1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hình tượng người phụ nữ mới trong một số tác phẩm tiêu biểu của tự lực văn đoàn và văn học hàn quốc thời nhật thuộc

230 233 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỐI CẢNH XÃ HỘI – VĂN HOÁ CHO SỰ XUẤT HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC .... HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRON

Trang 1

BANG JEONG YUN

H×NH T¦îNG NG¦êI PHô N÷ MíI TRONG MéT Sè T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA Tù LùC V¡N §OµN

Vµ V¡N HäC HµN QUèC THêI NHËT THUéC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BANG JEONG YUN

H×NH T¦îNG NG¦êI PHô N÷ MíI TRONG MéT Sè T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA Tù LùC V¡N §OµN

Vµ V¡N HäC HµN QUèC THêI NHËT THUéC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9.22.01.21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN TOÀN

PGS.TS LÊ HẢI ANH

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi.Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiêncứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 12 năm 2019

Tác giả luận án

BANG JEONG YUN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp mới của luận án 6

7 Cấu trúc của luận án 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 8

1.1 Văn học so sánh và sự vận dụng đối với nền văn học Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX 8

1.2 Lịch sử nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn 15

1.2.1 Về nội dung tư tưởng 15

1.2.2 Về nghệ thuật biểu hiện 21

1.3 Lịch sử nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc 25

1.3.1 Về nội dung tư tưởng 25

1.3.2 Về nghệ thuật biểu hiện 31

1.4 Tiểu kết và định hướng của luận án 32

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH XÃ HỘI – VĂN HOÁ CHO SỰ XUẤT HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC 35

2.1 Quan niệm truyền thống về người phụ nữ thời phong kiến 35

2.1.1 Người phụ nữ trong xã hội Việt Nam thời phong kiến 35

2.1.2 Người phụ nữ trong xã hội Hàn Quốc thời phong kiến 37

2.2 Phương Tây và sự hình thành quan niệm mới về người phụ nữ mới

Trang 5

38

2.2.1 Công cuộc hiện đại hóa xã hội Việt Nam 39

2.2.2 Công cuộc hiện đại hóa xã hội Hàn Quốc 45

2.3 Nền văn học được hiện đại hóa và vấn đề phụ nữ 54

2.3.1 Hiện đại hóa văn học và quan niệm của Tự Lực văn đoàn về vấn đề phụ nữ 54

2.3.2 Hiện đại hóa văn học và cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ của các nhà văn Hàn Quốc thời Nhật thuộc 55

2.4 Một số điểm tương đồng và khác biệt trong xã hội Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX 63

2.4.1 Các điểm tương đồng 63

2.4.2 Các điểm khác biệt 66

CHƯƠNG 3 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC - NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG 70

3.1 Người phụ nữ – nạn nhân của nền luân lý cũ và chế độ gia trưởng 70

3.1.1 Không được quyền tự chủ trong tình yêu và bị cưỡng ép hôn nhân 70

3.1.2 Bị chồng và gia đình chồng đối xử tệ bạc 76

3.2 Vẻ đẹp của hình tượng người phụ nữ mới 83

3.2.1 Nét đẹp truyền thống ở người phụ nữ mới 85

3.2.2 Người phụ nữ mới với những tư tưởng tiến bộ của thời đại 89

3.3 Một vài điểm tương đồng trên phương diện nghệ thuật 103

3.3.1 Miêu tả trực quan ngoại hình nhân vật 103

3.3.2 Độc thoại nội tâm và sự đi sâu miêu tả tâm lý nhân vật 106

CHƯƠNG 4 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC - NHỮNG KHÁC BIỆT 111 4.1 Bi kịch bị áp bức của người phụ nữ và những vấn đề của xã hội

Trang 6

Việt Nam, Hàn Quốc đầu thế kỷ XX 111

4.2 Các xung đột và tư tưởng nghệ thuật được biểu hiện qua hình tượng người phụ nữ 115

4.2.1 Các xung đột và việc xây dựng hệ thống nhân vật 115

4.2.2 Quan hệ xung đột giữa các hệ thống nhân vật và tư tưởng nghệ thuật của nhà văn 130

4.2.3 Giải quyết xung đột và sự lựa chọn hành động của các nhân vật nữ 134

4.3 Một số khác biệt trên phương diện nghệ thuật 139

4.3.1 Nghệ thuật tạo dựng các tình huống kịch tính 139

4.3.2 Lựa chọn điểm nhìn và nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật 143

4.3.3 Nghệ thuật xây dựng tình huống gây hấn 144

KẾT LUẬN 148

CÁC ẤN PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ TRONG THỜI GIAN HOÀN THÀNH LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 1PL

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp Chế độ thuộcđịa, với tất cả những tác động tiêu cực của nó, vẫn góp phần đem đến một cửa sổmới để nhìn ra thế giới Cùng với sự hình thành của những đô thị mới, sự ra đời của

hệ thống trường học Pháp – Việt, sự hình thành của báo chí… xã hội Việt Nam từngbước được hiện đại hóa theo mô hình phương Tây Tất cả những điều đó làm thayđổi cái nhìn, sự kỳ vọng của xã hội về người phụ nữ cũng như đem đến cho ngườiphụ nữ những cơ hội mới để tham dự vào đời sống xã hội Đây là tiền đề để làmxuất hiện hình tượng người phụ nữ mới trong nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX, mà ở đó các sáng tác của Tự Lực văn đoàn là một thành tựu nổi bật

Tình hình tương tự cũng xảy ra ở Hàn Quốc thời Nhật thuộc (1910 – 1945)

Sự cai trị của Nhật rất tàn bạo và nhiều người Hàn Quốc đã tìm cách kháng cự, dẫnđến phong trào đòi độc lập Phong trào này đã bị Nhật đàn áp dã man và hàng ngànngười đã bị Nhật giết hại Trong thế chiến thứ hai, nhiều người Hàn Quốc đã bịcưỡng bức trong các nỗ lực chiến tranh của Nhật Hàng vạn người đàn ông đã bị bắt

đi lính trong quân đội Nhật, trong khi đến 200.000 phụ nữ đã bị cưỡng bức lao độnghay làm nô lệ tình dục, được gọi là "úy an phụ" (慰安婦, 위위위) Những người phụ

nữ trở thành nạn nhân của hành vi cưỡng hiếp và lạm dụng hàng ngày Cụ Lee OkSeon là một trong số 200.000 phụ nữ, chủ yếu đến từ bán đảo Hàn Quốc, phải muavui cho lính Nhật trong các nhà thổ từ năm 1932 đến 1945 cho biết: “Tôi bị ép làmgái nhà thổ năm 15 tuổi Nhiều em 14 tuổi cũng phải phục vụ 40 đến 50 người mỗingày” Cuộc sống đau đớn và tủi nhục đến nỗi nhiều phụ nữ đã tự tử bằng cáchnhảy xuống nước hoặc treo cổ trên núi Tình trạng này vì thế đã có tác động khôngnhỏ đến số phận và vị thế của người phụ nữ Hàn Quốc suốt thời kỳ Nhật thuộc Vàcho đến nay, nó vẫn là một ám ảnh day dứt, trở đi trở lại trong các luận bàn của cảgiới nghiên cứu sử học lẫn văn học ở Hàn Quốc

Tuy nhiên, Nhật Bản khi chiếm đóng Hàn Quốc đã áp dụng một loạt biện pháp

để bước đầu cải cách bán đảo Hàn truyền thống về cả kinh tế và xã hội Người Hàn

Trang 8

Quốc bắt đầu được tiếp xúc với văn hóa phương Tây thông qua Nhật Bản NgườiHàn Quốc, mà đặc biệt là người phụ nữ, mặc dù bị hạn chế học hành, nhưng đã có

sự trưởng thành nhiều hơn xưa Chịu ảnh hưởng của văn hóa hiện đại hơn, ngườiphụ nữ đã có ý thức hơn về bản thân, có khát khao muốn bình đẳng, tự lập, khát vọngmuốn được giải phóng bản thân và khẳng định mình, cống hiến cho xã hội Tất cảnhững biến đổi trên đã khiến người phụ nữ trở thành một trong những hình tượngnghệ thuật trung tâm trong các sáng tác văn học của những tác giả tiêu biểu như: ChoiJung Hee, Sim Hun, Kang Kyung Ae, Baek Shin Ae, Yeam Sang Sub…

Đây là lý do để chúng tôi thực hiện một nghiên cứu so sánh về hình tượngngười phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn và người phụ nữ trong văn họcHàn Quốc thời Nhật thuộc

1.2 Việc tìm hiểu những sự tương đồng và khác biệt về hình tượng người phụ

nữ trong văn học Việt Nam và Hàn Quốc không chỉ giúp xác định những thuộc tínhcủa nền văn học khu vực từng một thời kỳ chia sẻ rất nhiều đặc điểm chung (và vìthế, góp phần tổng quát một vài khía cạnh trên phương diện lý thuyết vượt ra ngoàiphạm vi quốc gia), mà còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn những đặc trưng, cảthành tựu lẫn hạn chế, trong văn học và văn hoá của hai quốc gia Đây cũng là một

xu thế nghiên cứu văn học ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai, khi mà sựtìm tòi trong phạm vi mỗi quốc gia dường như là không đủ để cắt nghĩa nhữngtrường hợp có tính chất phổ biến ở một khu vực rộng lớn, thậm chí vươn tầm thếgiới Đồng thời, sự giao lưu và hội nhập giữa các quốc gia cho phép người ta tiếpcận, nhận diện nhiều nền văn học khác nhau một cách dễ dàng, thuận tiện hơn, làmnảy sinh nhu cầu cắt nghĩa những hiện tượng tương đồng, trong đó sự gặp gỡ vềhình tượng người phụ nữ mới của Tự lực văn đoàn ở Việt Nam và của các nhà vănHàn Quốc thời Nhật thuộc đang gợi ra rất nhiều hướng đi thú vị

1.3 Hiện nay, tại Hàn Quốc có một tỷ lệ không nhỏ các cô dâu Việt Nam, và ởchiều ngược lại, không ít người Hàn Quốc sang Việt Nam để làm việc, lao động,trong đó có các phụ nữ theo chồng sang sinh sống Việc tìm hiểu về hình tượngngười phụ nữ trong văn học Việt Nam và Hàn Quốc sẽ góp phần hiểu hơn về tâmhồn và thói quen sinh hoạt, ứng xử của người phụ nữ ở hai quốc gia Từ đó, góp

Trang 9

phần nhỏ bé nhưng thiết thực giúp họ có điều kiện để hoà nhập tốt hơn với môitrường sống trên đất nước mới của mình.

Là nghiên cứu sinh (NCS) người Hàn Quốc, tôi hiện đang làm việc tại Đại sứquán Hàn Quốc ở Việt Nam được 6 năm Trong thời gian đó (với công việc chính làđăng ký hộ tịch và quốc tịch cho các gia đình đa văn hóa, đặc biệt là việc đăng kýkết hôn cũng như ly hôn cho các cô dâu Việt ở Hàn Quốc) tôi nhận thấy có nhiềuvấn đề tiêu cực nảy sinh do sự thiếu hiểu biết về văn hóa, con người giữa hai quốcgia Việt Nam và Hàn Quốc Vì thế, tôi đã làm nghiên cứu này nhằm mục đích làm

rõ các đặc điểm văn hoá của người phụ nữ Việt Nam và Hàn Quốc, từ đó, góp phầnthúc đẩy sự giao lưu, hoà nhập của công dân hai nước, đặc biệt là với những ngườiphụ nữ Việt Nam ở Hàn Quốc, và ngược lại, những phụ nữ Hàn Quốc ở Việt Nam,qua đó nâng cao mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Hàn Quốc

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu những sự tương đồng và khác biệt về hình tượngngười phụ nữ mới trong văn học Việt Nam và Hàn Quốc nửa đầu thế kỷ XX, chúngtôi muốn nhận diện và giải quyết một số vấn đề sau:

- Thấy được quy luật của sự tiếp biến, cách tân văn học mỗi dân tộc trướcnhững ảnh hưởng từ phương Tây Phương Tây ở đây là một thực thể vừa cụ thể,vừa trừu tượng, nếu như ở Việt Nam nó được đồng nhất với người Pháp, thì trongmôi trường Hàn Quốc, nó lại hiện diện gián tiếp qua hình ảnh Nhật Bản Rút ra mộtquy luật chung trong tiến trình vận động của hai nền văn học vì thế là điều hết sứcquan trọng và cần thiết

- Làm rõ và nhận diện đầy đủ hơn các đặc điểm văn học, văn hóa của hai quốcgia Điều đó có nghĩa, hình tượng người phụ nữ trong văn học thời kỳ này là mộthiện tượng có tính phổ quát, có khả năng thâu tóm và phản ánh rất nhiều phươngdiện của đời sống văn học và xã hội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi xác định là hình tượng các nhân vật phụ

nữ mới trong các sáng tác của Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời

Trang 10

Nhật thuộc Khái niệm “phụ nữ mới” được sử dụng để chỉ nhóm các nhân vật nữ trẻtuổi trong tác phẩm, có tư tưởng tự do tiến bộ, khát khao vượt thoát khỏi các ràngbuộc của các quan niệm phong kiến, để phân biệt với những phụ nữ “cũ”, mangnặng tư tưởng lễ giáo phong kiến Nhóm nhân vật này có những đặc điểm chunggiống nhau (sẽ được phân tích chi tiết trong chương 2), không chỉ là một motif xuấthiện trong nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này ở hai quốc gia, mà còn là một hiệntượng đáng chú ý trong xã hội Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX

Chúng tôi lưu ý rằng: các nhân vật phụ nữ mới này xuất hiện liên tục vàthường xuyên trong suốt giai đoạn sáng tác nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam và HànQuốc, trong đó hình tượng nhân vật này không tĩnh tại, duy nhất, mà trái lại có sựvận động, phát triển qua từng thời kỳ Do đó, trong luận án này, chúng tôi sử dụngthuật ngữ “người phụ nữ mới” chủ yếu gắn với nội hàm là sự hình thành một hệchuẩn phụ nữ mới dưới những ảnh hưởng từ phương Tây với hai nét nghĩa chính:

- chống lại lễ giáo (Nho giáo);

- có ý thức về cái tôi, ý thức về quyền sống

Sở dĩ phải có sự khu biệt này vì vấn đề phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực vănđoàn cũng như trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc là rất phức tạp Ví dụ như

ở Tự Lực văn đoàn, với những trường hợp như Hiền (Trống mái), Tuyết (Đời mưa

gió), Hảo (Thanh Đức)…, G.S Phan Cự Đệ nhân xét: họ “gần gũi các nhân vật sau

này trong tiểu thuyết có màu sắc hiện sinh của Chu Tử và Nguyễn Thị Hoàng hơn là

giống với văn học lãng mạn” (Phan Cự Đệ, 2002, tái bản lần thứ 4, Văn học lãng

mạn Việt Nam 1930 – 1945, tr.250) Trong văn học Hàn Quốc cũng có khái niệm modon kol (chỉ những người phụ nữ thích những thú vui phù phiếm, lạc thú, và lăng

nhăng) trong sụ đối lập với sin yosong – phụ nữ mới (xin xem thêm trong luận án ở

chương 2, mục 2.2.2.2.4) Đây là vấn đề phức tạp nhưng vì chúng tôi tự thấy không

đủ sức để bao quát toàn bộ vấn đề trên nên xin phép được tạm thời không đưa vàokhảo sát Việc lựa chọn các sáng tác trong phạm vi nghiên cứu vì thế cũng được thuhẹp lại

b Phạm vi nghiên cứu

Các sáng tác của Tự Lực văn đoàn và của các nhà văn Hàn Quốc thời Nhật

Trang 11

thuộc có một số lượng hết sức đồ sộ Tuy nhiên từ việc xác định đối tượng nghiêncứu ở trên nên trong luận án này, chúng tôi chỉ chọn các tác phẩm dưới đây để phục

vụ cho việc nghiên cứu:

- Tự Lực văn đoàn: tập trung khảo sát các tác phẩm: Đoạn tuyệt (1934), Nửa

chừng xuân (1934), Lạnh Lùng (1935).

- Văn học Hàn Quốc: tập trung khảo sát các tác phẩm: Mẹ và con gái (1931),

Đêm giao thừa (1931), Lễ tổ tiên trên núi (1938), Chức nữ (1938) và Hoàng hôn đỏ rực (1939)

Về 3 tác phẩm của Tự Lực văn đoàn gồm Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Lạnh

lùng, có thể nói nội hàm của thuật ngữ “người phụ nữ mới” mà chúng tôi đã khu

biệt ở trên được thể hiện rõ nhất trong 3 tác phẩm này Nhận thức trên về khái niệm

“người phụ nữ mới” cũng là định hướng đề tìm những văn bản đối sánh trong vănhọc Hàn Quốc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát những tác phẩm tiêu biểu về người phụ nữ trong Tự Lực văn đoàn

và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

- Tiến hành so sánh để tìm ra những điểm tương đồng khác biệt về hình tượngngười phụ nữ trong Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

- Tìm hiểu những đặc điểm văn hoá – xã hội để lý giải cho những khác biệt vàtương đồng của hình tượng người phụ nữ trong Tự Lực văn đoàn và trong văn họcHàn Quốc thời Nhật thuộc

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: từ việc phân tích kỹ lưỡng từng tácphẩm, tác giả, chúng tôi đi đến khái quát đặc điểm của một nhóm sáng tác haycủa một nền văn học Trong một số trường hợp, quy trình phân tích – tổng hợpđược sử dụng l inh hoạt theo chiều ngược lại, tức là từ tổng hợp đến phân tích,nhằm đạt hiểu quả tối ưu

- Phương pháp so sánh: đây là một phương pháp trọng tâm, nhằm chỉ ra nhữngđiểm tương đồng và khác biệt giữa các tác phẩm, cũng như giữa các nền văn học

Trang 12

của hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc.

- Phương pháp khảo sát, thống kê: trong từng luận điểm, chúng tôi đều cốgắng đưa ra những con số, những dẫn chứng cụ thể nhằm chứng minh cho lậpluận của mình

- Phương pháp hệ thống: trên thực tế, hình tượng người phụ nữ là một hiệntượng xuất hiện đồng thời trong cả hai trục lịch đại và đồng đại của hai nền văn họcViệt Nam và Hàn Quốc Đặc hiện tượng trong một hệ thống đan cài như vậy giúpđưa ra các đánh giá phù hợp và chính xác hơn

- Phương pháp liên ngành: người phụ nữ là một vấn đề không chỉ của văn học, mà

nó còn là hiện tượng nổi bật trong nghiên cứu lịch sử, xã hội học, dân tộc học, văn hóahọc… Phương pháp liên ngành vừa hỗ trợ cách tiếp cận văn học từ các ngành nghiêncứu khác, vừa thấy được nét riêng của hiện tượng trong lĩnh vực văn chương

6 Đóng góp mới của luận án

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá các sáng tác vănhọc của Tự Lực văn đoàn ở Việt Nam cũng như các sáng tác của các nhà văn HànQuốc thời Nhật thuộc Tuy nhiên, luận án của chúng tôi là công trình đầu tiên đưahai đối tượng trên vào so sánh nhằm chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt Việclàm này có một ý nghĩa mới mẻ và quan trọng:

- Việc so sánh hai hiện tượng văn học trên giúp nhìn nhận sâu sắc hơn nhữngđặc điểm cũng như thành tựu của từng nhóm, từng nền văn học, thậm chí là từng tácgiả và tác phẩm văn học Đây cũng chính là mục tiêu mà khoa văn học so sánh đặt

ra làm một nhiệm vụ trọng tâm: sự so sánh không gì khác hơn là để chỉ ra nét đặcthù của mỗi hiện tượng được so sánh, mà như Susan Bassnett đã nhận xét: “Khôngmột sự kiện riêng lẻ nào, không một nền văn học riêng lẻ nào được hiểu đầy đủ nếunằm ngoài liên hệ với các sự kiện khác, với các nền văn học khác” [12]

- Sự so sánh này còn cho phép rút ra những quy luật sáng tác văn học ở phạm viquốc tế, trong trường hợp này là khu vực Á Đông mà Việt Nam và Hàn Quốc là nhữngquốc gia có vị trí địa lý tương đối gần gũi, đồng thời có nhiều nét tương đồng về đặcđiểm lịch sử (giai đoạn Việt Nam và Hàn Quốc từng là những nước thuộc địa và đangtrong quá trình hiện đại hóa), từ đó khái quát một số phương diện lý thuyết về nghiên

Trang 13

cứu văn học qua hai trường hợp cụ thể này Đặc biệt, một số vấn đề lý thuyết như diễnngôn, nữ quyền, ký hiệu học,… có thể được nhìn nhận rõ nét hơn thông qua việc kháiquát hiện tượng người phụ nữ trong văn học các quốc gia thuộc địa đầu thế kỷ XX nhưViệt Nam và Hàn Quốc (mở rộng hơn là các quốc gia khác như Ấn Độ, Trung Quốc vàcác nước Đông Nam Á,…) vốn là một hiện tượng nổi bật, có vị trí đặc biệt quan trọng

- Cuối cùng, sự so sánh này không chỉ có ý nghĩa đối với khoa văn học sử, màcòn có giá trị thực tiễn trong việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau về người phụ nữcủa hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc, trong bối cảnh khi mà hai quốc gia đangngày càng gắn bó, hợp tác trên nhiều phương diện Hiểu hơn về người phụ nữ ViệtNam và người phụ nữ Hàn Quốc cũng là bắc một nhịp cầu để hiểu hơn nền văn hóa,con người của hai quốc gia, đặc biệt góp phần giúp người phụ nữ dễ hòa nhập vớinền văn hóa ở môi trường mới

7 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 4 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

- Chương 2: Bối cảnh xã hội - văn hoá cho sự xuất hiện hình tượng người phụ nữ

mới trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

- Chương 3: Những điểm tương đồng của hình tượng người phụ nữ mới trong

sáng tác của Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

- Chương 4: Những điểm khác biệt của hình tượng người phụ nữ mới trong

sáng tác của Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1 Văn học so sánh và sự vận dụng đối với nền văn học Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX

Khái niệm văn học so sánh đã xuất hiện từ lâu (sớm nhất từ khoảng thế kỷ

XVIII, và được sử dụng phổ biến từ cuối thế kỷ XIX ở các nước phương Tây, như

Pháp, Mỹ, Nga Xô ) Trong thời kỳ đầu, thuật ngữ văn học so sánh chủ yếu được

đề cập ở khía cạnh là một phương pháp nghiên cứu áp dụng cho ngành văn học sử:

so sánh các hiện tượng văn học khác nhau, từ đó chỉ ra đặc thù của một nền vănhọc Trên cơ sở đó, văn học so sánh đã từng bước phát triển và đến ngày nay, nóđược xác định là “một bộ môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền vănhọc dân tộc” [19/19]

Về căn bản, đối tượng cơ bản của văn học so sánh là các hiện tượng văn họcthuộc các nền văn học khác nhau của các dân tộc khác nhau Vì thế, văn học so sánhcho phép nhìn nhận các nền văn học trong sự luân chuyển giữa cái chung và cáiriêng của các nền văn học đó: trên cơ sở những nét chung mà chỉ ra những nét riêngkhác biệt, từ đó lại giúp khái quát hóa những đặc điểm bao quát hơn Nói cách khác,nền văn học được soi chiếu vừa mang tính đặc thù của một dân tộc, vừa mang tínhquy luật chung của mối quan hệ quốc tế, nhất là trong bối cảnh nền văn minh nhânloại có sự hội nhập với những tác động ở phạm vi khu vực và thế giới Nhà nghiêncứu Hồ Á Mẫn xác định văn học so sánh là một bộ môn có tính quốc tế, ở đó phảiđưa tầm mắt nhìn các nền văn học trên ý nghĩa xuyên quốc gia: “Văn học so sánh làdùng con mắt xuyên quốc gia để nghiên cứu hiện tượng văn học và hiện tượng vănhóa liên quan với nhau; tinh thần cơ bản của nó là coi văn học toàn thế giới là mộtchỉnh thể, đặt văn học các nước vào một kết cấu chỉnh thể để nhận thức và so sánh(…) qua đó vạch ra và nắm vững quy luật và mối liên hệ của văn học” [38/17].Cũng theo Hồ Á Mẫn, văn học so sánh có các ý nghĩa đặc biệt, đó là: nghiên cứusâu sắc văn học dân tộc và văn học ngoại quốc; nhận thức rõ lịch sử văn học và lýluận văn học; thúc đẩy sự giao lưu văn học và văn hóa các nước Susan Bassnett

Trang 15

cũng nói đến tính chất “xuyên qua thời gian và không gian” của văn học so sánh:

“Câu trả lời đơn giản nhất là văn học so sánh nghiên cứu các văn bản xuyên qua cácnền văn hóa, nó mang tính liên bộ môn và nó quan tâm đến các mô hình kết nốitrong các nền văn học xuyên qua thời gian và không gian” [12]

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân, văn học so sánh bao gồm 3 bộ phận:(1) nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học có ảnh hưởng lẫn nhau; (2) nghiêncứu sự tương đồng giữa các nền văn học không có ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau (sựtương đồng do điều kiện lịch sử quy định); (3) nghiên cứu sự khác biệt giữa các nềnvăn học để chỉ ra tính đặc thù của văn học từng dân tộc Tương tự với cách phânloại trên, nhưng nhà nghiên cứu Hồ Á Mẫn chia ra làm 2 loại: nghiên cứu ảnhhưởng và nghiên cứu song song Nếu như nghiên cứu ảnh hưởng xem xét các nềnvăn học có sự giao lưu, tác động lẫn nhau, thì nghiên cứu song song lại đề cập đếncác nền văn học không có quan hệ trực tiếp, trong đó nghiên cứu song song là bướctiếp nối và mở rộng trong ngành văn học so sánh Có thể nói, nghiên cứu song song

có phạm vi rất rộng, với nhiều bình diện phong phú: so sánh về chủ đề, thể loại,

hình tượng nhân vật, phong cách… Cơ sở của nghiên cứu song song là tính phổ

quát (tức các điểm chung giống nhau) và tính khác biệt ở hai cấp độ văn hóa và văn

học Sự tương đồng về mặt văn hóa (gắn với đó là các đặc điểm về điều kiện lịch

sử, xã hội) và sự tương đồng của các hiện tượng văn học (bao gồm thể loại, đề tài,hình tượng, phong cách…) cho phép đặt các nền văn học bên cạnh nhau để đốichiếu nhằm thấy được những nét khác biệt như là đặc thù của từng nền văn học.Như vậy, văn học so sánh (đặc biệt là nghiên cứu song song) có ý nghĩa quan trọng,giúp mở rộng không gian nghiên cứu (bất kể các hiện tượng có liên hệ thực tế vớinhau hay không), xây dựng hệ thống lý luận cho việc nghiên cứu các hiện tượngvăn học, văn hóa độc lập

Hai phương pháp cơ bản trong nghiên cứu văn học so sánh là “loại tỷ” (chỉ ra

sự giống nhau) và “đối tỷ” (chỉ ra sự khác biệt) Tuy nhiên, trong thực tiễn nghiêncứu văn học so sánh, các phương pháp được vận dụng sẽ đa dạng và phức tạp hơn ởnhiều cấp độ và phạm vi khác nhau, như Nguyễn Vân Dân nêu ra bảy phương pháp:phương pháp thực chứng, phương pháp loại hình, phương pháp cấu trúc, phương

Trang 16

pháp ký hiệu học, phương pháp hệ thống, phương pháp xã hội học, phương pháptâm lý học Các phương pháp này một mặt được vận dụng chung trong rất nhiềulĩnh vực nghiên cứu khác nhau, song mặt khác, chúng lại có những đặc thù riêngtrong bộ môn văn học so sánh, ở đó nhiệm vụ của các phương pháp này là đối chiếucác nền văn học nhằm chỉ ra sự tương đồng và khác biệt.

Các bình diện được đưa vào so sánh cũng rất phong phú Nguyễn Văn Dân chỉ

ra một số bình diện so sánh chủ yếu, gồm: thể loại, đề tài, tư tưởng trong, phongcách, trào lưu, trường phái [19/142-194] Lưu Văn Bổng cũng có sự xếp đặt tương

tự, gồm: chủ đề, mô típ, huyền thoại, thể loại, hình thức, phong cách, trào lưu,trường phái [13/37-126] Trong khi đó, Hồ Á Mẫn đặt ra ba khuynh hướng so sánh

có tính chất bao quát hơn, gồm: chủ đề học; thể loại học và thi học so sánh 270] Trong sự phân loại của Hồ Á Mẫn, thì cả ba bình diện trên đều (ít hay nhiều)xem xét các yếu tố về đề tài, nhân vật, cốt truyện, mô típ

[38/180-Nói tóm lại, văn học so sánh là một bộ môn khoa học nhằm chỉ ra những néttương đồng và khác biệt giữa các hiện tượng văn học thuộc các nền văn học khácnhau Sự đối sánh này hướng đến cả hai mục đích: nhận diện và hiểu sâu sắc hơnnhững nét đặc thù của một nền văn học dân tộc, đồng thời khái quát những quy luậtvận động, phát triển của văn học quốc tế (ở phạm vi khu vực và trên thế giới) Do

đó, việc soi chiếu hai nền văn học Việt Nam và Hàn Quốc hiện đại thời kỳ đầu thếkỷ XX, đặc biệt là thông qua một mô típ chung là hình tượng người phụ nữ mớidưới góc nhìn của lý thuyết văn học so sánh là phù hợp và hữu ích Từ sự tươngđồng về hoàn cảnh lịch sử của hai quốc gia, nền văn học Việt Nam và Hàn Quốcđầu thế kỷ XX đã gặp gỡ nhau ở nhiều phương diện, đồng thời cũng lại có nhữngkhác biệt rất rõ rệt và độc đáo Nói cách khác, việc nghiên cứu các sáng tác văn họccủa hai quốc gia trong thế đối chiếu, so sánh là một hướng đi ứng dụng của lýthuyết nghiên cứu văn học so sánh

Dưới đây là một số công công trình ứng dụng văn học so sánh trong nghiêncứu so sánh văn học Việt Nam và Hàn Quốc:

Trang 17

1 위위위 20C 위 위위위 위위위위 위위위위 위가 위위 위위, 2001,위위위위위위위.

Kang Hana (2001), So sánh chủ nghĩa hiện thực của Hàn Quốc và Việt Nam

đầu thế kỷ XX, Học hội Hàn-Việt.

2 위위위 위위위위위 위위위 위위 위위위위 2001,위위위위위위위위

Bae Yang Soo (2001), So sánh Truyện Kiều và Truyện Xuân Hương, Luận án

tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

3 위위·위위·위위위 위위위위위 위위위 위위 2002 위위위,위위위위위위

Jeong Yu Jin (2002), Tình yêu với người phụ nữ của Hàn Quốc, Trung Quốc

và Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu văn học phụ nữ, Hàn Quốc.

4 위위·위위위 위위위 위위위위 위위위 2002,위위위위위위위위

Jeon Hye Kyung (2002), So sánh truyện cổ tích Hàn Quốc và Việt Nam, công

trình nghiên cứu, Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc

5 위위 위위위 위위 위위 위위 위위 위위위 위위위

Jeon Hye Kyung (2005), So sánh truyện cổ Hàn Quốc và Việt Nam, NXB

Munyelim

6 위위·위위위 위위위 위위 위위: 위위위위 NGUYEN BINH (위위위) 위 위위위위 2006 위위위위위,위위위위위

Bùi Phan Anh Thu (2006), Đặc thù thơ phong cách dân gian của Hàn Quốc

và Việt Nam - khảo sát thơ Kim So Wol và thơ Nguyễn Bính, Trường đại học

Youngnam

7 위위위위위위위 위위위위 위위위 위위위위 위위위위 위위, 2006,위위위위위

Lương Nguyễn Thanh Trang (2006), Nghiên cứu truyện ngắn hiện thực chủ

nghĩa của Nam Cao và của Hyun Jin Geon, Trường Đại học Busan.

8 위위 위위위위위 위위 위위 위위 2007 위위위,위위위위위

Ji Hyun Hee (2007), So sánh tiểu thuyết chiến tranh Hàn Quốc và Việt Nam,

Trường Đại học Busan

9 위위위위위위 위위위 위 위위·위위위 위위 위위 위위: 위위위위 위위위 위 위위위 위위위 위위위위 2007,NGUYEN THI BICH HUE, 위위위위 위위,위위위위위

Nguyễn Thị Bích Huệ (2007), So sánh văn học Hàn Quốc và Việt Nam liên

quan đến chiến tranh – Nghiên cứu tác phẩm của Hwang Suk Young và Nguyễn

Trang 18

Minh Châu, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kyunghee.

10.위위위위 위위위 위위위위 위위위위 위위위위, 2007, 위위위위위위위, 위위위위,위위위위위

Lương Nguyễn Thanh Trang (2007), So sánh truyện ngắn hiện thực của Nam

Cao và Hyun Jin Geon, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Busan.

11 Oh Eun Chul (2008), Đề tài gia đình trong Gia đình, Thoát ly, Thừa tự

của Khải Hưng, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

12 위위위위 위위위 위위위위 위위 위위 위위 : 위위위위위위 위위위위 위위위위위 위위위위 , 위위위, 2009,위위위위위위,위위위위위위위위

Đặng Văn Giang (2009), So sánh văn học hiện thực Hàn Quốc và Việt Nam –

tập trung vào các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Hyun Jin Geon, Luận văn

thạc sĩ, Trung tâm Nghiên cứu trung ương Hàn Quốc học

13 위위위위위 위위위 위위위위 위위위위위위, 2010, 위위위위위, 위위위위위위,위위위위위

Trần Thị Lan Anh (2010), So sánh tiểu thuyết về đề tài nông dân của Hàn

Quốc và Việt Nam thời thuộc địa, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Inha.

14 위위위위 위위 위위위 위위위위위 위위 위위위위 위위 위위: 위위위 위위위위 위위위위 위위위위 2011,위위위위위위위

Lê Văn Liêm (2011), So sánh văn học hiện đại trong giáo khoa Ngữ văn Hàn

Quốc và Việt Nam - tập trung khảo sát sách giáo khoa bậc trung học cơ sở, Luận

văn thạc sĩ, Trường Đại học nữ Gwangju

15 위위위 위가 위위위 위위 위위위위 위위 위위 위위 위위 위위: 위위·위위위·위위 3 위위 위위·위위위위위 위위위위

2012 위위위 위위위위,위위위위위위위위

Yang Min Jeong (2012), Phương pháp giáo dục nhằm nâng cao trình độ giao

lưu văn hóa dành cho con cái các gia đình đa văn hóa – Tập trung khảo sát về thần thoại, truyện cổ tích dựng nước của ba nước Hàn Quốc, Việt Nam và Mông Cổ,

công trình nghiên cứu, Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc

16 위위위 위위위위위『』 위위위위 위위위『 위위위 위위 위위 (Thoại Khanh Châu Tuấn)위 위 위위위'위'위위 위위위위 2013 위위위,위위위위위위위위

Lee Hyun Jung (2013), So sánh quan niệm hiếu thảo trong truyện Thẩm

Thanh của Hàn Quốc và truyện Thoại Khanh Châu Tuấn của Việt Nam, Trường Đại

học Ngoại ngữ Hàn Quốc

Trang 19

17 위위위위위 위위위 위위 위위위위 위위 위위위위 위위 <위위위>위위 위위: <위위위>위 위위위 <위위위(翠翹傳)>위 위위위 위위위 위위위위위위위위위 2013,위위위 위위위위위

Trần Thị Bích Phương (2013), Nội dung giáo dục trong truyện Xuân Hương

dành cho sinh viên Việt Nam học văn hóa, ngôn ngữ Hàn Quốc tại các trường đại học Việt Nam - so sánh Truyện Kiều của Việt Nam và Truyện Xuân Hương của Hàn Quốc, Trường đại học Quốc gia Hà Nội.

18 위위위위위위위 위위위 위위위 위위위위위위: 위위위위위 위위위위위 위위위 위위위위, 2013, 위위위,위위위위위위,위위위위위

Yoo Eun Sang (2013), Bi kịch chiến tranh trong tiểu thuyết hiện đại Hàn

Quốc - tập trung khảo sát những tác phẩm chiến tranh của Hàn Quốc và Việt Nam,

Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Dankuk

19 위위위위 2014 위위위 위위 위위위 위위위위 위위위위 위위 위위,위위위위위

Lê Thị Vũ Lam (2014), So sánh tiểu thuyết hiện thực Hàn Quốc và Việt Nam

thời kỳ thuộc địa, Trường Đại học Hongik.

20 위위위 <위위위위, 위위위위>위 위위위위 <위 위위, 위 위위(Mi Chau Trong Thuy) 위위 위위

2015 위위위.위위위위위위위위

Lee Hyun Jung (2015), So sánh truyện “Hoàng tử nước Hodong và công chúa

nước Naklang” của Hàn Quốc và truyện “Mỵ Châu Trọng Thủy” của Việt Nam,

Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc

21 위위위위 ‘위위’위 위위위 ‘위위위위’위 위위위 위위위 위위 위위: 위위위 위위 위위위 위위위위, 2016,위위위,위위위위위위,위위위위위위위위

Sun Keum Hee (2016), So sánh hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Vô

tình của Lee Kwang Soo và Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Luận văn thạc sĩ, Trường

Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc

22 위위위 위위위위 위위위위 위위위위, 위위위위위, 2017, 위위위위 위위,위위위위위위위위

Bùi Thị Hà Anh (2017), So sánh truyện cổ tích về đề tài tiên nữ của Hàn

Quốc và Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Ngoại ngữ Busan.

23 위위위위 <위위위>위 위위위 <위위위가 위 위위>위 위위위 위위위위 위위위위 위위위위위 위 위위

2018, 위위위,위위위위위위위위

Ha Eun Ha (2018), Ý nghĩa và sự triển khai mâu thuẫn tình cảm anh em với

Trang 20

tình cảm vợ chồng trong sự tích “Trầu cau” của Việt Nam và “Anh em trở thành cây cau” của Hàn Quốc, Học hội văn học Hàn Quốc.

24 위위 위위 위위위 위위위 위위위위 위위위위: 위위위위 위위위위위 위위위위위 위위위 위위위 위위위위,

2019, 위위위, 위위위위, 위위위위위위위위

Han Kang (2019), So sánh tiểu thuyết thế sự của Hàn Quốc và Việt Nam đầu

thế kỷ XX - tập trung khảo sát các tác phẩm Chun Byun Poong Kyung và Quê người của Tô Hoài, Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc.

25 위위위위 위위위위 위 위위위 위위위 위위위위위 위위위 가 위위 - 위위, 위위위, 위위위위위위위위위위위위위 위위위 위위위위, 2019, 위위위, 위위위위위위위위

Lee Ki Won (2019), “Giá trị và ý nghĩa của truyện cổ tích dưới góc nhìn vănhọc so sánh - Nghiên cứu truyện cổ tích HeungBu Nolbu của Hàn Quốc, Việt Nam

và Uzbekiztan”, tạp chí Nghiên cứu phê bình văn nghệ Hàn Quốc.

1.2 Lịch sử nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn

Từ khi ra đời đến nay Tự Lực văn đoàn đã trở thành tiêu điểm chú ý của giớinghiên cứu văn học với nhiều ý kiến trái chiều, khen nhiều nhưng chê cũng không

ít Bên cạnh việc điểm lại những ý kiến đánh giá về các sáng tác nói chung củanhóm Tự Lực, chúng tôi tập trung vào những ý kiến xung quanh ba tác phẩm nổi

bật được lựa chọn trong luận án là Đoạn tuyệt, Lạnh lùng và Nửa chừng xuân.

1.2.1 Về nội dung tư tưởng

Xét về nội dung tư tưởng, hình tượng người phụ nữ được miêu tả trong cácsáng tác của Tự Lực văn đoàn chủ yếu nhằm biểu đạt cho khát vọng hạnh phúc vàkhát vọng tự do của người phụ nữ, đồng thời lên tiếng đả phá những ràng buộc khắtkhe, nghiệt ngã của lễ giáo truyền thống và chế độ đại gia đình phong kiến Đóchính là đóng góp đặc biệt quan trọng của Tự Lực văn đoàn trong việc thúc đẩynhững quan niệm mới về vấn đề người phụ nữ trong văn học Việt Nam Phan Cự

Đệ nhận xét: “Trong phạm trù ý thức hệ tư sản, Tự Lực văn đoàn đã nói lên nhữngkhát vọng dân tộc dân chủ của đông đảo quần chúng, chủ yếu là của các tầng lớptiểu tư sản trí thức và viên chức thành thị Tự Lực văn đoàn không đặt vấn đề giảiphóng xã hội nhưng đã đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóng bản ngã, đặc

Trang 21

biệt là đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của người phụ nữ chống lại sựràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của đại gia đình phong kiến” [21/553].Xung quanh vấn đề người phụ nữ, các nhà nghiên cứu đều đặc biệt quan tâmđến đề tài tình yêu Phần đông các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao sáng tác của

Tự Lực văn đoàn trước hết là ở tính luận đề mạnh mẽ của nó trong việc giải phóng

cá nhân và giải phóng phụ nữ: “Đó là lời kết án gay gắt ném vào lễ giáo, đạo đức,tập quán gia đình phong kiến, nêu cao khẩu hiệu giải phóng phụ nữ, giải phóng cánhân” [21/5] Ngay như Trương Chính từ năm 1935 đã sớm chỉ ra cái ý đồ ngầm

ẩn đằng sau câu chuyện ái tình, hôn nhân ở Đoạn tuyệt: “Chủ ý của ông Nhất Linh viết Đoạn tuyệt là làm cho người đọc yêu mới và ghét cũ Nếu đọc xong Đoạn

tuyệt mà ta ghét cũ, yêu mới, rồi tìm cách để bỏ cũ và theo mới là tác giả nó đã

thành công” [16/14] Thậm chí, các tác giả Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng cho

rằng tính luận đề này còn xuyên suốt và chi phối cả nội dung sáng tác: “Nét riêngtiểu thuyết tình yêu của Tự Lực văn đoàn là ở chỗ, đó không phải là những truyệntình thuần túy, không chỉ nói về tình yêu với những quy luật tình cảm riêng của nó,với những niềm vui, hạnh phúc và khổ đau mà nó đem lại cho các cặp tình nhân.Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo bao giờ cũng có ý thức lồng vào trong các câuchuyện tình của mình một ý tưởng cải cách xã hội nào đó” [46/195]

Đề cập đến vấn đề người phụ nữ, không thể không nhắc tới hình tượng cácnhân vật nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn Thế giới nhân vật nữ trong tiểuthuyết Tự Lực văn đoàn là một kiểu nhân vật riêng mà các nhà nghiên cứu gọi bằngcái tên “gái mới” Nói về kiểu nhân vật nữ mới này, các tác giả Trần Đăng Suyền,

Lê Quang Hưng nhận định: “Đó là những nhân vật được gọi là thanh niên tân thời(nam), là gái mới (nữ), thương mang một cái tên chung là “chàng” và “nàng” ( )Những con người này chịu ảnh hưởng của tư tưởng văn hóa, văn minh và lối sốngsinh hoạt của phương Tây hiện đại Họ chống lễ giáo phong kiến, đấu tranh chochủ nghĩa cá nhân, cho tình yêu và hôn nhân tự do, cổ vũ cho phong trào Âu hóa

từ tư tưởng văn chương nghệ thuật đến y phục và cách hưởng thụ đời sống vậtchất” [46/196] Có thể nói, các nhân vật, đặc biệt là các nhân vật nữ trong tiểuthuyết Tự Lực văn đoàn đã tạo nên một thế giới riêng rất đặc trưng so với các nhân

Trang 22

vật thuộc khuynh hướng sáng tác khác: “Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết Tự Lựcvăn đoàn khác với loại trí thức thuộc tầng lớp trung lưu trong các tác phẩm củaNguyễn Tuân, Lan Khai, Lê Văn Trương, Thanh Châu, Ngọc Giao, càng khác xavới loại nhân vật trí thức nghèo “áo cơm ghì sát đất” trong các tác phẩm củaNguyên Hồng, Nam Cao” [46/196].

1.2.1.1 Nhận định chung về nội dung tư tưởng của tác phẩm

Từ năm 1935, gần như ngay tại thời điểm các tác phẩm đầu tiên của Nhất

Linh ra đời (Đoạn tuyệt, 1934; Lạnh lùng, 1935), Trương Tửu đã dành những lời khen ngợi nồng nhiệt cho Đoạn tuyệt: “Cuốn Đoạn tuyệt là một vòng hoa tráng

lệ đặt trên đầu chủ nghĩa cá nhân Tác giả đường hoàng công nhận sự tiến bộ vàhăng hái tín ngưỡng tương lai Ông giúp bạn trẻ vững lòng phấn đấu, nghĩa là vui

mà sống” (Loa, 8/8/1935)

Trong cuốn Dưới mắt tôi (1939), một tập tiểu luận phê bình xuất sắc trên văn

đàn trước 1945, Trương Chính tỏ ra đặc biệt trân trọng những đóng góp mới mẻ vàtiến bộ của hai cây bút chủ lực là Nhất Linh và Khái Hưng đối với vấn đề phụ nữ, vàdành nhiều trang để phân tích, đánh giá những tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu của hai

nhà văn này Ông không tiếc lời mà ngợi ca Đoạn tuyệt là một kiệt tác: “Vượt lên trên tất cả những lời bình phẩm nông nổi, không xác đáng, Đoạn tuyệt vẫn là một kiệt tác

trong văn chương Việt Nam và tác giả nó vẫn được người ta cảm phục” [16/25].Trương Chính đánh giá rất cao ý nghĩa xã hội mà tác phẩm đem lại, trong đó đặcbiệt là ý hướng cải tạo xã hội Nho giáo kiểu cũ để kiến thiết nên một xã hội mới

“theo những nguyên tắc hợp lý và nhân đạo”: “Đoạn tuyệt đánh dấu một cách rõ

ràng những thời kỳ thay đổi trong lịch sử tiến hóa của xã hội An Nam Nó công bố

sự bất hợp thời của một nền luân lý khắc khổ, eo hẹp, đã giết chết bao nhiêu hyvọng, đè bẹp bao nhiêu lực lượng đáng kể, giam hãm bao nhiêu chí khí bồng bộtđương ao ước sống một đời đầy đủ, một đời mãnh liệt, cường tráng” [16/10]

Sau năm 1945, đặc biệt là kể từ sau đổi mới 1986, các nhà nghiên cứu trong khinhìn nhận lại di sản văn chương của Tự Lực văn đoàn cũng như của Nhất Linh, đều

có chung đánh giá hết sức tích cực về tác phẩm Đoạn tuyệt Trịnh Hồ Khoa phân tích đóng góp của Nhất Linh ở Đoạn tuyệt: “Chống lễ giáo phong kiến quyết liệt nhất phải

Trang 23

kể đến Đoạn tuyệt Đoạn tuyệt được xem như bản tuyên ngôn của lớp thanh niên

chống chế độ đại gia đình phong kiến trong lĩnh vực hôn nhân gia đình” [41/68] Haynói như Trần Đăng Suyền, sự phản kháng lại cái cũ và đòi hỏi cái mới chính là tinhthần “đấu tranh mạnh mẽ cho quyền sống của cá nhân” [45/156]

Cũng như một số sáng tác khác của Tự Lực văn đoàn và của Nhất Linh,

Lạnh lùng phải hứng chịu không ít phê phán về cả nội dung lẫn nghệ thuật.

Trương Tửu, người đã nồng nhiệt khen ngợi Đoạn tuyệt, sau đó lại lên án Lạnh

lùng là “phóng đãng” và khuyến nghị bạn đọc đương thời: “Tất cả những bậc

phụ mẫu muốn con gái khỏi bị sự phóng đãng quyến rũ nên cấm tiệt không cho

đọc quyển Lạnh lùng” [16/vi].

Yếu tố gây tranh luận của nó cũng xuất phát từ tính luận đề mà Nhất Linh đã

nêu lên từ Đoạn tuyệt, như Trương Chính đã nêu rõ: “Lạnh lùng là mũi tên độc thứ hai ông Nhất Linh bắn vào đích ông nhắm: Khổng giáo” [16/17] Viết Dưới mắt tôi,

Trương Chính đã bày tỏ thái độ cảm tình đặc biệt và lên tiếng bênh vực hết mực tácphẩm này trước những lời phê phán gay gắt của Trương Tửu Trương Chính chorằng những lời phê bình của Trương Tửu là ngụy biện và độc đoán, và cho rằng:

“Đọc Lạnh lùng, ta cũng thấy cần đạp đổ những chế độ cũ nặng nề, eo hẹp trong đó

Nhung – mà có lẽ cả ta nữa đương giãy giụa, đương ngắc ngoải Khổng giáo đối với

ta không thiêng liêng nữa và đối với ta, những tục lệ tổ truyền không thể căn cứ vàomột lẽ xác đáng nào để tồn tại” [16/21] Trương Chính khẳng định Nhất Linh quả

cảm và tiên phong khi lên tiếng bênh vực quyền lợi người phụ nữ thông qua Lạnh

lùng, “để cho mọi người thấy số phận của một người phụ nữ, nạn nhân của lễ giáo

phong kiến, chỉ vì nhu nhược mà không dám chống lại Nhung - chồng chết màkhông dám lấy chồng khác vì luân lí, đạo đức, danh dự" [16/26]

Nguyễn Hoành Khung đề cao thái độ của Nhất Linh trong việc đấu tranh đòiquyền được hạnh phúc cho người phụ nữ, nhất là người phụ nữ góa bụa: “Quan điểm tácgiả khá tiến bộ, táo bạo: bênh vực quyền được sống hạnh phúc lứa đôi của họ, lên ánquan niệm, thành kiến cổ hủ chà đạp quyền sống của họ ( ) Sự phê phán văn hóa lễgiáo phong kiến để khẳng định quyền sống cá nhân ở đây mang tinh thần nhân đạo, dânchủ, các nhân vật nhân danh tiến bộ xã hội và lẽ phải mà đấu tranh” [39/1256-1257]

Trang 24

Trịnh Hồ Khoa nhận định về dụng ý sáng tác Lạnh lùng của Nhất Linh: "Dụng

ý của Nhất Linh là làm cho người đọc thấy sự vô lý của cái thứ tiết hạnh trái mùa vàlên án nó, để cho người phụ nữ góa chồng sớm được tự do quyết định đời sống củamình" [41/68]

Trong Tự Lực văn đoàn, bên cạnh Nhất Linh thì Khái Hưng cũng là cây bútchủ lực, xông xáo trên nhiều đề tài, nhiều thể loại, và tất nhiên số lượng sáng táccũng hết sức phong phú Nói riêng ở thể loại tiểu thuyết, Khái Hưng cũng ghi ấn

dấu ấn mạnh mẽ với Hồn bướm mơ tiên và sau đó là Nửa chừng xuân

Trương Chính trong tập tiểu luận Dưới mắt tôi đã ngợi ca Nửa chừng xuân khi ghi nhận công lao tấn công vào chế độ gia đình vô nghĩa và eo hẹp: “Nửa chừng

xuân là một cuốn truyện ghi sự phấn đấu giữa cá nhân và chế độ ấy Tác giả nó biện

luận cho quan niệm nhân sinh mới và công bố sự bất hợp thời của những tập quán

do nền luân lý tổ truyền tạo ra” [16/34] Mặc dù những hạn chế về nội dung (“Đáng

lẽ viết Nửa chừng xuân ông Khái Hưng phải làm cho ta rùng rợn, ghê sợ luân lý cũ

và những kiềm tỏa của Nho giáo Nhưng tác giả không đạt được mục đích của ông:vấn đề nêu ra không được giải quyết một cách rõ ràng”) và hạn chế về nghệ thuật

(“Nửa chừng xuân lại kết cấu không chặt chẽ”), nhưng Trương Chính vẫn rất tôn

trọng tác giả và tác phẩm, và “nên được ta dành cho một chỗ danh dự trong văn họcnước nhà” [16/40]

Nguyễn Hoành Khung nhận định: Nửa chừng xuân “là tác phẩm có tiếng vang

lớn, được hoan nghênh rộng rãi hơn cả của Khái Hưng” [41/26] Sức ảnh hưởng củatác phẩm trước hết đến từ tính luận đề rõ rệt của nó: “Cuốn tiểu thuyết mang tínhluận đề rõ rệt: tuyên chiến mạnh mẽ với lễ giáo, phong tục phong kiến chà đạp tìnhyêu, hạnh phúc cá nhân Tác phẩm phản ánh mối xung đột mới – cũ đang trở nêngay gắt lan rộng trong đời sống thành thị khi đó” [41/26]

1.2.1.2 Nhận định về nội dung tư tưởng được thể hiện qua các nhân vật nữ

Trong số các nhân vật phụ nữ của Đoạn tuyệt, Loan là nhân vật tiêu biểu hơn cả

cho hình ảnh người gái mới, được giới nghiên cứu xem là nhân vật thể hiện rõ nhất tưtưởng của Nhất Linh Trương Chính nhận xét: "Tôi nói Loan là một người gái mới.Hành vi, ngôn ngữ của nàng, tất thảy đều chứng tỏ nàng là một người đàn bà đứng

Trang 25

đắn, khôn ngoan đủ lý trí để xét mọi việc, đủ nghị lực để phấn đấu, đủ nhẫn nại đểchịu những nỗi thống khổ, những điều phẫn uất có thể đang chờ nàng" [16/11] Phan Cự

Đệ đã chỉ ra cái giá trị xã hội mang ý nghĩa tuyên ngôn thông qua kiểu nhân vật như

Loan: "Đoạn tuyệt là một thứ "tuyên ngôn nhân quyền" bằng nghệ thuật, nó đấu tranh

cho quyền tự do và bình đẳng giữa con người với con người trong xã hội" [21/248] Nguyễn Hoành Khung thì khẳng định Loan là một phụ nữ “mới hoàn toàn”, đãtrút bỏ khỏi mình mọi thứ hóa trang để dũng cảm đương đầu với cái cũ: “Trongcuộc đấu tranh sống còn với những trói buộc của lễ giáo cũ, Loan tỏ ra thật ngoancường Nhân vật “gái mới” này không còn phải hoá trang trong bộ nâu sồng của nhà

chùa như Tiểu Lan (Hồn bướm mơ tiên), trong lốt thôn nữ của Liên (Gánh hàng

hoa), Trâm (Nắng thu), không còn cái lý lịch xuất thân gia đình nhà nho (Nửa chừng xuân) mà là mới hoàn toàn; một nữ sinh trung học, mặc tân thời, đến với tình

yêu tự do" [41/30]

Trong bài viết “Nhất Linh - hay khuynh hướng lãng mạn phản kháng”, BùiXuân Bào chú ý đến ý thức phản kháng mãnh liệt của Loan: "Loan tiêu biểu cho côgái tân thời trong những khát vọng lãng mạn của cô về hạnh phúc cá nhân, cô dámlàm điều mà đa số nữ độc giả trẻ thời đó mong muốn có thể làm" [41/196] Trịnh

Hồ Khoa nhận thấy Loan "được xem như là thần tượng của lớp trẻ, của phái đẹpđương thời" [41/70-71]

Tương tự như Loan trong Đoạn tuyệt, Nhung là nhân vật nữ giành được nhiều

cảm tình của bạn đọc và của giới nghiên cứu Đáp trả lại những phê phán nặng nềcủa Trương Tửu, Trương Chính cho rằng: “Nhung không phạm một tội lỗi nào hết.Nhung không chứng tỏ một “tâm hồn trụy lạc” Trái lại, Nhung đã giác ngộ Nàngthấy “không thể vì một cái tiếng suông bắt một người đàn bà chịu đau khổ một cáchkhốn nạn” như thế được” [16/19] Tuy có lúc Trương Chính nghiêm khắc mà xem

“Nhung một đôi khi biểu thị một tâm hồn phóng tứ”, nhưng tác giả vẫn trân trọngvẻ đẹp trần tục, không giả dối của nàng trong tình yêu nồng nhiệt dành cho Nghĩa:

“Nhung chỉ là một trong những người sống cạnh ta – mà sao ta còn giấu nữa, nàngchính là hình ảnh của ta vậy” [16/22]

Trong các sáng tác của Tự Lực văn đoàn, bên cạnh Loan (Đoạn tuyệt) thì

Trang 26

Mai trong Nửa chừng xuân là nhân vật gây được tiếng vang mạnh mẽ và được

nhắc đến nhiều hơn cả Trương Chính khẳng định vai trò trung tâm của Mai trongcuộc đấu tranh giải phóng người phụ nữ: "Giữa hai nhân vật chính, Lộc và Mai,thì Mai đáng chú ý hơn nhiều"; đó là "một người ngây thơ, vui vẻ, giầu lòng hysinh, biết lấy hy sinh làm lẽ sống ở đời, và biết tìm trong sự hy sinh cái thú vị chuacay của nó" [16/38] Cảm nhận của Trương Chính về Mai cũng là cảm nhận chungcủa phần đông người đọc: “Mai bỏ nhà trốn đi Ta không oán trách chàng [Lộc],nhưng ta thương hại nàng và ta căm tức chế độ gia đình cũ đã giết chết hai tâmhồn mà không biết” [16/35]

Đối với Hoàng Dung, nhà nghiên cứu này còn đánh giá Mai có phần nổi trộihơn Loan trong cuộc chiến chống lễ giáo: "Có thể xem là nhân vật đầu tiên trực tiếpchống lễ giáo phong kiến của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn" [41/98] Đứng trên quanđiểm marxit, Hoàng Dung nhận thấy sự đồng điệu trong tiếng nói của Mai với tiếng

nói của đông đảo nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ XX: "Cũng như Liên trong Gánh

hàng hoa, những đức tính của Mai gần với đạo đức của nhân dân Phải chăng, vừa

mới ra đời, lại nhân danh chống lễ giáo phong kiến, cái tôi của chủ nghĩa cá nhâncòn phải khoác áo đạo đức của nhân dân, chưa dám sỗ sàng?" [41/99]

Nguyễn Hoành Khung đánh giá Mai là một hình tượng có vẻ đẹp “toàn diện”:

“Đó là một “cô gái mới” có ý thức về hạnh phúc cá nhân, đứng ra đấu tranh đương diệnvới lễ giáo phong kiến, song vẫn mang đầy vẻ đẹp của đạo đức truyền thống” [41/27] Cùng quan điểm với các tác giả trên đây, Hà Minh Đức nhận định: "Mai kếthợp được những nét truyền thống với chất tân tiến của người phụ nữ mới”; "là mộtnhân vật vừa có tính chất hiện thực lại vừa có tính chất lãng mạn " [41/495-496].Các tác giả Bạch Năng Thi, Trịnh Hồ Khoa cũng có nhận định tương tự về nhân vậtMai khi nhận thấy tính chất của “một nhân vật lý tưởng” ở nhân vật này

1.2.2 Về nghệ thuật biểu hiện

Bên cạnh giá trị về nội dung tư tưởng, hình tượng người phụ nữ trong sáng táccủa Tự Lực văn đoàn còn có giá trị lớn về phương diện nghệ thuật như là một đónggóp quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Ý nghĩa nghệ thuật nàycũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và chỉ ra, trong đó liên quan trực tiếp

Trang 27

đến các nhân vật nữ ở hai khía cạnh: vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp nội tâm.

1.2.2.1 Hình tượng người phụ nữ qua cách miêu tả ngoại hình

Có thể nói, văn học Việt Nam đến giai đoạn những năm 30 của thế kỷ XX đãtiến một bước rất xa trong việc quan niệm và miêu tả ngoại hình nhân vật, đặc biệt

là ở các nhân vật nữ Trong đó, những cách tân và đóng góp của Tự Lực văn đoànqua hệ thống hình tượng nhân vật nữ trong các sáng tác là rất đáng kể, ghi dấu ấnđậm nét của sự cách tân và hiện đại hóa

Nhận xét một cách khái quát về nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật nữ của

Tự Lực văn đoàn, Trịnh Hồ Khoa cho rằng: “Các nhà văn Tự Lực văn đoàn đặc biệtthành công khi miêu tả tầng lớp thanh niên tiểu tư sản thành thị đang tuổi yêuđương mộng mơ” [41/128] Tác giả Trịnh Hồ Khoa cũng tỏ ra ấn tượng với nghệ

thuật xây dựng nhân vật đặc biệt sinh động của Nhất Linh qua tiểu thuyết Đoạn

tuyệt: “Một số chi tiết được mô tả một cách tinh tế làm sinh động hẳn một số cảnh

quen thuộc diễn ra hằng ngày trong cuộc sống giữa mẹ chồng nàng dâu trong mộtđại gia đình truyền thống ở Việt Nam” [41/69]

Phân tích kỹ hơn, tác giả Trịnh Hồ Khoa nhấn mạnh đến ý thức miêu tả ngoạihình nhân vật: “Bắt đầu từ Tự Lực văn đoàn, vẻ đẹp thể chất mới được xem là tiêuchuẩn để đánh giá con người hoàn chỉnh Điều này thể hiện một quan điểm thẩmmỹ mới có tính thời đại ( ) Các nhà văn Tự Lực văn đoàn khi thể hiện ngoại hìnhđều có ý thức kết hợp hài hòa với vẻ đẹp nội tâm, với vẻ đẹp tinh thần của nhânvật ” [41/118-120] Bên cạnh đó, Trịnh Hồ Khoa cũng chỉ ra cách kết hợp nhuầnnhuyễn trong việc miêu tả nhân vật với miêu tả ngoại cảnh để làm nổi bật vẻ đẹpngoại hình người phụ nữ: “Tả vẻ đẹp thể chất, các nhà văn Tự Lực văn đoàn thườngđặt nhân vật trong khung cảnh thiên nhiên thích hợp” [41/120]

Nhóm tác giả Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng khẳng định những đổi mớitrong cách miêu tả ngoại hình nhân vật của các nhà văn Tự Lực văn đoàn: “Tiểuthuyết Tự Lực văn đoàn là tiểu thuyết viết theo lối hiện đại (…) Tiểu thuyết TựLực văn đoàn phá bỏ lối viết ước lệ, kiểu kết cấu có hậu, lấy trung tâm hứng thú làtính cách, dùng kỹ thuật hội họa hiện đại để tả cảnh, tả người, đi sâu vào đời sống

Trang 28

tâm hồn nhân vật” [46/196-197].

Lê Thị Dục Tú trong Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự Lực văn

đoàn đã dành một chương để đề cập đến Vẻ đẹp thể chất của các nhân vật Lê Thị

Dục Tú cho rằng: “Vẻ đẹp thể chất là yếu tố của giá trị cá nhân, sắc đẹp tự thân làmột yếu tố của giá trị cá nhân”, theo đó, vẻ đẹp thể chất ở người phụ nữ trước hết là

“sự chú ý miêu tả về vẻ đẹp cơ thể trong tất cả tính chất trần thế, gần gũi, cảm tính

và cá nhân, trẻ trung” [23/26] Lê Thị Dục Tú phân tích rõ hơn giá trị nghệ thuậttrong việc miểu tả ngoại hình các nhân nữ này: “Các nhân vật hiện ra dần dần mangđến cho người đọc sự thưởng thức từ từ ở những đường nét ấn tượng và gợi cảmgiác thưởng thức” [23/27]

Nguyễn Thị Tuyết cũng đưa ra nhận định tương tự: “Nét nhấn mới mẻ trongnghệ thuật khắc họa nhân vật của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo là làm nổi bật ởcác nhân vật một vẻ đẹp hình thức gắn với những trang phục hiện đại, nhất là tô đậmgiới tính và sự trẻ trung” [41/78]; “Đến tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, nó [vẻ đẹp thểchất] được miêu tả một cách trực diện, thành hẳn một quan niệm thẩm mỹ rất Tâyphương Không chỉ gợi vẻ đẹp tình tứ, hấp dẫn, các nhà tiểu thuyết Tự Lực văn đoàncòn có ý thức tô đậm những đường nét mang tính sắc dục ở người phụ nữ” [41/80]

1.2.2.2 Hình tượng người phụ nữ qua cách miêu tả nội tâm

Cùng với sự cách tân trong nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật, các nhàvăn Tự Lực văn đoàn còn có đóng góp đặc biệt quan trọng trong nghệ thuật miêu tảnội tâm, miểu tả đời sống bên trong của các nhân vật

Đánh giá về Đoạn tuyệt, Trương Chính cho rằng: “Đoạn tuyệt không chỉ có một

giá trị xã hội Nó còn có một giá trị tâm lý không ai chối cãi được Ông Nhất Linh đãdùng một cách quan sát rất tinh vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêngcủa nhân vật trong truyện và để đi sâu vào đời bên trong của họ” [16/15] Cũng tương tự

như vậy, với Lạnh lùng, Trương Chính nhận định thành công của tác phẩm đến từ

nghệ thuật dò xét tâm lý con người rất tinh tế của Nhất Linh: “Nghệ thuật của tácgiả đã giúp ông đến kết quả ấy Ông chỉ cần dò xét cuộc đời quanh mình ông cũng

đủ mê hoặc ta” [16/21] Nói về Nhất Linh, Trương Chính đã dành lời khen ngợi cho

Trang 29

tài năng phân tích tâm lý nhân vật này của ông: “Ông đã dùng một cách quan sát rấttinh vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêng của nhân vật trongtruyện và để đi sâu vào đời bên trong của họ” [41/629] Còn với Khái Hưng,Trương Chính đánh giá cao khả năng cảm nhận những biểu hiện tâm lý phức tạpcủa con người: "Nghệ thuật sáng tạo của Khái Hưng cũng giống nghệ thuật củaNhất Linh Ông chú ý đến những ý nghĩ, cử chỉ, và sự biến đổi bên trong của nhânvật hơn là hình thức bề ngoài" [41/44].

Sau đó, cần phải kể đến một nhận định rất tinh tế của Phạm Thế Ngũ khi bình

luận về Lạnh lùng: “Tâm lý ái tình được ghi nhận và diễn tả một cách khá vi diệu:

những lời nói buột miệng, những cử chỉ vô ý, những ngẫu hợp giữa cảnh và tâm,những cảm giác hoàn toàn chủ quan và phá sinh dưới góc cạnh con mắt của mộtngười đang yêu Người ta thấy ảnh hưởng của Proust, của Freud nữa trong bút pháp

mà tác giả mô tả ái tình, tình dục ” [41/454]

Vũ Ngọc Phan đánh giá cao tài năng và thành công của Khái Hưng trong việcmiêu tả tâm lý nhân vật, nhất là tâm lý phụ nữ: “Khái Hưng là một nhà văn rất hiểutâm lý phụ nữ Ông hiểu rõ đàn bà Việt Nam cả phái già lẫn phái trẻ”; “Cái đặc sắc

mà người ta thấy trong các văn phẩm của Khái Hưng là sự nhận xét rất đúng về tâmhồn nam nữ thanh niên Việt Nam” [41/837-851]

Cùng một quan điểm trên đây với Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Hoành Khung cónhận định về nghệ thuật miêu tả tâm lý, đặc biệt là tâm lý người phụ nữ của KháiHưng: “Với ngòi bút tiểu thuyết tài hoa, dồi dào, óc quan sát sắc sảo và hiểu biếttinh tế tâm lý những nhân vật quen thuộc của mình, nhất là tâm lý phụ nữ, KháiHưng có đóng góp đáng kể vào sự đổi mới, phát triển của tiểu thuyết quốc ngữ ViệtNam đương thời” [39/717]

Cùng khẳng định thành công của Khái Hưng trong việc miêu tả tâm lý nhân vật,

Hà Minh Đức cho rằng: “So với những tiểu thuyết được viết ra trong khoảng năm sáu

năm về trước, nghệ thuật Nửa chừng xuân đã có những bước tiến vượt bậc ( ) Đặc

biệt Khái Hưng tỏ ra sắc sảo trong tâm lý đối thoại của nhân vật” [41/499-501]

Ngoài ra còn có các ý kiến của Bạch Năng Thi, Dương Thị Hương, Trịnh Hồ

Trang 30

Khoa và nhiều tác giả khác, hầu hết là đánh giá khái quát mà thành công được nhấnmạnh là nghệ thuật miêu tả tâm lý

1.3 Lịch sử nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc

Văn học Hàn Quốc giai đoạn Nhật thuộc là một giai đoạn có vị trí quan trọngtrong tiến trình văn học của Hàn Quốc Sự cách tân, đổi mới của các sáng tác thờikỳ này đã đưa nền văn học thoát khỏi những ràng buộc của văn học trung đại để tiếntới hiện đại hóa nền văn học Trong đó, các sáng tác có đề cập đến người phụ nữcũng cho thấy rõ nét những chuyển biến cả về nội dung lẫn nghệ thuật biểu hiện củanền văn học hiện đại

Các sáng tác văn học viết về người phụ nữ trong thời kỳ Nhật thuộc ở HànQuốc có số lượng rất phong phú Tuy nhiên, chúng tôi sở dĩ lựa chọn các tác phẩmdưới đây để tìm hiểu vì đó là những tác phẩm rất tiêu biểu và nổi tiếng về chủ đề

giải phóng phụ nữ trong văn học Hàn Quốc thời kỳ này Mẹ và con gái của Kang Kyung Ae, Chức nữ của Sim Hun và Đêm giao thừa của Yeom Sang Sub đều là

những tác phẩm hiện đang được giảng dạy trong nhà trường phổ thông Hàn Quốc

lớp 11 và 12 Tác phẩm Mẹ và con gái và Đêm giao thừa được hầu hết các khoa văn các trường đại học Hàn Quốc đưa vào để tìm hiểu, nghiên cứu Năm 1969, Chức nữ được dựng thành phim và phổ biến rộng rãi khắp Hàn Quốc Ngoài ra, Lễ tổ tiên

trên núi của Choi Jung Hee và Hoàng hôn đỏ rực của Baek Shin Ae cũng là những

tác phẩm rất phổ biến, được nhiều người quan tâm với nhiều công trình nghiên cứu,tìm hiểu Bản thân Choi Jung Hee và Baek Shin Ae cũng được nhiều người đánh giá

là có vị trí quan trọng trong văn học cận hiện đại Hàn Quốc, đặc biệt là với vấn đềphụ nữ và đấu tranh giải phóng phụ nữ đầu thế kỷ XX (xem thêm ở Phụ lục 3)

1.3.1 Về nội dung tư tưởng

Mẹ và con gái

Những cây bút đáng điểm mặt trong thời kì này có Kang Kyung Ae, Baek Shin

Ae, Yeam Sang Sub, Park Hwa Seong, Choi Jung Hee, Lim Ok In, Ji Ha Ryeon…Trong đó, Kang Kyung Ae được xem là nhà văn nữ nổi bật khi bà khắc hoạ rất sinhđộng cuộc sống đầy áp bức, đầy bất công đổ xuống đôi vai gầy của người phụ nữ

Trang 31

Tác phẩm Mẹ và con gái của Kang Kyung Ae được giới nghiên cứu văn học Hàn Quốc đánh giá rất cao Kim Mi Hyun, trong tạp chí Bên kia văn học nữ, đã nhận định về tác phẩm này như sau: "Mẹ và con gái của Kang Kyung Ae đã được ra đời vào tháng 8 năm 1931 do một biên tập viên tạp chí Hye Sung tiến cử, nên có thể

gọi là tác phẩm đầu tiên của tác giả Thông qua tác phẩm, tác giả cố gắng tìm racách giải quyết tình trạng bị áp bức của người phụ nữ lúc bấy giờ trong những mốiquan hệ khác nhau Vì vậy mà mối quan hệ của nhân vật chính luôn tập trung vàovấn đề phụ nữ" [115/54-55] Kang Kyung Ae là nữ tác giả đi đầu trong phong trào

nữ quyền, văn học nữ quyền và dĩ nhiên, các tác phẩm của bà tập trung vào vấn đềphụ nữ Như Kim Mi Hyun chỉ ra, việc tác giả Kang Kyung Ae đặt nhân vật chínhcủa mình trong rất nhiều mối quan hệ phức tạp khác chính là cách làm nổi bật tínhcách của nhân vật, làm nổi bật cách nhân vật giải quyết vấn đề Đây chính là mộtđiểm độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của bà

Lee Hun Jung, một nhà nghiên cứu văn học khác, có quan điểm về tác phẩm

Mẹ và con gái như sau: “Mục đích bài viết này là phân tích mối quan hệ của các

nhân vật trong tác phẩm Mẹ và con gái và thông qua đó cho biết dòng chảy và sự

thay đổi ý thức trong những vấn đề xã hội khác Đặc biệt trong tác phẩm không tậptrung vào việc thu hẹp phạm vi mỗi cá nhân, mà mỗi nhân vật luôn hướng đến xãhội thông qua quan hệ với nhân vật khác để quyết định địa vị xã hội của mình và

cũng là thể hiện bản sắc cá nhân” [116/5-9] Như vậy, Lee Hun Jung có chung quan điểm với Kim Mi Huyn, khi ông cho rằng tác phẩm Mẹ và con gái cũng xây dựng

đa dạng nhiều mối quan hệ, và mỗi nhân vật thông qua mối quan hệ với các nhân

vật khác để thể hiện cái tôi của mình Mẹ và con gái thật sự là một tác phẩm tiêu

biểu của Kang Kyung Ae, đây có thể được coi như một công trình nghệ thuật mà tácgiả gửi gắm hệ tư tưởng của mình – lòng tin vào việc thay đổi số mệnh của nhữngngười phụ nữ, như một sự tất yếu rằng, những người phụ nữ sẽ đấu tranh giànhđược quyền tự chủ và tự do cho bản thân mình

Sách giáo khoa văn học Hàn Quốc lớp 11 (NXB Văn học, năm 2016) cũng đề

cao giá trị giải phóng phụ nữ mà tác phẩm Mẹ và con gái đề cập: “Tác phẩm này

Trang 32

được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu thể hiện tư tưởng tiến bộ của người phụ nữ

-những người vốn yếu thế trong xã hội Tác phẩm Mẹ và con gái về cơ bản mô tả sự

phản kháng chế độ hôn nhân trong xã hội thời bấy giờ và thông qua đó thấy đượctriển vọng của sự nghiệp giải phóng người phụ nữ từ nhân vật Yoki” [137/54]

Jung Young Hwa, trong luận án nghiên cứu về Nhận thức mới trong văn học

của các nhà văn nữ thập niên 1930 đã có viết: “Mẹ và con gái, như có thể thấy

trong tiêu đề, là tác phẩm viết về cuộc đời của những người phụ nữ thuộc hai thế hệ

bị áp bức Hành trình phản kháng lại những áp bức đã đồng thời làm bộc lộ nhậnthức mới về giá trị bản thân của người phụ nữ” [117/35-37]

Các tác giả trong cuốn Văn học hiện đại (giáo trình văn học của trường Đại học Busan, năm 2014) đánh giá cao giá trị hiện thực của tác phẩm Mẹ và con gái:

“Qua ba người phụ nữ này, chúng ta có thể thấy một người phụ nữ truyền thốngtrong chế độ phụ hệ thông qua người mẹ Yepun; một người mẹ có ý thức chủ thể và

có năng lực kinh tế, tự làm chủ gia đình nhỏ, một mình nuôi con và vượt qua nhữngđịnh kiến xã hội về công việc từng làm kỹ nữ ở người mẹ chồng San Hoju; và mộtngười phụ nữ truyền thống từ việc tìm được hình mẫu lý tưởng của bản thân đếnquyết định thay đổi cuộc đời ở nhân vật Yoki” [138/54]

Lễ tổ tiên trên núi

Nhà nghiên cứu Jung Young Ja, trong một bài phê bình trên tạp chí Nghiên

cứu văn học đã nhận xét về tác phẩm này như sau: “Trong cuộc đời làm việc dài 50

năm của mình, lý do Choi Jung Hee không đạt được thành công trong những tácphẩm đầu của mình, đó là vì những tổn thương mà tác giả phải nhận từ người chathời thơ ấu và vì sự nghèo đói Trong sáng tác của tác giả này, người phụ nữ xuấthiện như một chủ thể xã hội và đòi hỏi giải quyết vấn đề được nêu ra một cách gaygắt” [102/122] Nói cách khác, Jung Young Ja đã chỉ ra mối liên hệ hoàn cảnh xuấtthân của nhân vật với nội dung xã hội mà tác phẩm đề cập đến, trong đó người phụ

nữ là nhân vật thể hiện rõ nét nhất cho mối liên hệ này

Phân tích kỹ hơn mối liên hệ trên trong các sáng tác của Choi Jung Hee, nhànghiên cứu Kwon Young Min cho rằng: “Các tác phẩm có điểm chung là nhân vậtđều gặp khó khăn về kinh tế, địa vị xã hội thấp Những người phụ nữ trong các tác

Trang 33

phẩm của bà không chỉ nghèo về kinh tế mà còn chịu thiệt thòi do quan niệm vănhóa tình dục của người đàn ông (họ quan niệm phụ nữ chỉ là công cụ thỏa mãn tínhdục cho người đàn ông) nên những người phụ nữ này có tình trạng tâm lý bất an sâusắc” [92/39] Như vậy, theo Kwon Young Min, tình trạng nghèo nàn về kinh tế vàthấp kém về địa vị đã đẩy người phụ nữ vào tình trạng không có tiếng nói và bịkiềm chế nặng nề về mặt tính dục mà người đàn ông áp đặt lên họ

Cũng cùng quan điểm với Jung Young Ja, Kwon Young Min cũng chỉ ra có sựtương đồng và liên hệ giữa sáng tác và cuộc đời tác giả: “Các tác phẩm của bà bịảnh hưởng bởi chính cuộc đời bà Choi Jung Hee từng bị tổn thương sâu sắc bởichính người bố ruột của mình, do đó mà bà đã chuyển dời, phóng chiếu những cảmxúc đó vào trong các sáng tác của mình, như một cách để giải tỏa Đó là lý do tạisao nhân vật nữ trong tác phẩm lại có cảm giác không an toàn với người đàn ôngthân cận nhất trong gia đình mình (từ người bố nỡ gán con lấy bữa ăn no, cho đếnngười chồng coi vợ như công cụ để thỏa mãn tình dục)” [92/44]

Đêm giao thừa

Nhà văn Kim Woo Chang nhận xét về tác phẩm này như sau: “Đây là tácphẩm lãng mạn và mang tính chủ quan cuối cùng của tác giả Yeam Sang Sub Vàtác giả đã cho chúng ta thấy hình ảnh một người phụ nữ mới theo quan niệm luân lýhiện đại, phải chấp nhận thỏa hiệp như thế nào với nền luân lý cũ và vì thế mà rơivào tình trạng bi kịch” [123/91]

Đánh giá tích cực về giá trị của tác phẩm, Kim Yun Sik cho rằng: “Nhân vật

có thể thức tỉnh bản thân để nhận ra giá trị của mình trong chế độ gia trưởng nàythật sự rất khó, xét một cách khách quan thì không chỉ riêng đối với Jung In, mà cònđối với tất cả số phận của những người phụ nữ” [79/175] Tuy nhiên, tác phẩm cũnggây ra khá nhiều tranh luận kể từ khi mới ra đời do những mô tả mang màu sắc tínhdục của nó Kim Woo Chang xem những khát khao của nhân vật nữ chính Jung In

là những điều “lỗi lầm” [123/91]

Nhà văn Kim Jong Kyun thì xếp nhân vật này vào nhóm “nhân vật phản diện”

và cho rằng: “Rõ ràng, đó là một người phụ nữ dường như đi ngược lại với những

Trang 34

tính cách và phẩm chất của những người phụ nữ khác, có những suy nghĩ táo bạo vàbất cần, có vẻ là một người vị kỷ, vì lúc nào cũng muốn mình được yên ổn hạnhphúc trước Nhân vật nữ Jung In có thể coi như là nạn nhân của xã hội cũ và bị thahóa trong cái xã hội suy đồi ấy” [132/88-90]

Kim Yun Sik gọi hành động của nhân vật là sự “tự do buông thả”: “Nói chungtác phẩm cũng có thể hiện sự phê phán ít nhiều đối với những hành động và quanđiểm yêu đương tự do buông thả của nhân vật nữ, nhưng qua đó để làm nổi bật hơnnguyên nhân sâu xa đã nhào nặn nên người phụ nữ như vậy” [79/175]

Nhà nghiên cứu Seo Jong Taek thì cho rằng, mô típ của tác phẩm Đêm giao

thừa bắt nguồn từ sex – tính dục Ông thấy rằng nhân vật nữ Jung In có quan điểm

tự do yêu đương với những người đàn ông khác Ngoài ra, ông còn cho rằng: “Jung

In chính là đại diện của người phụ nữ mới mà cái chết của cô có thể chính là một sự

mở rộng về mặt xã hội; thông qua cái chết của Jung In, người đọc biết được cuộcsống của người phụ nữ đương thời thế nào, và qua đó có thể nhận biết được xã hộicần phải làm gì cho họ” [124/393-410]

Chức nữ

Nghiên cứu về tác phẩm Chức nữ, Song Ji Hyun đã phát hiện ra rằng: “Đây một tác phẩm có rất nhiều điểm tương đồng với những tác phẩm khác của Sim Hun: Chim

lửa, Cây đời mãi xanh, Nụ cười… Cấu trúc truyện, nhân vật, chủ đề đều giống nhau,

tức là tác giả xây dựng nhân vật trong các tác phẩm đều là một cặp người yêu, trên conđường tìm kiếm tình yêu, chia sẻ quan niệm để cải cách hiện thực” [125/212]

Yoon Byung Lo, một nhà nghiên cứu văn học rất nổi tiếng khi tìm hiểu về SimHun, cho biết: “Xây dựng nhân vật Lee In Sook là tác giả đã lấy hình ảnh người vợcủa mình để làm mẫu, nhân vật nữ chính có bước chuyển từ một người phụ nữtruyền thống thành một con người mới Cô muốn thoát khỏi những giá trị cổ hủ,truyền thống và muốn tìm kiếm hạnh phúc, giá trị thực sự trong cuộc sống thông

qua việc giúp đỡ người khác” [126/87] Nếu như cái độc đáo trong Đêm giao thừa

là Yeam Sang Sub đóng vai nhân vật nữ để kể chuyện, thì nét độc đáo tiêu biểu của

Chức nữ là ở việc Sim Hun lấy nguyên mẫu hình ảnh người vợ của mình để xây

dựng nên nhân vật chính In Sook In Sook từng là một cô gái theo đúng chuẩn mực

Trang 35

của người phụ nữ phong kiến: cuộc sống khổ cực, hy sinh hết lòng vì chồng con,phục tùng chồng và phục vụ nhà chồng.

So sánh với một tác phẩm nổi tiếng khác của Sim Hun là Lá xanh, Oh Ji

Hyung cho rằng: “Nội dung tác phẩm không quá mới mẻ so với một số tác phẩmtương tự cùng thời, nhưng cách mà Sim Hun xây dựng nên cốt truyện và cá tínhnhân vật lại mang màu sắc độc đáo và có tính khai sáng rõ rệt Sim Hun, người vẫnluôn tin rằng văn học nghệ thuật nên đóng một vai trò nhất định trong việc ảnhhưởng và khai sáng cho công chúng, đã thực hiện điều đó thông qua thực hiện cácnguyên tắc của hiện thực chủ nghĩa Do đó, cả hai tác phẩm này đều thể hiện thếgiới quan khai sáng của người nghệ sĩ, và mang tinh thần lạc quan” [133/52]

Hoàng hôn đỏ rực

Tác phẩm này được giới văn học Hàn Quốc đánh giá là khá táo bạo và hiếm

có, vì đã khắc họa nên một mối tình vượt xa tuổi tác và đi ngược lại với luân lý lúc

bấy giờ: “Vấn đề tình yêu, giới tính có sự thay đổi trong tác phẩm Hoàng hôn đỏ

rực, Baek Shin Ae đã khắc họa nên hình ảnh người phụ nữ có sự mâu thuẫn, đấu

tranh nội tâm rất lớn, đi từ những cảm xúc trấn áp, phủ nhận, từ chối dục vọng…đến cuối cùng là thừa nhận nó Điều đáng chú ý trong tác phẩm chính là sự thừanhận – như một hình thức thổ lộ, giãi bày tình cảm” [129/38-45] Vào thời điểm tácphẩm ra đời, có không ít sáng tác xoay quanh câu chuyện tình yêu Nhưng chủ đềtình yêu được phản ánh qua nhân vật người mẹ như Sun Hee là điều rất mới lạ vàđộc đáo

Không dừng lại ở việc xem tác phẩm như một câu chuyện tình yêu thuần túy,

tác giả Lee Hee Won trong Giáo trình phương pháp giáo dục văn học hiện đại Hàn

Quốc còn cho rằng tác phẩm xoay quanh “sự ham muốn tình dục của người phụ nữ”

[134/12-15] Khi Baek Shin Ae viết xong tác phẩm này, nó thật sự là một cú sốc đốivới nền văn học hiện đại Hàn Quốc Có người thậm chí còn so sánh tác phẩm nhưmột hòn đá ném vào mặt hồ văn học nữ còn khá yên ả, và những làn sóng dao độngcủa mặt hồ đó cứ được khuếch trương và lan tỏa rộng mãi cho đến tận sau này Khi nhận định về tác phẩm cũng có nhiều luồng ý kiến trái chiều Những ý

kiến ủng hộ tích cực cho rằng ở Hoàng hôn đỏ rực, Baek Shin Ae đã có “sự trưởng

Trang 36

thành trong sáng tác”, ở đó “ý thức của chủ nghĩa hiện thực nổi bật” rất rõ ràng.Một số ý kiến ngược lại thì cho rằng tác phẩm này thiếu tính thực tế khi viết vềnhững điều có thể rất vô lý và sẽ chẳng bao giờ có thể hoặc được phép xảy ra Kim Jung Ja khi nghiên cứu về tác phẩm phụ nữ Hàn Quốc đã so sánh BaekShin Ae và Kang Kyung Ae như sau: “So với Kang Kyung Ae thì Baek Shin Ae khi

viết Hoàng hôn đỏ rực đã suy nghĩ sâu hơn về người phụ nữ, người phụ nữ có suy

nghĩ và tư duy logic hơn” [130/97]

1.3.2 Về nghệ thuật biểu hiện

Mẹ và con gái

Trong tác phẩm Mẹ và con gái, nghệ thuật kể truyện tuy không được đánh giá

cao (chủ yếu kể theo mạch tuyến tính), nhưng kết cấu tác phẩm với hệ thống ba nhânvật phụ nữ tương hỗ nhau được coi là một thành công: “Tác phẩm viết về số phận cuộcđời những người phụ nữ từ khi còn nhỏ cho đến lúc thức tỉnh được bản thân Câuchuyện được kể theo chiều tuyến tính, rất tỉ mỉ và chi tiết, có nguyên nhân và hệ quả,

có mở đầu ( ) Trong tác phẩm này, tác giả xây dựng lên ba số phận của ba người phụ

nữ khác nhau để so sánh, làm nổi bật cuộc đời và số phận của họ” [117/35-37]

Lễ tổ tiên trên núi

Với tác phẩm Lễ tổ tiên trên núi, nhiều ý kiến đánh giá cao thủ pháp nghệ thuật

đẩy mâu thuẫn lên cao trào, các tình tiết xảy ra khá đột ngột, như Kwon Young Min chỉra: “Cách xử lý tình huống của nhân vật khá nông nổi, ra quyết định nhanh chóng vàdứt khoát, mang tính tiêu cực mà lẽ ra chỉ cần nhân vật bình tĩnh thêm một chút, có lẽ

bi kịch sẽ không xảy ra” Cũng chính Kwon Young Min lại chỉ ra đó là cách mà ChoiJung Hee tạo nút thắt cho câu chuyện: “Có thể đây là chủ ý của tác giả, nhằm tạo mộtnút thắt cho câu chuyện, để người đọc thấy được hiện thực tàn khốc và số phận đángthương của cô bé nhân vật chính, một cô gái nhỏ bé đáng được cảm thông” [92/49]

Hwang Su Nam trong Nghiên cứu các tác phẩm của Choi Jung Hee có bình luận về tác phẩm Lễ tổ tiên trên núi: “Tác phẩm thể hiện tư duy văn học của tác giả.

Choi Jung Hee luôn có cách để làm nổi bật hình ảnh của người phụ nữ, thể hiện từ

tư tưởng, quan niệm, đến cấu trúc, văn phong của tác phẩm” [121/36]

Có cùng quan điểm đó, nhà văn Hong Ki Sam đánh giá cao tài năng miêu tả tâm

Trang 37

lý phụ nữ của Choi Jung Hee: “Tiểu thuyết của Choi Jung Hee miêu tả rõ nét tâm lýcủa người phụ nữ, khác với tình trạng miêu tả nghèo nàn trong văn học những năm

1930, đặc biệt là miêu tả rõ về sự mâu thuẫn giữa bản năng và lý trí” [120/520]

Đêm giao thừa

Bàn về phương diện nghệ thuật của tác phẩm, Kim Yun Sik nhận định: “Nghệthuật xây dựng nhân vật khác biệt hoàn toàn so với các tác phẩm cùng thời tạo nên

sự độc đáo của tác phẩm, không lẫn vào đâu được ( ) Ngoài ra cũng cần lưu ý đếncách kể chuyện, hình thức kể chuyện bằng cách viết thư kể lại cuộc đời mình Nó cóthể mang tính chủ quan của tác giả, nhưng lại giúp thể hiện trọn vẹn những gì màtác giả muốn gửi gắm vào nhân vật” [79/175]

Chức nữ

Về nghệ thuật, Kim Young Hee cho rằng: “Trong tác phẩm có những cảnh mô

tả diễn biến tâm lý và quá trình hành động, phản kháng của người phụ nữ khá đặcsắc Những mô tả đó đã làm nổi bật sự mạnh mẽ của người phụ nữ, không chịukhuất phục trong xã hội cổ hủ và trong gia tộc bảo thủ của nhà chồng, đồng thời đưa

ra hình tượng những con người bị tha hóa trong chế độ tảo hôn cũ” [135/202]

Hoàng hôn đỏ rực

Về mặt nghệ thuật, Han Myung Hwan đánh giá cao khi Baek Shin Ae mượnnghề nghiệp của nhân vật nữ chính - họa sĩ - để khắc họa những dục vọng nguyênthủy nhất của người phụ nữ Có thể nói thông qua việc vẽ tranh, cô ấy tìm được chínhbản thân mình, phát hiện ra cái đẹp lý tưởng mình hằng kiếm tìm, nhận ra tình cảmcủa mình và cuối cùng là đau khổ hy sinh tình cảm cá nhân mà từ bỏ nó [85/73-74].Kim Ji Young đánh giá cao nghệ thuật miêu tả chân dung nữ nhân vật chính,đặc biệt là nghệ thuật phác họa khuôn mặt cô: “Có rất nhiều đoạn, nhiều câu ấntượng được nhắc đi nhắc lại về khuôn mặt gọn gàng của nhân vật nữ” [129/91]

1.4 Tiểu kết và định hướng của luận án

Vấn đề người phụ nữ trong sáng tác văn học, mặc dù quan điểm ở mỗi nhànghiên cứu, mỗi thời kỳ, mỗi khu vực có khác nhau, song chưa bao giời thôi thu hút sựquan tâm của giới nghiên cứu Lịch sử nghiên cứu trên đây ở cả Việt Nam và Hàn

Trang 38

Quốc cho thấy những sôi động, những đối thoại, và cả những khác biệt, mâu thuẫntrong các công trình nghiên cứu về người phụ nữ trong các sáng tác văn học đầu thế kỷ

XX ở hai quốc gia Có thể nói rằng những công trình này là hết sức phong phú, thúcđẩy những sự khai phá không ngừng về hình ảnh người phụ nữ mới trong các sáng táccủa Tự Lực văn đoàn ở Việt Nam và của các nhà văn Hàn Quốc thời Nhật thuộc

Ở Việt Nam cũng như ở Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu đều chỉ ra và đánh giácao việc các sáng tác văn học thời kỳ này đã xây dựng thành công hình ảnh người “phụ

nữ mới”, đưa người “phụ nữ mới” này trở thành một hình tượng văn học nổi bật đầuthế kỷ XX Không còn là những vai phụ, cũng không còn hiện diện một cách mờ nhạtqua một vài mô tả ít ỏi như trong văn học trung đại, người phụ nữ đã xuất hiện trongvăn học hiện đại với toàn bộ đời sống phức tạp của họ, trong những mối quan hệ đadạng, vừa hòa hợp, vừa xung đột lẫn nhau: quan hệ với cha mẹ, anh em, bạn bè, quan

hệ với chồng con, với gia đình nhà chồng, quan hệ với xã hội Đồng thời, các nhànghiên cứu cũng nhận thấy những ý nghĩa xã hội được gửi gắm đằng sau hình tượngngười phụ nữ Trong bối cảnh của quá trình hiện đại hóa, cái mới chưa hoàn toànchiếm ưu thắng và cái cũ chưa bị lay đổ, hình tượng người phụ nữ gần như ngay lậptức được các nhà văn thời kỳ này sử dụng như một đối tượng để phóng chiếu những ýtưởng, những dự đồ của họ về xã hội, về dân tộc và về con người nói chung Vấn đềgiải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự do yêu đương, tự do hôn nhân, lên án những ràngbuộc khắt khe của lễ giáo, của đại gia đình phong kiến được biểu hiện thông qua hìnhtượng người phụ nữ Thành tựu trong các công trình nghiên cứu trên đây về cơ bản làđưa ra các nhận định tương đối xác đáng và toàn diện về hình tượng người phụ nữtrong các sáng tác của Tự Lực văn đoàn và của các nhà văn Hàn Quốc thời Nhật thuộc.Tuy nhiên, từ góc độ văn học so sánh, có thể thấy chưa có bất kỳ công trình nàođưa hai đối tượng trên vào so sánh một cách kỹ lưỡng và toàn diện Các công trình trênđây một mặt khai thác rất sâu các đặc điểm, thành tựu của từng nền văn học, nhưng mặtkhác, lại vô hình trung không thấy được những đặc điểm đó ở phạm vi rộng lớn hơn,vượt ra khỏi giới hạn của biên giới quốc gia Không chỉ vậy, những hạn chế trong mỗinền văn học cũng sẽ khó nhận diện nếu như không được đưa ra đối sánh với những nềnvăn học khác Chẳng hạn như khi xét đến nội dung nữ quyền được thể hiện thông qua

Trang 39

hình tượng người phụ nữ mới, giới nghiên cứu trước nay chỉ hầu như đề cao khát vọng

tự do, hạnh phúc nói chung ở các nhân vật nữ Tuy nhiên, khi so sánh cùng nội dungnày, ta lại thấy những trọng tâm khác nhau trong việc khắc họa các quan hệ xung đột củangười phụ nữ (xung đột trong quan hệ thế hệ hay xung đột trong quan hệ giới), từ đó mỗinền văn học lại nhắm đến những luận đề xã hội, những phương diện khác nhau của nữquyền luận, và tất nhiên cùng với đó là những phương thức biểu hiện khác nhau

Đặt vấn đề so sánh hình tượng người phụ nữ trong các sáng tác của Tự Lực vănđoàn ở Việt Nam và của các nhà văn Hàn Quốc thời Nhật thuộc, chúng tôi một mặttiếp tục đi sâu hơn vào những đặc điểm đã được giới nghiên cứu ở hai nước trước đâychỉ ra, đồng thời khắc phục điểm hạn chế trên đây của những nhà nghiên cứu đi trước

Sự tương đồng trên nhiều mặt của hai quốc gia, hai nền văn học giai đoạn nửa đầu thếkỷ XX, từ bối cảnh xã hội, bối cảnh văn học, đến các trào lưu tư tưởng, trào lưu vănhóa, văn học, sự chuyển mình của đội ngũ sáng tác, hệ công chúng, cùng sự tươngđồng về đề tài, chủ đề, hình tượng nghệ thuật (trong trường hợp này là hình tượngngười phụ nữ mới) là cơ sơ để chúng tôi triển khai luận án Một cái nhìn đối sánh giữahai quốc gia (đây cũng là cơ sở cho phép các công trình sau mở rộng phạm vi với nhiềuquốc gia, nhiều khu vực vừa nói trên) không chỉ giúp chúng ta nhận diện và khái quátnhững điểm tương đồng, mà còn thúc đẩy việc phát hiện những nét riêng biệt, độc đáo

ở từng quốc gia, từng tác giả văn học qua vấn đề người phụ nữ

Trang 40

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH XÃ HỘI – VĂN HOÁ CHO SỰ XUẤT HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC

Sự xuất hiện hình tượng người phụ nữ mới trong văn học Việt Nam và HànQuốc đầu thế kỷ XX là một hệ quả từ những đặc điểm lịch sử xã hội có nhiều néttương đồng Sau thời gian dài dưới ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa mà ở đóViệt Nam và Hàn Quốc được xem là các nước đồng văn, thì bước sang đầu thế kỷ

XX, cả hai lại trở thành các nước thuộc địa và chịu những tác động to lớn của tưtưởng, kỹ thuật phương Tây Quá trình biến đổi này đã tạo một bước ngoặt lớntrong nhận thức của xã hội Việt Nam và Hàn Quốc về người phụ nữ, đặt họ vàomột vị trí khác so với quan niệm phong kiến truyền thống Vì vậy, cơ sở xã hộilịch sử thời kỳ này là nhân tố hết sức quan trọng giúp tiếp cận với hình tượngngười phụ nữ trong văn học

2.1 Quan niệm truyền thống về người phụ nữ thời phong kiến

2.1.1 Người phụ nữ trong xã hội Việt Nam thời phong kiến

Xã hội Việt Nam trong suốt thời gian dài gần hai nghìn năm lịch sử kể từ khiBắc thuộc, về cơ bản, diễn ra quá trình vừa bị xâm lấn, vừa lai ghép, lại vừa đấutranh với nền văn hóa Hán phương Bắc, đặc biệt là nền Nho giáo Trung Hoa Chođến cuối thế kỷ XIX, Nho giáo đã thiết lập được một địa vị chắc chắn, nắm vai tròđộc tôn trong nền chính trị quốc gia và ăn sâu vào toàn bộ đời sống xã hội ViệtNam, góp phần định hình nên những nếp suy nghĩ, nếp ứng xử của người Việt Trong vài thập niên trở lại đây, phần đông các nhà nghiên cứu đều khẳng địnhtrong xã hội Việt Nam truyền thống, người phụ nữ có một địa vị cao Sở dĩ như vậy

là vì văn hóa Việt Nam có hai nét đặc thù: văn hóa tiểu nông và văn hóa Đông Nam

Á bản địa Tuy nhiên, cho đến thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn, ảnh hưởng của Nhogiáo đã ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp sinh hoạt của đại bộ phận người dân Việt Nam, và

vì thế những luân lý trói buộc của Khổng giáo đối với người phụ nữ trở nên nặng nềhơn rất nhiều Kể từ thế kỷ XV, Tống nho với những quy phạm khắc nghiệt đã du

Ngày đăng: 26/08/2020, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w