Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ngày nay với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tình hình quốc tế có nhiều biến động Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI 2
1.1 Khái niệm chính sách đối ngoại 2
1.2 Đặc điểm chính sách đối ngoại 2
1.3 Mục tiêu chính sách đối ngoại 4
II CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI 4
2.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng tưởng Hồ Chí Minh 4
2.2 Tình hình thế giới và khu vực 4
2.3 Yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong nước 5
2.4 Truyền thống ngoại giao của dân tộc 5
III VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỐI NGOẠI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY 6
3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại 6
3.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước giai đoạn 1986 đến nay 6
3.2.1. Giai đoạn 1986 – 1991: Định hình những quan điểm cơ bản của đường lối đối ngoại đổi mới 6
3.2.2 Giai đoạn 1991 – 1996: Hình thành về cơ bản đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế 10
3.2.3 Giai đoạn 1996 – nay: Hoàn thiện và phát triển đường lối đối ngoại đổi mới với nội dung chủ động và hội nhập quốc tế 12
IV KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 14
4.1 Thành tựu 14
4.2 Hạn chế 15
4.3 Bài học kinh nghiệm 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách đối ngoại được coi là kim chỉ nam cho mục tiêu hội nhập quốc tế
mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ngày nay với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tình hình quốc tế có nhiều biến động Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo tư tưởng của Hồ Chí Minh về đối ngoại, đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác
và phát triển; rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đã phá vỡ thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch; xây dựng mối quan hệ hợp tác nhiều mặt, trên những nguyên tắc quan hệ và hợp tác quốc tế mang tính phổ biến, được cộng đồng quốc tế thừa nhận, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, phát triển đất nước
Trên cơ sở tư tưởng, ngoại giao Hồ Chí Minh, từ những bài học kinh nghiệm trong lịch sử ngoại giao Việt Nam và thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta đề ra các chính sách phù hợp với từng giai đoạn khác nhau và đạt được nhiều thành tựu to lớn, bên cạnh đó vẫn gặp không ít khó khăn và hạn chế nhất định, song để lại bài học kinh nghiệm cho Đảng ta trong việc đề ra chính sách đối ngoại trong giai đoạn tiếp theo góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Trang 3I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
1.1 Khái niệm chính sách đối ngoại
Chính sách đối ngoại, theo Marijke Breuni ng là “tổng thể các chính sách và tương tác với môi trường bên ngoài biên giới quốc gia”, chính sách đối ngoại bao quát nhiều vấn đề, từ an ninh, kinh tế tới những vấn đề môi trường, năng lượng, viện trợ nước ngoài,…
Theo George Modelski: “Chính sách đối ngoại là hệ thống những hoạt động
do các cộng đồng thực hiện nhằm thay đổi hành vi của các quốc gia khác và điều chỉnh hành động của bản thân nhà nước mình với môi trường quốc tế”, giảm tác động bất lợi và tăng cường hợp tác
James Rosenau quan niệm chính sách đối ngoại là "sự cố gắng của một xã hội quốc gia nhằm kiểm soát môi trường bên ngoài bằng cách duy trì bối cảnh thuận lợi và thay đổi những bối cảnh bất lợi"
Theo cuốn giáo trình Quan hệ chính trị quốc tế của Học viện Báo chí và Tuyên truyền: “Chính sách đối ngoại là tổng thể những chiến lược, sách lược, chủ trương, quyết định và những biện pháp do nhà nước hoạch định và thực thi rong quá trình tham gia tích cực có hiệu quả vào đời sống quốc tế trong từng thời kì lịch sử, vì lợi ích quốc gia, phù hợp với xu thế phát triển của tình hình thế giới và luật pháp quốc tế Chính sách đối ngoại là sự tiếp tục của chính sách đối nội, xuất phát từ chế độ kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia phục vụ chính sách đối nội”
Như vậy, từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất, chính sách đối ngoại là chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược, biện pháp, một bộ phận của chính sách quốc gia Tổng hợp những mục tiêu, biện pháp, điều chỉnh của một quốc gia được thực hiện trên trường quốc tế nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia đó
1.2 Đặc điểm chính sách đối ngoại
1.1.1 Chính sách đối ngoại thường được thể hiện dưới dạng các văn kiện
khác nhau của quốc gia.
Trang 4Thứ nhất, chính sách đối ngoại thể hiện dưới dạng một văn kiện của nhà nước hoặc của đảng cầm quyền, nhất là ở các nước xã hội chủ nghĩa.Ví dụ như Thông báo chính sách đối ngoại ngày 3-10-1945 của Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị khóa VI (5-1988) về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới
Thứ hai, chính sách đối ngoại được thể hiện trong phát biểu của lãnh đạo quốc gia, đại diện quốc gia tại hội nghị, diễn đàn quốc tế Ví dụ: Ngày
26-11-1953, trả lời phỏng vấn báo Express của Thụy Điển, Chủ tịch Hồ Chí Minh khảng định: “nếu Chính phủ Pháp muống đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình, thì nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sẵn sàng nói chuyện”
Thứ ba, chính sách đối ngoại còn được thể hiện qua các điều ước quốc tế mà quốc gia kí kết Ví dụ: Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, Tuyên
bố Tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam – Nhật Bản (2015) được kí kết giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nhật Shinzo Abe
1.1.2 Chính sách đối ngoại là chính sách công, là một bộ phận không tách
rời của đường lối chính trị quốc gia.
Chính sách đối ngoại cùng với chính sách đối nội tạo thành một chiến lược tổng thế của một quốc gia, do lợi ích giai cấp hay liên minh giai cấp cầm quyền đóng vai trò quyết định Tạo điều kiện cho việc bảo vệ và duy trì hệ thống quan
hệ xã hội hiện hành trong quốc gia đó
Chính sách đối ngoại là sự kéo dài của chính sách đối nội, suy cho cùng là phục vụ chính sách đối nội Chính sách đối ngoại và chính sách đối ngoại đều
do nhà nước hoạch định và triển khai, đều phục vụ cho mục tiêu quốc gia Nhưng chúng lại khác nhau ở mục tiêu cụ thể, đối tượng tác động và đặc biệt là phương thức thực thi chính sách Nếu như chính sách đối nội dùng biện pháp chế tài và vận động thự hiện thì đối ngoại lại không thể, chúng ta không thể bắt buộc các quốc gia khác thực hiện theo mình mà phải thông qua trao đổi tiếp xúc, đàm phán kí kết và thúc đẩy quan hệ
1.1.3 Chính sách đối ngoại có tính kế thừa
Trang 5Kế thừa những bài học kinh nghiệm và phát huy chúng từ lịch sử của dân tộc
là điều rất quan trọng Trong hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta kiên trì bài học độc lập, tự chủ, cách thức mềm mỏng và linh hoạt, uyển chuyển, coi trọng hòa hiếu với các nước láng giềng qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau
1.3 Mục tiêu chính sách đối ngoại
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cũng nêu nhận định về mục tiêu của chính sách đối ngoại: “Chính sách đối ngoại của bất kỳ một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ bao giờ cũng nhằm phục vụ ba mục tiêu cơ bản là mục tiêu an ninh (góp phần bảo đảm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ); mục tiêu phát triển (tranh thủ ngoại lực và tạo dựng điều kiện quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước); và mục tiêu ảnh hưởng (góp phần nâng cao địa vị quốc gia, phát huy tầm ảnh hưởng trên trường quốc tế)” [65, tr 3]
Ba mục tiêu an ninh, phát triển và vị thế gắn kết với nhau mật thiết, không thể tách rời và phản ánh lợi ích quốc gia, dân tộc Những mục tiêu này là không thay đổi, nhưng nội hàm cụ thể và các biện pháp sử dụng để đạt được mục tiêu
ấy có thể được điều chỉnh, thay đổi theo thời gian, tuỳ thuộc vào diễn biến thực
tế trong quá trình phát triển
II CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI
2.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, là cơ sở lý luận của đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta
Trên nền tảng tư tưởng đó, chính sách đối ngoại là một bộ phận cấu thành đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng qua từng thời kì
2.2 Tình hình thế giới và khu vực
Vào những năm 80 của thế kỉ XX cục diện của thế giới có những chuyển biến phức tạp Cách mạng khoa học và công nghệ có những bước tiến nhảy vọt,
Trang 6tác động sâu sắc đến tìn hình kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế Quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa được thúc đẩy
Quan hệ quốc tế, các nước lớn và quan hệ giữa chúng là một nhân tố rất quan trọng tác động đến sự phát triển của thế giới Quan hệ quốc tế chuyển dần từng bước từ đối đầu sang đối thoại Trật tự hai cực bị phá vỡ, hình thành xu thế toàn cầu hóa, đa cực, đa phương hóa Chiến tranh lạnh đi dần đến hồi kết Các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc thay đổi chính sách theo hướng hòa hoãn
Khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á có sự phát triển năng động, song tại đây cũng luôn tìm ẩn những yếu tố gây mất ổn định Việt Nam nằm trong những khu vực này cho nên không thể không chịu sự tác động đó Cuộc "chiến tranh lạnh" đã kết thúc nhưng nền hòa bình thế giới lại đứng trước thách thức lớn Đó là những cuộc chiến tranh cục bộ, những cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, các thế lực khủng bố quốc tế gây ra những cuộc khủng bố đẫm máu Đó là những âm mưu và hành động của các thế lực phản động can thiệp thô bạo đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhiều nước trên thế giới bất chấp các chế định hành xử của luật pháp quốc tế cũng như các nguyên tắc của Liên hợp quốc
Đấu tranh giai cấp và dân tộc vẫn còn dễn ra gay gắt như các cuộc đấu tranh
sự thất bại ở Ni-ca-ra-goa, En Xan-va-đo, những đảo lộn ở Mô-dăm-bich, Dim-ba-bu-ê, Ăng-gô-la, Xéc-bi, Áp-ga-ni-xtan, Hay các cuộc đấu tranh xoay quanh về việc bao vây, cấm vận đối với nước Cu-ba, cùng các điểm nóng khác
ở một số nước thuộc Liên Xô (cũ)
2.3 Yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong nước
Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh
tế xã hội trầm trọng và kéo dài
Mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược lúc này là chấm dứt tình trạng thù địch, đối đầu, phá thế bao vây, cấm vận, tạo môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung xây dựng kinh tế, thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Yêu cầu đặt ra là phải bình thường và mở rộng mối quan hệ với
Trang 7các quốc gia khác, hợp tác đa phương hóa, đa dạng hóa có ý nghĩa quan trọng đối với giai đoạn đổi mới lúc bấy giờ
2.4 Truyền thống ngoại giao của dân tộc
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam luôn phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, gian khổ Trải qua những thăng trầm ấy, ngoại giao Việt Nam đã từng bước được hình thành và phát triển, vừa mang đậm bản sắc dân tộc,hòa hiếu, nhân nghĩa, thủy chung, vừa kết tinh những tinh hoa của nhân loại để tạo nên một bản sắc riêng của nền ngoại giao Việt Nam Ngoại giao của dân tộc luôn kiên trì về nguyên tắc, nhưng luôn chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong trong xử lý các tình huống, hòa bình hữu nghị; kết hợp giữa ngoại giao, kinh tế, chính trị và quân sự; tinh thần độc lập tự chủ;…
III VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỐI NGOẠI TRONG
SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY
3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
3.1.1 Khái niệm tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Theo Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại hay ngoại giao là “hệ thống những nguyên lý, quan điểm, quan niệm về các vấn đề thế giới và thời đại, về đường lối quốc tế, sách lược, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam thời kì hiện đại”
3.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
Nội dung tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh rất sâu sắc, phong phú và đa dạng bao quát rất nhiều vấn đề Đó là tư tưởng đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia – dân tộc; độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; độc lập tự chủ, tự cường, đoàn kết và hợp tác quốc tế; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; coi trọng quan hệ với các nước lớn, quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng; ngoại giao là một mặt trận;…
3.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước giai đoạn 1986 đến nay
Qua từng giai đoạn lịch sử của dân tộc cho đến ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại được vận dụng xuyên suốt Các tư tưởng ấy được Đảng và
Trang 8Nhà nước ta kế thừa và phát huy một cách sáng tạo đan xen ứng với từng giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước
3.2.1 Giai đoạn 1986 – 1991: Định hình những quan điểm cơ bản của
đường lối đối ngoại đổi mới
Trên cơ sở tình hình thế giới và yêu cầu trong nước, từ tháng 7-1986, Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị khóa V (tháng 7/1986) chủ trương chuyển từ đối đầu sang đối thoại, nhằm chủ động tạo thế ổn định để tập trung xây dưng kinh tế, chủ đọng chuyển sang thời kì cùng tồn tại hòa bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành khu khực hòa bình, ổn định và hợp tác
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) Tổng Bí thư Trường CHInh đọc báo cáo chính trị, đặt ra vấn đề đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ Đảng cũng đã nhấn mạnh: “Ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, giữ hòa bình ở Đông Dương, góp phần giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ Quốc…” Hòa bình ở khu vực và thế giới có quan hệ gắn kết với nhau, thế giới có hòa bình thì các khu vực mới có hòa bình và ngược lại Đổi mới toàn diện, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) của Đảng đề ra chính sách đối ngoại phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước Đại hội khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình và hữu nghị” Về quan hệ với các nước khu vực Đông Nam Á: “Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác” Đại hội VI nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là “… Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”… và “cần hoà bình để phát triển kinh tế”
Nghị quyết của Đại hội VI và các Nghị quyết của Trung ương đã chuyển hướng chính sách ngoại giao, chủ trương đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với tất
cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, thi hành chính sách hữu nghị, củng cố và giữ vững hòa bình, tạo điều kiện và
Trang 9môi trường thuận lợi để đất nước phát triển trong thế ổn định: “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân là phải củng cố và giữ vững hòa bình…” – Nghị quyết số 13/BCT; phù hợp với lợi ích của nhân dân ta và xu thế phát triển chung của thế giới Nó trở thành tư tưởng chủ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đồng thời là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình từng bước gia nhập ASEAN của Việt Nam
Cuối năm 1991, chế độ xã hội ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, tình hình thế giới phức tạp là một thách thức lớn đối với Việt Nam Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khóa VII) đã đề ra bốn phương châm xử lý các vấn đề đối ngoại, quan hệ quốc tế như sau: (1) Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; (2) Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường trong khi đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; (3) Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ với mọi đối tượng; (4) Tham gia hợp tác khu vực đồng thời mử rộng quan hệ với các nước lớn
Trên cơ sở đổi mới tư duy đối ngoại, Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu và những chính sách đối ngoại lớn Mục tiêu của ngoại giao Việt Nam lúc này là hòa bình và phát triển Đảng và Nhà nước ta quyết tâm giải quyết vấn đề Campuchia, từ đó giải quyết vấn đề bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, ASEAN và Hoa Kỳ
Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI 20/5/1988) là mốc khởi đầu của quá trình đổi mới tư duy, nhận thức và đường lối đối ngoại của Đảng ta Nghị quyết khẳng định nước ta “lại càng có những cơ hội lớn để có thể giữ hòa bình và phát triển về kinh tế” và xác định “với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng
ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn” Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị thay chủ trương 10 năm trước tăng cường liên minh 3 nước Đông Dương làm đối trọng với các nước ASEAN Ngược lại, chúng ta khẳng định không đối lập nhóm 3 nước Lào, Việt Nam, Campuchia, xã hội chủ nghĩa với nhóm ASEAN, tư bản chủ nghĩa
Trang 10Thực hiện chủ trương, đường lối trên ta đã có được những dấu hiệu hòa dịu trong khu vực Tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/07/198, ngoại trưởng Indonexia sang thăm và ký Thông cáo chung Việt Nam – Indonexia, vừa khai thông quan hệ song phương, mở đường cho xu thế đối thoại, hợp tác giải quyết vấn đề Campuchia Việt Nam đã từng bước rút quân khỏi Campuchia từ 1984
-1989 Như vậy vấn đề Campuchia đi dần vào giải pháp hòa bình Tháng 12/1987, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 3 họp tại Manila (Philipin) Tổng thống Philipin C.V.Akinô tuyên bố không coi Việt Nam là mối đe dọa đối với Philipin, không chống Việt Nam gia nhập ASEAN Tháng 8-1988, Thủ tướng Thái Lan tuyên bố “biến Đông Dương từ chiến trường sang thị trường” Tháng 1/1989, tại Hội nghị bàn tròn các nhà báo châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh một lần nữa nhấn mạnh: “Việt Nam sẵn sàng phát triển quan
hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước trong khu vực” “Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á” Những phát biểu trên một lần nữa nhấn mạnh quan điểm trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề gia nhập ASEAN Quan hệ Việt Nam – ASEAN đã được đẩy mạnh
Tháng 11 – 1991 tại Bắc Kinh, Việt Nam và Trung Quốc ký Tuyên bố về việc bình thường hóa quan hệ Việt – Trung Đây là bước khởi động quan trọng
để tái lập và phát triển mối quan hệ giữa 2 nước Cùng với đó mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ cũng bắt đầu khởi động trở lại Tháng 7 – 1990 Ngoại trưởng
Mỹ tuyên bố thừa nhận Việt Nam rút quân khỏi Campuchia Tháng 4 – 1991 đề
ra lộ trình bình thường hóa quan hệ 2 nước, tháng 4 – 1992 Hoa kỳ nới lỏng lệnh cấm vận đối với Việt Nam
Tháng 11 – 1990, quan hệ giữa Việt Nam với Cộng đồng Châu Âu (EC) được chính thức thiết lập, cũng có ý nghĩa là bắt đầu tiến trình phục hồi quan hệ giữa Việt Nam với các nước châu Âu
Như vậy, với những chủ trương, đường lối vận dụng tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh kết hợp với thời đại, nước ta bước đầu đã giải quyết được vấn
đề Campuchia trên cơ sở giữ vững một số thành quả của cách mạng Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, khai thông quan hệ với các nước