “bộ máy tinh vi phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanhnghiệp” [38] Người bán, người mua và giá cả, hàng hoá và giá cả hàng hoá là cácyếu tố gắn liền với thị trường và cơ chế thị trường Hàng hoá bao gồm tất cả hàngtiêu dùng, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, tư bản…Bán cácyếu tố sản xuất đó mang lại thu nhập thông qua giá cả, và mỗi người lại sử dụng thunhập đó để mua hàng hoá dịch vụ mình cần Thông qua sự trao đổi cân đối giữacung và cầu cơ chế thị trường sẽ có một hệ thống tự cân bằng giữa giá cả và sảnxuất, trong đó cung cầu chính là sự tương quan giữa hai lực lượng người bán vàngười mua trên thị trường Đó cũng là nội dung quy luật cung cầu hàng hoá Cơ chếthị trường tự phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, ởđâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có thị trường và do đó có cơ chế thịtrường hoạt động
Theo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thì cơ chế thị trường là cơ chế tựđiều tiết nền kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó
Cơ chế thị trường giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là cái gì, như thếnào và cho ai Cơ chế thị trường bao gồm các yếu tố cơ bản là cung, cầu và giá cảhàng hoá
Như vậy, có thể hiểu cơ chế thị trường chính là cơ chế điều chỉnh của nềnkinh tế hàng hoá cho phép xác định các vấn đề cơ bản về quy mô, hình thức sản
Trang 21xuất, lượng hàng hoá, giá bán cho các thành phần cơ bản tham gia vào nền kinh tế làngười mua và nhà sản xuất Đối với cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước kia của nềnkinh tế chỉ huy thì rõ ràng cơ chế thị trường là bước phát triển tất yếu và có nhiềuđiểm ưu việt hơn Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, cơ chế thị trường cũng còn rấtnhiều vấn đề, nhược điểm nên cần có những điều chỉnh, tham gia và cơ chế hỗ trợcủa Nhà nước về mặt quản lý, chính sách, qui hoạch,…
1.2 Khái quát về huyện Thường Tín
1.2.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành
Huyện Thường Tín cách trung tâm thủ đô Hà Nội 14km về phía nam, có ranhgiới tự nhiên với tỉnh Hưng Yên là sông Hồng ở phía Đông, phía Tây là huyệnThanh Oai, phía Bắc và Nam là các huyện Thanh Trì và Phú Xuyên
Nơi đây, từ xa xưa đã là cửa ngõ quan trọng để dẫn vào kinh đô Thăng Long,mảnh đất này cũng gắn liền với những địa danh và con người lịch sử như bãi TựNhiên18, chiến thắng Chương Dương – Hàm Tử, chiến thắng Hà Hồi mùa xuân năm
Kỷ Dậu 1789 của vua Quang Trung, quê hương cha con Nguyễn Phi Khanh –Nguyễn Trãi, chí sỹ Lương Văn Can…
Thường Tín có lịch sử hình thành lâu đời, trải qua nhiều lần thay đổi địa giới vàđơn vị hành chính Thời Đinh và Tiền Lê, Thường Tín thuộc đạo Quốc Oai Tới thời
Lý, vua Lý Thái Tổ đổi Thập đạo của thời Lê thành 24 lộ và vùng Thường Tín thuộc lộQuốc Oai Sang thời Trần, Thường Tín là huyện Thượng Phúc, thuộc Châu Quốc Oai,trong lộ Đại La Thành hay Đông Đô Tới thời vua Lê Thái Tổ, Thường Tín thuộc TâyĐạo trong năm đạo cả nước [56, tr 6] Đến năm Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ
7 (1466) Lê Thánh Tông lại chia đất nước làm 13 đạo Thừa Tuyên Đất Hà Tây thuộc 2thừa tuyên: Sơn Nam19 và Quốc Oai, Thường Tín thuộc Sơn Nam Đến năm QuangThuận thứ 10 (1469) định lại bản đồ cả nước để thống thuộc các phủ, huyện vào cácThừa Tuyên Vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Phủ Thường Tín được thành lậpgồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Đàm (Thanh
1Theo truyền thuyết là nơi gặp gỡ của Chử Đồng Tử và Tiên Dung
19 Sơn Nam thừa tuyên bao gồm 9 phủ, 36 huyện Các phủ: Thường Tín, Ứng Thiên, Lý Nhân, Khoái Châu,
Thiên Trường, Kiến Xương, Thái Bình, Nghĩa Hưng, Tân Hưng [45].
Trang 22Trì) và Phù Vân (Phú Xuyên) Huyện Thượng Phúc gồm 58 xã và 8 thôn Trong
Lịch triều hiến chương loại chí có đoạn “Phủ Thường Tín ở phía bắc Sơn Nam, địa
giới gần trung đô, các huyện đều men theo đường quan lộ, đất bằng rộng rãi, không
có rừng núi ngăn cản Duy có dòng sông Tô Lịch quanh vòng trong hạt…”[10].
Năm 1831, thời vua Minh Mạng, Phủ Thường Tín được tách thành ba châu (huyện)
Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên thuộc tỉnh Hà Nội Trong sách Các tổng trấn
xã danh bị lãm có ghi lại: “huyện Thượng Phúc: 12 Tổng, 81 xã thôn”20 Đồng
Khánh dư địa chí có viết: “Huyện hạt phía đông giáp huyện Thanh Trì, phía tây giáp
huyện Thanh Oai, phía nam giáp huyện Duy Tiên, phía bắc giáp huyện Thọ Xương
Đông tây cách nhau 8 dặm Nam bắc cách nhau 20 dặm 63 trượng” [22, tr 16] Trong Phương Đình Dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu có viết về Phủ Thường Tín:
“Phía nam cách tỉnh 31 dặm, lĩnh 3 huyện (nguyên là trấn Sơn Nam) gồm huyệnThượng Phúc, Thanh Trì và Phú Xuyên Trong đó Huyện Thượng Phúc, vốn làThượng Phúc nhà Minh đổi là Bảo Phúc, thuộc châu Phúc Yên, nhà Lê phục tên cũ,
12 tổng 82 xã thôn [45, tr 368-369] Trong thời Pháp thuộc, phủ Thường Tín thuộctỉnh Hà Đông Sau Cách mạng Tháng Tám đổi thành huyện Thường Tín thuộc tỉnh
Hà Đông, sau này là một huyện Hà Sơn Bình, Hà Tây Từ ngày 1/8/2008, theo Nghịquyết số 15/2008/QH1221 về mở rộng địa giới Thủ đô Hà Nội, Thường Tín trởthành một huyện của thành phố Hà Nội
Thường Tín hiện nay có 1 thị trấn là huyện lị và 28 xã gồm: thị trấn ThườngTín, các xã Chương Dương, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, HòaBình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên,Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất,Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo,Văn Tự
20 Bao gồm các tổng: Cổ Hiền, Thượng Hồn, La Phù, Hà Hồi, Bình Lăng, Đông Cứu, Triều Đông, Tín Yên, Chương Dương, Thụy Phú, Phượng Dực
21 Quốc hội nước CHXHCNVN (2008), Nghị quyết số 15/2008QH12 "Về việc điều chỉnh địa giới
hành chính TP Hà Nội và một số tỉnh có liên quan”, Hà Nội.
Trang 231.2.2 Điều kiện tự nhiên
Huyện Thường Tín có tổng diện tích là 127,59 km² trải dài bên dòng chảycủa ba con sông là sông Hồng, sông Nhuệ và sông Tô Lịch22 Thường Tín có hệthống giao thông thuận lợi trên cả đường bộ và đường thủy Hai tuyến đường quốc
lộ huyết mạch chạy song song dọc chiều dài của huyện là Quốc lộ 1A và đường caotốc Pháp Vân – Cầu Giẽ với tổng chiều dài 17km Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn
có các tuyến đường nối, giao cắt giữ hai trục quốc lộ, tuyến đường tỉnh lộ 427 (nối
từ sông Hồng qua quốc lộ 1A, đi qua khu vực phía tây huyện và nối với quốc lộ 21Btại Thanh Oai); Tỉnh lộ 429 (73 cũ) và các tuyến đường liên xã, dân sinh Đường sắtBắc – Nam chạy qua và song song với quốc lộ 1A với 3 nhà ga là ga Thường Tín, gaTía và ga Đỗ Xá Về đường thủy, ven sông Hồng có các cảng Hồng Vân, Vạn Điểmcùng các bến phà ngang làm điểm trung chuyển của tuyến vận tải trên sông Hồng và
đi các huyện của Hưng Yên
Đất đai Thường Tín được bồi đắp màu mỡ bởi dòng chảy tự nhiên của sôngHồng và sông Nhuệ, đặc biệt là sông Hồng Thường Tín “là vùng đất cao ráo bằngphẳng, ruộng thì vào hạng thương thượng, cấy lúa thích hợp, nhân công làm lụng
hơn các lộ khác, các triều phi đụng nuôi quân đều nhờ ở đây”[71] Loại đất chính
của Thường Tín là đất phù sa ít bồi (do hệ thống đê điều hoàn chỉnh), phù sa glây ởmột số xã phía tây bắc như Khánh Hà, Nhị Khê, đất phù sa ngoài đê ở các xa vensông Hồng như Ninh Sở, Tự Nhiên, Chương Dương, Lê Lợi, Thống Nhất, VạnĐiểm, đất pha cát ở các xã vùng giáp với đê sông Hồng
Thường Tín có hệ thống thủy lợi được xây dựng và cải tạo liên tục qua các thời
kì Đê sông Hồng, sông Nhuệ được thường xuyên tu sửa, ngoài ra còn có nhiều trạmbơm dẫn nước từ sông Hồng vào các kênh mương, máng nổi và mương nội đồng Một
số đầm nước, hồ nước khá lớn có nhiệm vụ tích trữ và điều tiết nước như vực Quýt,vực Đô Quan, đầm Xâm Thụy… Nằm ở phía tây, sông Nhuệ đóng vai trò tiêu thoátnước sản xuất và sinh hoạt cho phần lớn diện tích của huyện Nhìn chung,
22 Trước kia, huyện Thường Tín có dòng chảy của 4 con sông: sông Hồng, sông Nhuệ, sông Tô Lịch
và sông
Kim Ngưu Sau này, sông Kim Ngưu bị san lấp, chỉ một số đầm, hồ nước, dòng chảy nhỏ là các đoạn sông còn lại.
Trang 24hệ thống thủy lợi ở Thường Tín theo hướng đông – tây, dẫn nước mang nhiều phù sa
từ sông Hồng làm nguồn tưới cho các cánh đồng trong huyện, tích trữ tại các đầmnước và chảy ra sông Nhuệ ở phía Tây
Thường Tín có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp Quỹ đấtrộng, cơ cấu cây trồng đa dạng cũng tạo cho Thường Tín có nguồn nguyên liệu tạichỗ phù hợp cho phát triển thiểu thủ công nghiệp (như dâu tằm, mây, tre, đay,sợi…)
1.2.3 Dân cư – xã hội
Thường Tín hiện nay bao gồm 28 xã và 1 thị trấn, 126 làng phân thành 169thôn Tổng diện tích 127,69 km2, dân số khoảng hơn 236 nghìn người (thống kênăm 2017) Mật độ dân cư trung bình 1677 người/km² Về cơ cấu kinh tế: côngnghiệp - thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 53,4%; dịch vụ chiếm 32,5%; nôngnghiệp chiếm 14,1%24
Về nông nghiệp, điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp người dân Thường Tínsớm phát triển sản xuất nông nghiệp với cơ cấu cây trồng đa dạng, năng suất cao.Nông sản Thường Tín không những phục vụ nhu cầu tại chỗ mà còn cung cấp chocác thị trường lân cận đặc biệt là nội thành Hà Nội Nhiều nông sản của các xã đãtrở thành thương hiệu nổi tiếng như: khoai tây, bí xanh Hà Hồi, cà chua Vân Tảo,bầu Tự Nhiên… Từ những năm 60 nông sản vụ đông của các xã Hà Hồi, Vân Tảo,
Mễ Sơn… như khoai tây, bí xanh, su hào đã nổi tiếng và trở thành nguyên liệu củanhiều nhà máy chế biến đồ hộp, mứt kẹo, trở thành sản phẩm xuất khẩu đi thịtrường Đông Âu
Hiện nay, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện là 6.538 héc-tatrong đó đất trồng lúa là 5.265 héc-ta, đất trồng cây hàng năm là 916 héc-ta, diện tíchnuôi trồng thủy sản là 1.167 héc-ta; mô hình cây trồng, vật nuôi đa dạng Bên cạnhnhiệm vụ đảm bảo lương thực, nông nghiệp ở Thường Tín đang phát triển theo hướngsản xuất chuyên nghiệp qui mô lớn, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
24 UBND huyện Thường Tín (2017), Báo cáo tổng kết tình hình KT-XH huyện Thường Tín năm
2017, Hà Nội.
Trang 25xuất, tiến hành dồn điền đổi thửa và xây dựng những trang trại cỡ lớn, hình thànhmột số vùng chuyên canh lúa, rau an toàn, cây ăn quả, hoa… Người nông dân ởThường Tín sở hữu kinh nghiệm trồng trọt và chăn nuôi được đúc kết qua nhiều thế
hệ hình thành một phương thức sản xuất chuyên nghiệp Ở các xã Hà Hồi, Vân Tảo,Nguyễn Trãi, Tự Nhiên, Hồng Vân… có những cánh đồng xanh quanh năm manglại hiệu quả kinh tế cao Các kỹ thuật xen canh, luân canh, cải tạo đất và phòng trừsâu bệnh được người dân áp dụng triệt để vừa khai thác, vừa cải tạo môi trường,giúp tăng năng xuất và giảm chi phí, công sức chăm sóc cho người nông dân.Khoảng mười năm trở lại đây, nông dân tại Thường Tín đã mạnh dạn đầu tư xâydựng hệ thống nhà lưới, nhà kính để trồng rau sạch, cà chua, hoa quanh năm NhiềuHTX và các công ty thực phẩm đã khuyễn khích hỗ trợ người dân sản xuất rau sạch,nông sản hữu cơ; bao tiêu sản phẩm cho người nông dân Sản xuất nông nghiệp tạiđây đang có sự chuyển dịch mạnh từ mô hình truyền thống sang mô hình sản xuấthiện đại, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hướng tới phát triểnnông nghiệp xanh, bền vững
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với kinh tếhuyện Thường Tín với 48 làng nghề (đã được công nhận) và hơn 100 làng có nghềthủ công Huyện cũng đã xây dựng 3 khu công nghiệp là: Bắc Thường Tín, PhụngHiệp và KCN thuộc đô thị vệ tinh Phú Xuyên Ngoài ra còn có 6 cụm công nghiệpgồm: Duyên Thái, Hà Bình Phương, Liên Phương, HABECO, Quất Động, Lưu Xá
và một Nhà máy Bia Châu Á Thái Bình Dương và các lĩnh vực công nghiệp phụ trợnhư công nghệ sinh học, điện tử, cơ khí chế biến nông sản…với các cơ sở sản xuất,nhà máy phân bố rải rác
Nhờ hệ thống giao thông đường thủy – bộ thuận lợi, nông sản và các sản phẩmcủa Thường Tín dễ dàng vận chuyển và tiêu thụ ở nhiều thị trường trong nước và nướcngoài, thương lái và người mua hàng cũng rất dễ dàng tới đây để thực hiện giao dịchmua bán Huyện Thường Tín cũng có hệ thống thương mại – dịch vụ phát triển vớinhiều chợ đầu mối, các chợ dân sinh, siêu thị và các cửa hàng đa dạng Ở đây chợ đầumối gia cầm Hà Vĩ – Lê Lợi, chợ đầu mối nông sản Liên Phương, chợ
Trang 26Vồi (chợ đầu mối nông sản – tổng hợp) Các chợ đầu mối này có vai trò quan trọngđối với thị trường khu vực và thành phố Hà Nội, là điểm trung chuyển, giao dịchcủa nông sản và nhiều loại mặt hàng của các tỉnh phía nam trước khi tới với thịtrường Hà Nội Tại các làng xóm còn có các chợ dân sinh ở nhiều qui mô như chợHôm (Hà Hồi), chợ Bằng (Văn Bình), chợ Kệ (Ninh Sở), Chợ Giường (Duyên Thái)
….và các siêu thị, trung tâm giải trí như Lan Chi, Long Bình, Trường Việt…thuậntiện cho việc mua bán và sinh hoạt hàng ngày của người dân
Người dân Thường Tín nổi tiếng cần cù chịu khó cùng khả năng sáng tạo vàbàn tay tài hoa từ sớm đã biết chế tác các sản phẩm thủ công không chỉ phục vụ chonhu cầu cuộc sống của mình mà còn là nơi cung cấp các sản phẩm thủ công phục vụnhu cầu tiêu dùng của người dân trong khu vực và cả nước Chính vì vậy màThường Tín còn nổi tiếng với số sự đa dạng của các nghề thủ công cùng mật độlàng nghề dày đặc
Nhờ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xãhội, Thường Tín sớm mang những đặc điểm của một huyện ven đô Truyền thốngvăn hóa làng xã được người dân bồi đắp và giữ gìn qua nhiều đời, nhiều làng còngiữ được hương ước, các qui ước bất thành văn, hệ thống gia phả, gia huấn trongcác dòng họ… Trong đời sống sinh hoạt, sản xuất, người dân đã cùng nhau chắtchiu, cố gắng xây dựng cảnh quan nông thôn, cổng làng, đường làng, ngõ xóm, cáccông trình đình, đền, chùa… các căn nhà ngói, biệt thự khang trang, có giá trị lịch
sử và giá trị thẩm mỹ cao Trên toàn huyện 385 điểm di tích lịch sử, văn hóa, trong
đó 89 di tích được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia như: chùa Đậu (xãNguyễn Trãi), lăng đá Quận Vân (xã Vân Tảo), khu Giá ngự (xã Tự Nhiên), chùaPháp Vân (xã Văn Bình), đình Hà Hồi (xã Hà Hồi), đình – chùa Khê Hồi, chùa Mui,khu di tích đền Nguyễn Trãi (xã Nhị Khê)… Ngoài ra còn có các quần thể côngtrình tâm linh tín ngưỡng như: đền thờ Thánh Lê Tùy (xã Ninh Sở), quần thể đềnĐại Lộ (xã Ninh Sở), đình – đền – nghè Bằng (xã Văn Bình)… Gắn liền với các ditích lịch sử là các sinh hoạt văn hóa, các lễ hội lớn diễn ra quanh năm, thu hút hàng
Trang 27vạn khách hành hương tham gia như: lễ hội chùa Đậu, lễ hội Tự Nhiên, lễ hội Tổng
Hà Hồi, lễ hành hương đền Thành Lê Tùy, lễ hội đền Đại Lộ, lễ giỗ tổ nghề mộc…
1.3 Làng nghề tại huyện Thường Tín
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề tại huyện Thường Tín
Vùng đất Thường Tín từ sớm đã nổi danh với nhiều làng nghề được nhắc tớitrong một số ca dao và tài liệu:
“Xâm Động là đất trồng hành
Mễ Hoà26 chẻ nứa đan mành ta muaQuýt Đức27 thêu quạt, thêu cờNhị Khê tiện gỗ đền thờ chạn hoaLàng Giai28 tơi lá che mưaTrát Cầu bông sợi chẳng thua gì ngườiLược thưa Thụy Ứng chàng ơiTrăm nghề quê thiếp, thiếp mời chàng mua"
“Thợ nề khéo đồn rằng thợ Cống (Cống Xuyên) Xã Nhân Hiền thợ mộc nổi danh”
“Đồ sừng Thụy Ứng làm ra Thêu thì thợ Võ, khảm thì thợ Chuôn29”
Các làng nghề ở Thường Tín từng được nhắc tới trong nhiều thư tịch cổ và
các công trình nghiên cứu qua các thời kì Từ thế kỉ XV Dư Địa chí của Nguyễn
Trãi có viết “Đông Thái có rượu nếp, Bình Vọng có rượu sen, rượu nếp cúc… các
thứ ấy đều dâng lên để tiến lễ bốn mùa…” [22, tr 347] Đồng Khánh dư địa chí có
các mục phong tục, sản vật,… của huyện Thượng Phúc trong đó có đoạn: “lúa thu,lúa hè ngang nhau Dâu trồng ở đất bãi Các xã Hà Hồi, Đức Trạch, Phú Cốc, Khê
26 Mễ Sơn – xã Nguyễn Trãi
27 Quýt Đức (Quất Động – Đức Trạch) xã Quất Động
28 Làng Văn Trai, xã văn Phú
29 Làng thuộc xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên
22
Trang 28Hồi, Phương Quế làm nghề nấu rượu Xã Đình Tổ dệt vải, nộp sản vật” [22, tr.349].
Từ đầu thế kỷ XX, các sản phẩm lược sừng Thụy Ứng được tham gia Hội
chợ tại Hà Nội và ở Pháp Báo Nam Phong số 30 tháng 12 năm 1919 có thống kê
các gian hàng tại Hội chợ Hà Nội năm 1919 trong đó có các loại hàng thêu ren; đồxương, sừng, đồi mồi; mây tre đan; trạm gỗ, khảm trai… của các làng nghề ở tỉnh
Hà Đông [41, tr 129-130] Tới những năm 1930 – 1935, “hàng tre đan Bằng Sở(Ninh Sở) nổi tiếng ở các hội chợ Hà Nội và triển lãm thuộc địa Pháp ở Pari năm
1931, với những làn, vali, bồ đựng giấy ”[46]
Về sự xuất hiện các nghề và làng nghề ở Thường Tín có thể lý giải bằng banguyên nhân chủ yếu là: người dân tận dụng nguyện liệu và thời gian để sản xuấtphục vụ nhu cầu tại chỗ và tăng thêm thu nhập; người dân sáng tạo, học nghề vàphát triển sản xuất chuyên nghiệp; nghề thủ công đã có là tiền đề ra đời của một haynhiều nghề mới
Nguyên nhân thứ nhất là việc tận dụng nguyên liệu tại chỗ, tranh thủ thờigian nông nhàn và giải quyết nhu cầu sử dụng các sản phẩm thủ công của ngườidân Hiện tượng này ở các trường hơp: làng nghề mây tre đan Ninh Sở, làng nghềđan dụng cụ đánh bắt thủy sản Địa Mãn, nghề bện chổi Vân Tảo
Cuộc sống truyền thống của người dân Việt Nam, đặc biệt ở Bắc Bộ vốn gắnliền với cây tre Mây, tre, nứa… từ khởi thủy đã trở thành nguyên liệu thiếu yếu củađời sống hàng ngày, từ nhà tre, chõng tre, mành tre, chạn tre đến rổ, rá, nong, nia…hay nói cách khác tre trở thành nguyên liệu bách dụng Nghề đan lát ra đời trước hếtphục vụ nhu cầu sử dụng của chính người làm ra Đến những năm 90 ở nhiều làngthuần nông hoặc buôn bán vẫn có nhiều gia đình chuyên làm việc đan lát, làm chếtác và sửa chữa đồ gia dụng và nông cụ Trong một số trường hợp, nghề truyềnthống gắn với trao đổi giao thương phát triển đã hình thành nhiều gia đình làm nghềchuyên nghiệp và dần hình thành các xóm nghề, phường nghề, làng nghề ỞThường Tín, các làng Ninh Sở, Đại Lộ, Mễ Sơn… từ lâu đã nổi tiếng với nghề đanmây tre Điểm chung của các làng này đều rất gần sông (sông Hồng đối với các làng
Trang 29thuộc Ninh Sở và sông Nhuệ đối với Mễ Sơn) với quỹ đất bãi trồng tre rộng, việcvận chuyển tre nứa thuận tiện Đối với nghề đan lưới và làm dụng cụ đánh bắt cá ởlàng Địa Mãn, khu vực này có nhiều đầm nước khá lớn, nhiều cánh đồng trũng, saunày còn có con sông đào nối sông Hồng với sông Nhuệ nên người dân ở đây sớmphát triển khai thác thủy sản do đó thúc đẩy nhu cầu sử dụng dụng cụ chài lưới.Ngoài ra, với nhiều cánh đồng trũng, các loại cây gai, cây đay nhiều, người dân cónguồn nguyên liệu tốt để làm thành các loại sợi, dây gai người dùng để dệt lưới.Người dân Địa Mãn đã sản xuất không chỉ phục vụ cho mình mà nhanh chóng cònđáp ứng nhu cầu của các làng lân cận Nghề bện chổi ở Vân Tảo khởi điểm xuấtphát cũng từ việc tranh thủ thứ phẩm từ nông nghiệp như rơm rạ được họ đan thànhchổi để dùng và bán Sau này, người dân cập nhật thêm những kĩ thuật và nguyênliệu mới như chít, sơ dừa và sợi nhựa để làm chổi.
Nguyên nhân thứ hai là việc người dân sáng tạo hoặc học được những nghềmới và phát triển hoạt động sản xuất của mình Nhờ thị trường phát triển (đặc biệt là
từ nhu cầu của khu vực đô thị) nghề thủ công mang lại nguồn thu nhập ổn định, dầnhình thành một bộ phận thợ sản xuất chuyên nghiệp, các phường nghề và làng nghề
Có thể coi đó là sự phát triển của kinh tế hàng hóa mà theo GS Phan Huy Lê trong
Sự phát triển của các hinh thái kinh tế - xã hội trong lịch sử Việt Nam thì từ TK X
đến TK XV, “một số thành thị (như Thăng Long) và thương cảng (như Vân Đồn)xuất hiện, nhiều chợ mọc lên ở nông thôn Một tầng lớp thợ thủ công và thương
nhân dần dần tách ra khỏi nông nghiệp” [26, tr 308] Sự hình thành các nghề có thể
độc lập ở những thời điểm, địa điểm khác nhau nhưng cũng có thể là sự tiếp nối lẫnnhau
Đây là nguyên nhân xuất hiện của nhiều làng nghề như: làng thêu QuấtĐộng, làng nghề lược sừng Thụy Ứng, làng nghề tiện gỗ Nhị Khê Đặc điểm chungcủa các nghề này thường là nghề được truyền bá rộng rãi từ các vị Tổ nghề hoặc rađời từ những sự kiện lịch sử như: nghề sơn thếp ở làng Bình Vọng do ông tổ nghềTrần Lư – người đỗ tiến sỹ khoa Nhâm Tuất (1502) truyền từ thế kỉ XVI30; nghề
30 Bình Vọng Trần Thị Gia phả
Trang 30làm lược sừng ở làng thụy ứng từ thế kỉ XVI [22, tr 395]; nghề thêu và làm lọng tạikhu vực Quất Động có từ thế kỉ XVII với sự truyền nghề của ông Tổ nghề Lê CôngHành…[22, tr 359] Mặc dù nhiều nghề không rõ thời gian xuất hiện chính xácnhưng ở mỗi làng đều có những cách lý giải nguồn gốc xuất hiện nghề của làngmình.
Nguyên nhân thứ ba đó là những nghề mới hình thành từ nền tảng nghề đã
có Từ nhu cầu của thị trường và sự sáng tạo không giới hạn, người thợ thủ công ởcác làng nghề ở Thường Tín không chỉ học nghề, chuyên nghiệp hóa việc sản xuất
mà còn biến đổi nghề của mình Điều này thể hiện rất rõ đối với trường hợp nghềthêu ở khu vực Quất Động Xuất phát từ nghề thêu ở Quất Động, người dân cáclàng Ba Lăng, Cổ Chất, Đông Cứu (xã Dũng Tiến) lựa chọn hướng thêu các đồtrang trí, sản phẩm cung đình, tâm linh như nghi môn, khăn chầu áo ngự, áo kiệu,võng lọng…, người dân các làng Hướng Dương, Đống Xung (xã Thắng Lợi) lạichuyên may – thêu các loại quạt, cơ, chướng… Như vậy, chỉ từ nghề thêu nhưngmỗi làng lại lựa chọn cho mình một thị trường thế mạnh để tập trung sản xuất Nghềlàm vàng mã ở Văn Hội, Văn Giáp, Văn Bình cũng là một xuất hiện tương tự Trướckia, tổng Văn Bình vốn nổi tiếng với các làng sơn thếp, vẽ tranh Tuy nhiên tớinhững năm 40, nghề sơn thếp vẽ tranh do nhiều yếu tố không còn phát triển tại đây(đặc biệt từ sự xuất hiện của chụp ảnh và in ấn), người dân vùng này vận dụngnhững kĩ thuật mình đã có vào việc sản xuất vàng mã, đặc biệt in vàng mã và nghềnày vẫn đang tiếp tục phát triển cho tới ngày nay Hiện tượng này cũng xảy ra vớitrường hợp làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), làng tranh sơn mài Duyên Trường, HạThái Thậm chí trong cùng một nghề, người thợ sản xuất và các cơ sở cũng có sựchuyển đổi theo hướng chuyên nghiệp hóa giống như các làng nghề Điển hình làtrường hợp gia đình nghệ nhân Hoàng Văn Tại – Trần Thị Khóa ở Thụy Ứng xuấtphát điểm với nghề sừng, họ đã lựa chọn hướng đi riêng đó là sản xuất quạt sừng(nan quạt, sống quạt)…Từ đó có thể thấy quá trình hình thành, thay đổi và phát triểnnghề và làng nghề mới từ những nghề có sẵn thể hiện đặc tính linh hoạt và
Trang 31sáng tạo của người dân làm nghề nói riêng, phù hợp với quan điểm về sự mềm dẻotrong ứng biến của văn hóa Việt truyền thống nói chung.
Mối quan hệ giữa các nghề và các làng nghề cũng góp phần lý giải quá trình
ra đời của chúng Sợi dây liên kết trong sản xuất sớm hình thành tạo ra một hệ thốngcung ứng khá lớn đối với các làng nghề Thông thường các làng gần nhau sẽ có sự
mở rộng của nghề vượt qua ranh giới địa lý tạo thành nhóm làng hoặc vùng nghề từmột làng có nghề gốc Giữa các làng nghề còn có quan cung ứng trong một chuỗisản xuất, cụ thể như làng chuyên về sơ chế, làng chuyên về nguyên liệu, làngchuyên về sản xuất – hoàn thiện, làng chuyên về đầu ra sản phẩm Quan hệ liênlàng31 được gia tăng thông qua kết nối cung cầu hoặc tương hỗ của sinh kế rõ ràng
Có thể thấy ở trường hợp làng Vạn Điểm, nhờ nghề mộc phát triển mà một số lànglân cận rất phát triển nghề buôn gỗ, xẻ gỗ và sơ chế gỗ như Đỗ Xá, phố Guột; nghềkhảm trai Hà Vỹ, Từ Vân… Hoặc các làng Liễu Viêm, Cống Xuyên, Đặng Thôn,Khôn Thôn gần vùng các làng thêu của Quất Động, Dũng Tiến thì có nghề nuôi tằm,ươm tơ, nhộm chỉ, dệt đũi Làng Bạch Liên chuyên làm bút lông ở gần làng sơn vẽBình Vọng…
Quá trình hình thành các nghề thủ công ở đây diễn ra liên tục trong thời giandài và ở nhiều dạng thức Một số nghề trải qua quá trình hình thành tự nhiên lâu dàinhư các nghề bện chổi, đan lát, nghề mộc… nhưng một số nghề lại hình thành trongmột thời gian ngắn và nhanh chóng phát triển (nghề thêu, nghề làm lược, nghề làmchăn ga gối đệm, nghề làm vàng mã) Ở các làng nghề, lớp lớp nghệ nhân chatruyền con nối giữ gìn mạch nghề hàng trăm năm Kĩ thuật tạo tác, bí quyết nghềnghiệp được tiếp nối và hun đúc lâu dài để đạt tới mức tinh xảo, mẫu mực Khôngchỉ trong khuôn khổ vốn có, người nghệ nhân ở đây còn luôn sáng tạo để thế hệ sauđược phát triển hơn thế hệ trước
31 Hà Văn Tấn (2007), Làng, liên làng và siêu làng (Mấy suy nghĩ về phương pháp), Một số vấn đề
lý luận sử
học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 41-51.
Trang 32Không chỉ phát triển nghề ở quê hương mà những người thợ Thường Tín cònmang nghề của mình đi đến những vùng đất mới và đạt được nhiều thành tựu, thậmchí còn hình thành các phường nghề, làng nghề mới Quá trình mở rộng nghề có thểxuất phát đơn thuần là việc di dân tự nhiên, hôn nhân, nhưng cũng có thể rộng hơn
là sức hút từ thu nhập khiến dân các vùng lân cận tới học nghề và mang nghề về quêmình (trường hợp nghề thêu, nghề mộc…) Thăng Long – Kẻ Chợ ngoài đặc điểm
là kinh đô, trung tâm chính trị thì luôn là trung tâm kinh tế - xã hội của Miền Bắc.Theo GS.Nguyễn Quang Ngọc: “Những làng chuyên thủ công nghiệp thường đóngvai trò một trung tâm sản xuất hàng hóa ở nông thôn Những trung tâm này khôngnhững chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của địa phương mà còn mở ra cả một vùngrộng lớn và có quan hệ thường xuyên, trực tiếp với các trung tâm sản xuất và traođổi hàng hóa trong khu vực Hầu như tất cả các làng thủ công nghiệp nổi tiếng trongkhu vực châu thổ sông Hồng đều có quan hệ ít nhiều với Thăng Long hay các làngcông nghiệp chủ yếu ở miền Trung đều có quan hệ với Hội An.”32 Có thể nói đây làquan điểm phù hợp với các nghiên cứu các làng nghề ở khu vực huyện Thường Tínbởi vị trí địa lý của địa phương, lịch sử hình thành làng và thị trường, quan hệ liênlàng Với vị trí gần kinh đô Thăng Long, nhiều thế hệ thợ tại Thường Tín đã rời quêhương mang theo nghề của mình góp phần xây dựng những phường nghề, phốnghề Tiêu biểu nhất là những người thợ sơn thếp, đóng đồ gia dụng đã đặt nềnmóng hình thành phố Hàng Hòm33 Nghề thêu Quất Động được phát triển ở các phốHàng Thêu, Hàng Trống, Hàng Bông34 Các nghề: chạm, khắc, tiện, thêu ren, may
cờ phướn… cũng đươc các nghệ nhân sản xuất và đưa ra bán ở các phố Hàng Khay,Hàng Đào, Hàng Lọng, Hàng Bông… Cũng vì thế mà Thường Tín được coi là
“vùng đất Tổ trăm nghề”
32 Nguyễn Quang Ngọc, Kết cấu kinh tế - xã hội làng Việt cổ truyền [33, tr 40].
33 Tương truyền khoảng giữa thế kỷ XVII, những người thợ mộc, thợ sơn làng Hà Vỹ ra Hà Nội lập nghiệp ở
phố này Ban đầu họ mở một số cửa hiệu làm và bán hòm gỗ, rương, tráp sau này, họ đã lập ra đình Hà Vĩ (số nhà 11), để thờ ông tổ nghề sơn Trần Lư và gợi nhớ về quê hương bản quán của mình.
34 “Ngôi đình Tú Đình Thị ở số 2 ngõ Yên Thái của dân Hàng Thêu (phố Hàng Thêu xưa kia ở đầu Hàng
Hòm đến đầu Hàng Thiếc) cho biết gốc gác dân làng nghề thêu ở Hàng Thêu, Hàng Trống cũng như dân Hàng Lọng là người Hướng Dương, Quất Động, Đào Xá huyện Thường Tín (Hà Tây).” [70, tr 110 – 111]
Trang 331.3.2 Tình hình làng nghề ở Thường Tín
Hiện nay, huyện có 126 làng, trong đó 48 làng nghề được công nhận là làngnghề truyền thống, 01 làng nghề truyền thống tiêu biểu Thành phố; có 26 nghệ nhânđược công nhận trong đó 02 nghệ nhân nhân dân, 04 nghệ nhân ưu tú và 20 nghệnhân Hà Nội; có 02 Hiệp hội cấp thành phố, 12 Hội trong đó 01 hội cấp huyện, 04hội cấp xã và 07 hội hoạt động nghề nghiệp; huyện có 04 cụm công nghiệp làngnghề và quy hoạch đến 2020 có xét đến 2030 tổng số cụm đưa vào quy hoạch mới là
12 cụm công nghiệp
Tuy nhiên trên thực tế, Thường Tín có hơn 80% làng có nghề thủ công trong
đó hơn 80 làng có trên 30% người làm nghề Nếu xét theo tiêu chí làng nghề củaGiáo sư Trần Quốc Vượng35 thì phải có tới gần 100 làng nghề Việc nhận diện, phânloại và khoanh vùng làng nghề không thể tuyệt đối bởi có những làng đa số ngườidân thoát ly nông nghiệp và làm một nghề, cũng có thể một người làm nhiều nghềhoặc một nghề có sức phổ biến len lỏi vào nhiều làng thậm chí là khắp huyện(trường hợp nghề thêu, nghề làm vàng mã…) Có những nghề tồn tại trong một thờigian dài ở các làng, một số làng phát triển nghề mới song song với nghề cũ nhưngcũng nhiều tên nghề mới được gắn với tên làng cũ, nghề cũ mai một hoặc biến mất(trường hợp làng Thụy Ứng, làng Duyên Trường – Hạ Thái) Do vậy nghề và cáclàng nghề có thể nhận diện một cách tương đối dựa vào lịch sử hình thành, tỉ lệngười dân làm nghề (khoảng trên 30% hộ gia đình36), giá trị sản phẩm và vai trò đốivới kinh tế, văn hóa của người dân và địa phương sở tại
35 “làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một
số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”,
“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu
ra cả nước ngoài” [71].
36 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 116/2006/TT- BNN Hướng dẫn thực
hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội.
Trang 34Khác với một số vùng “dĩ nghệ thế điền”37, đất đai ở Thường Tín rộng và phìnhiêu, người dân ở đây rất thuận lợi trong phát triển nông nghiệp Nhiều người đãtranh thủ thời gian nông nhàn đó để làm nghề vừa phục vụ đời sống, vừa tăng thêmthu nhập Cũng có nhiều gia đình phát triển nghề và sớm thoát ly nông nghiệp, thuêngười làm ruộng hoặc cho thuê thầu Từ yêu cầu đầu ra sản phẩm cùng phẩm chấttháo vát, nhiều người trở thành những đầu mối thu gom và kinh doanh sản phẩm.Như vậy, kinh tế làng xã ở Thường Tín phát triển đa dạng và sớm hình thành cả bốn
loại làng: làng nông nghiệp, làng thủ công nghiệp, làng buôn và làng nông – công –
thương 38 Đối với các làng nghề cũng có sự phân hóa của ba lực lượng thợ thủ
công: thợ thủ công thuần túy, người thợ - nông dân và người thợ - nhà buôn
Dựa vào đặc điểm ngành nghề và phân bố địa lý – dân cư, làng nghề ở
Thường Tín có thể phân chia theo các nhóm chính như sau:
1 Nhóm nghề thêu: khoảng gần 30 làng ở các xã Quất Động (Quất Động, QuấtLâm, Quất Tỉnh, Đức Trạch, Nguyên Bì, Đô Quan), Dũng Tiến (Ba Lăng, CổChất, Đông Cứu), Thắng Lợi (Đào Xá, Khoái Cầu, Mai Xá, Bình Lăng, HạGiáp, Một Thượng, Phương Cù) Nguyễn Trãi) Lộc Dư, Gia Khánh) cùng vớicác nghề phụ trợ như nhuộm chỉ, dệt đũi, ươm tơ Địa Mãn, Khôn Thôn; nghềlàm quạt lọng ở Đông Cứu, Hướng Dương…
2 Nhóm nghề mộc khoảng 10 làng ở khu vực xã Vạn Điểm (Đỗ Xá, Vạn Điểm,Đặng Xá), xã Thống Nhất (Hoàng Xá, Giáp Long, Bộ Đầu, Phúc Trạch,Thượng Giáp), xã Văn Tự (Nguyên Hanh, Đinh Xá) cùng với các nghề phụ trợ như xẻ gỗ, sơ chế gỗ
3 Nhóm nghề chạm khảm mỹ nghệ (chạm, khảm, tiện, chế tác sừng) khoảng 15làng ở các xã Vạn Điểm, Thụy Ứng, Thống Nhất, Nhị Khê, Hiền Giang,Duyên Thái, Khánh Hà…
4 Nhóm nghề sơn thếp bao gồm nghề vẽ tranh, in ấn và làm vàng mã ở xã BìnhVọng, (Bình Vọng, Văn Hội, Văn Giáp) xã Duyên Thái; nghề sơn mài(Duyên Trường, Hạ Thái, Phúc Am)
37 (lấy nghề thủ công thay thể việc làm ruộng) Nguyễn Quang Ngọc [33].
38 Phan Huy Lê (2014), Làng xã cổ truyền của người Việt, tiến trình, lịch sử và kết cấu xã hội [26, tr.
420].
Trang 355 Nhóm nghề đan lát khoảng gần 20 làng gồm các làng ở xã Ninh Sở (Ninh
Xá, Xâm Dương, Đại Lộ, Bằng Sở, Sở Hạ), làng Mễ Sơn (làm mành tre),Phúc Trại (đan võng gai), các làng Nỏ Bạn, Đông Thai, Xâm Hồ, Xâm Động,Dương Tảo, Vân La (bện chổi) làng Văn Trai (làm áo tơi lá) và các làngKhôn Thôn, Địa Mãn (đan lưới, giỏ, đó, nơm…)
6 Nhóm nghề chế biến thực phẩm bao gồm sản xuất bánh kẹo (làng Mễ Sơn);bánh dày (làng Thượng Đình – Quán Gánh); nấu rượu (các làng Văn Xá, Đỗ
Hà, Bình Vọng…)
7 Nhóm làng làm bông, sợi bao gồm các làng làm nghề dệt bông, làm chănđệm ở xã Tiền Phong (Ngọc Động, Phác Động, Trát Cầu, Thượng Cung,Định Quán)
8 Nhóm làng làm nghề kim khí: rèn, tiện, nguội, chế tác máy móc ở khu vực các xã Văn Tự, Minh Cường
9 Nhóm các nghề tiểu thủ khác như làm bút lông Bạch Liên; đóng bè tre nứa ở
Tự Nhiên; làm thùng ở Bình Vọng, thợ nề Cống Xuyên…
Hiện nay, ở Thường Tín có khoảng 12.700 cơ sở sản xuất, hàng nghìn doanhnghiệp tư nhân, hộ gia đình sản xuất trong lĩnh vực nghề truyền thống Số lao độngtham gia làm nghề khoảng 31.000 lao động Toàn huyện có 04 cụm công nghiệplàng nghề đang hoạt động (Duyên Thái, Vạn Điểm, Ninh Sở và Tiền Phong) Năm
2017, giá trị thu nhập từ công nghiệp – thủ công nghiệp đạt 9.976 tỷ đồng39
Với vị trí địa lý thuận lợi cùng sự nhạy bén của người dân vùng cửa ngõKinh Kỳ - Kẻ Chợ, người Thường Tín luôn tìm tòi, sáng tạo nhằm cải tiến phươngthức sản xuất; mẫu mã, chất lượng sản phẩm cũng như hoạt động tiêu thụ Ngườithợ ở đây luôn có tư duy mở trước tri thức mới, thậm chí không ngại đổi mới mình.Điều này ta có thể thấy trong việc cập nhật nguyện liệu mới, ứng dụng khoa học kĩthuật vào qui trình sản xuất hay sáng tạo sản phẩm để bắt kịp nhu cầu thị trường.Nếu trước kia người dân Dũi Tiện (Nhị Khê) chỉ tiện mâm, lọ thì từ những năm 80
họ bắt đầu tiện chuỗi hạt mành, con tiện gỗ và các đồ dùng xuất khẩu Người dân
39 Tô Quý (2017), Thường Tín thực hiện chính sách ưu tiên phát triển làng nghề, Cổng thông
tin điện tử huyện Thường Tín
Trang 36Quán Gánh cũng mạnh dạn đầu tư dàn máy giã bánh dày hiện đại công xuất lớn.Làng Ninh Sở trước kia chỉ đan rổ, rá, nong, nia… thì giờ đây họ đan túi mây, chụpđèn… với hoa văn cầu kì và giá trị cao gấp nhiều lần Người dân Thụy Ứng ngàynay cũng chỉ có một bộ phận nhỏ làm lược sừng xuất khẩu, còn lại họ chuyển sangđiêu khắc sừng, chế tác cúc áo, đồ lưu niệm, các phụ kiện thời trang… Người dâncác làng nghề cũng sử dụng thành thạo trang thiết bị hiện đại, thiết kế mẫu mã trên
đồ họa máy vi tính, đầu tư và ứng dụng công nghệ tiên tiến, đặc biệt là khai thácmạng xã hội để quảng bá sản phẩm của mình
Trên thực tế cũng có một số nghề đã mai một hoặc mất đi, chỉ còn lại trongnhững lời kể và tài liệu như: sơn vẽ Văn Bình, bút lông Bạch Liên, áo tơi lá Văn Trai,
tơ đũi Khôn Thôn… Những nghề này mất đi bởi nhiều lý do như nhu cầu thị trườngkhông còn; nhiều sản phẩm thay thế hoặc đơn giản vì thu nhập từ nghề không đủ đápứng cho cuộc sống của người dân Tuy nhiên ở Thường Tín, với truyền thống cần cù và
sự ứng biến linh hoạt của người dân, cứ một nghề biến mất thì sẽ có một hoặc thậm chínhiều nghề mới được sinh ra Ở trường hợp nghề sơn vẽ
ở các làng Bình Vọng, Văn Hội, Văn Giáp sau khi mai một, người dân tiếp nối bằngnghề sản xuất vàng mã, nhanh chóng phát triển và làm giàu nhờ nghề này LàngBạch Liên trước kia nổi tiếng bởi làm bút lông thì giờ đây trù phú nhờ việc buônbán rau quả Người Duyên Trường ngày nay cũng không còn nhiều gia đình làm sơnmài, chế biến ớt bột mà thay vào đó họ đan khung của đồ vàng mã như voi,
ngựa, hình nhân, các loại thuyền rồng, nhà cửa, tháp…
Trang 37Bảng 1.1: Thu nhập bình quân của một lao động có nghề truyền thống40
Đơn vị tính: Triệu đồng
1 Mộc 27 20 74,07 26,5 20,14 76 28 21,56 77
2 Điêu 20 10 50 20,5 10,25 50 20,5 1,35 50,5khắc
7 Tre đan 18 8,5 47,2 19,5 9,46 48,5 20,5 9,63 47
khí
9 Cơ khí 35 32,0 91,42 36,5 33,58 92 37,5 34,87 93mộc
10 May 22 14,4 65,45 23,5 15,39 65,5 24 15,84 66thêu
11 Vàng 24,3 16,8 69,1 26 18,2 70 27 19,7 71mã
12 Tiện 37 34 91,89 39,5 36,34 92 39 35,88 92
13 Bánh 28 24 85,71 28 23,8 85 28,5 24,51 86dày
14 Sơn 23 18 78,26 23,5 18,09 77 23 17,25 75mài
15 Lược 26,3 23,2 88,2 28,5 25,65 90 29 26,68 92sừng
16 Sinh 37 35 94,59 37,4 35,41 94,7 38 35,72 94vật
cảnh
40 Theo Phòng kinh tế huyện Thường Tín
Trang 381.4 Yếu tố tác động tới phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín
1.4.1 Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền huyện Thường Tín
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước và hội nhập hội nhập quốc tế, pháttriển làng nghề vị trí quan trọng và luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Nghịquyết Đại hội VIII của ĐCSVN đã xác định: “Phát triển các ngành nghề, LNTT vàcác ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàngxuất khẩu …” Đại hội IX của ĐCSVN tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển mạnh côngnghiệp và dịch vụ nông thôn, hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, cácđiểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với thị trường xuất khẩu …”.Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định “Phát triển bền vững các làngnghề” trong điều kiện mới gắn chặt với yêu cầu phát triển nông thôn mới Đảng,Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và luật pháp có liên quan đến phát triểnlàng nghề như Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật Doanhnghiệp, Luật Đầu tư, quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2000của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghềnông thôn Để cụ thể chủ hóa chủ trương của Đảng, Nhà Nước về phát triển làng
nghề, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2006/NĐ - CP ngày 07 tháng 7 năm
2006 về phát triển ngành nghề nông thôn và Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn (năm 2016) với những nội dung chủ yếu sau: Nhà nước xây dựng quy hoạch
tổng thể và định hướng phát triển ngành nghề nông thôn dài hạn của cả nước vàtừng vùng kinh tế gắn liền với việc thực hiện CNH, HĐH nông thôn; chương trìnhbảo tồn, phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch; Xây dựng cụm tiểu thủ côngnghiệp, làng nghề tập trung; hỗ trợ xử lý môi trường, tiếp cận tín dụng; thực hiệncác chương trình xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu; khuyến khích ứngdụng KHCN; hỗ trợ kinh phí đào tạo nhân lực phục vụ ngành nghề
Năm 2014, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số31/2014/QĐ-UBND về quy định chính sách khuyến khích phát triển các làng nghề
Trang 39thành phố Hà Nội với 6 nội dung hỗ trợ: đào tạo nghề và truyền nghề; tập huấn nângcao trình độ quản trị doanh nghiệp cho các chủ cơ sở sản xuất; xúc tiến thương mại
và đầu tư xây dựng thương hiệu làng nghề; đầu tư hạ tầng và hỗ trợ xử lý ô nhiễm.Căn cứ quyết định số 31/2014/QĐ-UBND, UBND huyện Thường Tín đã thực hiện
kế hoạch về đẩy mạnh phát triển nghề thủ công tại huyện bao gồm việc xúc tiếnthương mại và xây dựng thương hiệu làng nghề UBND huyện đã phối hợp với các
xã hỗ trợ xây 2 thương hiệu “nghề mộc cao cấp Vạn Điểm” và “điêu khắc gỗ đáNhân Hiền”, xây dựng nhãn hiệu tập thể chăn ga gối đệm Tiền Phong Đặc biệt, bộphận khuyến công của huyện đã mở 72 lớp đào tạo nghề, truyền nghề, nhân cấynghề sử dụng nguồn kinh phí khuyến công của huyện cho 2200 lao động toàn huyệnvới kinh phí hỗ trợ 2,2 tỉ đồng Trong giai đoạn 2019 – 2020, ĐU – UBND huyệnThường Tín cũng có kế hoạch hỗ trợ xây dựng thương hiệu làng nghề cho làng nghềlược sừng Thụy Ứng xã Hòa Bình, tiện gỗ thôn Nhị Khê xã Nhị Khê, cơ khí mộcNguyên Hanh xã Văn Tự, hoa cây cảnh Hồng Vân và làng nghề mộc mỹ nghệ PhúcTrạch xã Thống Nhất41
Tầm nhìn tới năm 2030, huyện Thường Tín phấn đấu phát triển khoảng 50làng nghề truyền thống và đặt mục tiêu 95% làng có nghề tại các xã nông thôn; pháttriển sản xuất song hành cùng du lịch làng nghề [62]
1.4.2 Cơ sở hạ tầng
Trong những năm gần đây, HU – UBND huyện Thường Tín đã có nhiều cốgắng trong công tác quy hoạch và nâng cấp cơ sở hạ tầng cho sản xuất công nghiệpnói chung, các làng nghề nói riêng Từ năm 2014-2018, huyện đã làm mới và cải tạocác tuyến đường liên xã, tác động trực tiếp tới việc sản xuất và đi lại của các làngnghề như: trục đường đê sông Nhuệ đoạn Cầu Chiếc - Cầu Xém, nâng cấp đường
427 đoạn Thường Tín – Cầu Chiếc, mở các đường liên xã Hòa Bình – Nhị Khê –Quán Gánh, nâng cấp đường liên thôn tại xã Văn Bình… Các tuyến đường
liên huyện, liên xã, và đường làng ngõ xóm đều có đèn chiếu sáng và hệ thống tiêuthoát nước
41 UBND TP Hà Nội (2015), Quyết định phê duyệt qui hoạch chung về xây dựng huyện Thường Tín
đến năm
2030, Hà Nội.
Trang 40ĐU – UBND huyện Thường Tín chủ trương hình thành các cụm sản xuất từcác làng nghề truyền thống theo hướng tập trung, hiện đại giữ gìn văn hóa truyềnthống và thân thiện với môi trường Ngoài ra chính quyền các cấp cũng có nhữngđiều chỉnh trong hoạt động sản xuất của một số làng nghề Cụ thể là di chuyển rakhỏi khu dân cư các nghề, các cơ sở gây ô nhiễm, gây ồn; chuyển đổi quỹ đất nôngnghiệp để tạo thêm không gian sinh hoạt và sản xuất Quy hoạch một số cụm dân cưsản xuất chuyên biệt như cụm dân cư mới Tiền Phong (chuyên sản xuất chăn đệm),cụm sản xuất cơ khí Khánh Hà, các khu vườn sinh vật cảnh Vân Tảo… mới hìnhthành với hạ tầng đồng bộ và hiện đại.
Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề cũng được các cấp chính quyền vàngười dân chú ý Huyện đã cho xây dựng hệ thống cồng gom nước thải công nghiệp và
bể chứa rác tại các thôn, cụm dân cư; hỗ trợ kinh phí cho các thôn, cụm dân cư tổ chứcthu gom rác, xây dựng địa điểm chứa, xử lý rác theo công nghệ hợp vệ sinh Năm 2017,huyện Thường Tín đã hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng nhà máy cấp nước sạchtại thị trấn Thường Tín, triển khai chương trình nước sạch vệ sinh môi trường tại mười
xã dọc sông Nhuệ nơi có nguồn nước nhiễm a-sen cao, xây dựng hệ thống cống ngầmhút bụi tại các thôn Thụy Ứng, Nhị Khê, Vạn Điểm
1.4.3 Văn hóa truyền thống
Trên địa bàn huyệnThường Tín có nhiều di tích lịch sử văn hóa như: chùaĐậu, lăng đá Quận Vân, bãi Tự Nhiên, bến Chương Dương, đền thờ Nguyễn Trãi,chùa Hội Xá, quần thể Đền Đại Lộ, đền thánh Lê Tùy….với nhiều lễ hội truyềnthống diễn ra trong năm như hội Lộ, lễ hội Tổng Hà Hồi, hội chùa Bà, hội Lộ, hộiChử Đồng Tử… cùng hệ thống nhà vườn, cảnh quan đẹp thu hút hàng chục nghìnkhách hành hương, du lịch mỗi năm Do đó, hình thành kết nối giữa các địa điểm dulịch với thăm quan, trải nghiệm làng nghề là một hướng đi rất tiềm năng và bềnvững Hướng đi này không chỉ giúp tăng hiệu quả khai thác du lịch tại các địa điểm,quảng bá sản phẩm thủ công mà còn hình thành một hệ sinh thái liên ngành trongphát triển kinh tế gồm công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ Việc phát triển sảnxuất kết hợp du lịch trải nghiệm còn giúp tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người