HCM, ngày 27 tháng 4 năm 2018NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên: NGUYỄN NGỌC DIỆP Ngày, tháng, năm sinh: 06/10/1989 Chuyên ngành: Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành Giới tính: Nữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
NGUYỄN NGỌC DIỆP
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG DU LỊCH
VĂN HÓA KHMER NAM BỘ TẠI TRÀ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành
Mã số ngành: 60340103
TP HCM - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
NGUYỄN NGỌC DIỆP
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG DU LỊCH
VĂN HÓA KHMER NAM BỘ TẠI TRÀ VINH
Trang 3Cán bộ hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Hồ Ngọc Phương
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 14 tháng 4 năm 2018
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4TP HCM, ngày 27 tháng 4 năm 2018
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: NGUYỄN NGỌC DIỆP
Ngày, tháng, năm sinh: 06/10/1989
Chuyên ngành: Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành
Giới tính: NữNơi sinh: Trà VinhMSHV: 1641890004
I- Tên đề tài:
Nghiên cứu tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch của các thành tố văn hóa KhmerNam bộ tại Trà Vinh
Thực hiện đề tài theo hướng nghiên cứu ứng dụng bằng việc áp dụng phươngpháp điều tra khảo sát, tổng hợp tài liệu, tham khảo ý kiến chuyên gia để đánh giátiềm năng du lịch của đối tượng nghiên cứu
Kết quả đạt được: tiêu chí đánh giá điểm du lịch văn hóa Khmer, đánh giátiềm năng điểm du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh và giải pháp chiến lược xâydựng thương hiệu “Trà Vinh – du lịch văn hóa xanh”
III- Ngày giao nhiệm vụ: 09/9/2017
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 17/3/2018
V- Cán bộ hướng dẫn: Tiến sĩ Hồ Ngọc Phương
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 6LỜI CÁM ƠN
“Nghiên cứu tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh” là một
đề tài rộng và rất cần thiết cho sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Trà Vinh Dovậy, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã gặp phải một khó khăn Để vượt quanhững khó khăn và hoàn thành đề tài luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, hỗtrợ rất nhiệt tình từ thầy Hồ Ngọc Phương – người đã định hướng, góp ý và luôntheo sát quá trình nghiên cứu
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các chuyên gia: thầy Trần Văn Thông,anh Trần Minh Thanh, chú Thạch Xuân Hoàng, chị Thạch Thị Út Linh, các anh chị
và bạn đồng nghiệp đã đóng góp những ý kiến quý báu của mình cho nghiên cứucũng như cho sự phát triển của du lịch Trà Vinh
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn đồng nghiệp cùngđơn vị đã sẳn sàng hỗ trợ, chia sẻ công việc để tôi tập trung hơn vào công tác nghiêncứu đề tài
Cuối cùng, tác giả rất cảm ơn quý thầy cô thuộc Khoa Quản trị Nhà hàng – Dulịch và các giảng viên tham gia giảng dạy, cùng tập thể lớp 16SDL11 Nhờ có quýanh, chị mà tác giả đã tích lũy được rất nhiều kiến thức thực tế về nghề nghiệp.Tôi xin chân thành cảm ơn và tri ân tất cả quý thầy, anh, chị và bạn bè
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Ngọc Diệp
Trang 7TÓM TẮT
Trà Vinh là một tỉnh nhỏ thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, với sự cộng
cư của ba dân tộc anh em Kinh – Khmer và Hoa Trà Vinh và Sóc Trăng là hai địaphương có đông đồng bào Khmer sinh sống nhất Việt Nam, người Khmer cùng vănhóa của họ đã làm nên nét văn hóa đặc biệt cho vùng đất nơi này Người dân KhmerNam bộ nói chung và người Khmer sinh sống tại Trà Vinh nói riêng, trong quá trìnhcộng cư với các dân tộc có sự giao thoa nhưng vẫn giữ được nét riêng trong sinhhoạt cộng đồng, ẩm thực, lễ hội và nghệ thuật biểu diễn truyền thống
Với các yếu tố văn hóa đặc sắc của người Khmer, tỉnh Trà Vinh đã đưa ramục tiêu chiến lược và định hướng phát triển du lịch dựa vào văn hóa người Khmerbản địa Các văn bản pháp luật, hoạt động kêu gọi đầu tư, khảo sát thực địa, tổ chứchội thảo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh TràVinh cũng đã dần đưa du lịch văn hóa Khmer nói riêng và du lịch Trà Vinh đến gầnhơn với các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh Tuy nhiên, các hoạt động này cho thấy,chỉ có một vài đơn vị cố gắng thực hiện mục tiêu phát triển du lịch, mà chưa có sựthống nhất và đồng tâm cùng làm của các cấp, các đơn vị, người dân và chủ thể vănhóa
Khách du lịch rất thích thú với văn hóa Khmer (đặc biệt là khách nướcngoài), tuy nhiên họ (du khách và đơn vị lữ hành) vẫn chưa tìm được phương tiện,cách thức nào để tiếp cận và sử dụng tối ưu nhất tài nguyên văn hóa này Mặt khác,Trà Vinh được đánh giá là có tiềm năng du lịch không thua gì các tỉnh lân cậnnhưng lượng khách đến và biết về Trà Vinh là rất ít Văn hóa Khmer cũng đang dần
bị mai một do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, sự thay đổi trong cơ cấu nguồnnhân lực tỉnh nhà Tất cả đều có một sức ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động duytrì, bảo vệ và tôn tạo nền văn hóa của người Khmer Nam bộ tại Trà Vinh
Sau nhiều sự trăn trở về du lịch Trà Vinh và sản phẩm du lịch văn hóaKhmer Nam bộ của tỉnh nhà, tác giả nhận thấy đề tài “Nghiên cứu tiềm năng vănhóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh”, sẽ là một nghiên cứu mang tính ứng dụng caocho thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Trà Vinh
Phương pháp nghiên cứu chính của tác giả là khảo sát thực địa, phỏng vấn vàtham khảo ý kiến chuyên gia (là các cá nhân có nhiều kinh nghiệm, kiến thức và
Trang 8thâm niên trong lĩnh vực du lịch) Với phương pháp này, tác giả đã thu nhận và pháttriển thêm được nhiều hành động, giải pháp mới cho việc đưa thương hiệu “TràVinh – Du lịch văn hóa xanh” đến gần hơn với các đối tượng đã, đang và sẽ thamgia vào hoạt động kinh doanh du lịch tại Trà Vinh.
Cụ thể, chương 1 tác giả trình bày Cơ sở lý luận về tiềm năng du lịch văn hóa
và văn hóa Khmer Nam bộ, kinh nghiệm làm du lịch văn hóa của các quốc gia trongkhu vực và kinh nghiệm của các địa phương có du lịch văn hóa nổi bật ở Việt Nam.Chương 2 của đề tài là Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa KhmerNam bộ tại Trà Vinh, nghiên cứu 2 vấn đề chính: thực trạng du lịch văn hóa KhmerNam bộ tại Trà Vinh và du lịch tỉnh Trà Vinh; đánh giá tiềm năng du lịch của cácthành tố văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh Tổng hợp nghiên cứu thực tế từchương 1, 2 cùng với việc tổng hợp ý kiến chuyên gia, chương 3 là những đề xuấtgiải pháp của tác giả cho sự phát triển du lịch Trà Vinh nói chung và du lịch văn hóaKhmer Nam bộ nói riêng
Kết quả của nghiên cứu, tác giả đưa ra bộ tiêu chí đánh giá điểm du lịch vănhóa Khmer, đánh giá điểm du lịch tiềm năng của du lịch văn hóa Khmer tại TràVinh, sản phẩm tour du lịch trải nghiệm, kịch bản và tiêu chuẩn tổ chức đêm giaolưu văn nghệ Khmer Nam bộ tại chùa Khmer trên địa bàn tỉnh Với những sản phẩm
du lịch văn hóa Khmer như trên, tác giả mong rằng đề tài “Nghiên cứu tiềm năng dulịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh” sẽ được tham khảo, ứng dụng vào thực tếkinh doanh du lịch tại Trà Vinh
Trang 9Tra Vinh is a small province in the Mekong Delta, with a population of threeKinh-Khmer and Hoa ethnic groups Tra Vinh and Soc Trang are the two mostpopulated Khmer communities in Vietnam, the Khmer and their culture have made
a special culture for this land The Khmer people in general and the Khmers living
in Tra Vinh in particular, in the process of living with the ethnic groups have theinterference but retains its own features in community activities, cuisine, festivalsand art Traditional performance
With the unique cultural elements of the Khmer, Tra Vinh province has setstrategic goals and orientations for tourism development based on the culture of theKhmer indigenous Legal documents, activities calling for investment, field surveys,workshops organized by the Department of Culture, Sports and Tourism, TourismPromotion Center of Tra Vinh province has gradually brought cultural tourismKhmer in particular and Tra Vinh tourism closer to investors in and outside theprovince However, these activities show that only a few units are trying to achievethe objectives of tourism development, but there is no uniformity and unity amongall levels, units, people and owners, culture
Travelers are very interested in Khmer culture (especially foreigners),however, they (visitors and travel agencies) have not found the means, the best way
to reach and use this cultural resource On the other hand, Tra Vinh is considered aspotential tourist less than neighboring provinces, but the number of visitors andknow about Tra Vinh is very little Khmer culture is also gradually losing influence
of the market economy, the change in the structure of human resources in theprovince All have a great influence on the maintenance, protection andembellishment of the culture of the Southern Khmer in Tra Vinh
After many concerns about tourism in Tra Vinh province and the culturaltourism products of the province of Khmer, the author found that the topic of
"Researching the Southern Khmer cultural potential in Tra Vinh", will be a studyhighly applicable for tourism development of Tra Vinh The main research methods
of the author are field surveys, interviews and expert consultation (individuals withmuch experience, knowledge and seniority in the field of tourism) With this
Trang 10method, the author has gained and developed many new actions and solutions forbringing the trademark "Tra Vinh - Green tourism tourism" closer to those whohave been and will participate Entering into tourism business in Tra Vinh.
Specifically, chapter 1 presents theoretical background on the potential ofcultural tourism and cultural Khmer in the South, experiences of cultural tourism ofcountries in the region and experiences of localities Cultural highlights in VietNam Chapter 2 of the topic is the current situation and potential development ofcultural tourism Khmer Southern in Tra Vinh, researched two main issues: thesituation of cultural tourism Southern Khmer in Tra Vinh and tourism in Tra Vinhprovince; Assess the tourism potential of cultural elements Khmer Southern in TraVinh The practical synthesis of chapters 1 and 2 together with the synthesis ofexpert opinions, Chapter 3 are recommendations of the authors for the development
of tourism in general Tra Vinh and tourism Khmer Southern in particular
As a result of the study, the authors set the criteria for assessing the Khmercultural tourism sites, assessing the potential tourist destinations of Khmer culturaltourism in Tra Vinh, the experience tours, scenarios and The standard for organizingKhmer night cultural exchanges in Khmer temple in the province With the Khmercultural tourism products as mentioned above, the author expects that the topic of
"Studying the potential of Khmer cultural tourism in Tra Vinh" will be applied tothe practical business of tourism in Tra Vinh
Trang 11MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.1 Đối tượng nghiên cứu 2
2.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
3.1 Mục tiêu chung 2
3 2 Mục tiêu cụ thể 2
4 Điểm mới của đề tài 2
4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 2
4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước .4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Dữ liệu dùng cho nghiên cứu: 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu:: 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA KHMER NAM BỘ 6
1.1 Cơ sở lý luận về tiềm năng du lịch văn hóa 6
1.1.1 Khái niệm về du lịch và sản phẩm du lịch 6
1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch 7
1.1.3 Du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng 7
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác tiềm năng văn hóa phục vụ phát triển du lịch 9
1.3 Văn hóa Khmer Nam bộ và hoạt động phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ 11 1.3.1 Văn hóa Khmer Nam bộ 11
1.3.2 Đời sống vật chất 12
Trang 121.3.3 Đời sống tinh thần: 14
1.4 Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa nói chung và văn hóa Khmer nói riêng tại Việt Nam và trong khu vực 18
1.4.1 Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa trong khu vực 18
1.4.2 Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa ở Việt Nam 21
1.5 Kết luận 24
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA KHMER NAM BỘ TẠI TRÀ VINH 25
2.1 Tổng quan về Trà Vinh và du lịch tỉnh Trà Vinh 25
2.1.1 Tổng quan về Trà Vinh 25
2.1.2 Tổng quan về du lịch tỉnh Trà Vinh 26
2.2 Định hướng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa Khmer Nam bộ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 29
2.2.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước 29
2.2.2 Định hướng của tỉnh Trà Vinh 30
2.3 Thực trạng phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh 31
2.3.1 Môi trường du lịch 31
2.3.2 Nguồn nhân lực (năng lực, kinh nghiệm, chuyên môn, tâm huyết với nghề) 32
2.3.3 Yếu tố Văn hóa cộng đồng 33
2.4 Các tài nguyên văn hóa Khmer có tiềm năng khai thác du lịch tại Trà Vinh và hiện trạng 34
2.5 Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh 38
2.6 Đánh giá các thành tố tiềm năng du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh 41
2.7 Kết luận 53
Chương 3 CÁC ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA KHMER NAM BỘ TẠI TỈNH TRÀ VINH 54
3.1 Kết quả thảo luận và ý kiến chuyên gia 54
3.1.1 Du khách ấn tượng và muốn được tìm hiểu nét đặc trưng văn hóa Khmer: 54
3.1.2 Tầm quan trọng của các yếu tố tài nguyên văn hóa Khmer có khả năng khai thác và phát triển du lịch tại Trà Vinh, 54
3.1.3 Mức độ quan trọng của các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài đến khả năng phát triển du lịch của tỉnh Trà Vinh 55
3.1.4 Để phát triển du lịch dựa vào nền văn hóa Khmer Nam bộ thì Trà Vinh cần thực hiện các nhóm công việc theo thứ tự: 56
Trang 133.1.5 Để phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh thì địa phương nên kinh doanh du lịch theo hình thức: 57
3.1.6 Để đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh, cần dựa trên những tiêu chí: 57
3.1.7 Để thực hiện tốt nhiệm vụ “xã hội hóa” du lịch văn hóa Khmer Nam bộ, tỉnh Trà Vinh cần chú ý đến các yếu tố: 58
3.1.8 Ý kiến cho sự phát triển của du lịch tỉnh Trà Vinh nói chung và du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh nói riêng: 58
3.2 Đề xuất và chiến lược 60
3.2.1 Tập trung xây dựng và triển khai phục vụ du khách thí điểm một số sản phẩm du lịch văn hóa Khmer hoàn chỉnh 59
3.2.2 Thực hiện tốt công tác quảng bá hình ảnh người Khmer Nam bộ và sản phẩm
du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh 62
3.2.3 Quy hoạch và thực hiện kế hoạch đầu tư khai thác du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh theo từng giai đoạn cụ thể với sự tham gia của xã hội và chính quyền địa phương 66
3.2.4 Phân công nhiệm vụ và công việc rõ ràng, cụ thể cho từng nhóm đối tượng 697
3.3 Kết luận và Định hướng nghiên cứu tiếp theo 70
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 1 Phân bố điểm đánh giá các khu du lịch
PHỤ LỤC 2 Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tiềm năng các điểm du lịch văn hóa KhmerPHỤ LỤC 3 Quy chuẩn địa điểm tổ chức giao lưu văn nghệ
PHỤ LỤC 4 Kịch bản chương trình giao lưu văn nghệ Khmer
PHỤ LỤC 5 Chương trình tour
PHỤ LỤC 6 Danh sách chuyên gia
PHỤ LỤC 7 Bảng câu hỏi nghiên cứu (tổng hợp)
Trang 14DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WTO Tổ chức du lịch thế giới- World Tourism Organization
PATA Hiệp hội Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương
Trang 15DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa Tài nguyên du lịch, Tiềm năng du lịch và Sản phẩm du lịch 8
Bảng 2.1 Lưu lượng khách đến Trà Vinh 2012 – 2016 26
Bảng 2.2 Cơ cấu doanh thu du lịch 2012 – 2016 27
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh (phương pháp SWOT) 37
Sơ đồ 2.1 Các yếu tố cơ bản thu hút du khách của điểm đến du lịch 42
Bảng 2.5 Tổng hợp thành tố các tiềm năng phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh 51
Bảng 3.1 Gói dịch vụ du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh 60
Sơ đồ 3.1 Các giai đoạn quảng bá thương hiệu "Du lịch Trà Vinh - trải nghiệm văn hóa xanh" 63
Bảng 3.2 Kế hoạch khai thác (thí điểm) điểm tham quan du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh 65
Trang 16PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo tiến trình lịch sử Việt Nam của ông cha ta, lưu dân người Việt đã cùngcộng cư với người Hoa, người Chăm cùng người Khmer bản địa để mở cõi, khaikhẩn vùng đất phương Nam nay là vùng Đồng bằng sông Cửu Long hay miền TâyNam bộ Người dân Khmer Nam bộ thường được so sánh với người Khmer ởCampuchia, nhưng qua những nghiên cứu của các nhà văn hóa học, người KhmerNam bộ cũng có phong tục tập quán, tính cách tộc người và hình thái văn hóa khácbiệt so với người Khmer Campuchia
Người Khmer Nam bộ nói chung và người Khmer Nam bộ sinh sống tại TràVinh nói riêng có những nét đẹp trong văn hóa, đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho dukhách thập phương: trang phục truyền thống, tín ngưỡng Neck-ta, tôn giáo chínhPhật giáo Tiều thừa, nghệ thuật biểu diễn hấp dẫn, kiến trúc ngôi chùa độc đáo,…Sóc Trăng từ lâu đã vận dụng những nét đẹp trong văn hóa của người Khmer vào dulịch, được đông đảo khách tham quan trong và ngoài nước yêu thích và tìm đến,mang lại kinh tế cho người dân địa phương Tỉnh Trà Vinh có vị trí tiếp giáp SócTrăng, tài nguyên văn hóa Khmer cũng khá tương đồng nhưng về hoạt động du lịchthì rất yếu và chưa thu hút được khách du lịch Đây là điều trăn trở lớn cho tác giảtrong suốt những năm qua Với kiến thức và tình cảm của người con Trà Vinh, tácgiả nhìn thấy được những tiềm năng từ văn hóa của người Khmer tại Trà Vinh, bảnthân mong muốn sẽ làm được một điều gì đó để mang nét đẹp này đến với mọingười, nâng tầm sản phẩm du lịch Trà Vinh, từ đó mang lợi ích đến cho người làmnghề và tiếp bước nghề
Do vậy, tác giả nhận thấy việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh” là cần thiết và hữu ích cho sự phát triển
trong tương lai của nền du lịch tỉnh nhà Và qua đây, tác giả rất mong nhận được sựnhận xét và đóng góp ý kiến về đề tài của quý chuyên gia, quý hội đồng để tác giảhoàn thiện hơn các đề tài nghiên cứu trong tương lai
Trang 172 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung: Nghiên cứu tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại
Trà Vinh
2 2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghiên cứu tiềm năng du lịch
- Đánh giá tiềm năng văn hóa Khmer Nam bộ và đánh giá thực trạng du lịch tại Trà Vinh
- Đề xuất giải pháp để khai thác tiềm năng du lịch Khmer Nam bộ tại tỉnhTrà Vinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các thành tố của tài nguyên du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh
- Thực trạng du lịch của tỉnh Trà Vinh và hoạt động du lịch văn hóa KhmerNam bộ tại Trà Vinh
- Các tài nguyên văn hóa Khmer có tiềm năng du lịch và bộ tiêu chí đánh giá điểm du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Trà Vinh, đặc biệt là hai địa phương:Thành phố Trà Vinh và huyện Châu Thành Do các đơn vị hành chính này có đôngđồng bào Khmer sinh sống và sở hữu nhiều thành tố tài nguyên văn hóa Khmer cótiềm năng phát triển du lịch Bên cạnh đó, địa phương đã có một số tài nguyên đượcđưa vào khai thác và phục vụ khách du lịch
- Thời gian nghiên cứu: 6 tháng từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018
4 Điểm mới của đề tài
4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Lê Văn Hiệu, (2011), Nghiên cứu giá trị văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng phục vụ cho phát triển du lịch, Luận văn Thạc sĩ Địa lý học, Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả giới thiệu giá trị văn hóa của dân tộcKhmer trong phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng Qua đó, đề tài góp phần định hướngkhai thác giá trị văn hóa Khmer trong phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng
Trang 18Phạm Thị Bích Thủy, (2011), Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình, Luận văn Thạc sĩ Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm), Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tác giả đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm
du lịch văn hóa của tỉnh Thái Bình Trên cơ sở thực trạng, nêu ra những đề xuất gópphần phát triển du lịch văn hóa và bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Thái Bình
Mai Thị Huệ (2014), Lễ hội Phật giáo của người Khmer Trà Vinh, Luận văn
Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh Đề tài nghiên cứu tìm hiểu về các
lễ hội Phật giáo nhằm làm rõ vai trò, giá trị của các lễ hội Phật giáo trong nền vănhóa của dân tộc Khmer Thông qua đó cũng chỉ ra được những yếu tố văn hóatruyền thống còn được bảo lưu và những biến đổi trong quá trình cộng cư, giao lưu
và tiếp biến văn hóa với các dân tộc Đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiệnđại hóa hiện nay
Lưu Thị Sóc Kha, (2014), Chùa Phật giáo Nam tông trong đời sống văn hóa người Khmer Kiên Giang, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà
Vinh Tác phẩm đi sâu phân tích, đánh giá vai trò, chức năng của chùa Phật giáoNam tông trong đời sống văn hoá và xã hội của người Khmer ở Kiên Giang; đề xuấtmột số giải pháp và kiến nghị cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá và xã hộicủa chùa Phật giáo Nam tông trong cộng đồng người Khmer ở Kiên Giang
Sơn Ngọc Khánh (2015), Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Khmer trong hoạt động du lịch ở địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, Luận văn
Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh Nội dung đề tài tập trung khai tháccác hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tiêu biểu của người Khmer gắn với cáchoạt động du lịch ở tỉnh Trà Vinh Qua đó khai thác tiềm năng văn hóa để phát triển
du lịch và cuối cùng thông qua du lịch để giới thiệu, bảo tồn và phát huy bản sắcvăn hóa của cộng đồng người Khmer trong quá trình hội nhập hiện nay
Trần Minh Thanh (2016), Giải pháp phát triển du lịch Trà Vinh đến năm
2020 và tầm nhìn đến 2025, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học
Trà Vinh Đề tài phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch thời gianqua nhằm xác định được các điểm mạnh, điểm yếu của du lịch Trà Vinh, phân tíchphản ứng của ngành du lịch trước các yếu tố tác động của môi trường bên trong, bênngoài đến sự phát triển của ngành, từ đó chỉ ra những cơ hội và thách thức cho
Trang 19ngành du lịch Trà Vinh; đề xuất những giải pháp để thực hiện các chiến lược nàygiúp cho ngành du lịch Trà Vinh có hướng đầu tư, quảng bá, tập trung vào nhữnglợi thế hiện có của tỉnh để đạt mục tiêu đến năm 2025.
4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước: Trên thế giới, đặc biệt là khu vực Châu
Âu có khá nhiều đề tài nghiên cứu, sách viết về du lịch văn hóa Tuy nhiên, các đềtài đều tập trung nghiên cứu hoạt động du lịch văn hóa trường hợp tại một quốc gia,một vùng hoặc một điểm du lịch văn hóa tại quốc gia Tính đến thời điểm nghiêncứu đề tài “Nghiên cứu tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ”, tác giả chưa tìmđược đề tài nào có cùng đối tượng và mục đích nghiên cứu như đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Dữ liệu dùng cho nghiên cứu:
- Dữ liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được lấy từ niên giám thống kê; các văn
bản Nhà nước; Số liệu của UBND tỉnh Trà Vinh; Số liệu của Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch tỉnh Trà Vinh; số liệu từ các nguồn nghiên cứu trên báo, tạp chí và cáchội thảo khoa học, …
- Dữ liệu sơ cấp: Ý kiến của các chuyên gia có thâm niên và kinh nghiệm
trong hoạt động du lịch, giảng dạy về du lịch, quản lý và xúc tiến du lịch
5.2 Phương pháp nghiên cứu::
5.2.1 Phương pháp thống kê mô tả và phân tích tổng hợp
- Nghiên cứu các tài liệu về văn hóa Khmer Nam bộ
- Chọn lọc những nét văn hóa cơ bản, đặc trưng và có khả năng khai thác dulịch đưa vào phân tích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng phát triển của các mãng văn hóa Khmer Nam bộ trongđời sống sinh hoạt và kinh tế xã hội của người dân tại Trà Vinh
- Thống kê số liệu du khách đến Trà Vinh từ năm 2010 đến nay: số lượtkhách lưu trú và doanh thu từ lữ hành
5.2.2 Phương pháp khảo sát và nghiên cứu thực địa
- Nghiên cứu thông tin thực tế của văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh Từ
đó, đánh giá và phân tích SWOT cho các thành tố văn hóa Khmer khi đưa vào khaithác phát triển du lịch, như: lễ hội, chùa Khmer, làng nghề, ẩm thực,…
Trang 20- Khảo sát các thành tố văn hóa Khmer Nam bộ tại các địa phương có đôngngười dân Khmer sinh sống và có tài nguyên văn hóa Khmer được đưa vào phục vụkhách du lịch: Thành phố Trà Vinh và các huyện Châu Thành, Cầu Kè, Trà Cú, CầuNgang.
5.2.3 Phương pháp chuyên gia
- Tác giả thiết kế bảng hỏi, thu thập ý kiến đánh giá về tiềm năng du lịch vănhóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh của các chuyên gia: nhà khoa học – giảng viên dulịch, đại diện doanh nghiệp lữ hành (điều hành và hướng dẫn viên), đại diện cơ quanquản lý Nhà nước về du lịch (Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ủy ban Nhân dân)
- Phân tích ưu – nhược điểm và đánh giá khả năng hấp dẫn khách của tour dulịch văn hóa Khmer Trà Vinh
- Kiểm tra tính phù hợp của các tiêu chí thuộc bộ tiêu chí đánh giá sản phẩm
du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh thông qua thực tế đón và phục vụkhách du lịch của các điểm tài nguyên văn hóa Khmer tại thành phố Trà Vinh
Trang 21Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA
VÀ VĂN HÓA KHMER NAM BỘ1.1 Cơ sở lý luận về tiềm năng du lịch văn hóa
1.1.1 Khái niệm về du lịch và sản phẩm du lịch
Trên thế giới và cả Việt Nam, du lịch có rất nhiều khái niệm và định nghĩa,điều này giúp cho chúng ta dễ dàng tiếp cận và lựa chọn định nghĩa phù hợp vớimục đích và sự quan tâm về lý luận du lịch Như tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần
Thị Minh Hòa (2009, trang 9 – 16), “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác,
ngoài nơi cư trú thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụngsản phẩm của các xí nghiệp du lịch”; hay “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ vàhiện tượng phát sinh từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tạinhững nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” Các kháiniệm trên cho thấy, du lịch có ba thuộc tính: con người di chuyển khỏi nơi cư trúthường xuyên, sử dụng dịch vụ du lịch, có các mối quan hệ khác trong suốt cuộchành trình; tuy nhiên, về mục đích của chuyến đi thì chưa được tác giả đề cập đến
Mặt khác, theo quan điểm của Robert W.Mc.Intosh, Charles R.Goeldner, J.RBrent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ các tác động qua lạigiữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quátrình thu hút và đón tiếp khách du lịch (trích dẫn bởi Trần Thị Mai, Vũ HoàiPhương, La Phương Anh, Nguyễn Khắc Toàn, 2009)
Tại Việt Nam, Quốc hội (2017), Du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quámột năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu,khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác Hay theogóc độ về văn hóa thì Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quêhương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vậtchất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ so với quê hương không nhằm mục đíchsinh lời được tính bằng đồng tiền (Trần Nhạn, 1995)
Theo Trần Văn Thông (2016), Sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa vàdịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu
cho du khách trong hoạt động du lịch Mặt khác, theo Quốc hội (2017) thì Sản phẩm
Trang 22du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa
mãn nhu cầu của khách du lịch
1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị
văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằmđáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên vàtài nguyên du lịch nhân văn (Quốc hội, 2017)
Tài nguyên du lịch (TNDL) nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhântạo do con người tạo ra TNDL nhân văn gồm TNDL nhân văn vật thể và TNDLnhân văn phi vật thể TNDL nhân văn vật thể gồm các di sản văn hóa thế giới, các
di sản thế giới về tư liệu, các di tích lịch sử văn hóa và các công trình đương đại, cácvật kỷ niệm, các cổ vật quý TNDL nhân văn phi vật thể gồm: các di sản văn hóatruyền miệng và phi vật thể của nhân loại, nghệ thuật sản xuất hàng thủ công truyềnthống, lễ hội, văn hóa ẩm thực, văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán,các giá trị văn hóa liên quan tới dân tộc học, các phát minh, sáng kiến, văn học dângian và thơ ca,… (Bùi Thị Hải Yến, 2012a)
Tham khảo Wiktionary, Tiềm năng là tổng hợp tất cả các điều kiện bên trong
và bên ngoài có giá trị khai thác, sử dụng và phát triển Hay, Tiềm năng là những
thế mạnh mà chưa được khai thác (Nguyễn Như Ý, 2007) Tích hợp khái niệm vềtiềm năng với hoạt động du lịch, tác giả định nghĩa ‘tiềm năng du lịch là một trongnhững điều kiện trực tiếp để phát triển du lịch; và tiềm năng du lịch sẽ bao hàm: vịtrí địa lý, tài nguyên du lịch, con người, thị trường, các điều kiện về kinh tế - xã hội,
…
1.1.3 Du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị
văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởnglợi (Quốc hội, 2017)
Tổ chức du lịch thế giới (WTO - World Tourism Organization), du lịch vănhóa là những chuyến đi mà mục đích chính hoặc mục đích bao gồm trong đó làthăm các địa điểm, sự kiện mà giá trị văn hóa, lịch sử của chúng khiến chúng trở
thành một phần trong di sản văn hóa của một cộng đồng Hay du lịch văn hóa là
Trang 23loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảotồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhânloại (Quốc hội, 2017) Theo tác giả, du lịch văn hóa có hai hình thái chính: Du lịchtìm hiểu bản sắc văn hóa (mục đích: khảo cứu, nghiên cứu, tìm hiểu bản sắc văn hóavùng miền và đối tượng chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh – sinh viên); Dulịch tham quan văn hóa (du khách thường kết hợp giữa tham quan và nghiên cứu tìmhiểu văn hóa trong một chuyến đi và đối tượng khách rất phong phú).
1.1.4 Tiềm năng và vai trò của khai thác tiềm năng văn hóa trong phát
triển du lịch
Tài nguyên du lịch là các yếu tố tự nhiên và nhân văn có ý nghĩa đối với việcphát triển du lịch, kích thích con người tìm đến tham quan và sử dụng dịch vụ tạiđịa phương Tiềm năng du lịch là TNDL đã được đánh giá là có khả năng khai thácphục vụ du lịch; từ đó định hướng hình thành sản phẩm du lịch và chuỗi cung ứngsản phẩm du lịch của địa phương Điều này đồng nghĩa với việc, TNDL là nền tảng
để tiềm năng du lịch phát triển thành sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch
(tài nguyên du lịchtiềm năng đã đượckhai thác để phục vụkhách du lịch)
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa Tài nguyên du lịch, Tiềm năng du lịch
và Sản phẩm du lịch
(Nguồn: tổng hợp của tác giả)
Theo từ điển tiếng Việt thì, khai thác là hoạt động thu lấy những nguồn lợisẵn có (Nguyễn Như Ý, 12007) Theo đó, khai thác tiềm năng là hoạt động sử dụngnhững yếu tố tiềm năng phục vụ cho con người nhằm mục đích sinh lợi Tương tựvậy, khai thác tiềm năng văn hóa trong phát triển du lịch được hiểu là hoạt động sửdụng các tài nguyên văn hóa vào hoạt động kinh doanh du lịch, từ đó mang đến lợiích kinh tế cho người làm du lịch (cá nhân, đơn vị kinh doanh), cộng đồng và chínhquyền địa phương
Trang 24Trong quyển Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác hợp lý giá trị di sản vănhóa thế giới vật thể của Nguyễn Thị Thống Nhất (2016) thì “Khai thác hợp lý làviệc khai thác nhưng vẫn giữ gìn được tài nguyên, đảm bảo tài nguyên không bị hưhại và vẫn đáp ứng nhu cầu của các thế hệ trong tương lai, góp phần nâng cao hiệuquả kinh tế, đảm bảo lợi ích cho cộng đồng và bền vững về môi trường” Qua đócho thấy, khai thác tài nguyên không phải là sản xuất mà là hoạt động chuyển đổiloại hình của cải và của cải đó phải vừa được bảo toàn giá trị vừa sinh lời Vì vậy,việc khai thác hợp lý các tài nguyên cũng như tiềm năng du lịch sẵn có đều vô cùngquan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào Điều này quan trọng là phải biết cách khaithác, khai thác như thế nào và khai thác bao nhiêu là đủ Trong giai đoạn hiện nay
và đặc biệt với những kinh nghiệm làm du lịch từ các địa phương thì, khai thác cầndựa trên quan điểm phát triển bền vững, bền vững về kinh tế, bền vững về môitrường và bền vững về xã hội Từ đó, sẽ hạn chế sự suy thoái của tài nguyên, khắcphục ô nhiễm môi trường, giữ lại được đặc thù của địa phương, tăng cường pháttriển kinh tế như mục đích chính của phát triển du lịch mang lại
Nhìn chung, hoạt động khai thác tiềm năng văn hóa vào việc phát triển dulịch không những có vai trò rất lớn trong nền kinh tế mà còn có ý nghĩa không nhỏvới các mặt trong đời sống xã hội của Việt Nam Khai thác có hiệu quả tiềm năngvăn hóa vào hoạt động du lịch sẽ mang đến những lợi ích cụ thể, như: Giới thiệu vàquảng bá tài nguyên văn hóa của nước nhà đến bạn bè thế giới, thúc đẩy sự hiểu biếtgiữa các nước với Việt Nam thông qua nét đẹp văn hóa truyền thống; Góp phần làmphong phú và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch của địa phương và Việt Nam, từ đótăng tính cạnh tranh ở thị trường du lịch cả trong và ngoài nước; Khôi phục và tôntạo các di sản văn hóa, di tích lịch sử bị lãng quên hoặc có nguy cơ bị biến mất;Nhân rộng nét đẹp của tài nguyên nhân văn đến thế hệ mai sau thông qua các hoạtđộng giới thiệu, bảo tồn và tìm hiểu về tài nguyên văn hóa; Mang tài nguyên đếngần hơn với du khách nhằm mang lại giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cho người dânđịa phương, chủ sở hữu và ngân sách Nhà nước
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác tiềm năng văn hóa phục vụ phát triển du lịch
Trong quá trình nghiên cứu và khảo sát thực tế, tác giả tổng hợp đánh giá các
Trang 25yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác tiềm năng văn hóa trong phát triển dulịch với tám yếu tố chính:
Việc đánh giá đúng và khách quan tiềm năng du lịch của tài nguyên văn hóa: các địa phương, cá nhân và đơn vị vì muốn làm du lịch mà bỏ qua công tác
đánh giá tiềm năng sẽ dẫn đến rất nhiều hệ lụy: tài nguyên bị mất dần giá trị vănhóa, xung đột lợi ích cũng như xung đột về văn hóa giữa các bên liên quan Hay tàinguyên không có ý nghĩa hoặc hạn chế về khả năng cung ứng dịch vụ của địaphương, thế nhưng các nhà đầu tư vẫn đầu tư khai thác sẽ dẫn đến việc thua lỗ hoặchoạt động cầm chừng nếu không có chiến lược phát triển tốt
Yếu tố giá trị du lịch của tài nguyên văn hóa: không cao hoặc bị trùng lắp với các địa phương khác trong khu vực Hay tài nguyên không mang tính biểu trưng
văn hóa cho một cộng đồng, giá trị nhân văn không rõ ràng, yếu tố văn hóa rời rạc
và mang tính chấp nối
Khả năng đáp ứng các hoạt động du lịch của tài nguyên: không cao do các
cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch của địa phương còn thấp, như: tình trạng cơ sở
hạ tầng giao thông, số lượng cơ sở lưu trú và ăn uống, các dịch vụ hỗ trợ còn thiếu
Sự quan tâm và đầu tư khai thác của các cấp chính quyền: Chính phủ ban
hành các nghị quyết, kế hoạch phát triển du lịch là thế mạnh và là ngành kinh tế mũinhọn của cả nước Khi áp dụng thực tế các chính sách của Nhà nước cho phát triển
du lịch cần các cấp chính quyền của địa phương đi đầu trong công tác lập kế hoạchphát triển, kêu gọi đầu tư, hướng dẫn thực hiện chính sách đãi ngộ nguồn nhân lực
du lịch chất lượng cao,… nhằm tạo sự thông thoáng và hình thành môi trường kinhdoanh du lịch hội nhập
Tính “nguyên bản” của tài nguyên du lịch sau thời gian đưa vào khai thác
du lịch Tại nước ta có thuật ngữ “làm du lịch đại trà”, có nghĩa một địa phương đã
làm du lịch tốt, địa phương khác có tài nguyên tương tự hoặc giống sẽ tham khảo vàthực hiện theo, vô hình chung tạo thành sự bắt chước lẫn nhau trong cách làm dulịch Điều này dẫn đến việc trùng lắp sản phẩm du lịch, khách du lịch đến một nơixem như đã hiểu hết văn hóa của cả vùng; đơn vị sau thiếu sáng tạo và kinh doanhkhông dựa vào tính đặc thù của địa phương nên khả năng thành công và duy trì hoạtđộng rất thấp Bên cạnh đó, tài nguyên văn hóa có nguy cơ bị điều chỉnh cho phù
Trang 26hợp với tình hình kinh doanh thực tế (hiện đại hóa) và gia tăng áp lực văn hóa giaotiếp ứng xử do bất đồng văn hóa giữa du khách với người dân địa phương.
“Thương mại hóa” tài nguyên nhân văn là vấn đề mà bất cứ địa phương nào
có điểm tài nguyên du lịch cũng lo ngại
Công tác truyền thông và quảng bá: tài nguyên nhân văn có tiềm năng du
lịch nhưng thông tin về tài nguyên du lịch còn nhiều hạn chế sẽ ảnh hưởng rất lớnđến sự lựa chọn của du khách
Sự đồng thuận của cộng đồng và chính quyền địa phương: tại Việt Nam
không ít các trường hợp “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” do sự không thống nhấttrong cách làm và sự chồng chéo trong cách quản lý, kinh doanh các sản phẩm dulịch, đặc biệt là các sản phẩm du lịch văn hóa
1.3 Văn hóa Khmer Nam bộ và hoạt động phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ
1.3.1 Văn hóa Khmer Nam bộ
Người Khmer Krôm (Khmer dưới) Việt Nam, vốn có nguồn gốc chung vớingười Khmer Lơ (Khmer trên) đang sinh sống tại Campuchia Tên gọi khác: Cur,Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhómngôn ngữ Môn – Khmer Dân số: 328.000 người là dân tộc Khmer, chiếm 31,5%dân số toàn tỉnh (Ban Dân tộc Trà Vinh, 2017)
Diện mạo bên ngoài: nước da ngâm đen, đen sậm gần như nước da của người
Ấn Độ Gương mặt thường có đôi lưỡng quyền và quai hàm nhô ra, tóc đen và quăn
tự nhiên Chân mày rậm và ngắn, lòng mắt đen thường mở to, dưới mí mắt có quầngđen, mũi nhọn, môi dày, râu rậm (rất nhiều người có râu quai nón) Vóc mình trungbình như người Kinh Họ thích sống đơn giản, có tính cần cù, mộc mạc, giỏi chịuđựng gian khổ
Kinh tế: Người Khmer là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Trong bộ công
cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thíchứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng
ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ Cây nọc cấy (Sơchal) để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kầnđiêu) dùng để cắt lúa Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, …
Trang 27Hôn nhân: Thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái Cưới xin
trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái Gia đìnhnhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3 – 4 thế hệ sốngchung trong một nhà Vẫn còn tồn tại chế độ gia đình mẫu hệ
Tang ma: Tục hỏa táng đã có từ lâu Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp
“Pì chét đẩy”, xây cạnh ngôi chính điện trong chùa
1.3.2 Đời sống vật chất
Ẩm thực: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ
thường ăn cơm tẻ và cơm nếp Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ
Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ - inh làmbằng cá sặc, nổi tiếng nhất là mắm pro-hoc làm bằng cá lóc, các sặc, cá trê, tôm téptrộn với muối, cơm nguội và thính Gia vị ưa thích nhất là vị chua (quả me) và cay(hạt tiêu, tỏi, sả, ) Ẩm thực của người Khmer rất đặc trưng nhờ vào hương vị củamắm prohoc Họ ăn gạo và nếp kết hợp với nguồn thực phẩm là những nguyên liệusẵn có từ thiên nhiên, trong vườn nhà cùng các loại thủy sản Tại Trà Vinh, ẩm thựcKhmer Nam bộ nổi bật hơn với các món ngon như:
Bún nước lèo: món ăn được làm từ mắm prohoc nấu cùng cá, củ ngãi bún,nấm, huyết heo hoặc huyết vịt Một tô bún hoàn chỉnh phải đi kèm với rau giá, bôngchuối bào, bông súng; các thức ăn kèm cũng phong phú và đa dạng tùy theo sở thíchcủa người dùng: bánh giá, chả giò, thịt heo quay Bún nước lèo – một món ăn dân
dã nhưng đã làm nổi bật sự chân chất, tính hào phóng và sáng tạo của con ngườiNam bộ nói chung, người Khmer nói riêng
Bánh tét Trà Cuôn: Bánh tét là món ăn truyền thống của người dân Nam bộtrong các dịp lễ tết và đám tiệc của từng gia đình Tuy nhiên đối với người Khmer,
họ lại nâng tầm chiếc bánh lên với một vị thế cao hơn, khi trong cùng một đòn bánh,
vỏ bánh, nhân đậu mỡ truyền thống lại có sự kết hợp độc đáo của lá bồ ngót (tạomàu xanh tự nhiên cho vỏ bánh), mỡ nay là thịt ba rọi (thịt và mỡ), lòng đỏ trứngmuối hoặc lạp xưởng Một đòn bánh có thể nặng từ 0.5 kg đến 1.5 kg
Cốm dẹp Ba So: món bánh được làm từ nếp non mới thu hoạch, được rang vàgiã vào buổi sáng sớm Cách chế biến cũng vô cùng đơn giản với nước dừa, dừanạo, đường và ít sữa (nếu thích) rồi trộn đều cùng nhau Món ăn dân dã, mát ngọt
Trang 28tình quê; hiện nay để tăng thêm sức sống cho món cốm dẹp này, người dân TràVinh đã sáng chế thêm món bánh tét cốm dẹp với nguyên liệu chính là cốm dẹp vàđậu xanh.
Các loại bánh truyền thống của người Khmer còn có: bánh ống, bánh quặng(bánh lá mơ), bánh dứa, … đây là những loại bánh dân gian đơn giản, dễ làm Ngàynay, du khách dễ dàng thưởng thức các món bánh này tại khu danh thắng Ao Bà
Om với giá cả rất phải chăng
Trang phục: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự
dệt Thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi Những người đứng tuổi,người già thường mặc quần áo bà ba đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà
ba trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai Chỉ đặc biệt trongcưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền Chú rể mặc xà rông, áo màu đỏ, cổđứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh)
và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu Còn cô dâu mặc Xăm pốt(váy) màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyềnthống Áo dài Khmer (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà,thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào,tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéodài từ nách đến gấu áo
Nhà ở: Đồng bào Khmer cư trú quần tụ thành những phum, sóc ở chung
quanh ngôi chùa Nhìn từ phương diện giao lưu tộc người, ở người Khmer có haihình thái cư trú: Một là sống tập trung ở các phum, sóc cổ truyền, sống quây quầnquanh các ngôi chùa đồ sộ mái cong ẩn hiện dưới bóng cây dầu, cây sao cao vút.Hai là sống rải rác, xen kẻ với các tộc người cùng cộng cư trên địa bàn: người Kinh
và người Hoa Riêng về nhà ở, trước đây người Khmer ở nhà sàn, nay sống trongcác ngôi nhà đất cũng giống như người Kinh, nhưng trong nhà người Khmer không
có bàn thờ tổ tiên, nơi trang trọng nhất là bàn thờ Phật
Di chuyển: Thường sử dụng xe bò, xe lôi bánh gỗ hoặc bánh hơi, đi lại trên
đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch Sốngtrong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiềuloại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền “tắc rán” hoặc thuyền “đuôi tôm” chạy máy
Trang 29Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30 - 40tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước GheNgo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng Ok Om Bok (tháng 10 âm lịch), cònngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vậtthiêng.
1.3.3 Đời sống tinh thần:
Văn hóa dân tộc Khmer là cả một nền tảng văn hóa được xây dựng lâu dài quanhiều thế kỷ với sự kết hợp của tín ngưỡng, tôn giáo và cả lịch sử dân tộc Thể hiện quacác mặt văn hóa, nghệ thuật, lễ hội truyền thống,… hài hòa và đan xen vào nhau
Văn học dân gian: Ngôn ngữ và Chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ
Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á Họ có chữ viết riêng, không dấu dùng để ghi chépcác truyện dân gian Người Khmer có kho tàng phong phú về truyện cổ như thầnthoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười
Lễ hội: Trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam bộ, lễ hội đóng vai
trò rất quan trọng, nó chi phối toàn bộ đời sống tinh thần cũng như tâm linh của họ.Một năm có rất nhiều lễ hội được diễn ra Tác giả đề cập đến vài lễ hội tiêu biểu ảnhhưởng lớn đến đời sống hằng ngày của người Khmer Nam Bộ và có khả năng khaithác vào hoạt động du lịch văn hóa tại Trà Vinh
Lễ Phật Đản (Bon visakha Bo Chia): được tổ chức ngày 15 tháng 05 âm lịchtheo Phật lịch của phái Tiểu thừa Lễ diễn ra một ngày một đêm Người dân đếnchùa dâng cơm cho sư sãi và làm lễ tụng kinh mừng Đức Phật ra đời Trong đêm đó,người dân nghe sư đọc kinh cầu nguyện Sáng hôm sau, người dân dâng cơm cho sưmột lần nữa, buổi lễ kết thúc Đây là một lễ lớn, được tổ chức nghiêm trang và trọngthể với những nghi thức ngày nay vẫn còn được duy trì trong các chùa
Lễ Ok Om Bok: là lễ cúng trăng vào đêm 15 tháng 10 âm lịch Lễ này gắnliền với sự tích con thỏ trên mặt trăng Nhưng thực chất là để ca ngợi cư dân Khmergiàu lòng bố thí, nuôi sống Phật giáo Trong dịp lễ Ok Om Bok cốm dẹp là một lễvật tất yếu không thể thiếu Người Khmer chuyên về nông nghiệp tin rằng nhờ mặttrăng nên có nước lớn nước ròng, có mưa thuận gió hoà Nếp là món ăn ngon nhấtcủa người dân Khmer Trong ngày này còn tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, văn
Trang 30nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian của người Khmer tạo không khí vui tươi,nhộn nhịp trong mùa lễ Ok Om Bok.
Lễ dâng phước (Bon đa): Lễ này có nguồn gốc từ chuyện cổ tích trong kinhđiển Phật Giáo Chuyện kể rằng, ngày xưa có nàng Milika là vợ vua Pakasêti Kôsol
xứ Savathây Nàng thường làm phước từ nhỏ nhưng nàng phạm phải sai lầm là nóidối chồng và không chung thủy Do đó, khi chết nàng bị đày xuống địa ngục Lúcnày, Đức Phật còn tại thế, nhà vua đến hỏi Đức Phật tại sao vợ ông hay làm phước
mà lại bị đày xuống địa ngục Đức Phật không trả lời ngay mà đợi vợ ông ở dưới địangục được bảy ngày, mới trả lời: “Hôm nay nhà ngươi hãy về làm phước để dângphước lành cho vợ nhà ngươi được siêu thoát lên cõi Niết bàn” Dựa vào sự tíchnày, sau khi người chết được bảy ngày người ta tiến hành lễ Bon đa Buổi tối họ làm
lễ bái tam bảo, thọ ngũ giới, mời sư về tụng kinh Sáng hôm sau, sư sãi tiếp tục tụngkinh để cầu siêu, cầu phước, sau đó đem lễ vật vào chùa
Lễ vào năm mới Pithi Chôl Chnăm Thmây: được tổ chức vào trung tuầntháng tư dương lịch – đây là thời gian khô ráo, mùa màng đã gặt hái xong Tết củangười Khmer cũng có ý nghĩa giống như tết cổ truyền của các dân tộc khác trên đấtnước Việt Nam, nhưng cách tổ chức và tập tục khác nhau, vì đa số người Khmerđều là tín đồ của Phật giáo Theo phong tục của người Khmer Nam bộ thì Tết ChôlChnăm Thmây được tiến hành trong ba ngày theo những nghi lễ truyền thống
Lễ cúng ông bà Sene Dolta: Theo phong tục của người Khmer trước đây, lễSene Dolta cổ truyền kéo dài chừng nửa tháng, khi công việc gieo cấy ngoài đồng
đã xong Trong những ngày lễ Sene dolta, buổi sáng từng nhà chuẩn bị mâm cơmcùng thức ăn và bánh trái ngon mang đến chùa, tổ chức thành lễ hội chung củaphum sóc, nhờ sư sãi tụng kinh cầu nguyện mọi điều tốt lành cho vong hồn nhữngngười thân đã mất, để tỏ lòng báo hiếu và tri ân ông bà tổ tiên Ngày nay, đồng bàoKhmer Nam bộ tổ chức lễ Sene dolta (Cúng ông bà) chỉ trong ba ngày: Ngày Cúngtiếp đón, Ngày Cúng chính, Ngày Cúng tiễn theo phong tục cổ truyền
Ngoài một số lễ hội trên, người Khmer Nam Bộ còn rất nhiều lễ hội khácdiễn ra trong năm như Lễ giỗ (Bon Khuôp), Lễ tang ma (Bon Sop)… Trong các lễhội, các chùa trong phum sóc đều có tổ chức những trò chơi dân gian (leo cột mỡ,đua ghe ngo,…) và các trò múa hát góp vui cho người dân tham gia lễ hội
Trang 31Tín ngưỡng – Tôn giáo: Hầu hết người Khmer đều theo Phật giáo Nam tông
hay Phật giáo Tiều thừa Người Khmer rất trọng sư và xem việc xây chùa, làmphước cúng dường là việc lớn trong cuộc sống tại kiếp sống này của họ
Ở người Khmer Nam bộ đến nay vẫn còn tồn tại một loại tín ngưỡng khá phổbiến là Neck tà - thần bảo hộ cho công xã của người Khmer mà điển hình là Neck tàchủ xóm, chủ xứ hay những người có công dũng cảm chiến đấu, bảo vệ công xã chođến khi Bà La Môn giáo và tiếp theo là Phật giáo du nhập vào vùng này thì Neck tàlại đồng hoá và dân gian hóa một số vị thần trong Bà La Môn giáo thành thần bảo
hộ công xã Và, khi Phật giáo Tiểu thừa với các định chế tu trì ràng buộc đã trởthành tôn giáo chính thống chi phối đời sống tâm linh của người dân Khmer, tínngưỡng Neck tà mặc dù đã yếu thế nhưng vẫn được duy trì sự hiện diện của mìnhtrong khuôn viên chùa với hình ảnh Neck tà Wat (neck tà chùa) Khi đến các sóccủa người Khmer vùng ĐBSCL, chúng ta bắt gặp rất nhiều thala (ngôi nhà nhỏdựng ở ngã ba đường để mọi người nghỉ ngơi và tránh mưa, nắng), ở đây thường cómiếu cúng Neck tà
Văn nghệ truyền thống: Trên cơ sở kế thừa những yếu tố văn hóa cổ rực rỡ,
văn hóa Khmer có sự giao lưu, tiếp xúc với văn hóa của người Kinh và người Hoacùng định cư trên vùng đất này Nền văn học nghệ thuật của người Khmer Nam Bộrất phong phú, đa dạng, nó thể hiện một cách duyên dáng nhưng tình cảm tế nhị,những khía cạnh thâm thúy của cuộc sống, tính vô tư, dí dỏm và yêu đời Với thểloại dân gian, khi người dân ước muốn một điều gì quá khả năng của mình thì họthường cầu xin Phật trời độ trì, giúp đỡ Nên, tín ngưỡng Phật giáo đã đóng góp rấtnhiều cho kho tàng văn học dân gian của người Khmer Nam Bộ
Nghệ thuật sân khấu bao gồm: Sân khấu cổ điển Rôbăm và kịch hát Dù kê
Ở sân khấu Rôbăm với nghệ thuật tổng hợp: Múa, hát, nói, kịch câm, mặt nạ…Trong nội dung vở diễn của Rôbăm đều có sự tham gia của các thần linh và đa sốđều được cấu trúc theo hai tuyến nhân vật biểu hiện cho hai loại người trong xã hộithiện và ác, chánh và tà Sân khấu Dù kê là một loại hình ca nhạc kịch truyền thốngcủa người Khmer Nam Bộ Dù kê xuất hiện trong xã hội Việt Nam đã chịu ảnhhưởng của nền kinh tế tư bản phương Tây Câu chuyện trên sân khấu Dù kê lànhững câu chuyện dân gian, thần thoại của dân tộc Khmer và các dân tộc khác,
Trang 32thậm chí là của nước ngoài Nhưng bao giờ các tuồng tích ấy cũng xoay quanh chủ
đề “ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”
Nghệ thuật thủ công và làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống:
người dân Khmer có hoạt động kinh tế chủ yếu từ nông nghiệp, thời gian nông nhàn
họ còn thực hiện các công việc phụ thêm: dệt chiếu, làm bánh, làm khô,… Cùng với
sự biến chuyển của nền kinh tế - xã hội, những nghề phụ nay đã thành nghề chính,nay dần trở thành những làng nghề truyền thống mang lại lợi ích kinh tế cho ngườidân cũng như sản phẩm du lịch văn hóa của vùng đồng bào Khmer đông nhất nhìvùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.3.4 Hoạt động phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ
Sóc Trăng và Trà Vinh là hai địa phương có đông đồng bào Khmer sinhsống Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, việc phát triển du lịch từ tài nguyên dulịch văn hóa Khmer thì tỉnh Trà Vinh chưa làm được điều này Cả nước ta và phầnlớn du khách nước ngoài tìm đến văn hóa Khmer Nam bộ chỉ tại tỉnh Sóc Trăng vớicác điểm du lịch như: chùa Kh’leang, chùa Chén Kiểu, đặc biệt là Chùa Dơi Hoạtđộng du lịch của du khách chỉ dừng lại ở hoạt động tham quan kiến trúc các chùaKhmer tại Sóc Trăng Trong khi, như tác giả đã đề cập ở trên thì tài nguyên văn hóaKhmer còn rất nhiều và hầu hết các yếu tố ấy đều có tiềm năng về du lịch rất lớn
Trong quá trình khảo sát và làm việc tại các điểm tài nguyên văn hóa Khmertại Trà Vinh và Sóc Trăng, tác giả hoàn toàn tin tưởng vào khả năng phát triển dulịch của các yếu tố văn hóa Khmer trong thời gian sắp tới Thứ nhất, tiềm năng sẵn
có nhưng chưa được khai thác đúng mức Thứ hai, nguồn nhân lực am hiểu về vănhóa Khmer sẵn có từ cả hai địa phương Thứ ba, phát triển du lịch dựa trên tiềmnăng sẵn có và tính đặc thù của địa phương đang là mục tiêu chung của ngành dulịch Việt Nam Thứ tư, chính quyền địa phương đã và đang có những bước chuyểnmình đầu tư kích cầu cho du lịch tỉnh nhà Thứ năm, cơ sở hạ tầng giao thông vàdịch vụ hỗ trợ đang được các đơn vị liên kết đầu tư phát triển Việc còn lại của địaphương là xây dựng chiến lược kinh doanh và phát triển du lịch tỉnh nhà theo địnhhướng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ
Trang 331.4 Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa nói chung và văn hóa Khmer nói riêng tại Việt Nam và trong khu vực
1.4.1 Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa trong khu vực
Kinh nghiệm của ngành du lịch Trung Quốc: Tại Cố Cung: khu du lịch có
khuôn viên rộng lớn, quãng đường từ cổng vào đến cổng ra là 7 km, nhưng không
sử dụng bất cứ một phương tiện giao thông nào nhằm bảo vệ di sản Tại các cungtham quan cũng chỉ cho khách đứng ngoài nhìn vào nhằm tránh hư hại di tích Về sốlượng khách tham quan Tử Cấm Thành được kiểm soát để giảm thiểu tác động tiêucực đến di sản Về tổ chức quản lý, Ban quản lý Nhà cổ chịu trách nhiệm đặc biệtcho việc bảo vệ và quản lý thực hiện khai thác du lịch trên nguyên tắc sử dụng cáctài nguyên luôn kết hợp với bảo vệ, thống nhất lợi ích xã hội, lợi ích môi trường vàlợi ích kinh tế, đảm bảo tính bền vững trong khai thác du lịch (Nguyễn Thị ThốngNhất, 2016)
Điểm tham quan di tích Di Hòa Viên: Những chương trình bảo tồn được thựchiện đều sử dụng vật liệu kỹ thuật phù hợp với thiết kế gốc ban đầu để đảm bảo tínhxác thực Nguồn vốn để đầu tư cho bảo tồn chủ yếu là từ tiền bán vé đối với cáccông trình cần tôn tạo ở mức độ nhỏ, ở mức độ lớn được thực hiện thông qua các dự
án với sự phê duyệt của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và được thực hiện bởingân sách Nhà nước Ngoài ra, quanh công trình hạn chế xây dựng làm mất vẻ đẹp
mỹ quan Nhân viên tại khu du lịch chủ yếu là cư dân địa phương, 30% lực lượnghướng dẫn viên, đội ngũ này luôn được bổ sung, cập nhật kiến thức để nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ Người dân được bán hàng trong khu du lịch vàkhuyến khích bán đảm bảo chất lượng hàng hóa Nếu điểm bán hàng nào khôngthực hiện theo đúng quy định sẽ bị phạt hoặc bị cấm kinh doanh, bị treo biển vàngtrước cửa hàng, ngoài ra người bán hàng không được chèo kéo khách hàng, épkhách mua hàng (Nguyễn Thị Thống Nhất, 2016)
Kinh nghiệm của ngành du lịch Thái Lan: Di sản văn hóa thế giới - Thành
phố lịch sử Ayutthaya (là thành phố cổ được khôi phục lại từ phế tích nhưng vẫngiữ được tính nguyên trạng của di sản): Việc trùng tu tôn tạo di sản được quan tâmđúng mức và sử dụng nguồn ngân sách từ chính phủ Thái Lan Môi trường đượcquan tâm bảo vệ, du khách chỉ được phép sử dụng phương tiện thô sơ đi lại trong
Trang 34khu di sản Hoạt động truyền thông được chú trọng, tăng cường nhận thức của cộngđồng, góp phần giữ gìn di sản Từng loại tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân vănđược xếp hạng theo 5 mức dựa vào tiềm năng phát triển du lịch, mức tài nguyên cótiềm năng phát triển du lịch nhất và mức tài nguyên có ít tiềm năng phát triển dulịch nhất Việc xác định tiềm năng dựa trên các chỉ số: số lượng khách (trong nước
và quốc tế), tài nguyên hiện có, trang thiết bị phục vụ cho du khách như lưu trú, nhàhàng, Chính phủ đưa ra chính sách phát triển và xúc tiến du lịch, chú trọng đếnbảo tồn và phục hồi nghệ thuật, văn hóa, tài nguyên du lịch song song với việc bảo
vệ môi trường, ưu tiên phát triển du lịch bền vững (Nguyễn Thị Thống Nhất, 2016)
Kinh nghiệm của ngành du lịch Hàn Quốc: Cung Changdeokgung (một trong
năm cung vĩ đại được vua của Triều Tiên xây dựng): chú trọng khai thác các tàinguyên văn hóa vật thể Trong quá trình khai thác luôn chú trọng đến hoạt độngtruyền thông về di sản, giáo dục để tăng cường nhận thức của cộng đồng về tàinguyên nhân văn Đưa ra các quy định về thời gian hoạt động của di sản (mở cửacác ngày trong tuần, trừ thứ hai) và hạn chế số người tham quan trong một lượt.Quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên (Nguyễn Thị Thống Nhất,2016)
Kinh nghiệm của ngành du lịch Campuchia: Theo Điền Gia Dũng (2011), tại
các khu đền Angkor - quần thể văn hóa nổi tiếng nhất của Campuchia, hầu nhưkhông có nạn chèo kéo, ăn xin, chặt chém du khách Người bán hàng rong được bốtrí vào một khu vực nhất định và chỉ được bán hàng ở đó Những người ăn xin đượchướng dẫn và giúp đỡ để trở thành các nhạc công chơi đàn và các nhạc phẩm củacác quốc gia tại một khu của Khu du lịch Mặt khác, hàng hóa ở Campuchia đượcniêm yết bằng USD, tiền Ria hoặc tiền Đồng Đặc biệt, khách hàng có thể trả giáthoải mái với tiêu chí “thuận mua vừa bán”, người bán hàng vui vẻ và chào tạm biệt.Campuchia chỉ có mỗi cao nguyên Thansur Bokor là phức hợp nghỉ dưỡng và giảitrí cao cấp nhưng giá rẻ hay Bokor sang trọng, vẫn cho dân và khách lẻ vào thamquan mà không hề thu phí Đến Siem Reap, vé ăn buffet và xem ca múa cung đìnhKhmer có giá rẻ như một bữa ăn thường ở Việt Nam
Ba thành phố Phnom Penh, Siem Riep và Sihanoukville được Campuchiaquy hoạch để phát triển du lịch văn hoá và tự nhiên Chính vì thế, các khách sạn
Trang 35quanh khu Angkor ở Siem Riep không được phép cao quá 3 tầng, bất kể đó là kháchsạn 4 sao hay 5 sao Ngoài ra, tất cả các phố mặt tiền đều được quy hoạch tổng thể
và tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn về kiến trúc, chỉ giới xây dựng Các tuyến phố
cổ, phố cũ nằm trong khu vực bảo tồn và nhà phải sơn cùng một màu Song song
đó, 10 hòn đảo trong vịnh Sihanoukville cũng đã được Campuchia cho các doanhnghiệp lớn của Mỹ, Hong Kong, Anh thuê để phát triển du lịch Tuy nhiên, Chínhphủ Campuchia ra điều kiện, nhà đầu tư chỉ được làm hồi sinh Sihanoukville - điểmnghỉ dưỡng cao cấp của các quan chức thuộc địa Pháp hồi cuối thế kỷ XIX – đầu thế
kỷ XX chứ không được biến Sihanoukville thành thành phố mới
Từ năm 2003, khách vào đền Angkor Wat chỉ được tối đa 300 khách mỗilượt và thời gian tham quan chỉ kéo dài tối đa 2 giờ đồng hồ Đến nay, các biệnpháp hạn chế khách vẫn tiếp tục được nghiên cứu và đề xuất để đối phó với nhu cầutham quan không ngừng tăng lên hằng năm Việc phát triển các khu du lịch biển tạicác hòn đảo và thị trấn Kép thuộc Sihanoukville ngoài mục đích khai thác tàinguyên du lịch biển còn nằm trong chủ trương giản khách khỏi Angkor, hướngkhách sử dụng những sản phẩm du lịch khác để giảm sức ép cho di sản
Về mức vé tham quan Angkor cũng là một điểm đặc biệt Giá vé tham quankhông thay đổi và Giá các dịch vụ khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, hướng dẫnviên… chỉ có giảm nhưng chất lượng không giảm Vé chỉ bán cho khách quốc tếcòn khách nội địa được miễn phí Họ quan niệm rằng, di sản là của cha ông để lại vàcon cháu được quyền thụ hưởng bình đẳng và quyền được biểu biết về những gì chaông đã làm nên Với khách quốc tế, giá vé được phân định theo thời gian thamquan: 1 ngày là 20 USD, 2 ngày là 40 USD, 3 ngày là 60 USD và 60 USD cũng làmức giá tối đa áp dụng cho cả tuần hay cả tháng Mức giá này thể hiện quan niệm:nếu bạn yêu Angkor đến mức thăm nó tới 3 ngày liền chưa chán thì bạn được miễnphí cho tất cả những ngày tham quan còn lại tại đây Cách làm này không chỉ tạotâm lý được tiếp đón của du khách mà còn kích thích du khách ham muốn khámphá, tìm hiểu sâu hơn về quần thể di tích vĩ đại này Khách càng tìm hiểu sâu, nềnvăn hoá - lịch sử Campuchia càng được quảng bá rộng và đó là cách quảng bá, xúctiến tại chỗ tốt và hiệu quả nhất
Trang 36Chính phủ Campuchia cũng thực hiện một loạt các chính sách về du lịch như
tổ chức hàng loạt chương trình quảng bá, xúc tiến hướng tới các tỉnh thành trọngđiểm có lượng khách tới Campuchia đông tại các quốc gia châu Á, Âu, Mỹ; cảithiện hệ thống đường sá, phát triển nhiều điểm du lịch sinh thái tại các tỉnh miềnsâu, miền xa phía Bắc; đơn giản hoá thủ tục xuất nhập cảnh như cấp visa ngay tạicác cửa khẩu, sân bay, miễn visa cho một số quốc gia; bố trí cảnh sát du lịch tại tất
cả các điểm du lịch… Tất cả những chính sách này đã tạo ra hình ảnh mới về mộtCampuchia thân thiện, cởi mở, sẵn sàng chào đón và cực kỳ chuyên nghiệp Đặcbiệt, những hướng dẫn viên được hành nghề ở đây đều phải trải qua những khoá đàotạo bài bản từ chính UNESCO hoặc những địa chỉ dạy nghề có uy tín đã được Nhànước thừa nhận, nên giá thuê hướng dẫn viên không hề rẻ, tối thiểu là 30USD/ngày
Tóm lại, bí quyết của Campuchia trong kinh doanh du lịch là: Khâu quản lýđược thống nhất từ trung ương đến địa phương, tuy nhiên quan trọng hơn cả phải là
ý thức của người dân Chính quyền xây dựng một bộ máy điều hành các hoạt động
du lịch khá chuyên nghiệp và khép kín, từ việc bảo vệ rừng, tôn tạo di tích, tổ chứcbiểu diễn văn hóa, đến bộ phận cảnh sát du lịch bảo vệ an ninh cho du khách, đàotạo trình độ nhân viên dựa trên nền tảng ngoại ngữ Vấn đề bảo tồn di sản để pháttriển du lịch bền vững chỉ là một trong những quan điểm du lịch, chính sách du lịchhiệu quả của Campuchia Việc quảng bá du khách biết đến Campuchia chủ yếu quahình thức quảng cáo truyền miệng
Từ cách làm du lịch của các quốc gia Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc vàCampuchia, Việt Nam chúng ta cần rút ra những bài học kinh nghiệm cho hoạtđộng quản lý và kinh doanh du lịch văn hóa:
Thứ nhất, Nhà nước cần ban hành hệ thống pháp luật cho ngành du lịch đểchuẩn hóa các hoạt động du lịch bằng hệ thống nguyên tắc, tiêu chuẩn, khung pháp
lý và quy hoạch các vùng và địa phương; tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phươngtrong việc khai thác, bảo vệ và tôn tạo các tài nguyên du lịch
Thứ hai, thực hiện phân loại, đánh giá, xếp hạng các tài nguyên; khai thácnhững yếu tố độc đáo trong văn hóa để phục vụ cho việc phát triển du lịch và phâncông trách nhiệm cho cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc khai thác và tôn tạo
Trang 37Thứ ba, địa phương cần tăng cường nhận thức của cộng đồng, của khách dulịch về giá trị tài nguyên và chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ tư, các nhà làm du lịch cần xây dựng chiến lược maketing hiệu quả; chútrọng thực hiện hoạt động liên kết giữa ngành du lịch và các ngành khác, hợp tácquốc tế về du lịch với các nước trong khu vực và thế giới
Thứ năm, cân nhắc và lập kế hoạch trong việc sử dụng doanh thu từ việc bán
vé tham quan cho việc giữ gìn, tôn tạo và bảo vệ các di sản, tài nguyên nhân văn
Có chính sách bán vé phù hợp với từng đối tượng khách tham quan
Thứ sáu, ban hành nội quy về việc hạn chế sử dụng phương tiện giao thông
đi lại trong khu di sản hoặc các biện pháp hạn chế số người trong 1 lượt tham quan
Thứ bảy, Nhà nước thành lập và ban hành quy chế làm việc cho đội ngũ
“cảnh sát du lịch” nhằm giúp đỡ và hỗ trợ khách du lịch khi cần thiết, bên cạnh đó,đội ngũ này còn tạo tâm lý an toàn cho du khách
Kinh nghiệm cuối cùng và xem là quan trọng nhất chính là việc đồng bộ suynghĩ và hành động của cộng đồng vì mục tiêu phát triển du lịch bền vững
1.4.2 Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa ở Việt Nam
Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch phố cổ Hội An: Tạo hoạt động du
lịch phụ trợ đi kèm với các sản phẩm du lịch chính: “Đêm phố cổ”, bán vé chokhách tham quan phố cổ vào ban đêm, tổ chức khu phố đêm, đêm rằm phố cổ, dulịch thưởng ngoạn nghề đánh bắt cá trên sông; Đặc biệt, khai thác tour du lịch mùanước lũ, tăng thêm số ngày không có tiếng động cơ cũng như tổ chức tốt các sự kiệnvăn hóa - du lịch trên địa bàn Chú trọng thực hiện xã hội hóa, giáo dục cộng đồngthông qua các chương trình có quy mô lớn như hoạt động giao lưu, lễ hội, triển lãm,xuất bản ấn phẩm, làm phim tài liệu, tham gia hội chợ,
Thành lập Trung tâm bảo tồn di sản Văn hóa Hội An, làm tham mưu tronglĩnh vực nghiên cứu, bảo tồn, hợp tác quốc tế và phát huy giá trị của di sản Thànhlập Văn phòng tư vấn trùng tu di tích và thực hiện quản lý di sản văn hóa Hội Anbằng chương trình phần mềm tin học Đưa ra quy định về việc sửa chữa, nâng cấp,xây dựng trong khu phố cổ phải có giấy phép, đảm bảo nguyên tắc trùng tu di tích,thậm chí không được xây dựng khách sạn trong khu phố cổ, không được sơn vôitường hay lát gạch men trên nền nhà, chiều cao mỗi nhà phải tuân thủ theo quy
Trang 38định Tất cả vì một mục đích “bảo tồn yếu tố gốc” cho tài nguyên (Nguyễn ThịThống Nhất, 2016).
Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch cố đô Huế: Từ Cổng thông tin điện
tử Thừa Thiên Huế, tác giả thu thập được những kinh nghiệm quản lý và khai thác
du lịch tại Cố đô Huế: Nhiều đơn vị, ban, ngành liên quan đến công việc quản lý vàbảo vệ di sản, nhưng lại thiếu sự phối hợp và điều phối chung, cũng như chưa xácđịnh được những ưu tiên về bảo tồn và phát triển mang tính chiến lược Sự phối hợpthiếu đồng bộ giữa cơ quan, ban ngành quản lý liên quan; thiếu các công cụ và trangthiết bị hiện đại phục vụ cho công việc quản lý khu di sản Các đơn vị, cá nhân cóthuyền du lịch tham gia phục vụ hoạt động du lịch biểu diễn ca Huế trên sôngHương, kích thích sự tham quan tìm hiểu của du khách Tuy nhiên, hoạt động nàyđược du khách đánh giá là giá cả chưa phải chăng, thái độ phục vụ chưa tốt và chưanhiệt tình Ẩm thực Huế cũng là một sản phẩm văn hóa tạo ấn tượng tốt đối với dukhách khi đến Huế với nét đặc trưng trong ẩm thực cung đình, ẩm thực đường phốhay sự kết hợp giữa ẩm thực với ca múa nhạc Thực tế đáng buồn về vấn đề chèokéo du khách của một bộ phận số ít người bán hàng rong, nhà vệ sinh không sạch sẽhoặc thiếu nhà vệ sinh cũng là một điểm trừ cho ngành du lịch của cố đô
Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa Khmer tại tỉnh Sóc Trăng:
Các tuyến quốc lộ liên tỉnh đi qua địa bàn có hạ tầng khá tốt Tỉnh Sóc Trăng chỉcách sân bay Cần Thơ hơn 60 km Hệ thống đường thủy tuyến Trần Đề - Côn Đảovận hành khá tốt Tuy nhiên, hiện ở Sóc Trăng chưa có khách sạn cao cấp, cơ sở vậtchất nhiều nơi chưa tương xứng với du khách (Hoài Thu, 2017)
Lễ hội Ok-om-boc, Đua ghe ngo đã được nâng cấp thành lễ hội quốc gia, tổchức 2 năm một lần Sóc Trăng còn nghiên cứu tổ chức Lễ hội bánh Pía, lễ hội Búnnước lèo… để có những bước đột phá mới thu hút du khách Các lễ hội trong tỉnhcũng sẽ được tổ chức lồng ghép với một số hoạt động thường xuyên để giới thiệuđến du khách những nét nghệ thuật kiến trúc, những hoạt động văn hóa, thể thao, camúa nhạc truyền thống độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer, dân tộc Hoa Đó làkiến trúc đình, chùa, nghệ thuật sân khấu rôbăm, Dù kê, Múa trống sa dăm; lễ hộithả đèn nước, lễ cúng trăng, các làng nghề bánh pía, vẽ tranh trên kiếng, đan lát, dệtchiếu, cốm dẹp… Các ngành, địa phương tuyên truyền, vận động nâng cao nhận
Trang 39thức của người dân, tạo điều kiện cho người dân tham gia mô hình du lịch cộngđồng, chủ yếu là mô hình homestay Một số xã cù lao, nông thôn, vùng đồng bàodân tộc Khmer, dân tộc Hoa trong tỉnh là những điểm đến được đầu tư xây dựng môhình du lịch này Thế mạnh chính của ngành du lịch Sóc Trăng nói chung và du lịchvăn hóa Khmer nói riêng đó là tài nguyên văn hóa đặc thù, sự quan tâm của lãnhđạo tỉnh và vị trí ở giữa vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Trúc Giang, 2015).
Trang 40Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VĂN HÓA KHMER NAM BỘ TẠI TRÀ VINH2.1 Tổng quan về Trà Vinh và du lịch tỉnh Trà Vinh
2.1.1 Tổng quan về Trà Vinh
Trà Vinh là một tỉnh nằm ven biển, có đường ranh giới tiếp giáp với các tỉnhBến Tre, Vĩnh Long và Sóc Trăng; một tỉnh đồng bằng nằm cuối dòng sông Tiềnhiền hòa Tỉnh Trà Vinh được hình thành từ năm 1900, trải qua chiều dài lịch sử vớinhiều biến động, việc chia tách địa giới và thay đổi tên gọi Đến năm 1992, tỉnh CửuLong tách thành hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long Từ tháng 10/2016, đơn vị hànhchính của tỉnh Trà Vinh gồm thành phố Trà Vinh, thị xã Duyên Hải và 07 huyện:huyện Châu Thành, huyện Càng Long, huyện Tiểu Cần, huyện Cầu Kè, huyện CầuNgang, huyện Trà Cú, huyện Duyên Hải Trà Vinh là một tỉnh nhỏ thuộc khu vựcmiền Tây Nam bộ với nhiều ưu đãi về thiên nhiên, sự nồng ấm hiếu khách củangười dân 3 dân tộc, trong đó tổng dân số người Khmer chiếm 2/3 tổng dân số toàntỉnh (Kinh, Hoa)
Từ thời thuộc Pháp, thị xã Trà Vinh (nay là Thành phố Trà Vinh) đã đượcmệnh danh là “đô thị cây xanh” với những tán cây dầu, cây sao cổ thụ đã làm nênnét riêng cho thương hiệu thành phố Trà Vinh ngày nay Bên cạnh đó, thành phốTrà Vinh là đơn vị duy nhất của tỉnh có các điểm tham quan du lịch tập trung khánhiều so với các đơn vị hành chính khác, được sự hỗ trợ từ các đơn vị hành chínhNhà nước và các đơn vị doanh nghiệp Đây cũng là một tiền đề cho sự phát triểntrong tương lai của thành phố trẻ này, đặc biệt là trên lĩnh vực du lịch Với các dịch
vụ ngày càng được cải thiện, nguồn nhân lực đã và đang được chuẩn hóa, đườnggiao thông nối các điểm du lịch đang được đầu tư và dần hoàn thiện,… Tất cả nhưđang hứa hẹn cho sự xuất hiện của một điểm du lịch mới trên bản đồ du lịch củaViệt Nam, của du khách trong và ngoài nước
Từ đó cho thấy, Trà Vinh có điều kiện thuận lợi cho việc liên kết các tỉnhBến Tre, Sóc Trăng và Cần Thơ tạo tuyến điểm du lịch khép kín bao gồm: du lịchsông nước miệt vườn – tìm hiểu đời sống con người và nét văn hóa đặc biệt củangười dân Nam bộ, đặc biệt là văn hóa của người Khmer Nam bộ Tỉnh có thểquảng bá hình ảnh du lịch Trà Vinh tại các cửa ngõ ra vào tỉnh, cửa biển Định An