1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hình tượng người phụ nữ mới trong một số tác phẩm tiêu biểu của tự lực văn đoàn và văn học hàn quốc thời nhật thuộc tt

27 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 367,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tìm hiểu những sự tương đồng và khác biệt về hìnhtượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX không chỉ giúp xác định những thuộc tính của nền văn họckhu v

Trang 1

-o0o -BANG JEONG YUN

H×NH T¦îNG NG¦êI PHô N÷ MíI TRONG MéT Sè T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA Tù LùC V¡N §OµN

Vµ V¡N HäC HµN QUèC THêI NHËT THUéC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9.22.01.21

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN TOÀN PGS.TS LÊ HẢI ANH

Phản biện 1: GS.TS TRẦN NHO THÌN

Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội

Phản biện 2: PGS.TS HỎA DIỆU THÚY

Trường Đại học Hồng Đức

Phản biện 3: PGS.TS ĐẶNG THU THỦY

Trường Đai học Sư phạm Hà Nội

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường

họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

vào … giờ , ngày… tháng… năm 2020

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Việt Nam dưới thời đô hộ của thực dân Pháp và Hàn Quốctrong những năm bị Nhật chiếm đóng có rất nhiều nét tương đồng vềbối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội Mặc dù chịu sự xâm chiếm vàđàn áp của thực dân, nhưng cả hai quốc gia đồng thời cũng tiếp thu

và chịu ảnh hưởng của văn hóa hiện đại, và vì thế người phụ nữ cónhiều cơ hội mới để tham dự vào đời sống xã hội Chịu ảnh hưởngcủa văn hóa hiện đại, người phụ nữ đã có ý thức hơn về bản thân, cókhát khao bình đẳng, tự lập, muốn được giải phóng bản thân vàkhẳng định mình Tất cả những biến đổi trên đã khiến người phụ nữtrở thành một trong những hình tượng nghệ thuật trung tâm trong cácsáng tác văn học của những tác giả tiêu biểu thời bấy giờ

1.2 Việc tìm hiểu những sự tương đồng và khác biệt về hìnhtượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế

kỷ XX không chỉ giúp xác định những thuộc tính của nền văn họckhu vực trong một thời kỳ chia sẻ nhiều đặc điểm chung (chịu ảnhhưởng của Nho giáo, bối cảnh thuộc địa, xu thế hiện đại hóa…), màcòn giúp hiểu sâu sắc hơn những đặc trưng, cả thành tựu lẫn hạn chế,trong văn học và văn hoá của hai quốc gia Đây cũng là một xu thếnghiên cứu văn học ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai.1.3 Là nghiên cứu sinh người Hàn Quốc, tôi hiện đang làmviệc tại Đại sứ quán Hàn Quốc ở Việt Nam được 6 năm Trong thờigian đó (với công việc chính là đăng ký hộ tịch và quốc tịch cho cácgia đình đa văn hóa, đặc biệt là đăng ký kết hôn cũng như ly hôn chocác cô dâu Việt ở Hàn Quốc) tôi nhận thấy có nhiều vấn đề tiêu cựcnảy sinh do sự thiếu hiểu biết về văn hóa, con người giữa hai quốcgia Vì thế, tôi có mong muốn làm rõ các đặc điểm văn hoá củangười phụ nữ Việt Nam và Hàn Quốc, hiểu hơn về tâm hồn và thóiquen sinh hoạt, ứng xử của người phụ nữ ở hai quốc gia, góp phầngiúp họ có điều kiện để hoà nhập tốt hơn với môi trường sống trênđất nước mới của mình

Đó là những lý do để chúng tôi thực hiện một nghiên cứu so

Trang 4

sánh về hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực vănđoàn và người phụ nữ trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc.

2 Mục đích nghiên cứu

- Thấy được quy luật của sự tiếp biến, cách tân văn học mỗidân tộc trước những ảnh hưởng từ phương Tây

- Hiểu sâu hơn các đặc điểm văn học, văn hóa của hai quốc gia

- Hiểu hơn về đặc điểm văn hoá của người phụ nữ Việt Nam

và Hàn Quốc, từ đó, góp phần thúc đẩy sự giao lưu, hoà nhập củacông dân hai nước, đặc biệt là với những người phụ nữ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi xác định là hình tượng cácnhân vật phụ nữ mới trong mốt số sáng tác tiêu biểu của Tự Lực vănđoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc Trong đó, thuậtngữ “người phụ nữ mới” chủ yếu gắn với nội hàm là sự hình thànhmột hệ chuẩn phụ nữ mới dưới những ảnh hưởng từ phương Tây vớihai nét nghĩa chính: chống lại lễ giáo (Nho giáo); có ý thức về cái tôi,

ý thức về quyền sống

b Phạm vi nghiên cứu

- Tự Lực văn đoàn: tập trung khảo sát các tiểu thuyết Đoạn

tuyệt (1934), Nửa chừng xuân (1934), Lạnh Lùng (1935).

- Văn học Hàn Quốc: tập trung khảo sát các tác phẩm Mẹ và

con gái (1931), Đêm giao thừa (1931), Lễ tổ tiên trên núi (1938), Chức nữ (1938) và Hoàng hôn đỏ rực (1939).

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát những tác phẩm tiêu biểu về người phụ nữ trong TựLực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

- Tiến hành so sánh để tìm ra những điểm tương đồng khácbiệt về hình tượng người phụ nữ trong Tự Lực văn đoàn và trong vănhọc Hàn Quốc thời Nhật thuộc

- Tìm hiểu những đặc điểm văn hoá – xã hội để lý giải chonhững khác biệt và tương đồng của hình tượng người phụ nữ trong

Trang 5

Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc.

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp khảo sát thống kê

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp liên ngành

6 Đóng góp mới của luận án

Luận án của chúng tôi là công trình đầu tiên đưa hai đối tượngtrên vào so sánh nhằm chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt, từ

đó giúp cho không chỉ nhìn nhận sâu hơn những thành tựu của từngnhóm, từng nền văn học, mà còn cho phép khái quát đặc điểm sángtác văn học ở phạm vi khu vực trong một bối cảnh lịch sử cụ thể

7 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 4 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề.

- Chương 2: Bối cảnh xã hội - văn hoá cho sự xuất hiện hình

tượng người phụ nữ mới trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn vàtrong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

- Chương 3: Hình tượng người phụ nữ mới trong sáng tác của

Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc –những tương đồng

- Chương 4: Hình tượng người phụ nữ mới trong sáng tác của

Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc –những khác biệt

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Văn học so sánh và sự vận dụng đối với nền văn học Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX

Văn học so sánh đã xuất hiện từ lâu, từng bước phát triển vàđến ngày nay, nó được xác định là “một bộ môn khoa học nghiêncứu mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” Đối tượng cơ bảncủa văn học so sánh là các hiện tượng văn học thuộc các nền văn họckhác nhau của các dân tộc khác nhau Hồ Á Mẫn xác định văn học sosánh là một bộ môn có tính quốc tế: “Tinh thần cơ bản của nó là coivăn học toàn thế giới là một chỉnh thể, đặt văn học các nước vào mộtkết cấu chỉnh thể để nhận thức và so sánh (…) qua đó vạch ra và nắmvững quy luật và mối liên hệ của văn học”

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân, văn học so sánh baogồm 3 bộ phận: (1) nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học cóảnh hưởng lẫn nhau; (2) nghiên cứu sự tương đồng giữa các nền vănhọc không có ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau (sự tương đồng do điềukiện lịch sử quy định); (3) nghiên cứu sự khác biệt giữa các nền vănhọc để chỉ ra tính đặc thù của văn học từng dân tộc Các bình diệnđược đưa vào so sánh gồm: thể loại, đề tài, tư tưởng, phong cách,trào lưu, trường phái

Nói tóm lại, văn học so sánh là một bộ môn khoa học nhằmchỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa các hiện tượng vănhọc thuộc các nền văn học khác nhau Do đó, việc soi chiếu hai nềnvăn học Việt Nam và Hàn Quốc hiện đại thời kỳ đầu thế kỷ XX, đặcbiệt là thông qua một mô típ chung là hình tượng người phụ nữ mớidưới góc nhìn của lý thuyết văn học so sánh là phù hợp và hữu ích

1.2 Lịch sử nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn

1.2.1 Về nội dung tư tưởng

Phần đông các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao sáng tác của

Tự Lực văn đoàn trước hết là ở tính luận đề mạnh mẽ thông qua hình

Trang 7

tượng người phụ nữ: “Đó là lời kết án gay gắt ném vào lễ giáo, đạođức, tập quán gia đình phong kiến, nêu cao khẩu hiệu giải phóng phụ

nữ, giải phóng cá nhân” Trương Chính từ năm 1935 đã sớm chỉ ra

cái ý đồ ngầm ẩn đằng sau câu chuyện ái tình, hôn nhân ở Đoạn

tuyệt: “Chủ ý của ông Nhất Linh viết Đoạn tuyệt là làm cho người

đọc yêu mới và ghét cũ Nếu đọc xong Đoạn tuyệt mà ta ghét cũ, yêu

mới, rồi tìm cách để bỏ cũ và theo mới là tác giả nó đã thành công”.Các tác giả Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng cho rằng tính luận đềnày còn xuyên suốt và chi phối cả nội dung sáng tác: “Nét riêng tiểuthuyết tình yêu của Tự Lực văn đoàn là ở chỗ, đó không phải lànhững truyện tình thuần túy, không chỉ nói về tình yêu với nhữngquy luật tình cảm riêng của nó, với những niềm vui, hạnh phúc vàkhổ đau mà nó đem lại cho các cặp tình nhân Khái Hưng, NhấtLinh, Hoàng Đạo bao giờ cũng có ý thức lồng vào trong các câuchuyện tình của mình một ý tưởng cải cách xã hội nào đó”

Đề cập đến vấn đề người phụ nữ, không thể không nhắc tớihình tượng các nhân vật nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn Thếgiới nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn là một kiểu nhânvật riêng mà các nhà nghiên cứu gọi bằng cái tên “gái mới” Các tácgiả Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng nhận định: “Đó là nhữngnhân vật được gọi là thanh niên tân thời (nam), là gái mới (nữ),thương mang một cái tên chung là “chàng” và “nàng” ( ) Nhữngcon người này chịu ảnh hưởng của tư tưởng văn hóa, văn minh và lốisống sinh hoạt của phương Tây hiện đại Họ chống lễ giáo phongkiến, đấu tranh cho chủ nghĩa cá nhân, cho tình yêu và hôn nhân tự

do, cổ vũ cho phong trào Âu hóa từ tư tưởng văn chương nghệ thuậtđến y phục và cách hưởng thụ đời sống vật chất”

1.2.2 Về nghệ thuật biểu hiện

Giá trị nghệ thuật được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vàchỉ ra, trong đó liên quan trực tiếp đến các nhân vật nữ ở hai khía

cạnh: vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp nội tâm.

Về ngoại hình, Trịnh Hồ Khoa nhấn mạnh đến ý thức miêu

tả ngoại hình nhân vật: “Bắt đầu từ Tự Lực văn đoàn, vẻ đẹp thể

Trang 8

chất mới được xem là tiêu chuẩn để đánh giá con người hoànchỉnh Điều này thể hiện một quan điểm thẩm mỹ mới có tính thờiđại ( )” Lê Thị Dục Tú cũng cùng quan điểm: “Các nhân vậthiện ra dần dần mang đến cho người đọc sự thưởng thức từ từ ởnhững đường nét ấn tượng và gợi cảm giác thưởng thức” Về nội

tâm, Trương Chính cho rằng: “Đoạn tuyệt không chỉ có một giá trị

xã hội Nó còn có một giá trị tâm lý không ai chối cãi được ÔngNhất Linh đã dùng một cách quan sát rất tinh vi để tả những trạngthái phiền phức trong tâm hồn riêng của nhân vật trong truyện và

để đi sâu vào đời bên trong của họ”

1.3 Lịch sử nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

1.3.1 Về nội dung tư tưởng

Các tác phẩm nhìn chung đều được đánh giá cao ở ý nghĩagiải phóng người phụ nữ Kim Mi Huyn đã nhận định về tác phẩm

Mẹ và con gái như sau: "Mẹ và con gái của Kang Kyung Ae đã

được ra đời vào tháng 8 năm 1931 do biên tập viên tạp chí Hye

Sung tiến cử, nên có thể gọi là tác phẩm đầu tiên của tác giả Thông

qua tác phẩm, tác giả cố gắng tìm ra cách giải quyết tình trạng bị ápbức của người phụ nữ lúc bấy giờ trong những mối quan hệ khácnhau Vì vậy mà mối quan hệ của nhân vật chính luôn tập trung vào

vấn đề phụ nữ" Đánh giá tác phẩm Đêm giao thừa, Kim Min Jeong

cho rằng: “Tác phẩm làm nổi bật hình ảnh người phụ nữ với khátkhao được tận hưởng tình yêu tự do, được làm một "chủ thể" độclập Vì thế, Choi Jung-in trở thành "một người phụ nữ có khát vọngđược thực hiện quyền tự quyết của mình" Yoon Byung Lo cũng có

nhận định tương tự về Chức nữ: “Xây dựng nhân vật Lee In Sook là

tác giả đã lấy hình ảnh người vợ của mình để làm mẫu, nhân vật nữchính có bước chuyển từ một người phụ nữ truyền thống thành mộtcon người mới Cô muốn thoát khỏi những giá trị cổ hủ, truyềnthống và muốn tìm kiếm hạnh phúc, giá trị thực sự trong cuộc sốngthông qua việc giúp đỡ người khác”

1.3.2 Về nghệ thuật biểu hiện

Trang 9

Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc chỉ ra những đổi mới nghệthuật trong các sáng tác của các nhà văn Hàn Quốc Hong Ki Samđánh giá cao tài năng miêu tả tâm lý người phụ nữ của Choi JungHee: “Tiểu thuyết của Choi Jung Hee miêu tả rõ nét tâm lý của ngườiphụ nữ, khác với tình trạng miêu tả nghèo nàn trong văn học nhữngnăm 1930, đặc biệt là miêu tả rõ về sự mâu thuẫn giữa bản năng và lý

trí” Về tác phẩm Đêm giao thừa, Kim Yun Sik nhận định: “Nghệ

thuật xây dựng nhân vật khác biệt hoàn toàn so với các tác phẩmcùng thời tạo nên sự độc đáo của tác phẩm, không lẫn vào đâu được.( ) Ngoài ra cũng cần lưu ý đến cách kể chuyện, hình thức kểchuyện bằng cách viết thư kể lại cuộc đời mình Nó có thể mang tínhchủ quan của tác giả, nhưng lại giúp thể thể hiện trọn vẹn những gì

mà tác giả muốn gửi gắm vào nhân vật”

1.4 Tiểu kết và định hướng của luận án

Lịch sử nghiên cứu trên đây ở cả Việt Nam và Hàn Quốc chothấy những sôi động, những đối thoại, và cả những khác biệt, mâuthuẫn trong các công trình nghiên cứu về người phụ nữ trong cácsáng tác văn học đầu thế kỷ XX ở hai quốc gia Ở Việt Nam cũngnhư ở Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu đều chỉ ra và đánh giá cao việccác sáng tác văn học thời kỳ này đã xây dựng thành công hình ảnhngười “phụ nữ mới”, đưa người “phụ nữ mới” này trở thành mộthình tượng văn học nổi bật đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, từ góc độ vănhọc so sánh, có thể thấy chưa có bất kỳ công trình nào đưa hai đốitượng trên vào so sánh một cách kỹ lưỡng và toàn diện Các côngtrình trên đây một mặt khai thác rất sâu các đặc điểm, thành tựu củatừng nền văn học, nhưng mặt khác, lại vô hình trung không thấyđược những đặc điểm đó ở phạm vi rộng lớn hơn, vượt ra khỏi giớihạn của biên giới quốc gia

Đặt vấn đề so sánh hình tượng người phụ nữ trong các sángtác của Tự Lực văn đoàn ở Việt Nam và của các nhà văn Hàn Quốcthời Nhật thuộc, chúng tôi một mặt tiếp tục đi sâu hơn vào những đặcđiểm đã được giới nghiên cứu ở hai nước trước đây chỉ ra, đồng thờikhắc phục điểm hạn chế trên đây của những nhà nghiên cứu đi trước

Trang 10

Sự tương đồng trên nhiều mặt của hai quốc gia, hai nền văn học giaiđoạn nửa đầu thế kỷ XX, từ bối cảnh xã hội, bối cảnh văn học, đếncác trào lưu tư tưởng, trào lưu văn hóa, văn học, sự chuyển mình củađội ngũ sáng tác, hệ công chúng, cùng sự tương đồng về đề tài, chủ

đề, hình tượng nghệ thuật (trong trường hợp này là hình tượng ngườiphụ nữ mới) là cơ sơ để chúng tôi triển khai luận án Một cái nhìnđối sánh giữa hai quốc gia (đây cũng là cơ sở cho phép các côngtrình sau mở rộng phạm vi với nhiều quốc gia, nhiều khu vực vừa nóitrên) không chỉ giúp chúng ta nhận diện và khái quát những điểmtương đồng, mà còn thúc đẩy việc phát hiện những nét riêng biệt, độcđáo ở từng quốc gia, từng tác giả văn học qua vấn đề người phụ nữ

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH XÃ HỘI – VĂN HOÁ CHO SỰ XUẤT HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC

THỜI NHẬT THUỘC 2.1 Quan niệm truyền thống về người phụ nữ phong kiến

2.1.1 Người phụ nữ trong xã hội Việt Nam thời phong kiến

Từ thế kỷ XV, Nho giáo ở Việt Nam, đặc biệt là Tống nho đãchiếm vị trí độc tôn, trở thành hệ tư tưởng chính thống Vì thế nhữngluân lý trói buộc của Khổng giáo đối với người phụ nữ trở nên nặng

nề hơn rất nhiều Tuy không đến mức theo đúng với đạo tam tòng,nhưng trong gia đình người phụ nữ vẫn ở thế yếu so với đàn ông.Trong khi người đàn ông được hưởng nhiều quyền lợi về xãhội và giáo dục (đi học, đi thi, làm quan), thì người phụ nữ hoàn toànkhông có những cơ hội đó, thậm chí họ bị cấm đoán Người phụ nữ

bị gắn chặt trong không gian gia đình, bị ràng buộc bởi các tráchnhiệm với nhà chồng và bị lệ thuộc vào chồng con, hôn nhân thìthường do sự sắp đặt của cha mẹ Từ năm 1470, nhà Lê đã ban hành

24 điều giáo huấn nhằm củng cố lễ giáo, đưa tam tòng và tứ đức trở

Trang 11

thành những chuẩn mực về đạo đức đối với người phụ nữ Điều đó chothấy quan niệm nghiệt ngã của Nho giáo về vấn đề trinh tiết phụ nữ, sựbất công, áp đặt một cách hà khắc của Nho giáo đối với phụ nữ.

2.1.2 Người phụ nữ trong xã hội Hàn Quốc thời phong kiến

Trong thời đại Joseon (1392-1910), Nho giáo chính thức trởthành hệ tư tưởng độc tôn với những quy tắc “nghiêm ngặt và cứngnhắc, siết chặt tam cương, ngũ thường”

Người phụ nữ Hàn Quốc truyền thống cũng bị trói buộc trongnhững giáo điều luân lý khắt khe và phi nhân đạo: “Không có trườngdạy tiếng bản địa cho phụ nữ, và mặc dù phụ nữ ở tầng lớp trên đượchọc chữ viết dân tộc, nhưng ước tính trong 1000 người chỉ có 2 phụ

nữ Hàn Quốc biết đọc Một nền triết học du nhập từ Trung Quốc,những quan niệm mê tín, nền giáo dục cho nam giới, nạn mù chữ,lượng quyền lợi tối thiểu, và những tập quán cứng nhắc, đã liên kếtvới nhau để đẩy người phụ nữ Hàn Quốc vào một địa vị thấp kémnhất trong những dân tộc lạc hậu trên thế giới”

Như vậy, Nho giáo đã có những ảnh hưởng sâu rộng đến xãhội Việt Nam và Hàn Quốc cuối thế kỷ XIX, ở đó người phụ nữ hầunhư không có địa vị, không có tiếng nói, họ bị biến thành nạn nhâncủa những lề lối, những tập tục bảo thủ, nghiệt ngã của lễ giáo phongkiến đang ràng buộc lấy họ trong phạm vi gia đình và trong nhữngkhuôn khổ đạo đức phi nhân bản

2.2 Phương Tây và sự hình thành quan niệm mới về người phụ nữ

2.2.1 Công cuộc hiện đại hóa xã hội Việt Nam

2.2.1.1 Sự hình thành các đô thị mới và tầng lớp thị dân

Nhằm đáp ứng các nhu cầu chính trị, văn hóa, và đặc biệt là vềkinh tế, chính quyền thực dân đã tiến hành hàng loạt các chính sáchnhằm xây dựng và phát triển các thành phố lớn trên cả nước, trong sốcác thành thị đó, chiếm số lượng đông đảo và có ý nghĩa đáng kể đến

bộ mặt đô thị Việt Nam là tầng lớp tiểu tư sản, gồm: công chức, tiểuthương, trí thức và học sinh, sinh viên Các đô thị mới này dưới ảnhhưởng của phương Tây đã mang trong nó màu sắc mới, điều này đã

Trang 12

làm đời sống đô thị trở nên năng động và có khả năng hấp thụ cáimới hơn rất nhiều.

2.2.1.2 Sự xuất hiện các trường Tây học kiểu mới và chính sách giáo dục dành cho phụ nữ

Đến đầu thế kỷ XX nền giáo dục Nho học về cơ bản bị thay thếhoàn toàn bởi nền giáo dục và hệ thống các trường Tây học kiểu mới

Về chương trình học, việc dạy chữ Nho cũng như các nội dung Hánhọc bị giới hạn và bị kiểm soát chặt chẽ, thay vào đó tiếng Pháp và cácmôn học mới (như toán, lý, hóa, sinh lý, lịch sử, luân lý, ) được dạyhọc rộng rãi Nội dung học tập cũng ngày càng mở rộng với các kiếnthức hiện đại phương Tây Nói cách khác, nền giáo dục không ngừngđược cải cách theo hướng hiện đại hóa, Âu hóa Đối với giáo dục phụ

nữ, đã có các trường học chuyên biệt dành cho nữ giới

2.2.1.3 Sự nở rộ của báo chí và các hoạt động xuất bản truyền bá văn hóa mới

Báo chí thời kỳ này đã có đóng góp hai vai trò to lớn: truyền

bá văn hóa tư tưởng Âu Tây vào Việt Nam; đả phá các thói tệ hủ lậu,bảo thủ của nền Nho giáo phong kiến và của làng xã chốn thôn quê

Sự lớn mạnh của báo chí nói chung và báo chí phụ nữ nói riêng đã cónhiều tác động quan trọng đến nhận thức về người phụ nữ Các nhàbáo, nhà văn nói trên, trong khi truyền bá tư tưởng Âu Tây và đả phá

lễ giáo phong kiến, một cách hết sức tự nhiên và tất yếu, họ lên tiếngbênh vực cho quyền lợi người phụ nữ

2.2.1.4 Sự ảnh hưởng từ các tư tưởng mới của phương Tây về con người nói chung và về người phụ nữ nói riêng

Gồm 2 trào lưu lớn: sự du nhập, truyền bá tư tưởng khai phóng

về con người và xã hội và trào lưu nữ quyền ở phương Tây Cácphong trào này nhanh chóng lan sang Việt Nam và đem đến mộtquan niệm mới vẻ về người phụ nữ

2.2.2 Công cuộc hiện đại hóa xã hội Hàn Quốc

2.2.2.1 Phương Tây và vai trò của Nhật Bản trong việc hiện đại hóa xã hội Hàn Quốc

Nhật Bản đã chính thức thuộc địa hoá bán đảo Hàn vào năm

1910, nhưng từ trước đó, Nhật Bản đã áp dụng một loạt biện pháp để

Trang 13

bước đầu cải cách bán đảo Hàn truyền thống về cả kinh tế và xã hội.Điều đó đã góp phần thúc đẩy quan niệm về con người có những sựthay đổi và phát triển, đặc biệt là quan niệm về người phụ nữ vốn cóđịa vị xã hội thấp lúc bấy giờ.

2.2.2.2 Đô thị và sự tiếp nhận phương Tây hiện đại

Quá trình đô thị hóa cùng với sự ảnh hưởng của Nhật Bản vàphương Tây đã mở ra một đời sống với những trải nghiệm mới chongười phụ nữ, như việc đi xem chiếu phim, đi cafe, dạo bước trênnhững phố xá nhộn nhịp, hay đến các hiệu mua sắm Đời sống đô thị

đã tạo nên hình ảnh mới về người phụ nữ khác xa với chính họ trongnhững dáng vẻ và trang phục truyền thống

2.2.2.3 Nền giáo dục mới dành cho phụ nữ

Cần phải nói rằng, giáo dục Hàn Quốc thời kỳ này có nhữngthay đổi rất đáng kể Mặc dù vẫn bị hạn chế hơn rất nhiều so với namgiới, nhưng phụ nữ Hàn Quốc bắt đầu được hưởng nền giáo dục mớimẻ và tương đối rộng rãi trong thời kỳ thực dân Nhật cai trị Có thểnói, nền giáo dục mới mang tính hiện đại hóa và phổ thông mà chínhquyền Nhật Bản áp dụng ở Hàn Quốc đã đem đến những đổi thaytích cực, trong đó có sự ra đời một bộ phận phụ nữ ngày một đôngđảo được gọi là “phụ nữ tân thời”, “gái mới” (new women)

2.2.2.4 Sự ra đời của “sin yosong” trên báo chí và ý thức mới

về người phụ nữ

Từ đầu thế kỷ XX, người phụ nữ Hàn Quốc hiện diện dướimột tên gọi mới: “phụ nữ tân thời”

Sin yosong, dịch sang tiếng Việt nghĩa là “người phụ nữ mới”,

nhưng, một cách phổ biến hơn trong báo chí và văn học Việt Namđầu thế kỷ XX, là tên gọi “phụ nữ tân thời”, hay “gái mới” Điểmchung của nhóm “phụ nữ tân thời” này là họ đều có học vấn (cònđược gọi là các nữ sinh – yohaksaeng), đôi khi còn để chỉ nhóm phụ

nữ tinh hoa có các hoạt động văn chương, giáo dục, báo chí haychính trị, Năm 1924, có một định nghĩa về người phụ nữ mới nhưsau: “Người phụ nữ mới có hiểu biết và nhận thức được về quyềnbình đẳng, và khác với người phụ nữ truyền thống, họ quyết tâm thựchiện những ước mơ của mình”

Ngày đăng: 26/08/2020, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w