1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu và đánh giá tác động của chính sách giáo dục và đào tạo trong thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị để hoàn thiện chính sách

26 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 709,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu và đánh giá tác động của chính sách giáo dục và đào tạo trong thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị để hoàn thiện chính sách. Nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với phát triển kinh tế xã hội của một đất nước. Nói đến nguồn nhân lực, người ta thường quan tâm đồng thời đến cả hai yếu tố chất lượng và số lượng, trong đó đặc biệt quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực. Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, người lao động còn phải biết chủ động hội nhập quốc tế. Khác với toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh cho đất nước mình. Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng không hòa tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc. Trong điều kiện như vậy, người lao động, ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức dân tộc cao, còn cần có trình độ trí tuệ ngang tầm. Tri thức, trí tuệ thực sự là yếu tố thiết yếu của mỗi con người, bởi vì, tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều phải thông qua trí tuệ của họ. Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người. Cách duy nhất để cải thiện vốn tri thức, cũng như chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chính là thông qua con đường giáo dục và đào tạo. Với mong muốn học hỏi, tìm hiểu và biết thêm về vấn đề này, nhóm 1 bọn em cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo phụ trách bộ môn Bùi Thị Kim Thoa và thầy giáo Phạm Công Đoàn, bọn em xin phép được trình bày những nghiên cứu của nhóm em về đề tài: “Nghiên cứu và đánh giá tác động của chính sách giáo dục và đào tạo trong thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị để hoàn thiện chính sách.”.   Phần I: Khái quát về chính sách GDĐT 1.1. Khái niệm: Khái niệm chính sách: Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức. Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Khái niệm chính sách giáo dục đào tạo: Là những chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng, phát triển các phẩm chất và trí lực của người lao động.  Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai.  Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập để người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. 1.2. Vai trò của chính sách GDĐT trong việc thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực xã hội: Giáo dục và đào tạo góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc bởi giáo dục đào tạo góp phần xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao làm giàu của cải vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ sức đề kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu. Giáo dục đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Việt Nam đang tiến hành phổ cập giáo dục trung học cơ sở, trình độ lao động phổ thông còn thấp, ít được đào tạo nghề, vẫn còn khoảng gần 60% lao động nông nghiệp, nên hiện mới bước đầu xây dựng kinh tế tri thức. Giáo dục đào tạo nhằm phát huy năng lực nội sinh “đi tắt, đón đầu” rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việt Nam khẳng định giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là điều kiện phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp. Giáo dục đào tạo bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao. Đào tạo nhân lực có trình độ cao góp phần quan trọng phát triển khoa học công nghệ là yếu tố quyết định của kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức được hiểu là kinh tế trong đó có sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, làm giàu của cải vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tất cả các quốc gia phát triển đều có chiến lược phát triển giáo dục. Trong “Báo cáo giám sát toàn cầu giáo dục cho mọi người”, tổ chức UNESCO cũng đã khuyến khích các nước phải chi tiêu ít nhất 6% GDP cho giáo dục.  Đối với doanh nghiệp: Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc. Nâng cao chất lượng thực hiện công việc. Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức. Duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp. Giảm bớt sự giám sát vì người lao động được đào tạo là người có khả năng tự giám sát. Tạo ra được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.  Đối với người lao động: Tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động. Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như tương lai. Tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ, là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc. Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động. Tạo được sự gắn bó giữa người lao động với công ty. 1.3. Phân loại nhóm chính sách GDĐT: Chính sách coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Chính sách nâng cao trình độ văn hóa, dân trí: phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ và tái mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, vùng xa. Chính sách đào tạo nhân lực trình độ cao (cao đẳng, đại học, trên đại học). Chính sách đào tạo nghề. Chính sách phát triển hệ thống các trường ĐH, cao đẳng, trường nghề. Chính sách ưu đãi đối với lực lượng trong ngành giáo dục, đào tạo. Chính sách học phí, học bổng. Chính sách tuyển dụng, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài… Phần 2: Thực trạng chính sách chiến lược và tác động của nó đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam. 2.1.1. Chính sách nâng cao trình độ văn hóa, dân trí Đảng và Nhà nước luôn khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, vì vậy, để phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 29NQTW Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 202014NĐCP, về thực hiện chính sách phổ cập giáo dục, xóa mù chữ trên địa bàn cả nước nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Quy định rõ về điều kiện bảo đảm, trách nhiệm của các cơ quan; tiêu chuẩn, thẩm quyền và hồ sơ công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và xóa mù chữ. Thực hiện Nghị định của Chính phủ, các tỉnh đều thành lập Ban Chỉ đạo phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã), trong đó có thành phần tham gia của Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội. Về phổ cập giáo dục, báo cáo của Chính phủ nêu rõ: Hiến pháp 2013 xác định: Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học, giáo dục mầm non và các cấp giáo dục phổ cập cần phải bảo đảm cho học sinh học gần nhà, học sinh được học cả ngày ở trường và có thời gian nghỉ phù hợp. Luật Giáo dục (sửa đổi) cần quy định bảo đảm về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo, đầu tư tài chính và xã hội hoá giáo dục để thực hiện được yêu cầu trên. Ban soạn thảo đã bổ sung trách nhiệm của Nhà nước, trách nhiệm của địa phương, gia đình, người giám hộ trong việc tạo điều kiện cho học sinh trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập bắt buộc; đảm bảo cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo, đầu tư tài chính, xã hội hóa giáo dục để học sinh được học 2 buổi ngày (Điều 12, Điều 13, Chương VI). Đối với đề nghị quy định Nhà nước tăng cường và bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi và chăm lo giáo dục mầm non nói chung, Ban soạn thảo đã bổ sung Điều 26 quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non. Đối với việc mở rộng đối tượng không thu học phí là trẻ em dưới 5 tuổi, Ban soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên chính sách này ở các nước được đưa vào chính sách an sinh xã hội, mặt khác đối với trẻ em dưới 5 tuổi, trách nhiệm xã hội và gia đình là chủ yếu. Liên quan đến chính sách giáo dục hòa nhập, báo cáo của Chính phủ cho biết: Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, trong đó Nhà nước tập trung chăm lo cho các đối tượng học sinh đặc biệt, bao gồm các đối tượng học sinh yếu thế như học sinh khuyết tật, học sinh người dân tộc thiểu số trên nguyên tắc hỗ trợ về ăn, ở, điều kiện học tập, được học chung với các đối tượng học sinh khác. Ban soạn thảo đã bổ sung 1 điều vào Chương quy định chung (Điều 14) về giáo dục hòa nhập cho đối tượng yếu thế ở giáo dục mầm non, phổ thông, dân tộc ít người để nâng cao chất lượng giáo dục. Theo đó, giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng của các đối tượng người học khác nhau; đảm bảo quyền học tập bình đẳng, chất lượng, phù hợp với đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, những khác biệt về nhu cầu, đặc điểm của người học và không phân biệt, đối xử. Nhà nước có chính sách hỗ trợ người học có hoàn cảnh đặc biệt, người học thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người học dân tộc thiểu số, người học đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận giáo dục hòa nhập. Sửa đổi quy định về đầu tư cho cơ sở giáo dục ở những vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn (Điều 94). 2.1.2. Chính sách đào tạo nghề, nhân lực trình độ cao Trong tiến trình phát triển của xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nguồn nhân lực này là một bộ phận cấu thành nên nguồn nhân lực xã hội. Họ làm việc ở những vị trí lãnh đạo, chuyên môn kĩ thuật bậc cao và chuyên môn kĩ thuật bậc trung, những vị trí có liên quan mật thiết tới sự ra đời, phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức. Chính vì vậy, một trong những mục tiêu mà Nghị quyết 29NQTW của Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (năm 2013) về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT (viết tắt là Nghị quyết 29) đặt ra cho ngành GDĐT là phải tạo ra một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đủ đức, đủ tài để phục vụ sự phát triển chung của đất nước. Cụ thể: “Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học”. Thực hiện cụ thể qua các việc làm sau: Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực. Nhà nước có cơ chế, chính sách để huy động các nguồn vốn của người dân đầu tư và đóng góp cho phát triển nhân lực bằng các hình thức: Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo, cơ sở y tế, văn hoá, thể dục thể thao; Góp vốn, mua công trái, hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực. Cần quy định trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sự phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế, chính sách mạnh để doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tăng đầu tư phát triển nhân lực nói chung và đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề nói riêng. Mở rộng các hình thức tín dụng ưu đãi cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và cho học sinh, sinh viên để học nghề, học đại học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ. Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tổ chức lại mạng lưới giáo dục đào tạo, sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân cả ở quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cơ sở đào tạo, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước, vùng, miền và địa phương. Thực hiện phân tầng giáo dục đại học. Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những nội dung, kỹ năng người học, doanh nghiệp và xã hội cần, đảm bảo liên thông giữa các bậc học, cấp học, giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đa dạng hoá các phương thức đào tạo. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học. Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Cải cách mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo kết quả đầu ra của giáo dục và đào tạo. Đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo. Đặc biệt chú trọng việc tổ chức sắp xếp lại và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các trường sư phạm trên phạm vi cả nước.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

BỘ MÔN: QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC XÃ HỘI

LỜI MỞ ĐẦU

Nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với phát triểnkinh tế - xã hội của một đất nước Nói đến nguồn nhân lực, người ta thường quantâm đồng thời đến cả hai yếu tố chất lượng và số lượng, trong đó đặc biệt quan tâmđến chất lượng nguồn nhân lực

Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, người lao động còn phải biết chủđộng hội nhập quốc tế Khác với toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là hành động chủquan, có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăngcường sức mạnh cho đất nước mình Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhậncạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng không hòa tan, vẫn bảo tồn bảnsắc văn hóa dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc Trong điềukiện như vậy, người lao động, ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức dân tộccao, còn cần có trình độ trí tuệ ngang tầm

Tri thức, trí tuệ thực sự là yếu tố thiết yếu của mỗi con người, bởi vì, tất cả những

gì thúc đẩy con người hành động đều phải thông qua trí tuệ của họ Sự yếu kém vềtrí tuệ sẽ là lực cản dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người

Cách duy nhất để cải thiện vốn tri thức, cũng như chất lượng nguồn nhân lực ViệtNam chính là thông qua con đường giáo dục và đào tạo Với mong muốn học hỏi,tìm hiểu và biết thêm về vấn đề này, nhóm 1 bọn em cùng với sự giúp đỡ tận tìnhcủa cô giáo phụ trách bộ môn Bùi Thị Kim Thoa và thầy giáo Phạm Công Đoàn,bọn em xin phép được trình bày những nghiên cứu của nhóm em về đề tài:

Trang 2

“Nghiên cứu và đánh giá tác động của chính sách giáo dục và đào tạo trong thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị để hoàn thiện chính sách.”.

Trang 3

Phần I: Khái quát về chính sách GD-ĐT

1.1 Khái niệm:

- Khái niệm chính sách: Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng

dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý Một chính sách là một tuyên

bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức Các chính sáchthường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức Chính sách có thể

hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan

- Khái niệm chính sách giáo dục- đào tạo: Là những chủ trương, biện pháp của

Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng, phát triển các phẩm chất và trí lực củangười lao động

 Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con ngườibước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơntrong tương lai

 Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động họctập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chứcnăng, nhiệm vụ của mình Đó chính là quá trình học tập để người lao độngnắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nângcao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động cóhiệu quả hơn

1.2 Vai trò của chính sách GD-ĐT trong việc thực hiện mục tiêu phát triển

nguồn nhân lực xã hội:

- Giáo dục và đào tạo góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc

bởi giáo dục - đào tạo góp phần xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao làmgiàu của cải vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủsức đề kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính quá trình hộinhập quốc tế và toàn cầu

- Giáo dục - đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển

kinh tế của mỗi quốc gia Việt Nam đang tiến hành phổ cập giáo dục trung học

cơ sở, trình độ lao động phổ thông còn thấp, ít được đào tạo nghề, vẫn cònkhoảng gần 60% lao động nông nghiệp, nên hiện mới bước đầu xây dựng kinh

tế tri thức Giáo dục - đào tạo nhằm phát huy năng lực nội sinh “đi tắt, đón đầu”rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam khẳngđịnh giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, làđiều kiện phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước côngnghiệp

Trang 4

- Giáo dục - đào tạo bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ

chuyên môn, tay nghề cao Đào tạo nhân lực có trình độ cao góp phần quantrọng phát triển khoa học công nghệ là yếu tố quyết định của kinh tế tri thức.Kinh tế tri thức được hiểu là kinh tế trong đó có sự sản sinh, truyền bá và sửdụng tri thức là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, làm giàu của cải vật chất,nâng cao chất lượng cuộc sống Tất cả các quốc gia phát triển đều có chiến lượcphát triển giáo dục Trong “Báo cáo giám sát toàn cầu giáo dục cho mọi người”,

tổ chức UNESCO cũng đã khuyến khích các nước phải chi tiêu ít nhất 6% GDPcho giáo dục

Đối với doanh nghiệp:

- Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc.

- Nâng cao chất lượng thực hiện công việc.

- Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức.

- Duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp.

- Giảm bớt sự giám sát vì người lao động được đào tạo là người có khả năng tự

giám sát

- Tạo ra được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đối với người lao động:

- Tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động.

- Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như tương

lai

- Tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ,

là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc

- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động.

- Tạo được sự gắn bó giữa người lao động với công ty.

1.3 Phân loại nhóm chính sách GD-ĐT:

- Chính sách coi giáo dục là quốc sách hàng đầu

- Chính sách nâng cao trình độ văn hóa, dân trí: phổ cập giáo dục tiểu học, xóa

mù chữ và tái mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, vùng xa

- Chính sách đào tạo nhân lực trình độ cao (cao đẳng, đại học, trên đại học)

- Chính sách đào tạo nghề

- Chính sách phát triển hệ thống các trường ĐH, cao đẳng, trường nghề

- Chính sách ưu đãi đối với lực lượng trong ngành giáo dục, đào tạo

- Chính sách học phí, học bổng

Trang 5

Phần 2: Thực trạng chính sách chiến lược và tác động của nó đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam.

2.1.1 Chính sách nâng cao trình độ văn hóa, dân trí

Đảng và Nhà nước luôn khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, vì vậy, đểphát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) đãban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2014/NĐ-CP, về thực hiện chính sáchphổ cập giáo dục, xóa mù chữ trên địa bàn cả nước nhằm tiếp tục đẩy mạnh côngtác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ Quy định rõ về điều kiện bảo đảm, trách nhiệmcủa các cơ quan; tiêu chuẩn, thẩm quyền và hồ sơ công nhận đạt chuẩn phổ cậpgiáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dụctrung học cơ sở và xóa mù chữ Thực hiện Nghị định của Chính phủ, các tỉnh đềuthành lập Ban Chỉ đạo phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã),trong đó có thành phần tham gia của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội

Về phổ cập giáo dục, báo cáo của Chính phủ nêu rõ: Hiến pháp 2013 xác định:

"Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm logiáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thuhọc phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học", giáo dục mầm non và các cấp giáodục phổ cập cần phải bảo đảm cho học sinh học gần nhà, học sinh được học cảngày ở trường và có thời gian nghỉ phù hợp

Luật Giáo dục (sửa đổi) cần quy định bảo đảm về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo,đầu tư tài chính và xã hội hoá giáo dục để thực hiện được yêu cầu trên

Ban soạn thảo đã bổ sung trách nhiệm của Nhà nước, trách nhiệm của địa phương,gia đình, người giám hộ trong việc tạo điều kiện cho học sinh trong độ tuổi quyđịnh được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập bắt buộc; đảm bảo cơ sở vậtchất, đội ngũ nhà giáo, đầu tư tài chính, xã hội hóa giáo dục để học sinh được học

2 buổi/ ngày (Điều 12, Điều 13, Chương VI)

Đối với đề nghị quy định Nhà nước tăng cường và bảo đảm các điều kiện để thựchiện phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi và chăm lo giáo dục mầm non nói chung,Ban soạn thảo đã bổ sung Điều 26 quy định chính sách phát triển giáo dục mầmnon

Đối với việc mở rộng đối tượng không thu học phí là trẻ em dưới 5 tuổi, Ban soạnthảo sẽ tiếp tục nghiên cứu Tuy nhiên chính sách này ở các nước được đưa vào

Trang 6

chính sách an sinh xã hội, mặt khác đối với trẻ em dưới 5 tuổi, trách nhiệm xã hội

và gia đình là chủ yếu

Liên quan đến chính sách giáo dục hòa nhập, báo cáo của Chính phủ cho biết: Để

cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, trong đó Nhà nước tập trung chăm lo chocác đối tượng học sinh đặc biệt, bao gồm các đối tượng học sinh yếu thế như họcsinh khuyết tật, học sinh người dân tộc thiểu số trên nguyên tắc hỗ trợ về ăn, ở,điều kiện học tập, được học chung với các đối tượng học sinh khác

Ban soạn thảo đã bổ sung 1 điều vào Chương quy định chung (Điều 14) về giáodục hòa nhập cho đối tượng yếu thế ở giáo dục mầm non, phổ thông, dân tộc ítngười để nâng cao chất lượng giáo dục

Theo đó, giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khảnăng của các đối tượng người học khác nhau; đảm bảo quyền học tập bình đẳng,chất lượng, phù hợp với đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đadạng, những khác biệt về nhu cầu, đặc điểm của người học và không phân biệt, đốixử

Nhà nước có chính sách hỗ trợ người học có hoàn cảnh đặc biệt, người học thuộc

hộ nghèo, hộ cận nghèo, người học dân tộc thiểu số, người học đang sinh sống tạicác xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệtkhó khăn được tiếp cận giáo dục hòa nhập Sửa đổi quy định về đầu tư cho cơ sởgiáo dục ở những vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn (Điều 94)

2.1.2 Chính sách đào tạo nghề, nhân lực trình độ cao

Trong tiến trình phát triển của xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao luôn đóngmột vai trò hết sức quan trọng Nguồn nhân lực này là một bộ phận cấu thành nênnguồn nhân lực xã hội Họ làm việc ở những vị trí lãnh đạo, chuyên môn kĩ thuậtbậc cao và chuyên môn kĩ thuật bậc trung, những vị trí có liên quan mật thiết tới sự

ra đời, phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức

Chính vì vậy, một trong những mục tiêu mà Nghị quyết 29/NQ-TW của Hội nghịTrung ương 8 khóa IX (năm 2013) về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT (viết tắt

là Nghị quyết 29) đặt ra cho ngành GD-ĐT là phải tạo ra một đội ngũ nhân lực chấtlượng cao, đủ đức, đủ tài để phục vụ sự phát triển chung của đất nước Cụ thể:

“Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhântài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo củangười học” Thực hiện cụ thể qua các việc làm sau:

Trang 7

Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhânlực Nhà nước có cơ chế, chính sách để huy động các nguồn vốn của người dân đầu

tư và đóng góp cho phát triển nhân lực bằng các hình thức: Trực tiếp đầu tư xâydựng cơ sở giáo dục, đào tạo, cơ sở y tế, văn hoá, thể dục thể thao; Góp vốn, muacông trái, hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực Cần quy định trách nhiệmcủa doanh nghiệp đối với sự phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi và có cơchế, chính sách mạnh để doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tăng đầu tưphát triển nhân lực nói chung và đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề nói riêng Mở rộngcác hình thức tín dụng ưu đãi cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và cho học sinh, sinhviên để học nghề, học đại học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡngnâng cao trình độ

Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phânluồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Tổ chức lại mạnglưới giáo dục đào tạo, sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân cả ở quy mô đào tạo,

cơ cấu ngành nghề, cơ sở đào tạo, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục nghề nghiệp,giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng,miền và địa phương Thực hiện phân tầng giáo dục đại học

Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo ởbậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, nănglực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những nội dung,

kỹ năng người học, doanh nghiệp và xã hội cần, đảm bảo liên thông giữa các bậchọc, cấp học, giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Đa dạng hoá cácphương thức đào tạo Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động thamgia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lựcngười học

Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Cải cách mục tiêu,nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, đẩy mạnhứng dụng công nghệ thông tin Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo kếtquả đầu ra của giáo dục và đào tạo

Đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượngnghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo Đặc biệtchú trọng việc tổ chức sắp xếp lại và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cáctrường sư phạm trên phạm vi cả nước

2.1.3 Chính sách phát triển hệ thống cơ sở đào tạo

2.1.3.1 Chính sách của Nhà nước:

Trang 8

- Luật Giáo dục số: 43/2019/QH14 tại chương II quy định về hệ thống giáo dụcquốc dân gồm:

- Trong đó, chính sách của nhà nước tại quyết định số 37/2013/QĐ-TTg quy định

về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn

2006 - 2020 như sau:

 Tại điều 1, khoản 1 quy định về quan điểm quy hoạch:

Mở rộng hợp lý quy mô đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hóa và hiện đại hóa; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước;thực hiện điều chỉnh cơ cấu hệ thống đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chấtlượng và hiệu quả đào tạo, thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội; gắn công tácđào tạo với nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn Tập trung đầu tư xâydựng các trường đẳng cấp quốc tế, các trường trọng điểm, các trường ở vùngsâu, vùng xa, vùng khó khăn, các lĩnh vực then chốt; khuyến khích phát triểncác trường tư thục nhằm huy động ngày càng nhiều hơn nguồn lực xã hội đầu tưcho giáo dục đại học, trên cơ sở bảo đảm chất lượng, công bằng xã hội, gắn vớiphát triển nhân tài

 Tại điều 1, khoản 2 quy định về mục tiêu quy hoạch:

Hệ thống giáo dục quốc dân

Các cấp học và trình độ đào

tạo

Giáo dục thường xuyên

Giáo dục phổ thông

Giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục đại học

Giáo

dục

mầm

non

Trang 9

a) Đến năm 2020 đạt khoảng 256 sinh viên/1 vạn dân; khoảng 70% - 80% sinhviên đại học được đào tạo theo các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng vàkhoảng 30% - 20% sinh viên được đào tạo theo các chương trình nghiên cứu;b) Đến năm 2020 đạt bình quân từ 17 đến 26 sinh viên đại học và cao đẳng/1giảng viên; số giảng viên có trình độ tiến sỹ trong tổng số giảng viên đại họckhoảng 21% và số giảng viên có trình độ tiến sỹ trong tổng số giảng viên caođẳng dự kiến đạt khoảng 4%;

c) Sau năm 2020 diện tích đất đai và diện tích xây dựng của các trường đạtchuẩn định mức quy định về diện tích tính bình quân trên 1 sinh viên; hìnhthành các khu đại học dành cho các trường đại học nước ngoài đầu tư vào ViệtNam;

2.1.3.2 Thực trạng

Bảng 1: Số lượng trường học và học sinh trong hệ thống giáo dục phổ thông (2014-2018)

Năm 2014-2015 2015-2016 2016-2017 2017-2018 2018-2019 MẦM NON

Trường

Học sinh

14.2034.416.852

14,5324,627,316

14.8815.085.635

15.2565.306.536 5.360.000

TIỂU HỌC

Trường

Học sinh

15.2777.543.632

15.2547.790.009

15.0527.801.560

14.9378.041.842 8.359.000

THCS

Trường

Học sinh

10.8785.098.830

10.9095.138.646

10.928151.669

10.9395.373.312 5.603.000

THPT

Trường

Học sinh

2.7672.439.919

2.7882.425.130

2,8112.477.175

2.8342.508.564 2.578.000

Nguồn: Thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Sự phát triển của hệ thống giáo dục Đại học nước ta hiện nay:

 Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện tại có 237 trường đại học, họcviện (bao gồm 172 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường

Trang 10

có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụđào tạo trình độ tiến sĩ, 31 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp

sư phạm

 Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến ngày 30/6/2019 cảnước đã có 121 cơ sở giáo dục đại học và 03 trường cao đẳng sư phạmđạt tiêu chuẩn kiểm định theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dụcđại học của Việt Nam, chiếm khoảng 51% tổng số các trường đại học, họcviện trong cả nước

 Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Năm học 2018-2019, cả nước

có hơn 23,5 triệu học sinh, sinh viên, tăng hơn một triệu về số lượng so vớinăm học trước

Nguồn: Thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 11

Nhìn chung, số lượng về trường lớp và học sinh, sinh viên đều tăng theo mỗi năm.Một trong những nhiệm vụ chính được ngành giáo dục đề ra là sẽ tiếp tục rà soát,quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo trong cả nước Trong đó,

để đáp ứng quy mô phát triển về số lượng học sinh, ngành giáo dục sẽ nghiên cứu,

đề xuất và trình Chính phủ ban hành chính sách phát triển trường lớp mầm non ởkhu công nghiệp, khu chế xuất và hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện

2.1.4 Chính sách ưu đãi với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục

2.1.4.1 Chính sách

- Luật Giáo dục 2019 được ban hành với nhiều quy định đáng chú ý, trong

đó có đề cập đến nhiều chính sách ưu đãi dành cho giáo viên kể từ ngày 01/7/2020.

- Nhằm nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho đội ngũ nhà giáo, giáo viên,Luật Giáo dục 2019 đã có những quy định về chính sách đãi ngộ như sau:

 Nhà giáo được xếp lương phù hợp với vị trí việc làm và lao động nghềnghiệp; được ưu tiên hưởng phụ cấp đặc thù nghề theo quy định của Chínhphủ

 Nhà nước có chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điềukiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và nhiệm

vụ của mình

 Nhà giáo công tác tại trường chuyên, trường năng khiếu, trường phổ thôngdân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học,trường, lớp dành cho người khuyết tật, trường giáo dưỡng hoặc trườngchuyên biệt khác, nhà giáo thực hiện giáo dục hòa nhập được hưởng chế độphụ cấp và chính sách ưu đãi

 Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về chế độ phụ cấp và cácchính sách khác đối với nhà giáo công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xãhội đặc biệt khó khăn

Trang 12

 Đối với những nhà giáo có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật thìđược Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú.

2.1.4.2 Thực trạng

Đến năm 2019, mức lương của giáo viên vẫn được tính theo công thức: Lương cơ sở x Hệ số lương hiện hưởng

- Trong khi hệ số lương được giữ cố định từ năm 2004 đến nay, thì mức lương cơ

sở được điều chỉnh tăng dần theo từng năm Mức lương cơ sở tính từ ngày01/7/2019 là 1.490.000 đồng/tháng

- Căn cứ Nghị định 204/2004/NĐ-CP và Nghị định 38/2019/NĐ-CP, mức lương

của giáo viên hiện nay như sau:

 Giáo viên trung học cao cấp: Hệ số lương từ 4,0 đến 6,38 => Tương ứngmức lương từ 5.960.000 đồng đến 9.506.200 đồng

 Giáo viên trung học; Giáo viên tiểu học cao cấp; Giáo viên mầm non caocấp; Giáo viên trung học cơ sở chính: Hệ số lương từ 2,34 đến 4,98

Ngoài ra, giáo viên còn được hưởng nhiều phụ cấp, chế độ khác như:

Trang 13

- Theo Thông tư liên tịch 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC quy định về phụcấp ưu đãi theo nghề

- Theo Nghị định 54/2011/NĐ-CP quy định về phụ cấp thâm niên

- Phụ cấp thu hút

2.1.5 Nhà nước đã có những chính sách về Học phí:

Những đối tượng không phải đóng học phí, được miễn, giảm học phí, được hỗ trợchi phí học tập

(Nghị định 86/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 145/2018/NĐ-CP và

Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Nghị định 86/2015/NĐ-CP)

Theo đó:

Những đối tượng không phải đóng học phí bao gồm:

- Học sinh tiểu học trường công lập;

- Học sinh, sinh viên ngành sư phạm hệ chính quy đang theo học tại các cơ sởgiáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập, theo chỉ tiêu đào tạo củaNhà nước;

- Người theo học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục đại học

Ngày đăng: 26/08/2020, 11:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lượng trường học và học sinh trong hệ thống giáo dục phổ thông (2014-2018) - Nghiên cứu và đánh giá tác động của chính sách giáo dục và đào tạo trong thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị để hoàn thiện chính sách
Bảng 1 Số lượng trường học và học sinh trong hệ thống giáo dục phổ thông (2014-2018) (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w