1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Tính khoa học và trách nhiệm xã hội trong hoạch định chính sách công tại Đà Nẵng

111 966 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Khoa Học Và Trách Nhiệm Xã Hội Trong Hoạch Định Chính Sách Công Tại Đà Nẵng
Trường học Trường Đại Học Đà Nẵng
Thể loại Luận văn
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 375 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của một quốc gia. Nó là công cụ thiết yếu để nhà nước lãnh đạo điều hành đất nước, vận hành đời sống xã hội theo mục tiêu đặt ra. Các chính sách vì thế liên quan đến vận mệnh, đời sống của hầu hết mọi người trong xã hội. Do đó, ngay từ khi hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp, các đảng phái, chủ thể chính trị đã rất chú trọng việc ra các chính sách nhằm hiện thực hóa lợi ích của giai cấp đảng phái mình. Chính sách trở thành một phương thức lãnh đạo rất được chú trọng ở mọi chế độ xã hội. Do vậy, ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, các vấn đề về chính sách đã được quan tâm nghiên cứu. Dưới hình thức này hoặc hình thức khác nó xuất hiện cùng với sự ra đời và tồn tại của các nhà hoạch định chính sách. Ngày nay, các phương thức lãnh đạo điều hành hiện đại và tinh vi hơn nhiều song không thể thay thế việc ban hành, thực thi các chính sách. Và sự đầu tư nghiên cứu về chính sách công ngày càng thịnh hành, đặc biệt ở các nước phát triển- nơi có trình độ công nghệ chính trị cao. Không thể phủ nhận sự đóng góp của khoa học chính sách công vào công cuộc xây dựng, cải cách nền hành chính công ở các nước này với hy vọng tiến đến một nền hành chính phục vụ công nghệ hoạch định chính sách công hiện đại. Bên cạnh đó, các nước chậm và đang phát triển cũng tìm kiếm nguyên nhân, cơ hội trong việc kiện toàn quy trình hoạch định chính sách. Trong xu thế đó, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội ở các nước có Đảng Cộng sản cầm quyền, yêu cầu tối quan trọng và bức bách hiện nay là đổi mới cách thức hoạch định ban hành thực thi và giám sát chất lượng các quyết sách chính trị, cụ thể là các chính sách nhà nước trên mọi lĩnh vực. Tại Việt Nam, quá trình này đã diễn ra bắt đầu từ Đại hội VI- Đại hội đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến nay. Nhằm “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới, nhịêm vụ mới” phải đẩy mạnh nhiều việc: Xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách nền hành chính, tư pháp,... Trong đó có cải tạo, nâng cao chất lượng hiệu quả chính sách công và quá trình hoạch định. Theo đánh giá của một số chuyên gia nghiên cứu trên thế giới về lĩnh vực này, cho rằng: “Việt Nam đang đứng trước một số quyết định khó khăn do mới bắt đầu điều chỉnh để thích ứng với một thế giới mới. Các tiêu chí xếp hạng quốc tế cho thấy Việt Nam chưa thực sự cố gắng để tạo dựng một môi trường chính sách thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế. Do đó, mặc dù có các chỉ số tăng trưởng GDP và xuất khẩu cao, nhưng Việt Nam vẫn có một số tồn tại: các dự án đầu tư công lựa chọn kém, hệ thống tài chính yếu, năng lực quản lý và kỹ thuật ở nhiều công ty thấp và mất cân đối giữa các vùng, và những vấn đề này có thể kìm hãm sự phát triển bền vững của Việt Nam” [59]. Thực tế các khảo sát về hoạch định và thực thi chính sách công Việt Nam cũng cho thấy, bên cạnh các thành tựu và tiến bộ to lớn trong việc hoạch định và triển khai chính sách đã góp phần nâng cao thế và lực của nước ta trong thời gian vừa qua, việc ban hành văn bản triển khai chính sách công, đặc biệt ở địa phương, còn nhiều khiếm khuyết, thể hiện nổi bật ở tính chưa ổn định, thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ. Trong các khảo sát gần đây về các địa phương, có thể thấy số lượng các văn bản pháp lý trái với chủ trương, đường lối, luật pháp của Trung ương, sự tuỳ tiện, tính kinh nghiệm chủ nghĩa, tính cục bộ địa phương, vẫn chưa khắc phục triệt để,... Có nhiều chính sách gây lãng phí lớn, hiệu quả kinh tế - xã hội thấp, làm hạn chế hoặc cản trở việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, thậm chí đi ngược lại lợi ích của nhân dân cho nên khó đi vào cuộc sống. Không ít trường hợp cách thức, biện pháp, chủ trương mà chính sách đề cập đã lạc hậu, không thể tồn tại ngay sau khi mới ban hành. Do đó, dưới góc độ thực thi quyền lực chính trị các chính sách đó không có hiệu lực.

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hay cản trở sựphát triển của một quốc gia Nó là công cụ thiết yếu để nhà nớc lãnh đạo điềuhành đất nớc, vận hành đời sống xã hội theo mục tiêu đặt ra Các chính sáchvì thế liên quan đến vận mệnh, đời sống của hầu hết mọi ngời trong xã hội

Do đó, ngay từ khi hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp, các đảng phái,chủ thể chính trị đã rất chú trọng việc ra các chính sách nhằm hiện thực hóalợi ích của giai cấp đảng phái mình Chính sách trở thành một phơng thứclãnh đạo rất đợc chú trọng ở mọi chế độ xã hội Do vậy, ngay từ thời Hy Lạp

cổ đại, các vấn đề về chính sách đã đợc quan tâm nghiên cứu Dới hình thứcnày hoặc hình thức khác nó xuất hiện cùng với sự ra đời và tồn tại của các nhàhoạch định chính sách

Ngày nay, các phơng thức lãnh đạo điều hành hiện đại và tinh vi hơnnhiều song không thể thay thế việc ban hành, thực thi các chính sách Và sự

đầu t nghiên cứu về chính sách công ngày càng thịnh hành, đặc biệt ở các nớcphát triển- nơi có trình độ công nghệ chính trị cao Không thể phủ nhận sự

đóng góp của khoa học chính sách công vào công cuộc xây dựng, cải cách

nền hành chính công ở các nớc này với hy vọng tiến đến một nền hành chính phục vụ công nghệ hoạch định chính sách công hiện đại Bên cạnh đó, các n-

ớc chậm và đang phát triển cũng tìm kiếm nguyên nhân, cơ hội trong việckiện toàn quy trình hoạch định chính sách

Trong xu thế đó, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội ở các nớc có

Đảng Cộng sản cầm quyền, yêu cầu tối quan trọng và bức bách hiện nay là

đổi mới cách thức hoạch định ban hành thực thi và giám sát chất lợng cácquyết sách chính trị, cụ thể là các chính sách nhà nớc trên mọi lĩnh vực TạiViệt Nam, quá trình này đã diễn ra bắt đầu từ Đại hội VI- Đại hội đổi mới của

Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến nay Nhằm “nâng cao năng lực lãnh đạo,sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới, nhịêm vụ mới” phải đẩy mạnhnhiều việc: Xây dựng Nhà nớc pháp quyền, cải cách nền hành chính, t pháp, Trong đó có cải tạo, nâng cao chất lợng hiệu quả chính sách công và quá trìnhhoạch định Theo đánh giá của một số chuyên gia nghiên cứu trên thế giới vềlĩnh vực này, cho rằng:

“Việt Nam đang đứng trớc một số quyết định khó khăn do mới bắt đầu

điều chỉnh để thích ứng với một thế giới mới Các tiêu chí xếp hạng quốc tếcho thấy Việt Nam cha thực sự cố gắng để tạo dựng một môi trờng chính sáchthuận lợi cho tăng trởng kinh tế Do đó, mặc dù có các chỉ số tăng trởng GDP

Trang 2

và xuất khẩu cao, nhng Việt Nam vẫn có một số tồn tại: các dự án đầu t cônglựa chọn kém, hệ thống tài chính yếu, năng lực quản lý và kỹ thuật ở nhiềucông ty thấp và mất cân đối giữa các vùng, và những vấn đề này có thể kìmhãm sự phát triển bền vững của Việt Nam” [59].

Thực tế các khảo sát về hoạch định và thực thi chính sách công ViệtNam cũng cho thấy, bên cạnh các thành tựu và tiến bộ to lớn trong việc hoạch

định và triển khai chính sách đã góp phần nâng cao thế và lực của nớc tatrong thời gian vừa qua, việc ban hành văn bản triển khai chính sách công,

đặc biệt ở địa phơng, còn nhiều khiếm khuyết, thể hiện nổi bật ở tính cha ổn

định, thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ Trong các khảo sát gần đây về các địaphơng, có thể thấy số lợng các văn bản pháp lý trái với chủ trơng, đờng lối,luật pháp của Trung ơng, sự tuỳ tiện, tính kinh nghiệm chủ nghĩa, tính cục bộ

địa phơng, vẫn cha khắc phục triệt để, Có nhiều chính sách gây lãng phílớn, hiệu quả kinh tế - xã hội thấp, làm hạn chế hoặc cản trở việc thực hiệncác mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nớc, địa phơng, thậm chí đi ngợc lại lợiích của nhân dân cho nên khó đi vào cuộc sống Không ít trờng hợp cáchthức, biện pháp, chủ trơng mà chính sách đề cập đã lạc hậu, không thể tồn tạingay sau khi mới ban hành Do đó, dới góc độ thực thi quyền lực chính trị cácchính sách đó không có hiệu lực

Lý giải và góp phần tháo gỡ những hạn chế nêu trên, từ lý luận đến thựctiễn đã có nhiều hớng tiếp cận, đa ra các biện pháp ở góc độ kinh tế, hànhchính, xã hội, nhằm cải thiện tình hình Song với cách tiếp cận chính trị họchiện đại, các nghiên cứu chính sách công đáng chú ý gần đây cho thấy cầnphải xem xét vấn đề này ở một khía cạnh rất cơ bản khác Đó là xem xét quátrình hoạch định và triển khai chính sách công với t cách là một quá trìnhchính trị Trong quá trình này, hai vấn đề nổi bật đợc các nghiên cứu đề cập

đến nhiều là thái độ tôn trọng tính khoa học và trách nhiệm xã hội của chủ

thể hoạch định chính sách công

Vậy thái độ tôn trọng tính khoa học và nhận thức trách nhiệm xã hộitrong hoạch định chính sách công là gì, có vai trò ra sao đối với việc nâng caochất lợng hiệu quả chính sách trong đời sống chính trị - xã hội đơng đại? Trong các nghiên cứu về quá trình chính sách công, các nhà khoa học đãchỉ ra hai khía cạnh tơng đối độc lập: khía cạnh kỹ thuật (có tính khách quan,khoa học) và khía cạnh chính trị (có tính chủ quan, phản ánh quan điểm chínhtrị, hệ giá trị ) của các giai đoạn trong chu trình chính sách Một mặt, thái

độ tôn trọng tính khách quan, khoa học sẽ cho phép các nhà hoạch định chính

Trang 3

sách vợt khỏi cách nhìn nhận phiến diện, kinh nghiệm chủ nghĩa, xác định rõ

hơn các chi phí và lợi ích, cũng nh các khó khăn trong việc đa chính sách vào

cuộc sống, từ đó có đợc quyết tâm chính trị, kiên trì mục tiêu chính sáchcũng nh nâng cao tính ổn định, hiệu quả của chúng Mặt khác, chính sách -

do bản thân chúng đã thể hiện sự u tiên chính trị (việc dùng nguồn lực xã hội

để giải quyết vấn đề gì trong vô số các vấn đề của cuộc sống) phát sinh hàngngày không thể không chịu ảnh hởng của những ngời nắm giữ quyền lực, mụctiêu và hệ giá trị của họ, nhận thức về trách nhiệm (với t cách là vừa là công dânvừa là ngời đợc nhân dân ủy quyền - tức trách nhiệm xã hội) của họ

Hai khía cạnh trên có mối liên hệ mật thiết, bổ sung cho nhau một cách

rõ ràng để tạo nên sự ổn định, tính hiệu quả và tính hợp lòng dân của mọichính sách Quá trình chính sách công cũng có thể đợc xem xét phân tích từhai phơng diện tơng ứng

Nh vậy, hai phơng diện trên vừa là yêu cầu khách quan (tính khoa học)vừa là những ràng buộc mang tính pháp lý, lơng tri, tình cảm, đạo đức (tráchnhiệm xã hội) của chủ thể biểu hiện qua nhận thức, thái độ và hành vi chínhsách Nó bao quát những vấn đề về chuyên môn và phẩm chất chính trị củachủ thể; quyết định chất lợng, hiệu quả của bất cứ chính sách nào

Việc xác định đợc nguyên nhân chủ yếu của các yếu kém chính sách

-do thái độ không tôn trọng khoa học, tùy tiện hay -do thiếu trách nhiệm, vị kỷ

sẽ đem lại các gợi ý quan trọng cho việc hoàn thiện quá trình chính sách Từ

đó có cách nhìn nhận, có hớng phân tích, đánh giá chính sách công một cáchsát thực hơn, nhằm đề ra giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lợng hiệu quảchính sách công

Hơn nữa thái độ tôn trọng tính khoa học và tinh thần trách nhiệm xã hội vì dân vì nớc là những giá trị phải đợc hun đúc, xây dựng trong thời gian dài,

bằng nhiều biện pháp cả về giáo dục và bằng các quy định pháp lý

Tất cả những vấn đề bao gồm cả u điểm và hạn chế trong hoạch địnhchính sách công nói trên cũng thể hiện rõ nét ở Đà Nẵng Ngoài ra, còn nhiềuyếu tố khác có ảnh hởng quan trọng đến hiệu quả chính sách công, song dophạm vi của một luận văn, tôi chỉ khảo sát chủ yếu hai phơng diện này tronghoạch định chính sách công tại Thành phố Đà Nẵng

Với lý do đó chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề “Tính khoa học và trách nhiệm xã hội trong hoạch định chính sách công tại Đà Nẵng”.

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 4

Vấn đề chính sách và nghiên cứu chính sách dới các góc độ khác nhau

đã đợc bàn đến nhiều trên thế giới, các quốc gia phát triển, đặc biệt tập trung

ở các chuyên ngành: kinh tế, hành chính, xã hội ở Việt Nam, đây là lĩnh vựccòn khá mới mẻ Các công trình nghiên cứu nhỏ, rải rác trên các chuyên san,chuyên luận chỉ dừng ở mức độ khái quát, mô tả khái niệm, đặc điểm chínhsách công Nếu có điều kiện hơn, các nghiên cứu thờng đi sâu vào lĩnh vựcphân tích chính sách Tài liệu tham khảo về chính sách công dịch ra tiếng

Việt còn rất ít ỏi Công trình “Chính sách công ở Hoa Kỳ giai đoạn 2001” bao quát khá toàn diện về quá trình chính sách công với t cách một nội

1935-dung của hành chính học Ngoài ra Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý,

trong công trình “Hành chính công và quản lý hiệu quả của Chính phủ", phần

chính sách công đã đợc trình bày khá chi tiết về khái niệm, tính chất, nộidung, quy trình và các nhân tố ảnh hởng đến quy trình chính sách Tuy nhiên,chính sách công và quy trình hoạch định đợc xem xét với t cách một nội dungcủa hành chính công Tơng tự cách trình bày đó, “Hoạch định và phân tíchchính sách công” đã đề cập một cách toàn diện về chính sách công trong tính

hệ thống của nó ở các công trình này, chính sách công và quy trình hoạch

định, thực thi với t cách là đối tợng của khoa học hành chính Tuy nhiên nhìnchung, dới nhiều hình thức khác nhau, có thể nói chính sách công và nhữngvấn đề cơ bản của nó về mặt lý thuyết đã đợc giải quyết Và nh vậy, phần nàocũng gián tiếp đề cập vấn đề tính khoa học (yêu cầu các bớc của quy trình)cũng nh trách nhiệm xã hội (những tiêu chí của một chính sách tốt) của chủthể ban hành

Nghiên cứu chính sách công với t cách là đối tợng của khoa học chính

trị Từ năm 1991 có tài liệu “Tìm hiểu về khoa học chính sách công”, gần

nhất là năm 2002, có Đề tài Khoa học cấp Bộ của Viện Chính trị học- Học

viện CTGQ Hồ Chí Minh đã bàn về “Chính sách công và những vấn đề cơ bản chi phối việc hoạch định chính sách công ở Việt Nam” Đặc biệt là giáo

trình Chính sách công do Viện Khoa học Chính trị thuộc Học viện CTQG HồChí Minh sắp ấn hành đợc biên soạn trên cơ sở những nghiên cứu mới nhất vềchính sách công, gắn với việc hoàn thiện khoa học chính sách công và nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan ở Việt Nam hiện nay Đây là côngtrình nghiên cứu có tính chất tổng hợp bao quát toàn bộ các vấn đề cơ bản vềchính sách công Dù không có điều kịên đi sâu vào vấn đề thái độ coi trọngtính khoa học và trách nhiệm xã hội của chủ thể hoạch định song trong phần

đánh giá thực trạng, công trình đã đứng trên hai phơng diện đó để phân tích,

mổ xẻ vấn đề

Trang 5

Tóm lại, hầu hết các công trình nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay cha đi

sâu phân tích thực trạng, chỉ ra những nguyên nhân hạn chế trong hoạch địnhchính sách công ở phơng diện thiếu tôn trọng tính khoa học và trách nhiệm xãhội; cha đề xuất cơ chế để khắc phục, nâng cao chất lợng chính sách côngViệt Nam hiện nay

Song, do yêu cầu của thực tiễn đổi mới và hội nhập mạnh mẽ sâu rộng,

từ mấy năm trở lại đây nhận thức về khoa học chính sách công vẫn tiếp tụcthu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Việt Nam Đã có nhiều côngtrình, dự án nghiên cứu tiêu biểu có thể thấy là:

- Dự án Đào tạo và nghiên cứu chính sách công“ ” của Viện Khoa họcchính trị, trong đó có khảo sát ý kiến các cán bộ hoạch định chính sách ở địaphơng về chất lợng chính sách

- Tập hợp các báo cáo phát triển Việt Nam 2005 chuyên đề “Quản lý và

điều hành” của các nhà tài trợ cho Hội nghị nhóm t vấn các Nhà tài trợ Việt

Nam, Hà Nội ngày 1 và 2 tháng 12, năm 2004 nêu những vấn đề mang tínhthực tiễn về chính sách công trong sự vận động của nó tại Việt Nam ở khíacạnh tầm nhìn và quan hệ đối tác

- Kỷ yếu hội thảo “Nghiên cứu và đào tạo chính sách công ở Việt Nam của Viện Ngân hàng phát triển châu á” đi vào những vấn đề rất cơ bản của

khoa học và thực tiễn chính sách công Các bài viết chủ yếu đi sâu vào lý luận

và thực tiễn về công tác nghiên cứu, đào tạo và mối liên kết giữa chúng vớihoạch định chính sách tại Việt Nam có sự so sánh liên hệ với các nớc ở mộtnghĩa chung nhất, tài liệu này đề cập trực diện những vấn đề về tính khoa học,trách nhiệm của chủ thể

Đáng chú ý là kết quả thu đợc từ một cuộc khảo sát gần đây ở ba miềnBắc-Trung-Nam về hoạch định chính sách thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài,cho thấy:

- Các ý kiến trả lời đều cho rằng chất lợng hoạch định chính sách công thấp

- Cơ quan nghiên cứu (Viện, Trờng đại học, ) có vai trò rất nhỏ bé tronghoạch định chính sách công

- Các thể chế hiện còn yếu, đặc biệt là thể chế giám sát và đánh giáchính sách công

- Lợi ích cá nhân và lợi ích cục bộ có những tác động tiêu cực lên mụctiêu của chính sách

Ngoài ra, khi phân tích các chủ thể hoạch định và triển khai chính sáchcông, các nhà nghiên cứu theo trờng phái lý thuyết “Lựa chọn công cộng”

Trang 6

cũng cho rằng: Các chủ thể hoạch định chính sách công có thể không có tinhthần trách nhiệm, họ thờng có khuynh hớng tối đa hóa các ích lợi của bảnthân hay của nhóm, do vậy phải thông qua sự ràng buộc bằng các qui định,văn bản, nâng cao tính minh bạch, tạo ra các cơ chế giám sát rộng rãi và ít tốnkém để buộc họ phải làm tốt hơn Hơn thế nữa, một khi nhìn nhận đây làhiện thực khách quan, chúng ta hoàn toàn có thể thiết kế qui trình chính sáchtốt hơn để biến các động cơ cá nhân đó phục vụ mục đích chung một cáchhữu hiệu.

Nh vậy, dù chỉ ra đợc tầm quan trọng tiềm ẩn của chúng đối với chínhsách công và hoạch định chính sách công, ở Việt Nam cha có công trình nàonghiên cứu cụ thể về vấn đề thái độ tôn trọng tính khoa học và nhận thức xãhội trong các quá trình chính sách: về biểu hiện, mức độ, và tác động củachúng, đặc biệt là gắn với địa phơng, là cấp chính quyền còn ít đợc chú ý và

đã thể hiện rất nhiều yếu kém trầm trọng cần đợc khắc phục

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu thực trạng về thái độ tôn trọng tính khoa học và nhận thứcxã hội trong hoạch định chính sách công ở địa phơng Từ đó xem xét nguyênnhân của các khiếm khuyết để đánh giá mặt thành công, hạn chế của chínhsách công và hoạch định chính sách công ở địa phơng nhằm đề xuất một sốgiải pháp hoàn thiện quy trình, nâng cao hiệu quả tác động của chính sáchcông ở Đà Nẵng trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách công và các yếu tố ảnh ởng quy trình hoạch định chính sách công ở địa phơng

h Khảo sát chu trình hoạch định một số chính sách công ở Đà Nẵng, từ

đó có cơ sở để đề xuất các phơng hớng giải pháp khắc phục

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tinh thần khoa học, nhận thức

trách nhiệm xã hội của chủ thể hoạch định chính sách công

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Phạm vi: Chính sách công của Nhà nớc ở Đà Nẵng từ năm 1998 - 2006

qua khảo sát chính sách giải tỏa đất đai đền bù

Đối tợng: Thái độ tôn trọng tính khoa học và nhận thức trách nhiệm xã

hội của chủ thể hoạch định chính sách công ở thành phố Đà Nẵng

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

Trang 7

Lý luận: Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, lý

thuyết về khoa học chính sách công, lý luận văn hoá chính trị

Thực tiễn: Quá trình thực hiện chính sách công của Đảng và Nhà nớc ta

ở Đà Nẵng

Ngoài phơng pháp luận của CNDVBC và CNDVLS, đề tài sử dụng cácphơng pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, khảo sát văn bản kết hợp quan sátthực tiễn, điều tra qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu,

6 Đóng góp khoa học của luận văn

Lần đầu tiên luận chứng ở quy mô luận văn thạc sĩ một vấn đề cụ thể vềchính sách công gắn với thành phố Đà Nẵng

Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách công

và hoàn thiện quy trình chính sách công

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ngời nghiên cứu, tìmhiểu chính sách công ở địa phơng, bổ trợ cho các nhà hoạch định chính sáchcông ở địa phơng những hiểu biết nhất định về chính sách công và quy trìnhban hành

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn gồm có 3 chơng, 8 tiết

Trang 8

Chơng 1

Một số vấn đề lý luận về vai trò của tính khoa học

và tinh thần trách nhiệm xã hội trong hoạch định

chính sách công

1.1 Chính sách công và quy trình hoạch định chính sách công 1.1.1 Chính sách công

Là thuật ngữ ra đời khá muộn, gắn liền với sự thay đổi của bối cảnhchính trị thế giới Khoa học chính sách công có cách tiếp cận bắt đầu từ cácthể chế, cơ cấu tổ chức nhà nớc, thái độ và hành vi ứng xử của tổ chức và cánhân (khác với triết học chính trị), xem đó là những nhân tố chủ yếu khinghiên cứu sự tác động của chính trị (chính sách) tới đời sống kinh tế - xãhội Từ đó đã ra đời hàng loạt cách tiếp cận mới, đặt cơ sở nền tảng thúc đẩynghiên cứu chính sách công Các nghiên cứu tập trung vào những hành vi ứng

xử của các nhà lãnh đạo, khía cạnh tâm lý của quần chúng, nhà lãnh đạo cũng

nh các cử tri, khía cạnh bản chất dân tộc và tính toàn cầu, trong đời sốngchính trị - xã hội Trong đó, đặc biệt dành trọng tâm nghiên cứu cơ sở khoahọc của quy trình ban hành các chính sách công

Thực tế, từ đầu thế kỷ XX trở lại đây, chính sách của nhà nớc có ảnh ởng vô cùng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả các quốc gia Đốivới các nớc XHCN, Đảng Cộng sản cầm quyền, chính sách là công cụ chủyếu và trực tiếp để nhà nớc điều hành các mối quan hệ trong nền kinh tế nh:quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa nhà nớc với nhândân, Trong quan hệ quốc tế, vấn đề chính sách cũng luôn thu hút sự chú ýcủa các đối tác Do vậy, đã có những cuộc điều tra nghiên cứu đo đợc mức độquan ngại của các nhà doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau trên thếgiới về những thay đổi đột ngột của chính sách vĩ mô ở các quốc gia khác.Kết quả điều tra của W.B cho thấy hiện nay hầu hết trong số họ sống trongmối lo không dứt về sự thay đổi không đoán trớc đợc của chính sách bản địa

h-sẽ kéo theo sự đổ vỡ trong kinh doanh, làm giảm sút đầu t, hạn chế tăng trởng

và giảm lợi nhuận của các dự án phát triển

Tại Việt Nam, trong quá trình đổi mới, các nghiên cứu chính sách công

có vai trò hữu ích, quan trọng trong việc định hớng chiến lợc, xác định các vấn đề, thu thập thông tin và xây dựng luận cứ khoa học để hỗ trợ quá trình

hoạch định chính sách Nhu cầu về nghiên cứu chính sách công vì thế ngàycàng quan trọng Các chính sách cũng trở nên phức tạp hơn do mở rộng đối t-

Trang 9

ợng tác động, mang tính liên ngành, liên vùng, yêu cầu cao về khả năng dựbáo, khả năng cạnh tranh Nhận thức về tầm quan trọng, tính khoa học, lýluận của chính sách công vì thế là tiêu chí đầu tiên cần chú ý

Thực tế cũng cho thấy dù có chủ trơng đờng lối đúng nhng việc cụ thểhóa bằng chính sách mắc phải hạn chế hoặc chính sách không hiệu quả có khigây tác hại không kém chủ trơng đờng lối sai lầm Từ đó cho thấy trong bốicảnh hịên nay cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế - xã hội,chính trị, môi trờng mang tính khoa học làm căn cứ cho quá trình xây dựngchính sách, chiến lợc Hơn nữa điều đó phù hợp với xu thế phân quyền, traoquyền cho chính quyền địa phơng, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế, từng ngời dân để họ đồng thời tham gia vào thị trờng Do đó, cácchính sách phải tính đến tác động, phản ứng của nhiều đối tợng khác nhautrong nhiều hoàn cảnh khác nhau Cần nhận thức đúng tầm quan trọng của sự

phối hợp lực lợng nghiên cứu của các Viện, trờng, tổ chức phi chính phủ,

đoàn thể quần chúng, các tổ chức quốc tế với các Viện nghiên cứu chiến lợc

và chính sách trong hoạt động nghiên cứu nhằm tham mu t vấn cho Chính phủtrong việc hoạch định, ban hành Cho nên khoa học về chính sách công đang

là tâm điểm thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu chính trị đơng đại trên thếgiới cũng nh ở Việt Nam

Về mặt định nghĩa, chính sách công là vấn đề luôn gây nhiều tranh cãi.Bản thân chính sách công liên quan đến hầu hết mọi ngời nên càng có rấtnhiều cách hiểu về nó xuất phát từ ý đồ tiếp cận chính sách công của ngờinghiên cứu Theo kết quả nghiên cứu, đợc trình bày trong tài liệu về Khoa họcchính sách công của Viện Chính trị học thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minhsắp đợc hoàn tất và phát hành, hiện đang có sự phân loại định nghĩa chínhsách công theo các nhóm nh:

Với t cách nh là sản phẩm có mục đích của nhà nớc, chính sách công

đ-ợc xem là “tất cả những gì nhà nớc lựa chọn làm hoặc không làm” (ThomasDye) Hoặc ở góc độ cụ thể song có xu hớng khái quát, có định nghĩa nh sau:

“ Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nớc, đều có ảnh hởngtrực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” (B.Guy Peters) Haychính sách công đợc khẳng định với t cách một quá trình hành động, mộtcách ứng xử của chủ thể trớc thực tại khách quan: “Chính sách là một quátrình hành động có mục đích đợc theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trongviệc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” (J.Anderson) Dù diễn đạt khác đisong tinh thần chung của các định nghĩa vẫn xoay quanh hai đặc điểm quan

Trang 10

trọng của chính sách công là: tính hành động và tính mục đích ở cấp độ cộng

đồng

ở một số định nghĩa xem chính sách công nh một tập hợp các bớc giải

quyết những vấn đề công cộng, chính sách công là một quá trình gồm năm

giai đoạn: cảm nhận tình huống có vấn đề, xác định vấn đề, hình thành cácgiải pháp, xem xét các khía cạnh của các giải pháp, chọn một giải pháp rồithực hiện (John Dewey) Hay: Chính sách công là một quá trình ra quyết định

có tính sáng tạo bao gồm các bớc: tranh luận, đa ra các giải pháp, lựa chọn,

áp dụng - thực thi và kết thúc nh Harold Lasswell sau này đã định nghĩa Một cách định nghĩa khác dựa trên các khái niệm cơ bản (đầu vào,chuyển và xử lí thông tin, đầu ra) của lí thuyết hệ thống: “Chính sách công lànhững quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tínhchức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống, theo đó,chính sách công là một quá trình có tính hệ thống diễn ra theo sáu giai đoạn:khởi xớng, xem xét, lựa chọn, thực thi, đánh giá và kết thúc” (Garry Brewer

và Peter deLeon)

Ngoài ra, mang khuynh hớng chính trị rõ rệt, mức độ khái quát cao hơn,chính sách công đợc cắt nghĩa nh là một quá trình chính trị mà vấn đề thenchốt là sự tự đấu tranh vợt lên khẳng định chân giá trị của các ý thức hệ, các ttởng của chủ thể Với cái nhìn thiết thực của kinh tế học thì chính sách côngkhông có gì khác hơn là sự can thiệp của nhà nớc nhằm sửa chữa nhữngkhuyết tật của nền kinh tế thị trờng (lãng phí nguồn lực, thiếu hiệu quả, độcquyền, bất bình đẳng, các vấn đề an sinh- xã hội, an ninh, môi trờng, quốcphòng, quan hệ đối ngoại) mà tự nó thị trờng không thể khắc phục Đây chính

là cơ sở lí luận cho phơng pháp phân tích chính sách công xuất phát từ góc độChi phí - Lợi ích Tiếp nối các t tởng kinh điển, Edward M Gramlich năm

1981, cho rằng chính sách công là toàn bộ các chơng trình của nhà nớc (Phân

bổ các nguồn lực xã hội, Phân phối và ổn định) nhằm hai mục tiêu căn bản:cung cấp hàng hoá công cộng và cải thiện sự bất bình đẳng

Khác hoàn toàn với các cách định nghĩa chính sách công nói trên, hớngtiếp cận nghiên cứu chính sách công của lý thuyết Lựa chọn công cộng(Public Choice School) đã gây sự chú ý của giới khoa học chính trị trên thếgiới và gần đây là ở các nớc đang phát triển khi nó hoài nghi chính khả năngcan thiệp của nhà nớc, hoài nghi cả tính duy lí và công bằng của chính sáchcông Điều các tác giả này quan tâm nhất không phải là định nghĩa mà là việc

đa ra các giải pháp cho các vấn đề chính sách Vì thế nhận thức của họ vềchính sách công rất khác Họ cho rằng: “Trong tính thực tiễn của nó, chính

Trang 11

sách công chỉ là sự phản ánh nghèo nàn tinh thần và lợi ích công cộng, vì nó

đã bị khúc xạ và bóp méo bởi những lợi ích cá nhân và cục bộ của các nhóm

có thẩm quyền và ảnh hởng trong bộ máy hoạch định chính sách” Họ đề caogiá trị thực tiễn (cái thực sự là) của chính sách công và không cố gắng địnhnghĩa nó là cái gì Cũng nh các nhà kinh tế học, giới khoa học chính trị thuộctrờng phái Lựa chọn công cộng phản đối kịch liệt những cách tiếp cận với cácgiả định có tính lí tởng và chuẩn mực đạo đức không thực tế về các chủ thểhoạch định và triển khai chính sách công Họ đòi hỏi phải nhìn nhận nhữngnhà hoạch định đó nh những ngời bình thờng, chứ không phải là các ôngthánh, với cách thiên hớng về lợi ích cá nhân và các động cơ tối đa hóa lợi ích

đó Từ đó, họ nhấn mạnh một thực tế là con ngời dù ở vị trí nào đều cókhuynh hớng vị kỷ và do vậy, nếu không nhìn thẳng vào sự thật này, cácchính sách công “phục vụ các mục tiêu cộng đồng chung” sẽ dễ trở thành ảotởng và bị lợi dụng cho các mục đích cá nhân hay nhóm cục bộ Nói cáchkhác, để vơn lên tầm khoa học, các nghiên cứu chính sách cần nhìn nhận tính

vị kỷ, động cơ tối đa hóa lợi ích cá nhân nh những dữ kiện thực tế, cho trớc.Chỉ có nh vậy, mới có thể đối phó chính xác với chúng cả bằng việc thiết kế

bộ máy, qui trình chính sách, đánh giá tác động, khả năng thực thi

Nh vậy, quá trình xem xét các định nghĩa, các hớng tiếp cận nói trên vềchính sách công cho thấy về nhận thức luận, dù có nhấn mạnh mặt này mặtkhác nhng đều khẳng định bản chất xã hội - nhà nớc của chính sách công

ở Việt Nam hiện nay, quan niệm về chính sách công nhìn chung cha có

sự nhất trí về các tính chất, tiêu chí giúp phân biệt chính sách với đờng lối,chiến lợc, cũng nh khó có thể phân định đợc chính sách của Đảng với chínhsách của Nhà nớc Tuy nhiên, thực tế điều hành đời sống xã hội ở Việt Namcho thấy có sự tách biệt chức năng lãnh đạo (của Đảng) với chức năng quản lý(của Nhà nớc), trong đó chính sách công ngày càng đợc coi là việc cụ thể hóa,thể chế hóa các chủ trơng, đờng lối, cơng lĩnh, chiến lợc- các định hớng chính

sách của Đảng thành chính sách của Nhà nớc

Tuy nhiên, Hiến pháp Việt Nam qui định vị trí lãnh đạo toàn diện của

Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nớc, với xã hội Đảng là hạt nhân lãnh

đạo hệ thống chính trị Việt Nam Do đó, chính sách công có thể đợc hiểu vớinghĩa rất rộng là hệ thống các quan điểm, các quy định thể hiện một thái độnhất quán, lâu dài của Đảng, Nhà nớc, mà thông qua đó Đảng, Nhà nớc hớngdẫn, định hớng, quản lý các hoạt động xã hội nhằm đạt đến mục tiêu xác

định Ngoài ra, theo tinh thần đó, chính sách còn thể hiện dới dạng phi văn

Trang 12

bản, ví dụ những chỉ thị, mệnh lệnh bằng lời của các quan chức có thẩmquyền Rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết, của Đảng, dù không có tính pháp

lý (tức do cơ quan Nhà nớc ban hành) vẫn có giá trị mệnh lệnh và do vậy nócũng có vai trò nh chính sách công Mặc dù thực tế là vậy, song không thể

đánh đồng Đảng với Nhà nớc Giữa chúng vẫn có sự khác nhau về đặc tínhpháp lý, về phơng thức thực thi quyền lực, nên trong khái niệm chính sáchhiểu theo nghĩa rộng nh trên không bao chứa khái niệm chính sách công (củaNhà nớc), cũng nh của các tổ chức phi nhà nớc khác Tuy vậy, thực tiễn quátrình chính sách ở Việt Nam cho thấy: Với t cách là một hình thức thực thiquyền lực chính trị, chính sách công không thể tách rời khỏi hệ thống chínhtrị - khuôn khổ chung để thi hành các quyết định chính trị Do đặc điểm nói

trên mà các nghiên cứu chính sách nhà nớc ở Việt Nam phải tính đến các

chính sách của Đảng Vì thế thông thờng nói đến chính sách công bao gồmcác chính sách của Nhà nớc, còn các chính sách của Đảng đợc hiểu là chủ tr-

ơng đờng lối của Đảng

Khái niệm: Theo nghĩa chung nhất, chính sách là những hành động ứng

xử của chủ thể tác động tới các hiện tợng tồn tại trong quá trình vận độngphát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định Do đó, thực thi quá trình chính sáchchính là thực thi quyền lực nhà nớc của chủ thể Bởi trên hết, chính sách công

là chơng trình hành động hớng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lựccông cộng Nó chính là cái để khẳng định tính chính đáng của quyền lực nhànớc ở tầm vĩ mô, có chính sách quốc gia và ở phạm vi hẹp hơn có chính sách

địa phơng Trong đó, địa phơng có quyền quyết định những chính sách thuộcthẩm quyền của mình để phát huy tiềm năng địa phơng và giải quyết các vấn

đề kinh tế - văn hóa - xã hội khác có tính đặc thù của mình

Theo Từ điển chính quyền và chính trị Hoa Kỳ: “Chính sách (policy) làbản tuyên bố các mục đích chung có thể đợc chuyển thành kế hoạch hay ch-

ơng trình có thể nêu rõ những mục tiêu cần đạt đợc” [5, tr.687]

Theo giáo trình Học viện HCQG: “Chính sách công là những hành độngứng xử của Nhà nớc với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, đợcthể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”[13, tr.24] Khái niệm này vừa bao hàm các đặc trng: Chính sách công là donhà nớc ban hành để tác động đến các đối tợng thuộc cộng đồng một cách ổn

định; vừa thể hiện bản chất của chính sách là công cụ định hớng của nhà nớccho mọi hành vi xã hội đối với các quá trình phát triển Tuy nhiên, trong cácnền kinh tế thị trờng, xuất phát từ sự cần thiết phối hợp giữa nhà nớc với thị

Trang 13

trờng mà Paul samuelson cho rằng: “chính sách còn là sự thỏa hiệp của chínhphủ đối với nền kinh tế ngay cả khi không ban hành chính sách” Hoặc xuấtphát từ ý chí của nhà nớc trong hoạt động quản lý xã hội mà James E.Anderson cho rằng: “Chính sách công là những hành động làm hay khôngnên làm do Nhà nớc quyết định lựa chọn”[8, tr.122] Quan niệm nh vậy vềchính sách từ những năm 60-70 đã bộc lộ rõ: chính sách là sự lựa chọn hành

động của nhà nớc trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định để đạt đợc mụctiêu Do quá nhấn mạnh vai trò của các chủ thể có quyền lực (thực tế đôi khidiễn ra đúng nh vậy) mà đã có quan niệm cực đoan cho rằng chính sách công

là những quyết định ngẫu nhiên, đột xuất của Chính phủ (Hoa Kỳ) Nó không

đợc giới nghiên cứu và xã hội chấp nhận

Luận điểm đợc đặt trọng tâm khi nói về chính sách công là ở chỗ:

- Hớng tới phục vụ số đông trong xã hội dù là trực tiếp hay gián tiếp chứkhông thể phục vụ một cá nhân

- Là kết quả hành động nhà nớc hớng tới chứ không phải là những dựkiến, lời nói không đi đôi với việc làm, không đi vào cuộc sống

Theo TS Ngô Huy Đức: “Chính sách quốc gia (chính sách công) là tất cảnhững quyết định và hành động của Chính phủ (ở mọi cấp) có ảnh hởng đến côngchúng”[16, tr.34] Theo TS Lê Minh Quân, TS Nguyễn Hữu Đổng: “Chính sáchvới nghĩa chung nhất là tổng thể các quan điểm, các quy định, các biện pháp, cácthủ thuật mà các chủ thể lãnh đạo quản lý (Đảng, Nhà nớc, tổ chức) tác động lên

đối tợng (khách thể) quản lý nhằm đạt đến một mục tiêu nào đó trong một khoảngthời gian nhất định Trong đó, quan điểm là nguyên tắc thể hiện bản chất (chínhtrị, giai cấp) của một chính sách” [34, tr.134]

Đặc điểm của chính sách: Dù tiếp cận theo hớng nào thì chính sách công

cũng mang những nét chung sau đây:

- Chính sách công là những tác động có tính cộng đồng Rõ ràng dù làtrực tiếp hay gián tiếp thì những kết quả mà nó mang lại luôn ghi dấu ấn lên

đời sống cộng đồng Hay nói khác hơn tính công cộng, vì cộng đồng luôn baochứa bên trong những quyết định chính sách Tức, ở đây cả ngời ban hành và

đối tợng chịu tác động từ chính sách công đó đều nhân danh cộng đồng khiban hành cũng nh thực thi chính sách

- Là những tác động có mục tiêu, có tính hớng đích (dù ngắn hạn haydài hạn) nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn Bao gồm các biệnpháp liên quan với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, đợc luận giải khoa học (khácvới các quyết định nhất thời) Do đó, chính sách công chính là chơng trình

Trang 14

hành động của nhà nớc (phân biệt rõ với đờng lối - chính sách - biện pháp ởmức độ cụ thể hóa).

- Những hoạt động (đợc coi là chính sách công) mang tính hệ thống, ổn

định và phù hợp với quan điểm chính trị của chủ thể hoạch định Dù đơn lẻhay một chơng trình thì các chính sách công đều nằm trong một chuỗi các tác

động có chủ đích của chủ thể theo một trật tự đáp ứng yêu cầu thực tiễn Dùkhông đợc đặt ra trực tiếp nhng quan điểm chính trị của chủ thể chính sáchcông là nguyên tắc bất di bất dịch Nhờ đó tính không (ít) thay đổi cũng nhtính hệ thống của chính sách công đợc đảm bảo

- Quá trình hoạch định chủ yếu diễn ra trong bộ máy nhà nớc, là sảnphẩm của quá trình thực thi quyền lực chính trị Lẽ dĩ nhiên do vậy, chínhsách công có tính hợp pháp giúp phân biệt nó với các chính sách của các tổchức cá nhân trong khu vực t nhân hay của các đảng, đoàn thể xã hội khôngnắm quyền lực công

- Quá trình hoạch định bao hàm sự trao đổi thông tin và các nguồn lực, thảoluận, thơng thuyết giữa và trong các thể chế nhà nớc, sự tơng tác với các tổ chứcbên ngoài nhà nớc Lấy đối tợng tác động là số đông (cộng đồng) nên một đặc

điểm không thể thiếu để có một chính sách công đúng đắn (phù hợp) là sự thamgia rộng rãi của mọi loại đối tợng trong xã hội Với tinh thần đó, xem xét cái căncốt nhất của chính sách công, năm 1993, Paul Sabatier và Hank Jenkins-Smith đi

đến nhận định: Việc tạo ra những quan điểm và sự nhất trí chung giữa các đảngphái là nền tảng của quá trình chính sách

Ngoài ra, một đặc điểm khá nổi bật ở bản chất chính sách công là tínhliên ngành: kinh tế học, khoa học quản lý, khoa học thông tin, tâm lý xãhội, Và xã hội càng văn minh thì tính liên ngành trong chính sách côngcàng mở rộng

Tóm lại, đặc điểm chính sách công có thể còn rất nhiều song các vấn đề

trên là cơ bản để nhận diện một chính sách công Trong đó phải kể đến một sốtính chất nổi bật của chính sách công để phân biệt nó với các thực thể khác

Tính chất cơ bản của chính sách công: Tính cỡng chế (của quyền lực

công - tức nhà nớc), tính thứ bậc (do tính thứ bậc của tổ chức nhà nớc), tínhmục tiêu (do tính mục tiêu của quyền lực), tính hệ thống (do sự liên quan giữacác biện pháp trong mối quan hệ với mục tiêu cuối cùng, cũng nh tính khoahọc cần có của các chính sách)

Ngoài những tính chất riêng có nói trên, để có một chính sách hiệu quảcòn cần có sự đảm bảo một số tính chất: Tính giai cấp (chính sách đó phù hợp

Trang 15

với lợi ích của giai cấp cầm quyền); tính dân tộc (phù hợp với đặc điểm vănhóa tâm lý thói quen dân tộc); tính nhân loại (phù hợp với xu hớng phát triểntiến bộ của nhân loại); tính khả thi kỹ thuật (đủ trình độ, kiến thức chuyênngành để thực hiện); tính khả thi tài chính (có đủ nguồn vốn cho việc thựchiện chính sách); tính tối u kinh tế (lợi nhuận nhiều nhất); tính đồng bộ (phùhợp với các chính sách khác)

Nhìn một cách tổng quát nhất, điều không thể phủ nhận là để một chínhsách công thực sự hiệu quả nó phải chứa đựng cả tính khoa học và tinh thầnchính trị lấy phụng sự cộng đồng làm mục tiêu; nó phải vừa nhạy cảm về mặtchính trị - đạo lí, vừa thể hiện tính thực dụng - hiệu quả

1.1.2 Chu trình hoạch định chính sách công

Khái niệm: Quá trình hình thành chính sách công trên thực tế là quá

trình các quần thể lợi ích đa ra yêu cầu của mình và các chủ thể chính sáchcăn cứ vào yêu cầu lợi ích của xã hội để điều chỉnh các mối quan hệ lợi íchphức tạp Quy trình hay chu trình hoạch định chính sách là một khái niệm đểchỉ một hoạt động mang tính khép kín từ khâu đầu cho đến khâu cuối và đócũng chính là điểm bắt đầu cho hoạt động chính sách ở mức độ cao sâu hơn

Nh vậy nói quy trình hay chu trình hoạch định đều phải hiểu hoạt động hoạch

định chính sách công diễn ra theo một lôgic, có trật tự và đặc biệt có tính kếthừa rất cao “Mô hình khái niệm coi quá trình hoạch định và thực hiện chínhsách công nh việc lần lợt thực hịên các bớc sau: Lập nghị trình hành động, lậpchính sách hay ra quyết định, triển khai thực hiện, đánh giá chơng trình hayphân tích tác động và cuối cùng là những phản hồi dẫn tới việc xem xét lạihay chấm dứt Vì vậy nó là chu kỳ khép kín” [5, tr.766]

* Cơ sở khoa học của việc hoạch định chính sách chính là các điều kiện

tổng quát (tài chính - con ngời - thẩm quyền chính trị) để một chính sách có thểthực thi và đem lại hiệu quả, đợc hình dung ở các khía cạnh rất cơ bản sau:

- Cơ sở kinh tế: Khoa học kinh tế về sử dụng tài nguyên và các nguồnlực cung cấp luận cứ và luận chứng cho các vấn đề chính sách

- Cơ sở chính trị: Chính sách thể hiện bản chất của quyền lực giai cấp,

đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, thể hiện đợc trình độ phát triển của đất nớcthông qua tính giai cấp - tính dân tộc - tính khoa học có trong chính sách

- Hệ giá trị của giai cấp cầm quyền (t tởng, văn hóa, kinh tế, ): Chínhsách đúng là chính sách đồng thời cũng là lựa chọn chính trị, do đó thể hiện ttởng, quan điểm của giai cấp thống trị trên mọi mặt

Trang 16

* Quá trình hoạch định và thực thi các chính sách công có thể đợc coi

là bao gồm 4 giai đoạn chính nh sau:

Một là, xác lập nghị trình

Một vấn đề xã hội trở thành chính sách phải trải qua giai đoạn tìm kiếm

sự đồng thuận, thống nhất t tởng, cách làm để đạt đợc mục tiêu Đây là giai

đoạn phát hiện vấn đề, những bức xúc nổi cộm trong đời sống cộng đồng cần

đợc tháo gỡ

Yêu cầu cao nhất của giai đoạn này là: khả năng nhìn ra vấn đề, năng lựcnhận thức và biểu đạt nó cũng nh cơ chế nêu vấn đề, để một vấn đề xã hộitrở thành chính sách Từ dữ kiện thực tế, thông qua 3 nguồn cơ bản: Số liệuthống kê; các sự kiện; các nhận định của nhà chính trị lãnh đạo Đảng và Nhànớc, mà vấn đề chính sách nảy sinh Tuy nhiên đời sống thực tiễn luôn vận

động không ngừng và vô cùng phong phú trong lúc khả năng phát hiện vấn đềcủa con ngời lại bị giới hạn bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Dù vậy,

sự tơng tác giữa ba chơng trình nghị sự (nguyện vọng nhân dân, sự ủng hộ củathông tin đại chúng và nghị trình chính thức của chính quyền đợc kiểm soát)buộc nhà hoạch định phải chú trọng Trong đó nổi lên vai trò của ngời lãnh

đạo vì chính họ kiểm soát chơng trình nghị sự Nếu tầm nhìn của ngời lãnh

đạo hạn chế hay thiếu trách nhiệm xã hội thì có thể làm cho một vấn đề quantrọng thành ít hoặc không quan trọng Đây chính là cách “giấu vấn đề” nh cácnhà nghiên cứu chính trị thờng nói

Bên cạnh đó, môi trờng (văn hóa, tâm lý dân tộc, tôn giáo, lịch sử ),hoàn cảnh chính trị (bầu không khí tâm lý xã hội) thích hợp tác động cần thiết

đến việc hình thành một chính sách Mâu thuẫn biện chứng thờng gặp phải ởgiai đoạn xác lập nghị trình là: Mặc dù có khuynh hớng đề cao vai trò cộng

đồng nhng đôi khi ý kiến cá nhân lãnh đạo - thủ lĩnh chính trị tại một giai

đoạn nhất định lại quyết định

Hai là, xây dựng và ban hành chính sách gồm 2 công đoạn có những

đặc điểm khác nhau về kỹ thuật chuyên môn và chính trị: Đó là xây dựng cácphơng án và lựa chọn để ban hành một trong các phơng án đó

Bản thân ngời xây dựng chính sách xét ở một góc độ khác cũng là đối ợng chính sách cho nên cũng bị ảnh hởng phần nào bởi nhu cầu nguyện vọngcủa họ về việc chính sách có đợc chấp nhận hay không Do đó có vấn đề

t-“thỏa hiệp tiềm ẩn” ngay trong một tổ chức (tiểu ban xây dựng chính sách)hay ngay trong một cá nhân, trong giai đoạn này Thực tế, do không thể tínhhết đợc chi phí và lợi ích nên đôi lúc có tình trạng thỏa hiệp, tức đi tìm một

Trang 17

chính sách đạt đợc sự nhất trí cao hơn là thuyết phục để có một chính sách

đ-ợc soạn thảo một cách khoa học

Trong giai đoạn xây dựng chính sách, yêu cầu tính chuyên môn rất cao.Các chuyên gia, các nhà t vấn, các viên chức có kiến thức và kinh nghiệmtrong lĩnh vực chuyên môn tơng ứng thờng tham gia chính vào giai đoạn này.Bên cạnh đó, đóng vai trò chính còn bao gồm các ủy ban chuyên môn củaQuốc hội, ban chuyên môn của Đảng, các cơ quan nghiên cứu (Trờng đại học,Viện nghiên cứu), các Bộ liên quan, các tổ chức t vấn phi chính phủ và đặcbiệt là tiểu ban chuẩn bị chính sách, đợc thành lập trên cơ sở liên ngành và baogồm các cá nhân có kiến thức có kinh nghiệm, các quan hệ chính trị, Cho đếnnay, xét trên lý thuyết, so sánh đợc chi phí với kết quả vẫn là vấn đề kỹ thuậttrung tâm của công việc xây dựng các phơng án chính sách

Việc lựa chọn một phơng án chính sách cuối cùng để thông qua và banhành lại có tính chất chính trị Vấn đề tập trung ở đây là phải giải quyết hàihòa mối quan hệ lợi ích Lúc đó, việc quyết định phơng án nào sẽ đợc lựachọn phụ thuộc vào hệ t tởng, quan điểm, các chuẩn mực giá trị của chủ thểhoạch định Do đó, việc thông qua và phê chuẩn chính sách mang nhiều tínhchính trị hơn Và để đa ra một chính sách, giai đoạn này phụ thuộc rất lớn vàophẩm chất chính trị cũng nh trình độ chuyên môn nghiệp vụ chính sách củachủ thể

Cán bộ hoạch định quyết định các loại phơng án, trên cơ sở đó định racác phơng án chính sách đợc lựa chọn; cụ thể hóa vấn đề chính sách trong cáchình thức văn bản luật, nghị định, quy định hành chính, và các cơ quan cóthẩm quyền phê chuẩn, thông qua trở thành chính thức Về mặt tổ chức, thôngthờng sau khi đã xác định rõ mục tiêu, Chính phủ sẽ thành lập tiểu ban soạnthảo gồm các công chức, chuyên gia trong lĩnh vực liên quan, có chuyên môn,kinh nghiệm và đại diện lợi ích các ngành, bộ, nhóm dân c, có ảnh hởng bởichính sách Sau khi tiếp thu và chỉnh lý, các phơng án sẽ đợc trình cho cáccấp có thẩm quyền để thông qua

Có 4 yếu tố chính: tính khoa học, tính tiệm tiến, tính đại diện, tính thểchế (tính chất công cộng) ảnh hởng đến mọi hoạch định chính sách

Chung quy, có thể nói một chính sách cần có cả tính khoa học và tính

đại diện cho lợi ích nhân dân Điều này thể hiện một cách cô đọng tính dânchủ của một chế độ, một chính sách Chính tính dân chủ dựa trên nền tảngkhoa học giúp giải quyết đợc mâu thuẫn giữa tầm nhìn của lãnh đạo (thiểu số)

và lợi ích trớc mắt của dân chúng (đa số) trong các quy trình hoạch định

Trang 18

chính sách Do đó, trong quá trình làm chính sách, tham khảo ý kiến rộng rãiphải dựa trên cơ sở khoa học nếu không nh thế dân chủ sẽ bị lợi dụng để thựchiện lợi ích cục bộ, thậm chí lợi ích cá nhân

Thực tế cho thấy nội dung phơng án chính sách dễ bị ảnh hởng lợi íchcục bộ (của cá nhân, của cơ quan đợc giao hoạch định phơng án chính sách)

và dù không xuất phát nhng dễ dàng thiết kế chính sách theo hớng có lợi chocơ quan hoạch định về ngân sách triển khai, biên chế cũng nh các thuận lợikhác Đặc biệt các vấn đề chính sách mang tính cải cách thờng động chạm

đến lợi ích (ngân sách, biên chế) của một nhóm ngời trong xã hội nên quátrình hoạch định sẽ dễ bị ảnh hởng bởi suy tính lợi ích cục bộ của các cơ quanliên quan Do đó làm hạn chế, cản trở việc đạt đợc mục tiêu, có khi không bảo

đảm tính khoa học của chính sách

Ba là, triển khai chính sách

Bao gồm việc ban hành các văn bản có tính pháp lý, quy định tráchnhiệm, quyền hạn cũng nh việc thực thi các hành động và biện pháp cụ thểnh: Nguồn lực cho chính sách; diễn giải chính sách; các vấn đề về cỡng chế

và khuyến khích việc thực thi chính sách

Thông thờng, chủ thể triển khai là những tổ chức và cá nhân trong vàngoài chính phủ, quan trọng nhất là cơ quan hành chính cùng các viên chứccủa mình Ngoài ra, các viên chức ở ngành lập pháp và t pháp cũng có vai tròquan trọng đặc biệt trong các chính sách có liên quan đến các hoạt động tranhtụng nh các chính sách về phá sản, chống độc quyền,

Để triển khai chính sách công có hiệu quả, tối thiểu cần đảm bảo các

điều kiện: có đủ nguồn tài chính vật lực - nhân lực cho việc triển khai, đủthẩm quyền, trình độ chuyên môn kỹ thuật để cụ thể hóa các mục tiêu thànhcác chơng trình hành động ở từng nội dung phù hợp với đối tợng chấp hànhchính sách Cơ quan đợc giao cũng chính là cơ quan chịu trách nhiệm giảitrình với cấp trên về các hoạt động triển khai chính sách Bên cạnh đó, dophát huy sự sáng tạo trong khi ứng phó với thực tế, các cơ quan triển khaichính sách thông thờng cũng có những quyền độc lập nhất định trong việc cụthể hóa nội dung chính sách Cho nên cũng rất cần có các cơ quan theo dõikiểm tra sự triển khai để có những điều chỉnh kịp thời

Bốn là, tổng kết, đánh giá chính sách

Đây là khâu rất quan trọng nhng thực tế thờng ít đợc dành sự quan tâmthích đáng Vấn đề chủ thể đánh giá (phân tích từ góc độ thông tin và quyềnlực chính trị), trên thực tế đang đặt ra những mâu thuẫn Điều đó cho thấy

Trang 19

ngày nay muốn nâng cao chất lợng chính sách công phải yêu cầu rất cao vềtính khoa học và trách nhiệm xã hội trong khâu đánh giá

Trong rất nhiều tiêu chí, đánh giá một cách khoa học đòi hỏi khả năng

đo lờng đợc chính xác chi phí - kết quả, đòi hỏi khả năng quy đợc tráchnhiệm là rất quan trọng Nó cũng là hai vấn đề trung tâm của cải cách hànhchính hiện nay trên thế giới Công việc này đợc tiến hành ngay trớc khi triểnkhai, trong cả quá trình xây dựng chính sách và có ảnh hởng sống còn đối vớichính sách

ở đây không đơn thuần chỉ là vấn đề kỹ thuật khách quan để hiểu thấu

đáo các tác động của chính sách đó, mà còn mang tính chính trị ngay từ khởi

đầu và trong suốt mọi khâu từ thông qua kế hoạch, xác định hệ tiêu chí, kếtluận đánh giá một chính sách giữa các chủ thể chính trị có liên quan Theotính chất và mức độ khái quát, có thể phân thành 3 loại đánh giá chính: đánhgiá chính trị, đánh giá kỹ thuật và đánh giá toàn diện

Đánh giá chính trị xem xét tính khả thi chính trị của chính sách, đặc biệttrong giai đoạn đầu của quá trình, khi chính sách cha đợc thông qua, mới

đang trong giai đoạn hình thành những ý tởng căn bản Do đặc điểm lịch sử kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam, mà có khi đánh giá chính trị đợc đề rấtcao Tuy nhiên, tính khả thi chính trị nếu xét một cách khách quan tiến bộ tự

-nó đã bao hàm nhiều yếu tố tích cực thúc đẩy hiệu quả chính sách

Đánh giá kỹ thuật tập trung vào cung cách triển khai một chính sách, cáctác động trực tiếp, các chi phí và lợi nhuận trực tiếp của chính sách Xem xétcác chính sách đã đợc triển khai đúng ý định cha, có đạt hiệu quả đặt rakhông, đặc biệt các nguồn lực đợc phân bổ cho chính sách có đủ để phát huyhiệu quả?,

Ngoài ra, để đi đến kết luận về mức độ thực hiện mục tiêu tổng thể củachính sách cần phải đánh giá toàn diện Khảo sát toàn bộ các mặt, có hệthống, khách quan và nghiêm ngặt nhằm đa ra sự đánh giá về sự thành côngtrong mục tiêu tổng thể của chính sách, cũng nh tác động gián tiếp của chínhsách lên mọi mặt của đời sống nhân dân

Cách đánh giá toàn diện làm sáng tỏ các tác động gián tiếp khác (về xãhội, môi trờng, cũng nh các tác động chính trị khác không thể quy ra tiền) để

đạt tới tính tối u của chính sách Nhận thức đầy đủ những u điểm và hạn chếcủa phơng pháp so sánh chi phí - lợi ích - cơ sở để một chính sách đảm bảotính tối u Nó đợc xem là kênh phản hồi chính sách chủ đạo Khuynh hớng

đánh giá này đang đợc chú trọng, nhiều nớc lập ra các ủy ban độc lập để đánh

Trang 20

giá các chính sách Ngày càng nhiều các cơ quan chính phủ cũng thành lậpcác bộ phận chuyên đánh giá toàn diện

1.2 Vai trò của thái độ tôn trọng tính khoa học trong hoạch định chính sách công

1.2.1 Tính khoa học trong chính sách công, hoạch định chính sách công

Khoa học là một phạm trù chỉ hệ thống tri thức tích lũy trong quá trìnhlịch sử và đợc thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan củathế giới bên ngoài cũng nh hoạt động tinh thần của con ngời, giúp con ngời cókhả năng cải tạo thế giới hiện thực Chính vì vậy mà mọi hoạt động của conngời nếu tính đến và biết tuân thủ quy luật khách quan thì kết quả đem lại sẽtốt hơn rất nhiều, hạn chế đợc những tác hại, rủi ro Cho nên tiêu chí quantrọng hàng đầu của một chính sách công trớc hết là bảo đảm tính khoa học Thực chất của tính khoa học là sự tuân thủ chặt chẽ, nghiêm túc quy luậtkhách quan không bị lệ thuộc hay ảnh hởng bởi bất cứ điều gì, bởi bất cứ ai

Từ đó có thể định nghĩa tính khoa học của chính sách công là những

đặc điểm cho thấy chính sách công cũng nh quá trình hoạch định đợc luận chứng trên cở sở những dữ liệu, cứ liệu, con số thống kê, từ các kết quả nghiên cứu khoa học và quan sát thực tiễn Nó đợc biểu hiện ra trong thái độ coi trọng bản chất khách quan khi xem xét đánh giá sự vật hiện tợng, tuân thủ nghiêm quy trình hoạch định, đảm bảo tính tính hợp lý, tính dân chủ, tính tối

u, tính khả thi trong mỗi phơng án đợc lựa chọn nhằm xây dựng, triển khai,

đánh giá, điều chỉnh để có một chính sách công chất lợng.

Tính khoa học trong chính sách công và hoạch định chính sách công do

đó là yêu cầu, phẩm chất thiết yếu để một chính sách từ lúc hình thành cho

đến khi đi vào cuộc sống phát huy hiệu quả Nó có mặt ở trong tất cả các giai

đoạn của quy trình Tính khoa học (phạm trù khách quan) không phụ thuộc ýchí con ngời còn thái độ tôn trọng tính khoa học chính là phạm trù gắn liềntrực tiếp với chủ quan Sự tách bạch đó chỉ tơng đối Do đó khi nói tính khoahọc tức để chỉ tính chất của chính sách (với t cách sản phẩm) còn nói thái độtôn trọng tính khoa học là nói về nhận thức, hành vi làm chính sách (với tcách quá trình hoạch định) của nhà hoạch định Các phân tích trong luận văn

đều sử dụng cả hai phạm trù này

Tính khoa học có thể đợc gợi ý từ các tiêu chí nh sau:

- Sự tuân thủ quy luật khách quan khi xem xét đánh giá nhận định và lựachọn phơng án chính sách cũng nh triển khai thực thi, tổng kết đánh giá chínhsách công

Trang 21

- Mục tiêu chính sách phản ánh tính tất yếu, quy luật khách quan, phùhợp nguyện vọng nhân dân, bảo đảm tính giai cấp, tính toàn diện trong phản

ánh, ứng xử với cuộc sống của chính sách

- Có tính đến yếu tố quốc gia, dân tộc, đặc thù địa phơng, tập thể, tổchức, cá nhân trong quy trình chính sách

- Khẳng định giá trị xã hội (dân chủ, công bằng, nhân văn, sáng tạo, )thông qua việc phân bổ lợi ích, giải quyết quan hệ lợi ích cho các đối tợngtrong xã hội khi có tác động của chính sách

- Quy phạm hóa quy trình hoạch định chính sách công theo chuẩn quốcgia và quốc tế (có tính thời đại, phù hợp thông lệ quốc tế)

1.2.2 Thái độ tôn trọng tính khoa học trong hoạch định chính sách công

Thái độ tôn trọng tính khoa học biểu hiện qua nhận thức cũng nh hành

vi bảo đảm trên thực tế chính sách đợc thiết kế, ban hành và tổ chức thực thi

có khoa học Đây là đòi hỏi quan trọng để ngày càng nâng cao tính khoa họccho các chính sách Có thể biểu hiện thái độ tôn trọng tính khoa học qua các

dấu hiệu chính sau:

- Nhận thức đợc sự vận động của thực tại khách quan nh nó vốn có; biết sáng tạo phù hợp môi trờng chính sách Những ngời tham gia hoạch định có

nhận thức thống nhất đối với mục tiêu chính sách

- Đảm bảo tính chính xác trong thiết kế nội dung - một yếu tố quan

trọng nhằm đạt đến hiệu quả của chính sách; đảm bảo tính tối u, thực thi

đúng, đủ các phơng án chính sách

- Nhận thức đầy đủ tính thể chế của chính sách và hành động đúng bảnchất cộng đồng (phúc lợi chung) của chính sách công

- Chú trọng việc nêu vấn đề, phản ánh ý kiến của ngời dân, tạo cơ hội vànhu cầu thông tin, tranh luận, thảo luận, phản biện từ phía ngời dân đối vớicác chính sách trong mọi giai đoạn của quy trình hoạch định

- Sự tham gia, ràng buộc của các bên trong quy trình chính sách phải đợc

đặt ra một cách có hệ thống, quy củ theo hớng minh bạch hóa, phân cấp, phânquyền, đảm bảo chính sách phát huy hiệu quả cao nhất

Từ các dấu hiệu trên, trong quá trình khảo sát, để xác định thái độ tôntrọng tính khoa học có thể dựa trên các tiêu chí cơ bản nh:

Sự tuân thủ nghiêm ngặt các chu trình, giai đoạn trên cơ sở khoa học thực tiễn của chủ thể hoạch định, thực thi chính sách Tuy nhiên, trong thực

-tế, do đặc tính quyền lực riêng có của nó cũng nh tính đa dạng phức tạp củacác loại hình (kiểu) chính sách mà đôi khi rất khó phận định rõ ràng các giai

Trang 22

đoạn Về điều này, một nhận xét của chính khách ngời Anh (Lord Salisbury)

đáng lu tâm: “Không có những cái gọi là chính sách cố định, bởi chính sáchgiống nh mọi thực thể hữu cơ luôn ở trong quá trình hình thành”[5, tr.767]

- Đảm bảo nguyên tắc chung là tối u hóa chính sách, định hớng chonhóm xây dựng chính sách trớc khi chi tiết hóa các phơng án, trong các khâuxác định nhu cầu, xem xét tình huống có vấn đề, định ra nội dung, mục tiêunhiệm vụ Tính tối u cũng chính là yêu cầu cao nhất của mọi chính sách, nó

đồng nghĩa với hiệu quả

- Xác định rõ mục tiêu chính sách, chú ý tính đa mục tiêu của chính sách.Xây dựng các phơng án giải quyết mục tiêu đó Nhận thức đợc các u khuyết điểmcũng nh chi phí và lợi ích của từng khả năng để đạt tới mục tiêu

- Đặt chính sách trong các yếu tố điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, an ninh - quốc phòng, tôn giáo tín ngỡng và các dự báo để xây dựng, thựcthi và đánh giá Có nghiên cứu thực địa, điều tra thực tế, tham khảo các nguồnthông tin, số liệu của các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nớc nhằmbảo đảm cao nhất tính khoa học của chính sách

- Lựa chọn phơng án thực thi đạt kết quả cao với chi phí thấp nhất Để

đánh giá tính tối u của một phơng án chính sách, hiện lý thuyết chi phi - lợiích vẫn là nền tảng quan trọng Song không tuyệt đối hóa cách tính toán quásòng phẳng này để tránh bỏ qua những giá trị khác không dễ đo lờng hết Có

đầu t nghiên cứu cơ sở khoa học, lý luận làm nền tảng lựa chọn phơng án

- Xây dựng chính sách phù hợp và thống nhất với thông lệ và cam kếtquốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập Chuyên môn hóa, khoa học hóa, độc lập,khách quan, có tính chuyên ngành, liên ngành và tiến tới đáp ứng tiêu chuẩnquốc tế trong xây dựng chính sách công

- Bổ sung, cập nhật và từng bớc hiện đại hóa kỹ năng nghiên cứu, phântích, xây dựng, ban hành chính sách, thái độ đề cao ý thức khoa học, cho

đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng chính sách

- Khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu để kết nối các Viện khoahọc, Viện nghiên cứu chiến lợc cấp Trung ơng và địa phơng

- Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá dựa trên cơ sở khách quan, những số liệugốc, chân thực có đợc trong quá trình chấp hành chính sách

Tính khoa học trong chính sách công và hoạch định chính sách công có

ý nghĩa rất lớn Đây là yêu cầu hiển nhiên cho mọi phơng án chính sách Nó

ảnh hởng đến tính khả thi và hiệu quả cuối cùng của chính sách Thúc đẩy sựphát triển của đơn vị, ngành, địa phơng, đất nớc theo chiều hớng tích cực, gópphần cải tạo thực tiễn kinh tế - chính trị - xã hội theo mục tiêu đã đề ra

Trang 23

Đảm bảo sự phân bổ giá trị xã hội, phân bổ công bằng các lợi ích Xéttheo quan hệ lợi ích, chính sách luôn cải cách và phát triển nhằm điều chỉnhquan hệ lợi ích Lợi ích là động lực chấp hành chính sách, cũng là nguyênnhân cản trở việc chấp hành chính sách Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng,chủ thể lợi ích rất nhiều và mỗi chủ thể đều muốn có đợc lợi ích lớn nhất.Những mâu thuẫn đó có khi tác động không tốt đến việc chấp hành chínhsách Một chính sách đợc hoạch định một cách khoa học sẽ góp phần giảiquyết tốt mâu thuẫn lợi ích

1.3 Vai trò của nhận thức trách nhiệm xã hội trong hoạch định chính sách công

Nhận thức trách nhiệm xã hội có nội hàm khá rộng, là biểu hiện cao

nhất của đạo đức, hành vi, thái độ của con ngời, đặc biệt là con ngời xã hội.Theo từ điển Triết học, "Trách nhiệm là phạm trù của đạo đức học vàluật học, phản ánh thái độ xã hội đặc biệt và thái độ đạo đức - pháp luật củacá nhân đối với xã hội, thái độ này biểu thị ở sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đứccủa mình và các tiêu chuẩn pháp luật" [42, tr.595] Xét ở góc độ triết học - xãhội, phạm trù trách nhiệm chỉ mức độ năng lực và khả năng của con ngời thểhiện ra với t cách là chủ thể của những hành động của mình Đó là khả năngthể hiện một cách tự giác (có chủ ý, tự nguyện) những nhiệm vụ, thực hiệnmột sự lựa chọn đúng đắn; đạt tới một kết quả nhất định Trong tất cả mọi họcthuyết về đạo đức và pháp quyền, ngời ta xem xét vấn đề trách nhiệm trongmối liên hệ với một vấn đề của triết học, đó là "tự do"

Do đó, trách nhiệm xã hội ở mỗi ngời sẽ đợc tăng cờng thông qua nhữngviệc khác nh: Tham gia xây dựng xã hội tốt đẹp, áp dụng nguyên lý tự giác có

kế hoạch vào đời sống xã hội, làm cho nhân dân quen với tự quản và sáng tạolịch sử Vì lẽ đó, có thể thông qua mức độ đợc giáo dục, đời sống và hoạt

động, mức độ nhận thức sai sót và sửa chữa sai lầm của một ngời để đo tráchnhiệm xã hội của họ Điều này làm cho trách nhiệm xã hội gần với tráchnhiệm đạo đức

Cũng với hàm nghĩa trên mà trách nhiệm cá nhân không chỉ bao hàmnhững hành vi đã làm mà cả sự nhận thức của họ về lợi ích xã hội nói chung,nghĩa là xét đến cùng nhận thức đợc quy luật phát triển của lịch sử Tronghoạch định chính sách công, trách nhiệm xã hội của cá nhân chính là nhữngràng buộc mang tính pháp lý cũng nh đạo đức đối với các chủ thể khi mộtchính sách đợc ban hành Nó gắn liền với vai trò, với tính tích cực chính trị -xã hội của chủ thể hoạch định Vì tầm quan trọng và tính chính trị của nó rất

Trang 24

lớn nên các chính khách phơng Tây đã nêu khẩu hiệu: “Một chức vụ công làmột sự ủy thác, một trách nhiệm xã hội” trong vận động tranh cử của mình Trách nhiệm xã hội là tiêu chí quan trọng để tạo ra hiệu quả chính sáchcông Luận điểm cơ bản nhất ở tiêu chí này là biết đặt trọng tâm vào việc đápứng lợi ích nhân dân của chủ thể hoạch định trong các chủ trơng giải phápchính sách Trách nhiệm xã hội trong hoạch định chính sách công ở các nớc

Đảng Cộng sản cầm quyền - chủ thể hoạch định chính sách đồng thời là cácnhà lãnh đạo của Đảng cần đợc hiểu nh trách nhiệm chính trị Nó chính “làcảm giác "mắc nợ" mà một nhà hoạt động chính trị có thể có đối với một ngờikhác do những biệt đãi trong quá khứ Đó (trách nhiệm chính trị) là nghĩa vụ

đáp lại sự biệt đãi” (Jay M Shafritz)

Trách nhiệm xã hội đợc đánh giá chủ yếu và thờng là ở nhận thức về nó.Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong

t duy Nhận thức trách nhiệm xã hội chính là những tri thức, hiểu biết của chủthể hoạch định chính sách công về những ràng buộc nghĩa vụ của họ đối vớidân chúng khi một chính sách đợc thực thi Nó biểu hiện ở tinh thần hoạt

động vì cái chung, vì cộng đồng và trong bất cứ trờng hợp nào cũng không

đ-ợc hy sinh lợi ích nhân dân

Rõ ràng liên quan đến nhận thức sẽ có rất nhiều vấn đề, tùy góc độ xuấtphát để đề cập Nhận thức trách nhiệm xã hội của chủ thể hoạch định chínhsách công có thể đợc xác định ở một số tiêu chí cụ thể để dễ hình dung nh sau:

- Nhận thức trách nhiệm xã hội biểu hiện tập trung nhất ở khả năng, mức

độ thực hiện lợi ích xã hội vì nhân dân cả trớc mắt và lâu dài, cả thế hệ hiệntại và tơng lai của chủ thể trong các quá trình chính sách

- Biểu hiện ở thái độ tiếp thu, xem xét các ý kiến phản hồi từ đối tợngthụ hởng chính sách để có điều chỉnh kịp thời nhằm bảo đảm mục tiêu đề ra

- Biểu hiện ở hành vi tôn trọng tập quán lịch sử, văn hóa truyền thống

địa phơng, nơi chính sách tác động

- Đó là những điều bắt buộc chủ thể phải làm khi chính sách công tác

động vào đời sống xã hội gây ra những trở ngại cho dân chúng

- Sự gánh chịu hậu quả, cả những thiệt thòi nếu xảy ra tình huống khôngmong muốn cho xã hội khi chính sách công đợc thực thi

- Sự đầu t (về con ngời, nguồn lực) để tiếp tục nghiên cứu đánh giá chínhsách công, đúc rút kinh nghiệm nhằm hoàn thiện quy trình chính sách

Trang 25

Mặc dù vậy song cần lợng hóa các tiêu chí để nhận diện mức độ đạt đợctrên thực tế nhận thức trách nhiệm xã hội của chủ thể trong hoạch định chínhsách công Các biểu hiện không thể bỏ qua khi xem xét là:

- Chủ thể hoạch định luôn có ý thức, dự liệu đợc các trờng hợp bất khảkháng khi ban hành chính sách công gây những tác động không tốt

- Chuẩn bị những phơng án dự phòng, những biện pháp hữu hiệu để thúc

đẩy việc điều chỉnh chính sách

- Khắc phục nghiêm những thiệt hại (nếu có) do tác động không mongmuốn của chính sách công gây ra

- Luôn gần dân, sát thực tế, nắm bắt nguyện vọng cũng nh kịp thời phản

ánh vấn đề chính sách công lên cấp có thẩm quyền để đợc giải quyết, hạn chếtối đa tác hại đến mọi lợi ích nhân dân

- Thiết lập hệ thống thông tin phản hồi thông suốt, thu thập, kịp thời xử

lý thông tin, cung cấp căn cứ để đánh giá chính sách

- Công khai kết quả đánh giá chính sách, để mọi ngời biết đợc nhữngvấn đề và mâu thuẫn trong quá trình thực thi chính sách, do đó mà ủng hộviệc điều chỉnh chính sách, đồng thời biết đợc nên điều chỉnh chính sách vàolúc nào, mức độ nào, với những bớc đi nh thế nào, tránh những sai lầm tronglúc điều chỉnh

- Trong mọi trờng hợp, chủ thể hoạch định chính sách công luôn tự chịu

trách nhiệm, chia sẻ thiệt hại với nhân dân Nhận thức đợc sự bất cập cũng

nh những hạn chế yếu kém trong mỗi công đoạn để có điều chỉnh kịp thời,

đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch, tính mục tiêu

- Đặc biệt là tố chất của chủ thể, là nhân tố tích cực nhất, chủ động cóquyền lớn nhất trong việc điều khiển quá trình xây dựng và thực thi chínhsách Sự thành bại của chính sách phụ thuộc vào quyết định của họ Nếu chủthể thiếu trách nhiệm xã hội, thì họ không thể kịp thời sửa chữa hoặc phủ địnhnhững chính sách đã lỗi thời hoặc sai lầm

- Nhận thức về lợi ích của chủ thể cũng biểu hiện trách nhiệm xã hội ở

họ Tránh xu hớng tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân (tập thể, tổ chức, đơn vị),không muốn nhận quyết sách có sai lầm, khuyết điểm vì cho rằng nh thế làthừa nhận thất bại của bản thân và đồng nghĩa với việc mất đi những lợi íchnào đó

- Đảm bảo tuân thủ đúng quy trình hoạch định, có tính đến các điều

kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, phù hợp với chuẩn mực, hệ giá trị chân chínhcủa dân tộc và nhân loại

Trang 26

- Thực hiện quy chế dân chủ trong trng cầu ý kiến, trong 4 khâu của quy

trình hoạch định

Với những biểu hiện rất tập trung nh trên để đo mức độ thực hiện tráchnhiệm xã hội của chủ thể, nhận thức trách nhịêm xã hội trong hoạch địnhchính sách có ý nghĩa vô cùng to lớn, quyết định sự thắng lợi của chính sách.Nhận thức trách nhiệm xã hội trong hoạch định chính sách công là tiêu chíquan trọng đầu tiên để thúc đẩy một vấn đề xã hội trở thành chính sách và cóthể đợc hoạch định, giúp chủ thể hoạch định có thể lựa chọn đúng phơng án(khả thi chứ không chỉ vì sự nhất trí cao trong các đối tợng tham gia hoạch

định) nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách đặt ra Từ đó có biện pháp điềuchỉnh kịp thời những sai phạm trong thực thi chính sách bất kể lỗi do ai Ngoài ra, nó còn thúc đẩy những hoạt động có ý nghĩa nâng cao chất l-ợng chính sách công trớc, trong và sau khi chính sách đợc ban hành, quantrọng nhất là thúc đẩy tính tích cực của chủ thể nhằm cải thiện các ph ơng ánchính sách, hoàn thiện các giai đoạn của quy trình chính sách Có trách nhiệmvới cộng đồng, chủ thể sẽ xác định đúng, trúng mục tiêu theo thứ tự u tiêntrong chính sách công trên tinh thần vì lợi ích chung; hạn chế tối đa những tác

động không tốt đến lợi ích cộng đồng do chính sách gây ra; giúp khắc phụcmọi hoàn cảnh để nâng cao khả năng đạt tới tính tối u - hiệu quả về mọi mặtcủa chính sách; giúp hoàn thiện khả năng dự báo và phòng ngừa, tránh nhữngxâm phạm lợi ích cộng đồng

Tóm lại:

Thái độ tôn trọng tính khoa học là một cơ sở để có nhận thức tráchnhiệm xã hội Ngợc lại đạt đến nhận thức trách nhiệm xã hội thì tự nó sẽ đặt

ra yêu cầu tôn trọng tính khoa học trong hoạch định chính sách công Chínhtính khoa học (chứ không phải cái khác) là giá đỡ cho việc nêu cao tráchnhiệm với dân với nớc trong hoạch định chính sách Chính tính khoa học giúpchủ thể phân bổ hợp lý lợi ích, phân bổ các giá trị xã hội trong hoạch địnhchính sách theo đúng mục tiêu đề ra

Chính sách bảo đảm tính khoa học và trách nhiệm xã hội là một chínhsách hợp lòng dân, bảo đảm an sinh xã hội và khơi gợi đợc những giá trị tốt

đẹp của con ngời (tính tích cực, óc sáng tạo, lòng dũng cảm, đặc biệt là ý thứctrách nhiệm vì sự phát triển của đất nớc) mà chính sách tác động Muốn cóchính sách tốt trớc hết bản thân các nhà hoạch định chính sách phải có thái độtôn trọng khoa học và nêu cao trách nhiệm xã hội, biểu hiện và cụ thể hóa, thểchế hóa nó ngay trong quy trình thiết kế, ban hành chính sách Tất nhiên cùng

Trang 27

với điều đó và để có một chính sách tốt còn cần một loạt các biện pháp kháckhông có điều kiện đề cập ở đây.

Trang 28

Chơng 2

Phân tích thực trạng của thái độ tôn trọng

tính khoa học và trách nhiệm xã hội trong hoạch định

chính sách công tại Đà Nẵng hiện nay

2.1 Bối cảnh và đặc điểm tình hình hoạch định chính sách tại thành phố Đà Nẵng từ năm 1997-2006

2.1.1 Bối cảnh

a) Một số đặc điểm cơ bản về tự nhiên - kinh tế - xã hội ở Đà nẵng

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.255,53 km2 trải dài từ 15o55' đến

16o14' vĩ Bắc và từ 107o18 đến 108o20' kinh Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông Với đặc điểm củamột thành phố vừa có biển, vừa có sông nên Đà nẵng quanh năm khí hậu ôn hòa,thời tiết mát mẻ, thuận lợi cho phát triển các khu du lịch, nghỉ biển Tuy nhiên,

-điểm mạnh đó lại trở nên đáng ngại khi những năm gần đây, bão lụt liên miên gâyhậu quả nặng nề cho nền kinh tế còn rất non trẻ này

Đà Nẵng nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đờng bộ, đờng sắt, ờng biển và đờng hàng không, cách Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thànhphố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Có hệ thống đờng bộ, đờng sông,cảng biển, sân bay tơng đối hoàn chỉnh, bu chính viễn thông đợc hiện đại hoátiếp cận đợc với trình độ khu vực và thế giới, là cơ sở hậu cần cho sự pháttriển mạnh các ngành công nghiệp xuất khẩu, mở rộng thị trờng nội địa và thịtrờng các nớc trong khu vực Nằm trên con đờng hành lang kinh tế Đông Tây(điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa) rất thuận lợi cho giao lu với các nớcLào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nớc vùng Đông Bắc á, có đờngbay thẳng từ Đà Nẵng đi BăngKok, Taiwan, Hong Kong, Siemriep, Vientian

đ-và Singapo kết nối đợc nhiều nơi Với vị trí cửa ngõ thứ 3 của đất nớc, cửangõ quan trọng ra biển Đông của một số quốc gia trong khu vực, là đầu mốiquan trọng về vận chuyển và vận tải quốc tế của miền Trung - Tây Nguyên vàcác nớc lu vực sông MêKông, thuận lợi để xây dựng cảng nớc sâu, gần vớicác đờng hàng hải quốc tế Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

(gồm Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định) là

cơ hội mở rộng làm ăn với các vùng kinh tế lân cận Đà Nẵng còn có di tích(Viện cổ Chàm), thắng cảnh (Ngũ Hành Sơn), làng nghề (điêu khắc đá, ), khunghỉ mát Bà Nà ở độ cao 1.428 mét với khu rừng có hệ động thực vật phongphú, và vị thế điểm giữa của “Con đờng Di sản thế giới" dài 1500km thánh địa

Mỹ Sơn (thể hiện khá rõ kiến trúc và văn hóa Champa), đô thị cổ Hội An vớihơn 1.000 di tích văn hóa đang đợc lu giữ những nét kiến trúc đặc sắc của ngời

Trang 29

Việt, Trung Hoa, Nhật Bản từ thế kỷ XVI và cố đô Huế, vốn là những lợi thếcủa du lịch Đà Nẵng

Dân số Đà Nẵng là 777.216 ngời (thống kê 2005), c dân thành thị chiếm80%, nông thôn chiếm 20%, gồm có 6 quận và hai huyện (Hòa Vang và đảoHoàng Sa) Thành phố là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, cao đẳng,công nhân kỹ thuật và đào tạo nghề của miền Trung, đặc biệt trên lĩnh vựccông nghệ thông tin Lực lợng lao động toàn thành phố có 56.048 ngời trình

độ cao đẳng đại học, gần 1000 ngời trình độ trên đại học Phổ cập giáo dục đãhoàn tất ở cấp trung học cơ sở, xóa mù chữ đến ngời cuối cùng ở độ tuổi từ 6-

35 Hệ thống y tế đợc đầu t nâng cấp theo hớng hiện đại từ trang thiết bị y tế

đến nguồn nhân lực phục vụ tốt công tác khám và chữa bệnh không chỉ chonhân dân thành phố mà cả các tỉnh thành lân cận Trong những năm quanhằm nỗ lực khai thác các tiềm năng, lợi thế của thành phố, với số vốn đầu tphát triển ngày càng nhiều (từ năm 1997-2002 tăng 4,7 lần, chiếm 58,3%tổng chi ngân sách thành phố) hàng loạt các công trình, dự án lớn chỉnh trang

đô thị theo hớng mở rộng không gian đô thị hiện đại lần lợt ra đời, kết cấu hạtầng kỹ thuật phục vụ sản xuất đợc xây dựng

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hớng tăng tỉ trọng công nghiệp, xâydựng (từ 40,6% năm 2000 lên 48,2% năm 2005) và giảm tỉ trọng nông nghiệp(từ 7,9% năm 2000 xuống còn 5,7 % năm 2005) Thu nhập bình quân đầu ng-

ời tăng lên, đời sống nhân dân ngày một cải thiện rõ rệt Đà Nẵng là vùng đấtgiàu truyền thống yêu nớc và cách mạng, kiên cờng trong kháng chiến chốngngoại xâm Con ngời Đà Nẵng thông minh, chất phác, cần cù, yêu lao động

và luôn nêu cao truyền thống cách mạng Điều này đã và đang trở thành yếu

tố quyết định sự phát triển của Đà Nẵng

Những nét rất cơ bản trong điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội nói trên

đều có tác động đến các quá trình chính trị, bao gồm cả quá trình hoạch địnhchính sách của thành phố Đà Nẵng Song, đối với mục tiêu nghiên cứu củaluận văn, chúng tôi sẽ tập trung vào phân tích nhóm nổi lên những nhân tốchủ yếu có tác động trực tiếp lên các giai đoạn của quá trình chính sách

Điều này là cơ sở quan trọng cho việc khảo sát đợc tập trung và đúng trọngtâm

b) Các nhân tố chủ yếu tác động đến quá trình hoạch định chính sách

ở thành phố Đà Nẵng.

Xem xét nhân tố tác động đến hoạch định chính sách là yêu cầu đầu tiên

đảm bảo tính khách quan khi nghiên cứu một chính sách cụ thể Nhận thức

Trang 30

đúng sự ảnh hởng gián tiếp và trực tiếp của các nhân tố (chủ quan và kháchquan) đối với quá trình hoạch định sẽ có ý nghĩa phơng pháp luận phân tích,

đánh giá chính sách Quá trình hoạch định chính sách (giải tỏa đền bù) gắnrất chặt với quá trình kinh tế, đặc biệt là xem xét nó dới góc độ chi phí - lợiích nhng ở đây, các nhân tố kinh tế đợc chú ý phân tích với t cách là nhân tốtác động chứ không phải là mục đích nghiên cứu chính

a Nhân tố khách quan:

* Nhóm nhân tố kinh tế: Trong những năm qua, kinh tế thành phố tăng

trởng khá liên tục Kinh tế phát triển phản ánh kết quả của một quá trìnhchính sách đúng “Tính bình quân trong 5 năm (2001-2005) tốc độ tăng trởngkinh tế đạt 13%/năm, đạt 100% kế hoạch, tăng 2,5% điểm phần trăm so vớigiai đoạn 1996-2000 Thu nhập bình quân đầu ngời nâng lên rõ rệt, năm 2001mới đạt 7,82 triệu đồng, năm 2005 tăng lên 15,23 triệu đồng, tăng khoảng 2,2lần Trong 5 năm có 9,769 hộ thoát nghèo (theo chuẩn quốc gia), tỉ lệ hộnghèo giảm từ 5,1% cuối năm 2001 xuống còn 0,13% vào cuối năm 2004,năm 2005 đã không còn hộ nghèo” [60] Thắng lợi của chỉ số kinh tế cơ bản

đó tạo giá đỡ cho công tác hoạch định chính sách

Điều kiện kinh tế đợc cải thiện tạo thuận lợi cho việc cung cấp các yếu

tố vật chất kỹ thuật và tài chính cho quá trình hoạch định Kết quả chính sáchphản ánh ở các chỉ tiêu kinh tế đó cho thấy thái độ tích cực, trách nhiệm củachủ thể (cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể ở Thành phố) trongviệc tìm ra các phơng hớng chính sách và giải pháp đúng Nhìn ở một góc độkhác, khi điều kiện xã hội ngày một khá hơn, dân trí đợc nâng lên thì yêu cầuhoàn thiện hệ thống chính sách của Thành phố càng phải đợc chú trọng Và rõràng việc thực hiện chính sách một cách có trách nhiệm, cha cần phân biệthiệu quả đến đâu, có thể tạo thêm nhiều sinh khí cho hoạt động quản lý nhànớc Do đó, chính quyền Thành phố ngày một gần dân hơn

Thực tế, nhiều năm qua thiên tai, dịch bệnh và các yếu tố khách quankhác có ảnh hởng xấu đến đời sống kinh tế - xã hội Thành phố, ít nhiều gâytrở ngại, làm chậm lại các quá trình chính sách Kinh tế tăng trởng song chathật sự cải thiện rõ rệt đời sống (thu nhập, việc làm, tinh thần, ) của đông đảonhân dân, đặc biệt là đối tợng chịu tác động trực tiếp của chính sách giải tỏa

đền bù đã và đang là vấn đề mà nhà làm chính sách phải xem lại Niềm tinvào sự bền vững của chính sách Thành phố có phần lung lay Nh vậy, nhân tốkinh tế vừa là hệ quả, vừa là nguyên nhân kết quả của các chính sách Suy đếncùng lợi ích kinh tế là mục tiêu của mọi chính sách Nh nhà kinh tế EdmunS.phelps - ngời đoạt giải Nobel kinh tế năm 2006 khi phân tích chính sách có

Trang 31

nói: mục đích trọng tâm của chính sách kinh tế là tăng trởng kinh tế cao, giácả ổn định và không có thất nghiệp.

Ngoài ra, các định hớng chiến lợc lớn về kinh tế của đất nớc và Thànhphố cũng tạo ra cơ sở lý luận cho hoạch định chính sách ở Thành phố

* Nhóm nhân tố về chính trị:

Kết quả các chính sách tại Thành phố Đà Nẵng là sự phản ánh thái độ,quan điểm, nhận thức chính trị của lãnh đạo Đảng và chính quyền về mục tiêuphát triển Thành phố Nó cho thấy tinh thần trách nhiệm với nhân dân, cungcách lãnh đạo điều hành quyết đoán, nhìn thẳng vào những u, khuyết điểm

Đây là nhân tố tác động trực tiếp và quyết định chất lợng quá trình hoạch địnhchính sách Kết quả chính sách đôi khi không nghiêm trọng nếu nó khôngphải do thiếu trách nhiệm và hạn chế tính khoa học

Trong đó, đóng góp lớn nhất vào hiệu quả chính sách chính là năng lựcquản lý điều hành của bộ máy chính quyền từ Thành phố đến quận, huyện ph-ờng, xã, của đội ngũ cán bộ chuyên viên của các Sở, ban, ngành Thờng vụThành uỷ, Thờng trực Hội đồng nhân dân, UBND Thành phố và chính quyềncác cấp có sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng tâm tạo ra tiếng nói chung thúc đẩyvấn đề xã hội trở thành chính sách trong thời gian sớm nhất Những hạn chếxảy ra trong quá trình thực thi chính sách ở Thành phố không nhiều songcũng làm ảnh hởng đến lòng tin và ý thức chấp hành chính sách của ngời dân.Tuy nhiên, quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý có khi chồng chéo, bất cậpnên không phát huy đợc sức mạnh riêng có của Đảng và chính quyền vàocông tác chính sách Sự phân cấp phân quyền giữa TW và Thành phố, giữalãnh đạo và quản lý, giữa cấp trên và cấp dới cha thật sự có hiệu quả tronghoạch định chính sách của địa phơng “Phân quyền trong thiết kế chính sách,với một Quốc hội độc lập và mạnh là một trong những cơ sở để đảm bảonguyên tắc công cộng cho chính sách” [8, tr.166] Rõ ràng cơ quan dân cử(HĐND, UBND) phải thực sự đại diện cho dân để đáp ứng mục tiêu của dân

sẽ có tác động lớn tới hoạch định chính sách

Ngoài ra, sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ơng (các văn bản chỉ đạo, gầnnhất là Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị “về xây dựng và phát triểnThành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”) đã tạo cơ

sở lý luận cho một loạt các quyết định chính sách của Đà Nẵng (7 nội dunglớn của chơng trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thànhphố lần thứ XIX gắn với 12 chơng trình thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của

Bộ Chính trị đã đợc thông qua) Một số biện pháp thúc đẩy khác của Chínhphủ (xây dựng đờng hầm xuyên đèo Hải Vân, dự án đờng cao tốc Đà Nẵng -

Trang 32

Quảng Ngãi, khu kinh tế mở Chu Lai, hiện đại hóa sân bay quốc tế Đà Nẵng,khu công nghiệp Dung Quất, ) cũng đặt ra yêu cầu các cấp hoạch định xâydựng ngay các phơng án chính sách phát triển thành phố

Hoạch định chính sách càng chú ý tính ổn định của tình hình, phát triểncủa đất nớc tạo đà, mở ra cơ hội cho thành phố Sự phấn chấn, tin tởng củanhân dân, bầu không khí tâm lý xã hội tích cực tác động tốt đến công táchoạch định chính sách "T tởng cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phốrất phấn khởi, đoàn kết, tin tởng và đặt quyết tâm cao vào những chủ trơng,giải pháp đã đợc Đại hội thông qua" [61]

Dân chủ cơ sở, dân chủ trong Đảng đợc cải thiện nhanh tạo cơ chế thôngthoáng cho việc thực thi, đánh giá chính sách của Thành phố Tuy nhiên, thực

tế quyền làm chủ của nhân dân cha phải đã đợc phát huy đúng mức, tình trạngdân chủ hình thức làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào tính mục tiêu củachính sách

ý thức chính trị (chấp hành pháp luật, tính tích cực chính trị - xã hội, ởng ứng và tham gia công tác xã hội trên nhiều lĩnh vực) của ngời dân đónggóp vào việc hoàn thiện chính sách của Thành phố, đặc biệt là chính sáchphát triển hạ tầng, chỉnh trang đô thị Thái độ ủng hộ các chủ trơng, chínhsách của Đảng và Nhà nớc ở nhân dân là một bớc thành công của bất cứ mộtquá trình chính trị nào Trong điều kiện đó, chính sách của Thành phố nhanhchóng đi vào lòng ngời, phát huy tác dụng ngay cả khi nó cha phải đã hoànhảo nhất

h-Vai trò giám sát, phản biện chính sách của các Hội, Đoàn thể Thành phố

có ảnh hởng chất lợng các quá trình chính sách, bảo đảm nâng cao tính khoahọc và trách nhiệm xã hội của chính sách

Ngoài ra, ở Đà Nẵng, tàn d xã hội cũ trớc năm 1975 (cơ cấu dân sốkhông thuần nhất; tập trung nhiều đại diện đảng phái ở miền Trung) cùng vớicơ chế hành chính quan liêu bao cấp của một đô thị thuộc tỉnh (trớc năm1997), đã hạn chế sự phát triển nhiều mặt của Đà Nẵng, ảnh hởng lối t duy,cách sống, hành xử, ý thức chấp hành các chủ trơng chính sách của ngời dân

Đó cũng là một thách thức trong hoạch định chính sách của thành phố ĐàNẵng còn lại đến hôm nay

* Nhóm nhân tố về văn hóa - xã hội:

Mặt bằng dân trí nâng lên (hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ đến ngờicuối cùng, hiện có 47/56 xã, phờng đạt chuẩn phổ cập đến bậc trung học), ýthức xã hội về lĩnh vực công nhờ đó đợc thúc đẩy Nhận thức về hành chính

Trang 33

công, pháp luật, cơ chế chính sách, ý thức pháp luật của ngời dân có tác động

rõ rệt đến nhu cầu phán ánh, nêu vấn đề, đóng góp ý kiến hoàn chỉnh chínhsách Sự tham gia của nhân dân ngày càng nhiều vào lĩnh vực chính sách cũng

là cơ sở để hiện thực hóa quyền làm chủ của ngời dân

Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ từng bớc góp phần vàoviệc xây dựng các luận cứ khoa học và thực tiễn (140 đề tài, dự án cấp thànhphố đợc triển khai nghiên cứu đã đợc ứng dụng vào quản lý, sản xuất) đểnâng cao năng lực quản lý, xây dựng và xây dựng ban hành chính sách pháttriển kinh tế - xã hội Thành phố Song ngành học, môn học về khoa họcnghiên cứu chính sách công cha xây dựng đợc, chậm luật pháp hóa, quy trìnhhóa quá trình chính sách cũng là một trở ngại cho công tác hoạch định chínhsách ở Đà Nẵng hiện nay

Quan hệ ngoại giao với các thành phố lớn trên thế giới, khu vực (hơn 83quốc gia và vùng lãnh thổ) là điều kiên tốt để mở rộng kiến thức, tích lũy kinhnghiệm (bổ sung cần thiết cho t duy lý luận), cập nhật thông tin nhằm làm chochính sách và quá trình hoạch định đạt tới tính nhân loại, phù hợp thông lệquốc tế

b Về chủ quan:

Quan điểm, hệ thống giá trị cá nhân của ngời làm chính sách tác độngtrực tiếp chi phối quy trình hoạch định chính sách Những thành kiến, kinhnghiệm và tri thức cá nhân sẽ vô tình chi phối cách nghĩ của chủ thể khi họlàm chính sách “Tri thức càng cao hệ thống giá trị càng vững chắc, do đó xuhớng quyết định theo cách nghĩ của mình càng mạnh” [8, tr.172] Mâu thuẫngiữa giá trị cá nhân và giá trị quần chúng nhân dân có thể làm cho quyết địnhchính sách không phù hợp Lãnh đạo Thành phố biết đặt giá trị cá nhân củamình vào trong hệ thống giá trị xã hội, thực sự lắng nghe, nắm bắt nguyệnvọng của đối tợng thực thi chính sách Nói nh HCM: Mỗi tiếng nói của ta(cán bộ) phải tỏ rõ lòng ớc ao (nguyện vọng chính đáng) của quần chúng nhândân Nhờ đó, họ mới xác định đúng đắn mục tiêu, lựa chọn giải pháp chính sách,tích cực trau dồi trình độ chuyên môn (thuộc lĩnh vực chính sách hoạch định),nghiệp vụ chính sách để thực hiện đợc mục tiêu chính sách đặt ra

Văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách thể hiện ở sựgiác ngộ mục tiêu, lý tởng, trách nhiệm với dân, với nớc, khả năng nhận thứccác vấn đề chính trị - xã hội, có thế giới quan và nhân sinh quan tiến bộ để

đánh giá xem xét vấn đề, chắt lọc thông tin, khả năng ứng dụng và làm chủcông nghệ hiện đại, là những điều kiện để có thể giúp nâng cao tính khoa

Trang 34

học, tính thời đại mà vẫn gắn bó thiết thực với tình hình địa phơng của cácchính sách Mặt bằng trình độ của cán bộ hoạch định chính sách cấp trởng,phó phòng trở lên ở các Sở, ban, ngành, thành phố thuộc UBND cũng tơng đối(4.508 ngời có trình độ đại học, 120thạc sĩ và 8 tiến sĩ ở các ngành) Trong

đó, kỹ năng nghiệp vụ soạn thảo, hoạch định chính sách, cơ hội, điều kiện tiếpcận thông tin, khả năng tiếp cận thực tế là những yếu tố quan trọng Sự hỗ trợcủa trang thiết bị thông tin hiện đại cũng là điều kiện thúc đẩy tính khoa họccủa các chính sách

Bộ máy cán bộ và cơ chế phối hợp tác động rất rõ lên hiệu quả chínhsách Cơ chế, kỷ luật, kỹ thuật công tác báo cáo của các cấp thực thi cha thật

sự khoa học, thiếu trách nhiệm, phản ánh cha công tâm làm hạn chế việc thúc

đẩy giải quyết, đa ra ánh sáng những vấn đề vớng mắc của quá trình chínhsách tạo ra kết quả không mong muốn

Tóm lại, các phân tích ở mục này cho thấy tình hình kinh tế - chính trị,

văn hoá - xã hội tạo ra bối cảnh thuận lợi cho quá trình hoạch định chính sáchcủa các cấp lãnh đạo thành phố Song, thực tế, một số lĩnh vực cha đủ mạnh(thu hút đầu t nớc ngoài cha hiệu quả, thiếu các ngành công nghiệp và sảnphẩm công nghiệp chủ lực, các thành phần kinh tế, các cơ quan nhà nớc chamạnh, ma tuý, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông cha khắc phục, ) cũng biểuhiện sự yếu kém trong hoạch định và thực thi chính sách, đến lợt mình trực tiếp

và gián tiếp làm giảm hiệu quả công tác hoạch định chính sách Do vậy, nhậnthức sự tác động của các nhân tố nói trên đến quá trình chính sách là việc làmcần thiết trớc khi xem xét đánh giá thực trạng hoạch định một chính sách cụthể

2.1.2 Một số đặc điểm tình hình hoạch định chính sách công ở thành phố Đà Nẵng

a) Đặc điểm: Do sự chi phối của những nhân tố trên, hoạt động hoạch

định chính sách của Thành phố Đà Nẵng bộc lộ rõ 3 đặc điểm sau:

Thứ nhất, Hoạch định chính sách nhằm cụ thể hóa các quan điểm, chủ

trơng chỉ đạo liên tục và sát sao của Trung ơng về xây dựng Đà Nẵng pháttriển tơng xứng vị thế và tiềm năng Để tạo điều kiện cho Đà Nẵng phát triểnthành hạt nhân trọng điểm miền Trung, một loạt các văn bản chỉ đạo củaTrung ơng đã ra đời:

- Tháng 9/1992, Thủ tớng Chính phủ ban hành Quyết định 344 quy địnhtạm thời về một số nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của UBND thành phốtrong quản lý kinh tế - xã hội

Trang 35

- Năm 1993, Thủ tớng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung xây dựngthành phố đến năm 2010 ở cơ chế một đô thị cấp huyện, tỉnh lỵ thuộc tỉnhQuảng Nam.

- Ngày 6/1/1996, Quốc hội khóa X, tại kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn việctách và thành lập một số tỉnh trong đó tách Quảng Nam - Đà Nẵng ra thànhhai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ơng Ngày 1/1/1997, Đà Nẵng đợcThủ tớng ký quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội thành phố đến năm 2010, nêu rõ mục tiêu và định hớng phát triển chungcủa thành phố, chỉ tiêu, giải pháp chủ yếu

- Năm 1998, Thủ tớng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng thànhphố tại Quyết định số 564/ QĐ-TTg ngày 07-7-1998

- Năm 2001, Thủ tớng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng thànhphố tại Quyết định số 113/ QĐ-TTg ngày 30-7-2001

- Năm 2002, Thủ tớng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng thànhphố tại Quyết định số 465/ QĐ-TTg ngày 17-6-2002

- Năm 2003, Chính phủ ban hành quyết định công bố Đà Nẵng là đô thịloại I tại Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 15-9-2003 và Bộ Chính trịBCHTW Đảng ban hành Nghị quyết số 33/NQ-TW

Chính sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp, sâu sát đó của Trung ơng đối với ĐàNẵng đã quy định đặc điểm hoạch định chính sách của Thành phố Thực chấthoạch định chính sách từ năm 1997 đến nay là triển khai thực thi nhiệm vụ đ-

ợc giao, giải quyết vai trò thành phố đầu tầu trong những mối quan hệ, liênngành, liên vùng với các tỉnh thành miền Trung Cho nên quá trình hoạch địnhvừa là sự vận dụng vừa là sự đột phá sáng tạo, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu cả về

lý luận lẫn thực tế không chỉ cho sự phát triển của Thành phố Đà Nẵng

Thứ hai, hoạch định chính sách trong điều kiện Đà Nẵng vừa mới chia tách

tỉnh lại phải xây dựng chiến lợc phát triển cho thành phố với vai trò đầu tầu,

động lực miền Trung Trong điều kiện thiếu thốn về mọi mặt, kinh tế lạc hậu,vấn đề nổi lên là chất lợng trình độ của đội ngũ cán bộ còn bất cập Do vậy, tính

độc lập sáng tạo trong t duy, hành động và tính tự chịu trách nhiệm, tinh thầncộng đồng đợc đẩy lên hàng đầu trong hệ giá trị của ngời Đà Nẵng nói chung vàngời cán bộ hoạch định chính sách thời kỳ này nói riêng Hoạch định chính sáchtại Thành phố chịu sự chi phối của đặc điểm này rất rõ

Thứ ba, hoạch định chính sách trong bối cảnh hợp tác và hội nhập; sức

ép rất lớn của cả một thời kỳ dài Đà Nẵng chậm phát triển dồn lại, cha phảixóa hết dấu vết của một đô thị đầy thơng tích chiến tranh, nay lại mở hết tốc

Trang 36

lực để phát triển; vừa đảm đơng nhiệm vụ thành phố mới chia tách lại vừa vơnlên đáp ứng tiêu chuẩn đô thị loại I Sức ép của trào lu nhập c tự do (trớc năm

1975 dân các vùng lân cận “chạy giặc” đến và ở lại sinh sống, sau năm 1997

sự nhanh chóng phát triển của Đà Nẵng đã thu hút khá lớn lợng dân ở các tỉnhphía Bắc miền Trung) đặt thành phố trớc sự lựa chọn cấp bách: hoặc là bứtphá đi lên hoặc là đánh mất cơ hội, chấp nhận tụt hậu Nếu nhìn nhận thậtkhách quan thì đây chính là thách thức trong hoạch định chính sách của lãnh

đạo Thành phố, yêu cầu cao hơn khoa học hoạch định và trách nhiệm vì dântrong hoạch định chính sách Các chính sách của thành phố thành công cũngbởi biết tính đến đặc điểm này

b) Tình hình hoạch định chính sách ở thành phố Đà Nẵng từ 1997-2006

Hoạch định chính sách đợc xác định là nhiệm vụ u tiên để nhanh chóngphát triển Với một xuất phát điểm thấp, tiềm năng cha khai thác hết, lãnh đạoThành phố chú trọng tập hợp lực lợng, phát huy sức mạnh trí tuệ tập thể đểnghiên cứu đề xuất hớng giải quyết bài toán phát triển của Thành phố Côngtác hoạch định chính sách tại đây cũng chính là quá trình trải nghiệm tinhthần độc lập sáng tạo, óc t duy của lãnh đạo chính quyền và nhân dân Thànhphố Quá trình đó đã gặt hái những thành công cũng nh còn một số tồn tại cầnkhắc phục nh: Một loạt các chính sách hợp lòng dân, khai thác thế mạnh củaThành phố biển, đóng góp lớn lao vào việc cải thiện đời sống nhân dân vàtạo nên diện mạo mới cho Đà Nẵng Trong đó, một số chính sách và quá trìnhhoạch định cha thật sự hiệu quả, quá trình tổ chức thực thi triển khai ở mộtvài nơi cha tốt, có dấu hiệu vi phạm dân chủ, lợi ích của dân, để xảy ra tệ nạnquan liêu tham nhũng, Công tác đánh giá tổng kết sơ kết chính sách chathực sự làm nền tảng cho quá trình hoàn thiện chính sách

Dù còn những điều cần rút kinh nghiệm và nghiêm túc sửa chữa, nhìnchung quá trình hoạch định chính sách vẫn đạt đến thành công nhất định.Trong đó, dấu ấn đậm nét nhất là vai trò đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đảng, chínhquyền, các ban ngành trong quá trình vạch ra phơng hớng, đờng lối, chínhsách để phát triển Thành phố

2.2 Thực trạng hoạch định chính sách của thành phố Đà Nẵng từ 1997-2006 nhìn ở hai phơng diện thái độ tôn trọng tính khoa học và trách nhiệm xã hội của chủ thể trong hoạch

định chính sách

Để có thể nắm bắt thực trạng hoạch định chính sách công của Thànhphố Đà Nẵng, chúng tôi lựa chọn khảo sát chính sách giải tỏa đền bù từ năm1997-2006, xuất phát từ mấy căn cứ sau:

Trang 37

Thứ nhất, chính sách đất đai là chính sách lớn, hệ trọng, mang tính tổng

hợp cả về kinh tế và chính trị - xã hội, đợc Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta rấtquan tâm Giải quyết đúng đắn chính sách đất đai sẽ tạo thêm động lực, gópphần quan trọng để đạt đợc những thành tựu to lớn của sự nghiệp cách mạng

nớc ta [62] Bên cạnh đó, tình hình biến động của thị trờng bất động sản - nhà

đất trong mấy năm qua ảnh hởng trực tiếp đến mọi mặt đời sống kinh tế - xãhội, trở thành vấn đề bức xúc thu hút sự quan tâm của toàn xã hội

Thứ hai, hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nớc (Luật đất đai sửa

đổi, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ quy địnhcấm phân lô bán nền đảm bảo cho việc sử dụng đất đúng mục đích, Luật Nhà

ở, Luật Kinh doanh bất động sản) ngày càng hoàn thiện đã trở thành căn cứ thúc

đẩy sự ra đời loạt các chính sách giải tỏa đất đai ở hầu khắp các địa phơng trêncả nớc, đặc biệt là những thành phố trẻ, đô thị hóa mạnh nh Đà Nẵng

Thứ ba, tại Đà Nẵng, các chính sách giải phóng mặt bằng nhằm thác quỹ

đất tạo vốn phát triển hạ tầng thúc đẩy kinh tế đụng chạm trực tiếp đến lợi íchcủa mọi ngời dân, bao quát, chứa đựng bên trong mọi vấn đề xã hội Chọn lựachính sách giải tỏa đền bù hớng đến chỉnh trang đô thị để khảo sát giúp bao quátvấn đề chính sách công ở tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hộicủa Thành phố Đà Nẵng, nổi rõ những u điểm và bất cập của chính sách trên haiphơng diện tính khoa khọc và trách nhiệm xã hội, phản ánh rõ nét bản chất quátrình hoạch định chính sách thành phố Đà Nẵng nói chung

2.2.1 Mô tả chính sách chọn khảo sát và quá trình nghiên cứu thực tế

a) Bối cảnh ra đời chính sách giải tỏa đền bù:

Trớc năm 1997, kinh tế-xã hội Đà Nẵng vẫn còn tụt hậu Sản lợng bìnhquân đầu ngời chỉ 5,7 triệu đồng trong lúc con số này ở Hà Nội là 9 triệu vàThành phố Hồ Chí Minh là trên 14 triệu đồng Sau chia tách tỉnh, quy mô khuvực nội thị rất nhỏ bé (5.000 ha), hệ thống cơ sở hạ tầng (đờng, thoát nớc, cấpnớc, điện, viễn thông, các cơ sở giáo dục y tế) xuống cấp nghiêm trọng Cáccon đờng vào Thành phố rất nhỏ bé, trong đó đờng Điện Biên Phủ đợc nângcấp mở rộng từ năm 1985 đã quá tải, nhìn đâu đâu cũng có thể bắt gặp cảnhruộng trong phố, những căn nhà cũ kỹ rách nát chen chúc bên bờ Đôngsông Hàn, khu đầm lầy hôi thối, Thành phố đi đến quyết định nâng cấpcơ sở hạ tầng khai thác nhiều tiềm năng và cảnh quan thiên nhiên để thuhút đầu t (từ 99 tỷ đồng năm 1997 đến 600 tỷ đồng năm 2000) Song ĐàNẵng lại đối mặt với một khó khăn rất lớn về nguồn vốn ngân sách Do đó,chủ trơng khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn cải tạo kết cấu hạ tầng nhanh

Trang 38

chóng đợc triển khai làm cơ sở cho sự ra đời chính sách giải tỏa đền bù củaThành phố

b) Về một số khái niệm liên quan trong chính sách giải tỏa đền bù

“Giải tỏa”, “đền bù”, “tái định c” là những khái niệm chủ yếu thờng sửdụng trong các văn bản luật để quy định trách nhiệm bồi thờng khi Nhà nớcthu hồi đất phục vụ mục đích công cộng Chính sách giải tỏa đền bù của ĐàNẵng là một trờng hợp nh thế

Giải toả là “việc phá, dỡ những kết cấu cũ đang trở thành những chớngngại để giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện cho việc triển khai các dự án xâydựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội nào đó” [33, tr.15]

Đền bù là việc thay thế các tài sản bị mất bằng hiện vật hoặc bằng tiền

Đó cũng chính là phơng thức đền bù - hoàn trả bằng tiền khi ngời dân bị mất

đất và bị h hại các tài sản khác tại thành phố Đà Nẵng khi thực hiện giảiphóng mặt bằng Gọi đó là tiền đền bù, ngời bị thu hồi đất đợc quyền u tiênmua lại đất ở các khu quy hoạch theo khung giá thành phố quy định

“Tái định c là một quá trình bao gồm đền bù các thiệt hại về đất đai và tàisản di chuyển, tái định c, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những ngời bị thuhồi đất để xây dựng các dự án Tái định c còn bao gồm các hoạt động nhằm hỗtrợ cho những ngời bị ảnh hởng do việc thực hiện các dự án gây ra, khôi phục vàcải thiện mức sống, tạo điều kiện phát triển các cơ sở sản xuất kinh tế, văn hoá,xã hội của hộ và cộng đồng” [33, tr.15] Tái định c là một quá trình đền bù (bồithờng) cho các thiệt hại (chủ yếu là tài sản) và giúp ổn định cuộc sống, giúp

họ di chuyển và tạo lập lại nơi ở mới, khôi phục cuộc sống và đảm bảo tăngnguồn thu nhập của họ

c) Một số mục tiêu cụ thể của chính sách giải tỏa đền bù đề cập trong nghiên cứu này

- Xây dựng kết cấu hạ tầng (đờng sá, cầu cống, công trình, ) đợc cảithiện, thúc đẩy sự phát triển kinh tế Thành phố

- Kiến tạo dáng vẻ đô thị văn minh, hiện đại, quy hoạch theo hớng phânkhu chức năng, phân vùng hợp lý, tạo lập cảnh quan đô thị biển

- Nâng cao chất lợng cuộc sống nhân dân, thể hiện chủ yếu ở các mặt:Nhà ở; thu nhập; sự hởng lợi của ngời dân về các dịch vụ đô thị

d) Mô tả việc nghiên cứu thực tế:

Để nắm bắt thực tiễn công tác hoạch định chính sách, chúng tôi đã trựctiếp gặp gỡ trao đổi với 30 ngời là chuyên viên cấp phó trởng phòng, giám

đốc, phó giám đốc thuộc các Sở, ban ngành Thành phố Trong đó, tiến hành 5

Trang 39

cuộc phỏng vấn sâu với đại diện lãnh đạo UBND thành phố (Chánh vănphòng, Phó Chánh văn phòng), đại diện lãnh đạo Sở Tài nguyên môi trờng(giám đốc), Sở Nội vụ (phó giám đốc), Sở Kế hoạch đầu t (giám đốc), thâmnhập thực tế tại Phòng xử lý văn bản (Sở T pháp), Văn phòng Hội xây dựng,Văn phòng Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng Phòng khiếu tốcủa Thanh tra nhà nớc thành phố Đà Nẵng Phát ra và thu vào 30 phiếu hỏi(Xem phụ lục 1).

Tại các cơ quan đơn vị đến thực tế, chúng tôi tiếp cận đợc các văn bảnchỉ đạo, điều hành hoạch định chính sách của Thành phố nh: Nghị quyết,quyết định, chỉ thị, báo cáo tổng kết quý, năm của các Sở, UBND, Ban Tổchức, Ban Tuyên giáo Thành ủy Báo cáo chuyên đề về tình hình giải tỏa đền

bù và xây dựng cơ bản, báo cáo kết quả đề án giải quyết việc làm, báo cáotổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới của Đà Nẵng, kỷyếu hội thảo 10 năm xây dựng và phát triển Thành phố của Hội Xây dựng -Hội Quy hoạch phát triển đô thị - Hội Kiến trúc s Đà Nẵng

Trên cơ sở nghiên cứu nguồn tài liệu đợc cung cấp trên, qua quan sátthực tế, kết hợp tham khảo mục diễn đàn Nhà đất trên các trang báo Thanhniên online, Tuổi trẻ online, Vietnamnet, mục tin tức, sự kiện và viết về ĐàNẵng trên website Danang.gov.vn, website của các Sở, Tạp chí nghiên cứu lậppháp điện tử, chúng tôi đúc rút đợc những nét cơ bản về u điểm và hạn chế tronghoạch định chính sách giải tỏa đất đai đền bù Thành phố Đà Nẵng

Do phạm vi và điều kiện hạn hẹp của luận văn cũng nh khả năng xâmnhập thực tế của bản thân, thực tế tại Đà Nẵng, việc tiến hành khảo sát chathể đợc toàn diện nh mong muốn Cha thể nắm bắt đầy đủ và có điều kiện đốichứng, xem xét đánh giá quy trình hoạch định chính sách nh yêu cầu nghiêncứu đặt ra, đặc biệt là giai đoạn nghị trình Nghiên cứu về tính khoa học đòihỏi trớc hết cách thức nghiên cứu phải đạt đến tầm khoa học thì ở nghiên cứunày cha thể hiện đợc hết Song do đặc điểm đồng dạng trong tổ chức củaHTCT nớc ta, việc khảo sát và phỏng vấn một nhóm cán bộ khá đặc thù và vềmột vấn đề chính sách cụ thể nh trên, vẫn là các dữ kiện tốt để nhìn nhậnnhững vấn đề chung không chỉ của Đà Nẵng, mà có thể là một ví dụ để thamkhảo khi tìm hiểu tình hình hoạch định chính sách ở nhiều địa phơng khác

2.2.2 Đánh giá chính sách: Trên hai phơng diện thái độ tôn trọng tính

khoa học và trách nhiệm xã hội của chủ thể trong hoạch định

Trang 40

Trong phần này, chúng tôi sẽ xem xét, đánh giá hai phơng diện: “thái độtôn trọng tính khoa học” và “trách nhiệm xã hội” theo nh thể hiện của chúngtrong từng giai đoạn chính sách Sở dĩ nh vậy là do, nh chơng 1 đã phân tích,các giai đoạn chính sách khác nhau có những đặc điểm khác nhau về cả khíacạnh kỹ thuật và chính trị Do đó, các tiêu chí để đánh giá mức độ sẽ có thể

có các khác biệt trong các giai đoạn Ngoài ra, việc phân tích cụ thể nh vậy sẽgiúp cho các khái quát về toàn bộ quá trình chính sách không mang tính kinhnghiệm cảm tính, mà có các minh chứng cụ thể

Giai đoạn xác lập nghị trình

Giải tỏa đền bù là chính sách lớn đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của đại

đa số ngời dân thành phố Đà Nẵng Do đó, nó đòi hỏi rất cao tính khoa học vàtrách nhiệm xã hội ngay từ giai đoạn xác lập nghị trình Điều đó biểu hiệnqua rất nhiều nội dung:

"Nhìn chung, công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm phápluật của UBND thành phố đã đợc thực hiện theo đúng quy định của Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND; đã bảo đảm các quy

định về trình tự, thủ tục soạn thảo, lấy ý kiến của các ngành liên quan và thẩm

định dự thảo trớc khi trình UBND thành phố xem xét ban hành"[30, tr.1].Hoạch định chính sách đảm bảo đúng quy trình, phản ánh rõ ở việc tuân thủ

sự tôn trọng thứ tự u tiên các vấn đề chính sách trong hoạch định: Xây dựngcác kế hoạch nghị trình từ Thành ủy, UBND, các cấp, các ngành Thành phố

đến quận, huyện, xã, phờng Xem đó là cơ sở để thống nhất t tởng, quan điểmchỉ đạo về chủ trơng giải tỏa, đền bù Xác lập các phơng án xây dựng hạ tầng,tái định c, giải quyết việc làm cho nhân dân vùng giải tỏa và biện pháp tổchức triển khai, đặc biệt là phân công phân nhiệm cho các Sở, ban ngành Sựtuân thủ đúng quy trình còn là việc định ra 6 bớc để cụ thể hóa chính sáchgiải tỏa đền bù nh:

Bớc 1: Họp dân công bố quy hoạch và phổ biến chủ trơng GPMB, gửi

thông báo (kế hoạch, thời gian, chỉ dẫn các loại giấy tờ cần sao nộp cho tổcông tác) đến từng hộ

Bớc 2: Tiến hành kiểm định, xác định vị trí đất, tính hợp pháp về nhà đất

một lần theo lịch gửi trớc cho dân Ngay sau khi kiểm định các hộ sẽ đợc biếtngay khối lợng bị giải toả

Bớc 3: Tổ chức họp Hội đồng xét tính hợp pháp đất, vị trí đất, mức đền

bù, hỗ trợ thiệt hại về nhà đất trình UBND thành phố quyết định Công khaikết quả cuối cùng đến tổ dân phố để nhân dân đợc biết Sau 5 ngày niêm yếttại địa phơng và trụ sở cơ quan thực hiện công tác giải toả đền bù để các hộkiểm tra, bổ túc giấy tờ, bổ sung khối lợng để điều chỉnh những sai sót

Ngày đăng: 17/10/2013, 09:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Chính trị (2003), Nghị quyết 33 về xây dựng và phát triển Thành phốĐà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 33 về xây dựng và phát triển Thành phố
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2003
4. Các nhà tài trợ cho Hội nghị Nhóm t vấn các nhà tài trợ Việt Nam, (1-2 tháng 12, 2004), "Báo cáo phát triển Việt Nam 2005 về Điều hành và Quản lý", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2005 về Điều hànhvà Quản lý
5. Harper Collins, Jay M.Shafritz (2002), "Từ điển về chính quyền và chính trị hoa kỳ", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển về chính quyền và chínhtrị hoa kỳ
Tác giả: Harper Collins, Jay M.Shafritz
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
7. TS Lê Vinh Danh (biên dịch) (2001),"Chính sách công của Hoa kỳ", Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công của Hoa kỳ
Tác giả: TS Lê Vinh Danh (biên dịch)
Nhà XB: NxbThống kê
Năm: 2001
8. Douglass C. North (1998), "Các thể chế, sự thay đổi thể chế và hoạt động kinh tế", Tóm lợc công trình đợc giải Nobel, Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể chế, sự thay đổi thể chế và hoạt độngkinh tế
Tác giả: Douglass C. North
Năm: 1998
9. Nguyễn Sĩ Dũng (2005) "Đổi mới hoạt động lập pháp", Tạp chí tia sáng (số 12), tr.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động lập pháp
11.Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12.TS Ngô Huy Đức (2006), "Một vài kết quả từ cuộc điều tra về quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam", tham luận Hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài kết quả từ cuộc điều tra về quy trìnhhoạch định chính sách công ở Việt Nam
Tác giả: TS Ngô Huy Đức
Năm: 2006
13. TS Nguyễn Hữu Hải (chủ biên) (2004) "Hoạch định và phân tích chính sách công", Giáo trình Học viện hành chính quốc gia, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạch định và phân tích chínhsách công
Nhà XB: Nxb Đại họcquốc gia
14. PGS, TS Phạm Hảo chủ nhiệm (2006), "Xây dựng lối sống đô thị trong quátrình đô thị hóa ở Thành phố Đà Nẵng-thực trạng và những giải pháp", Báo cáo khoa học, Học viện Chính trị khu vực III, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng lối sống đô thị trong quátrình đô thị hóa ở Thành phố Đà Nẵng-thực trạng và những giảipháp
Tác giả: PGS, TS Phạm Hảo chủ nhiệm
Năm: 2006
15. Toru Hashimoto Stefan Hell Sang-Woo Nam (12-2005), "Nghiên cứu vàđào tạo chính sách công tại Việt Nam", Viện Ngân hàng phát triển châu á, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vàđào tạo chính sách công tại Việt Nam
17. Hội Xây dựng-Hội kiến trúc s Thành phố Đà Nẵng (2006), "10 năm xây dựng và phát triển đô thị Đà Nẵng", Kỷ yếu hội thảo khoa học, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 năm xây dựng vàphát triển đô thị Đà Nẵng
Tác giả: Hội Xây dựng-Hội kiến trúc s Thành phố Đà Nẵng
Năm: 2006
18. Hội Xây dựng Thành phố Đà Nẵng, Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2006, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ côngtác năm 2006
19. TS Trần Văn Minh (2006), "Xây dựng Đà Nẵng trở thành đô thị văn minh và hiện đại", Tạp chí Quản lý Nhà nớc, Học viện Hành chính quốc gia, (sè 129), tr 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đà Nẵng trở thành đô thị văn minhvà hiện đại
Tác giả: TS Trần Văn Minh
Năm: 2006
20. TS Trần Văn Minh, (2006), "Thành phố Đà Nẵng tạo bớc phát triển đột phá, khẳng định vai trò trung tâm kinh tế, động lực phát triển của khu vực miền Trung", Tạp chí Kinh tế và dự báo (số 5), tr 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Đà Nẵng tạo bớc phát triển độtphá, khẳng định vai trò trung tâm kinh tế, động lực phát triển của khuvực miền Trung
Tác giả: TS Trần Văn Minh
Năm: 2006
21. Đăng Nam (3-12-2006), "Đà Nẵng: quy hoạch còn chủ quan nóng vội", Báo tuổi trẻ, tr 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đà Nẵng: quy hoạch còn chủ quan nóng vội
22. Nguyễn Đức Nam (2006) "Dáng vóc Đà Nẵng qua góc nhìn của các nhà chuyên môn", Báo Đà Nẵng (số 192), tr 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dáng vóc Đà Nẵng qua góc nhìn của các nhàchuyên môn
23. J. Patrick Gunning, nhóm dịch giả Viện Chính trị học do Ngô Huy Đức hiệu đính ( 2006),"Lựa chọn cộng cộng một tiếp cận nghiên cứu chính sách công", Viện chính trị học - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn cộng cộng một tiếp cận nghiên cứuchính sách công
25. Thang Văn phúc (chủ biên) (2002), "Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nớc", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của các hội trong đổi mới vàphát triển đất nớc
Tác giả: Thang Văn phúc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
26. Dơng Trung Quốc, Trần Hữu Đính, Nguyễn Văn Nhật, Nguyễn Tố Uyên, Ngô văn Minh (2001), "Lịch sử Thành phố Đà Nẵng", Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Dơng Trung Quốc, Trần Hữu Đính, Nguyễn Văn Nhật, Nguyễn Tố Uyên, Ngô văn Minh
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w