Để hạn chế được rủi ro đó, trong quá trình thẩm định để đi đến quyếtđịnh cho vay, các ngân hàng phải chú trọng đến công tác PTTC của khách hàng.Một khách hàng có khả năng tài chính đảm b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VN - CHI NHÁNH VIỆT TRÌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VN - CHI NHÁNH VIỆT TRÌ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS NGUYỄN THỊ VŨ HÀ XÁC NHẬN CỦA GVHD
TS NGUYỄN THỊ VŨ HÀ
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
TS LÊ TRUNG THÀNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn: Tôi – Lê Văn Cương, xin cam đoan: Những nội dung trongluận văn, cụ thể là những phân tích, đánh giá thực trạng tài chính khách hàng tronghoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh ViệtTrì, cùng những đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Ngân hàng này là do tôi
tự nghiên cứu và thực hiện, không sao chép nội dung của công trình nghiên cứunào Các tài liệu tham khảo để thực hiện luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc đầy
đủ và rõ ràng
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2018
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô, Giảng viên Trường Đại học kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn cho tôi nhiều kiếnthức bổ ích trong suốt thời gian tham gia lớp cao học Tài chính – Ngân hàng Khóa
-22 được tổ chức tại Hà Nội 2013-2015
Đặc biệt, Tôi xin trân trọng cảm ơn Cô giáo - TS Nguyễn Thị Vũ Hà, người
đã nhiệt tình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn này Ngoài ra, tôi xin dành lờicảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã cónhững nhận xét đóng góp thiết thực giúp cho bài luận văn của tôi thêm hoàn chỉnh
Cuối cùng, tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ban Lãnh đạo, các anh chị, cácbạn, những đồng nghiệp của tôi hiện đang làm việc tại Ngân hàng TMCP NgoạiThương Việt Nam – Chi nhánh Việt trì đã tạo điều kiện, hỗ trợ tài liệu và thông tincho tôi thực hiện tốt luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iv
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA KHÁCH HÀNG TRONG CÁC NHTM 5
1.1 Cơ sở lý luận về PTTC của khách hàng trong các NHTM 5
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc phân tích tài chính khách hàng 5
1.1.2 Nội dung phân tích 7
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng PTTC khách hàng 28
1.1.4 Tài liệu dùng cho PTTC khách hàng 33
1.1.5 Cách thức tổ chức phân tích tài chính khách hàng vay vốn 36
1.2.Tổng quan tài liệu nghiên cứu 38
1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề PTTC trong hệ thống Vietcombank: 38 1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề PTTC trong hệ thống ngân hàng khác: 39 1.2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề PTTC trong doanh nghiệp 40
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1.Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 43
2.1.1 Thu thập dữ liệu 43
2.1.2 Xử lý dữ liệu 43
2.2.Phương pháp so sánh 44
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT
NAM - CHI NHÁNH VIỆT TRÌ 46
3.1 Tổng quan và đặc điểm khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Việt Trì 46
3.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Việt
Trì .46
3.1.2 Đặc điểm khách hàng vay vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam - Chi nhánh Việt Trì có ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính khách
hàng
51 3.2 Tổ chức công tác phân tích tài chính khách hàng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Việt Trì 54
3.2.1 Quy định về công tác PTTC khách hàng trong hoạt động cho vay 54
3.2.2 Tiến trình thực hiện PTTC khách hàng 56
3.2.3 Phương pháp phân tích tài chính khách hàng vay vốn 56
3.2.4 Cơ sở số liệu phân tích tài chính khách hàng 57
3.3.Các kết quả chính từ việc phân tích tài chính khách hàng 60
3.3.1 Phân tích cơ cấu, biến động tài sản - nguồn vốn 61
3.3.2 Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán 65
3.3.3 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh 67
3.3.4 Phân tích dòng tiền và phân tích vốn lưu chuyển 69
3.3.5 Dự báo dòng tiền 70
CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP 72
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH VIỆT TRÌ 72
Trang 74.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu về PTTC khách hàng trong hoạt động cho vay tại
NH Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Việt Trì 72
4.1.1 Những ưu điểm 72
4.1.2 Những tồn tại 73
4.1.3 Nguyên nhân 79
4.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện phân tích tài chính khách hàng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Việt Trì .83
4.2.1 Hoàn thiện cơ sở số liệu phục vụ công tác phân tích 83
4.2.2 Hoàn thiện tổ chức công tác phân tích báo cáo tài chính 85
4.2.3 Hoàn thiện phương pháp phân tích 89
4.2.4 Hoàn thiện nội dung phân tích 90
4.2.5 Hoàn thiện về đội ngũ nhân sự thực hiện công tác phân tích 92
4.3.Đóng góp của đề tài nghiên cứu 93
4.4 Những hạn chế của đề tài và một số gợi ý cho các đề tài nghiên cứu trong tương lai 95
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC BẢNG
2 Bảng 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Tổng tài sản, nguồn vốn huy động và VCSH 50
2 Biểu đồ 3.2 Lợi nhuận sau thuế, doanh thu và tỷ lệ nợ xấu 50
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1 Quy trình phân tích tài chính khách hàng tại các
Tổ chức bộ máy hoạt động của Chi nhánhNgân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Việt Trì
47
Quy trình PTTC khách hàng vay vốn tại Ngânhàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – CN Việt Trì
56
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính quan trọng trong hệ thống tàichính của mỗi quốc gia Nhờ có NHTM mà một lượng vốn nhàn rỗi lớn đã đượcchuyển dịch từ những người có vốn sang người cần vốn Trong hoạt động củamình, các NHTM luôn tìm cách để thu được lợi nhuận cao nhất có thể Vì thế đôikhi có nhiều rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt làrủi ro trong hoạt động cho vay – một hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận lớn chongân hàng Để hạn chế được rủi ro đó, trong quá trình thẩm định để đi đến quyếtđịnh cho vay, các ngân hàng phải chú trọng đến công tác PTTC của khách hàng.Một khách hàng có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết làmột trong những điều kiện tiên quyết để xem xét có cho vay hay không Điều kiệnnày vừa mang lại lợi nhuận cho ngân hàng cũng như khách hàng Đối với kháchhàng, có được khả năng tài chính tốt sẽ giúp cho khách hàng an tâm hơn về vấn đềtrả nợ khi đến hạn, do đó giữ được chữ tín cam kết với ngân hàng Riêng đối vớingân hàng, việc xem xét khả năng tài chính của khách hàng giúp ngân hàng giảmthiểu được rủi ro, tránh đưa ra những quyết định sai lầm: Cho vay những kháchhàng xấu và không cho vay những khách hàng tốt
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của công tác PTTC vay vốntrong điều kiện hiện nay, tôi đã đi đến quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu là:
“Phân tích tài chính khách hàng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Việt Trì”.
Lý do lựa chọn đề tài này là do:
- PTTC của khách hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá sức mạnhtài chính, khả năng tự chủ tài chính trong kinh doanh, nhu cầu tài trợ và khả nănghoàn trả nợ của khách hàng, là cơ sở để cán bộ tín dụng đưa ra quyết định cho vayhay không cho vay và cho vay bao nhiêu, tránh được rủi ro trong hoạt động cho vay
- Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Việt Trì là nơi tôi
12
Trang 13đang công tác, có nhiều điều kiện thuận lợi do làm việc thực tế cũng như thu thập
số liệu nên tôi chọn phân tích tại cơ sở Việt Trì
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là đưa ra các đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện
và nâng cao chất lượng PTTC khách hàng vay vốn tại NHNT Việt Trì trên cơ sở nghiên cứu thực trạng PTTC của khách hàng vay vốn tại NHNT Việt Trì
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Việc PTTC khách hàng trong hoạt động cho vay tại NHNT Việt Trì bao gồm những nội dung gì? Nguyên nhân?
Câu hỏi 2: Những vấn đề còn tồn tại của PTTC khách hàng trong hoạt động cho vay tại NHNT Việt Trì là gì?
Câu hỏi 3: Các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện việc PTTC khách hàng trong hoạt động cho vay tại NHNT Việt Trì là gì?
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề chung vềphân tích tình hình tài chính của khách hàng doanh nghiệp SME Thực trạng việcphân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp SME của Ngân hàng TMCP NgoạiThương VN – Chi nhánh Việt Trì
Nghiên cứu trên phạm vi Ngân hàng TMCP Ngoại Thương VN – Chi nhánhViệt Trì các năm 2012 – 2014, là giai đoạn gần nhất, phản ánh rõ thực trạng PTTCkhách hàng tại NHNT Việt Trì
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp thu thập và xử lý dữliệu, phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, với các số liệu được thuthập từ Ngân hàng Nhà nước và các NHTM, các Báo cáo thường niên, Bản công bốthông tin từ cơ quan thống kê, tạp chí… và được xử lý bằng các phần mềm máytính Là một trong các bước cơ bản của một nghiên cứu, bao gồm xác định vấn đềnghiên cứu; thu thập số liệu; xử lý số liệu; phân tích số liệu và báo cáo kết quả Xác
Trang 14định rõ vấn đề nghiên cứu giúp việc thu thập số liệu được nhanh chóng và chính xáchơn Để có cơ sở phân tích số liệu tốt thì trong quá trình thu thập số liệu phải xácđịnh trước các yêu cầu của phân tích để có thể thu thập đủ và đúng số liệu nhưmong muốn Điều cốt lõi của phân tích số liệu là suy diễn thống kê, nghĩa là mởrộng những hiểu biết từ một mẫu ngẫu nhiên thành hiểu biết về tổng thể, hay còngọi là suy diễn quy nạp Muốn có được các suy diễn này phải phân tích số liệu dựavào các test thống kê để đảm bảo độ tin cậy của các suy diễn Bản thân số liệu chỉ làcác số liệu thô, qua xử lý phân tích trở thành thông tin và sau đó trở thành tri thức.Đây chính là điều mà tất cả các nghiên cứu đều mong muốn.
6 Kết quả dự kiến của đề tài:
Thông qua nghiên cứu, luận văn dự kiến sẽ đạt được kết quả cụ thể như sau:
- Sau khi nghiên cứu xong đề tài sẽ tổng kết được các thành quả nghiên cứu của cáccông trình nghiên cứu trước đó liên quan đến nội dung PTTC nói chung và PTTCkhách hàng tại NHTM nói riê ng Các lý thuyết về PTTC khách hàng tại NHTM sẽđược vận dụng có hiệu quả vào việc PTTC khách hàng tại NH TMCP NgoạiThương VN – CN Việt Trì
- Nêu lên được tầm quan trọng của công tác PTTC khách hàng trong các NHTM
- Đề tài tìm ra được những giải pháp và các kiến nghị cần thiết để hoàn thiện công tácPTTC khách hàng tại NHNT Việt Trì
Những đóng góp mới của luận văn :
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về PTTC khách hàng tại các NHTM
- Đánh giá được thực trạng công tác PTTC khách hàng tại NHNT Việt Trì
- Tìm ra được những giải pháp, kiến nghị về công tác PTTC khách hàng của
Vietcombank Việt trì trong giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương, bao gồm:
Trang 15CHƯƠNG I: Tổng quan cơ sở lý luận và tình hình nghiên cứu về phân tích tài chính của khách hàng trong các NHTM
CHƯƠNG 2: Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 3: Thực trạng phân tích tài chính khách hàng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN – CN Việt trì
CHƯƠNG 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và các giải pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện phân tích tài chính khách hàng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCPNgoại thương VN – CN Việt trì
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
CỦA KHÁCH HÀNG TRONG CÁC NHTM
1.1 Cơ sở lý luận về PTTC của khách hàng trong các NHTM.
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc phân tích tài chính khách hàng
- Khái niệm: PTTC được xem là một quá trình xử lý, đánh giá số liệu bằng các
phương pháp kỹ thuật thích hợp để giúp người sử dụng thông tin biết được thựctrạng tài chính doanh nghiệp Thông qua phân tích tình hình tài chính, người sửdụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, kết quả kinh doanh cũng như rủi ro haytriển vọng của khách hàng, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn đáp ứng được nhu cầuhay thoả mãn lợi ích của mình PTTC cung cấp thông tin một cách chính xác, trungthực và kịp thời để những người sử dụng thông tin này có thể đánh giá sức mạnh tàichính, khả năng hoạt động cũng như dự đoán về tương lai của khách hàng
- Ý nghĩa của PTTC khách hàng vay vốn trong các NHTM
Mục tiêu chung và tổng quát của mọi đối tượng sử dụng thông tin khi PTTC làđánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại, dự đoánđược kết quả tài chính trong tương lai để phục vụ việc ra quyết định kinh doanh.Tuy nhiên, như đã trình bày ở các phần trên, đối tượng sử dụng thông tin tài chính làkhá đa dạng, do vậy, mục đích PTTC của những đối tượng này cũng khác nhau.Việc xác định rõ đối tượng và mục đích phân tích của đối tượng là rất cần thiết để
có thể xây dựng quy trình phân tích phù hợp, bao gồm việc lựa chọn phạm vi phântích, chỉ tiêu phân tích, phương pháp phân tích phù hợp
Riêng đối với NHTM, cho vay là hoạt động nhiều rủi ro nhất, do vậy hạn chếrủi ro trong hoạt động cho vay là vấn đề bức thiết luôn được các ngân hàng quantâm Với vai trò là nhà đầu tư - là chủ nợ: Lợi ích mà NHTM thu được ở một kháchhàng thể hiện dưới dạng tiền lãi và tiền gốc cho vay Khoản cho vay này có thể làngắn hạn hoặc dài hạn Đối với cho vay ngắn hạn và dài hạn có cách thức PTTCtương đối khác biệt, cho vay ngắn hạn thường chỉ tập trung vào khả năng thanh toán
Trang 17lãi vay của doanh nghiệp và thanh toán gốc vay vào ngày đáo hạn, những phân tíchnày được giới hạn trong một khung thời gian cụ thể Các chủ nợ dài hạn lại cónhững đánh giá và xem xét kỹ lưỡng hơn đối với khả năng thanh toán của doanhnghiệp, họ cần xem xét khả năng duy trì sự tồn tại và sức sinh lời của doanh nghiệptrong một khoảng thời gian tương đối dài Như vậy, một số biến động trong ngắnhạn của doanh nghiệp có thể là mối quan tâm lớn đối với ngân hàng khi cho vayngắn hạn, nhưng những sự kiện đó chưa hẳn đã được thực sự phải quan tâm khi chovay dài hạn Ngân hàng không chỉ quan tâm tới tình hình tài chính hiện tại củakhách hàng mà còn quan tâm tới khả năng phát triển trong tương lai của họ.
PTTC khách hàng giúp cho ngân hàng nhìn nhận toàn diện bộ mặt của kháchhàng trong kỳ hoạt động đã qua một cách khách quan và tương đối trung thực Bêncạnh đó, việc phân tích cũng giúp ngân hàng hiểu rõ được nguyên nhân gây ra sựbiến động của các chỉ tiêu và khoản mục; nhận biết được các nhân tố ảnh hưởng đếncác khoản mục, để từ đó có hướng đầu tư thích hợp cho khách hàng
PTTC khách hàng giúp cho ngân hàng nhận biết và dự đoán trước những rủi rocũng như tiềm năng trong tương lai của khách hàng Bởi rủi ro là nguy cơ lúc nàocũng có thể gặp phải và gây ra các hậu quả nghiêm trọng, do vậy việc nhận biết cácrủi ro giúp ngân hàng có hướng đầu tư thích hợp, có quyết định tài chính và các dựthảo tài chính trong tương lai như kế hoạch đầu tư, kế hoạch ngân quỹ để tư vấn chokhách hàng Đối lập với rủi ro, những tiềm năng và cơ hội sẽ mang đến cho NHTMnhững khách hàng có sức mạnh tài chính Nhận biết điều đó là một bước đầu thắnglợi của ngân hàng trên con đường phát triển đồng hành cùng khách hàng
PTTC khách hàng cũng là một công cụ hỗ trợ đắc lực của ngân hàng để kiểmsoát các hoạt động quản lý trong đơn vị khách hàng về tính hiệu quả cũng như tínhđầy đủ của nó Hỗ trợ việc đưa ra các quyết định tín dụng trên cơ sở phân tích hiệuquả SXKD, tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp; dự báo tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp trong tương lai và phân tích đảm bảo nợ vay của doanh nghiệp tạithời điểm đánh giá
Trang 181.1.2 Nội dung phân tích
- Phân tích cấu trúc tài chính
Theo nghĩa hẹp: cấu trúc tài chính hay cơ cấu tài chính được xem xét trên cơ
sở cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn Bằng cách phân tích này, có thể đánh giáđược tính phù hợp của cơ cấu tài sản cũng như cơ cấu nguồn vốn thông qua tỷ trọngcủa từng bộ phận tài sản, từng bộ phận nguồn vốn chiếm trọng trọng số
Theo nghĩa rộng: Phân tích cấu trúc tài chính còn xem xét và quan hệ giữa tàisản và nguồn vốn của cấu trúc tài chính Ngoài việc xem xét cơ cấu tài sản, cơ cấunguồn vốn Qua đó đánh giá được chính sách huy động vốn và chính sách sử dụngvốn trong kỳ
Thứ nhất : phân tích cơ cấu nguồn vốn: Để xác định tình hình huy động vốn
của khách hàng từ những loại nguồn nào, với khối lượng bao nhiêu và trách nhiệmcủa khách hàng đối với từng loại nguồn vổn Phân tích cơ cấu nguồn vốn còn cungcấp thông tin về tình hình độc lập, tự chủ về tài chính của khách hàng
Xác định và so sánh sự thay đổi giữa kỳ phân tích và kỳ gốc về tỷ trọng củatừng loại hay bộ phận nguồn vốn so với tổng nguồn vốn Cụ thể là: Tỷ trọng củatừng loại nguồn trong tổng số nguồn vốn Sau khi đã tính toán được tỷ trọng củatừng loại tài sản và nguồn vốn cũng như sự biến động của chúng giữa kỳ phân tích
và kỳ gốc, để xác định rõ hơn những yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của cơ cấutài sản và nguồn vốn nhà phân tích sử dụng phương pháp so sánh ngang Phươngpháp này xem xét sự biến động của từng loại tài sản và nguồn vốn cũng như tổng số
về cả quy mô lẫn tốc độ để thấy việc phân bổ và sử dụng tài sản có phù hợp với đặcthù của DN hay không
Thứ hai: phân tích cơ cấu tài sản: Thể hiện việc sử dụng nguồn vốn sau khi
đã huy động được ra sao, sự phân bổ và sử dụng số vốn đó có hợp lý, tiết kiệm vàhiệu quả hay không Nói cách khác, điều này thể hiện việc đầu tư vào những loại tàisản nào cho phù hợp với đặc điểm và lĩnh vực SXKD của DN, đáp ứng được yêucầu trong cả ngắn hạn và dài hạn Việc sử dụng số vốn đã huy động thể hiện DNđang đầu tư về chiều rộng hay chiều sâu cho hoạt động của minh Khi phân tích mối
Trang 19quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn cho thấy sự hợp lý trong việc huy động và sửdụng nguồn vốn tại một DN Qua việc phân tích này giúp DN đưa ra được một cấutrúc tài chính lành mạnh, ổn định, phù hợp với hoạt động cũng như tránh được cácrủi ro và đem lại hiệu quả cao.
Xác định và so sánh sự thay đổi giữa kỳ phân tích và kỳ gốc về tỷ trọng củatừng loại hay bộ phận tài sản so với tổng số tài sản
Tỷ trọng của từng loại tài trong tổng số tài sản để tài trợ cho các hoạt độngSXKD, DN phải xác định nhu cầu, tìm kiếm, tổ chức và huy động các nguồn vốnkhác nhau Căn cứ vào bản chất có thể phân chia nguồn vốn thành hai loại, bao gồmVCSH và nợ phải trả VCSH là loại nguồn vốn mà DN không phải cam kết thanhtoán, được DN đóng góp ngay từ ban đầu (vốn đầu tư ban đầu) hay được bổ sungthêm trong quá trình kinh doanh từ các nguồn như: chênh lệch tỷ giá, chênh lệchđánh giá lại tài sản, các quỹ xí nghiệp
Ngược lại với VCSH, nợ phải trả là loại nguồn vốn mà DN phải cam kết và cótrách nhiệm thanh toán Nói cách khác, nợ phải trả là loại nguồn vốn mà DN đichiếm dụng (hợp pháp hay bất hợp pháp) của đơn vị hay cá nhân khác Căn cứ vàothời gian các khoản công nợ mà nợ phải trả được chia thành nợ ngắn hạn (là nhữngkhoản nợ có thời hạn trả nợ trong một năm hay trong một chu kỳ kinh doanh) và nợdài hạn (là những khoản nợ có thời hạn trả nợ trên một năm hay trên một chu kỳkinh doanh)
Căn cứ vào đặc thù của lĩnh vực kinh doanh, tình hình thực tế cũng như chiếnlược kinh doanh của mình mà DN phải xác định được số lượng vốn cần huy động,cách thức huy động, thời gian huy động để vừa tiết kiệm được chi phí cũng như
có cơ cấu nguồn vốn hợp lý Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn giúp người quản lýbiết được cơ cấu vốn huy động, tình trạng độc lập về tài chính cũng như các cam kếtpháp lý đối với các khoản nợ của DN
Phương trình kế toán cơ bản thể hiện sự cân bằng giữa tổng giá trị của tài sản
và tổng giá trị của nguồn vốn (hay nguồn hình thành tài sản) Thực ra đây chỉ là haimặt khác nhau của cùng một vấn đề Bất kỳ một tài sản nào cũng có giá trị nhất
Trang 20định và được hình thành từ ít nhất một loại nguồn vốn Bởi vậy, nếu chỉ xem xéttừng khía cạnh của một loại tài sản (giá trị của tài sản hay nguồn hình thành nên tàisản) là không đầy đủ và thiểu chính xác hay chỉ mang tính một chiều Do đó, phảixem xét cả hai khía cạnh để thấy được mối quan hệ giữa chúng Sau khi đã xác địnhđược nhu cầu, tìm kiếm và huy động các nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động kinhdoanh đã là một công việc quan trọng và khó khăn thì việc phân bổ và sử dụng cácnguồn vốn đó sao cho hiệu quả, đảm bảo an ninh tài chính cũng rất phức tạp.
Thứ ba: phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn để đánh giá chính
sách sử dụng vốn Khi phân tích, hai chỉ tiêu [1, tr 192] thường được sử dụng
Hệ số nợ so với
tài sản
Tổng nợ phải trả
Tổng tài sản VCSH
số nợ so với tài sản nói lên trong tổng nguồn vốn của DN, nguồn vốn từ bên ngoài(từ các chủ nợ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản hiện có của doanhnghiệp có bao nhiêu phần do vay nợ mà có Nói cách khác, trong một đồng tài sảnđem vào kinh doanh thì sử dụng bao nhiêu đồng nợ
Đánh giá:
Hệ số này nhỏ hơn (<) 1: tài sản của DN được tài trợ một phần bằng VCSH vàmột phần được tài trợ bằng nợ phải trả
Hệ số này bằng (=) 1: tài sản của DN được tài trợ hoàn toàn bằng nợ phải trả
Hệ số này lớn hơn (>) 1: nợ phải trả không những dùng trang trải tài sản màcòn dùng để bù đắp sự thiết hụt của VCSH
Trang 21Hệ số này càng cao chứng tỏ tài sản được tài trợ chủ yếu bằng nguồn vốn đivay, mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ lớn, khiến tính độc lập về tàichính của DN giảm đi, doanh nghiệp càng ít có cơ hội và khả năng để tiếp cận cáckhoản vay do các ngân hàng không mặn mà với những doanh nghiệp có hệ số nợ sovới tài sản cao.
Hệ số tài sản sovới VCSH
Tổng tài sảnVốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư tài sản bằng VCSH Chỉ tiêu này nếu có giátrị lớn hơn hay bằng một (> 1) chứng tỏ khả năng độc lập về tài chính của DN cànggiảm vì lúc đó những tài sản mà DN sử dụng không được tài trợ hoàn toàn bằngVCSH Nói cách khác, DN phải đi vay mượn nhiều hơn để tài trợ cho việc mua sắmtài sản
- Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành hoạt động SXKD, một yếu tố quan trọng không thể thiếu đối với
DN là tài sản, trong đó bao gồm hai loại là TSNH và TSDH Đây là tư liệu sản xuấtcần thiết ở mọi DN
DN phải huy động nhiều nguồn vốn khác nhau để hình thành các tài sản.Trước hết, DN phải sử dụng đến nguồn VCSH (nguồn vốn kinh doanh, các quỹ xínghiệp, lãi lưu giữ ) Tiếp đó, DN sẽ tìm kiếm và sử dụng những nguồn vốn đichiếm dụng của các đơn vị khác (vốn vay ngắn hạn, vay trung và dài hạn ) Tất cảnhững nguồn vốn này sẽ hình thành nên tổng số nguồn vốn mà DN có quyền sửdụng để mua sắm những tài sản dùng trong hoạt động SXKD
Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh là việc xem xétmối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của DN Mối quan hệnày phản ánh tình trạng cân bằng tài chính của DN Có hai cách tiếp cận khi xemxét việc phân tích tình hình đảm bảo vốn này, bao gồm:
Thứ nhất: Phân tích tình hình đảm bảo vốn theo quan điểm luân chuyển vốn
Đánh giá DN có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không,TSCĐ
Trang 22của DN có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn hay không
Trang 23Thứ hai: Phân tích tình hình đảm bảo vốn theo quan điểm ổn định của
nguồn tài trợ
Theo quan điểm này thì toàn bộ nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn) của DNđược chia thành hai loại: nguồn tài trợ thường xuyên và nguồn tài trợ tạm thời.Nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn tài trợ được DN liên tục sử dụng và tương đối
ổn định trong một khoảng thời gian dài Nguồn tài trợ này bao gồm các nguồnVCSH và nguồn vốn vay (vay và nợ dài hạn nhưng không bao gồm vay và nợ quáhạn) Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn tài trợ mà DN chỉ tạm sử dụng trong mộtkhoảng thời gian ngắn, bao gồm các khoản vay nợ ngắn hạn kể cả vay và nợ quáhạn Vì vậy, từ phương trình kế toán cơ bản ban đầu có thể được trình bày lại nhưcông thức [1, tr 202]
TSNH + TSDH = Nguồn tài trợ thường xuyên + Nguồn tài trợ tạm thờiPhương trình này giúp đánh giá tính cân bằng, ổn định và bền vững của các
nguồn tài trợ cũng như việc sử dụng các nguồn tài trợ này trong việc phân bổ vàocác loại tài sản Nói cách khác, phương trình thể hiện sự cân bằng tài chính của DN.Dựa vào đó, nhà phân tích có thể xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến cânbằng tài chính (được thể hiện ở bảng sau) để có biện pháp phù hợp trong việc huyđộng cũng như sử dụng các nguồn vốn
Bảng 1.1 Tài sản và nguồn tài trợ tài sản
- Nợ phải trả dàihạn
- Vay trung hạn
- Phải trả trung hạnkhác
Nguồn tài trợ thường xuyên
ổng
ố guồnài
Tsnt
TS)
ài
Tiền và cáctương đương tiền
khoản - Vay ngắn hạn
- Nợ phải trả ngắn
Nguồn tài rợ
t
Trang 24trợ tạm thời (Nợ ngắnhạn)
(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, 2008)
Trước hết, dựa vào đặc điểm hoạt động và chiến lược kinh doanh mà DN phảixác định được nhu cầu về việc sử dụng các loại tài sản (cả TSNH và TSDH) Sau
đó, đối chiếu với nguồn tài trợ thường xuyên để xác định có cần thiết phải huy độngthêm nguồn tài trợ tạm thời hay không Trong trường hợp dư thừa nguồn tài trợthường xuyên, DN sẽ phải sử dụng cho hợp lý để tránh bị ứ đọng vốn Từ công thứctính hệ số tài sản so với VCSH có thể biến đổi lại như sau:
TSNH - Nguồn tài trợ tạm thời = Nguồn tài trợ ổn định - TSDH
Nguồn: [1, tr 203]
Vế trái của phương trình chính là chỉ tiêu vốn hoạt động (hoặc vốn kinh doanhhay vốn lưu chuyển) thuần Chỉ tiêu này phản ánh số vốn tối thiểu để DN duy trì cáchoạt động thường xuyên TSNH là những tài sản có tính thanh khoản tương đối caohay khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng nên những TSNH này được dùng
để trang trải những nhu cầu hoạt động của DN mà không phải vay mượn hay chiếmdụng bất kỳ của đối tượng nào Từ phương trình này vốn hoạt động thuần được xácđịnh lại như sau: Vốn hoạt động thuần (vốn kinh doanh thuần) hay vốn lưu chuyển
= TSNH - Nguồn tài trợ tạm thời (Vay và nợ ngắn hạn)
= Nguồn tài trợ thường xuyên (VCSH + Vay dài hạn) - TSDH
Lượng vốn hoạt động thuần này có thể mang nhiều giá trị khác nhau, cụ thể là
- Nếu lượng vốn hoạt động thuần lớn hơn không (> 0): chứng tỏ lượng TSNH luôn lớn hơn nợ ngắn hạn khiến DN có được nguồn tài trợ tạm thời dồi dào, không bị
các sức ép về các khoản công nợ khiến tình trạng cân bằng tài chính ổn định, bềnvững hay còn gọi là cân bằng tốt hoặc cân bằng dương Điều này mang lại chodoanh nghiệp một nguồn vốn tài trợ ổn định, một dấu hiệu an toàn, một quyền độc
Trang 25lập nhất định, DN có thể đương đầu với rủi ro phá sản của khách hàng lớn hoặc việc cắtgiảm tín dụng của các nhà cung cấp, kể cả việc thua lỗ nhất thời Khả năng thanh toáncủa DN tốt, thừa nguồn vốn dài hạn có khả năng mở rộng SXKD.
- Khi chỉ tiêu này bằng không (= 0) chứng tỏ lượng TSNH vừa đủ trang trải nợ ngắnhạn Dù DN không gặp khó khăn trong thanh toán nhưng vẫn tồn tại nguy cơ xấuhay tình trạng cân bằng tài chính thiếu tính ổn định
- Khi chỉ tiêu này nhỏ hơn không (< 0) cho thấy DN đang có lượng nợ ngắn hạnnhiều hơn TSNH, chứng tỏ TS dài hạn được tài trợ một phần bằng NV ngắn hạn,doanh nghiệp kinh doanh vốn với cơ cấu vốn rất mạo hiểm, nguồn tài trợ thườngxuyên không đủ nên DN phải huy động thêm vốn bằng cách vay nợ Điều này đặt
DN vào tình trạng áp lực về thanh toán các khoản nợ khiến tình trạng cân bằng tàichính xấu hay cân bằng âm Cần phân tích cụ thể việc tài trợ các TSDH trên vàphương hướng khắc phục vốn lưu chuyển âm Trường hợp này nếu kéo dài sẽ khôngđem lại sự ổn định và an toàn cho DN do TSNH không đáp ứng đủ nhu cầu thanhtoán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của DN mất cân đối tạm thời Để đối phó vớitình trạng này DN phải trì hoãn việc thanh toán các khoản nợ
Xem xét sự biến động của tài sản và nguồn vốn trong ngắn hạn và dài hạn, xácđịnh những nguyên nhân gây biến động
- Do chính sách tài trợ như: Giữ lại thu nhập để tăng vốn, việc gửi vào và rút ra củacác tài khoản vãng lai của người góp vốn có tính chất ổn định, quyết định việc tăngcường vay hay trả bớt nợ vay làm thay đổi nguồn vốn dài hạn
- Do chính sách đầu tư như: Quyết định mở rộng hay thu hẹp đầu tư, những quyếtđịnh về đầu tư dài hạn hay ngắn hạn làm thay đổi TSDH
- Do chính sách khấu hao, trích lập dự phòng làm thay đổi NVNH, NVDH Ngoàiviệc xem xét chỉ tiêu trên, khi phân tích ta tính toán thêm các chỉ tiêu sau:
Hệ số tài trợ
thường xuyên =
Nguồn tài trợ thường xuyênTổng nguồn vốn
(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, 2008)
Hệ số này cho biết so với tổng nguồn vốn thì nguồn tài trợ thường xuyên chiếm
Trang 26mấy phần Trị số này càng cao thì tính cân bằng tài chính càng tốt và ngược lại
Hệ số tài trợ
tạm thời =
Nguồn tài trợ tạm thờiTổng nguồn vốn
(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, 2008)
Hệ số này cho biết so với tổng NV thì nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần
Hệ số này có giá trị càng cao thì tính cân bằng tài chính càng xấu và ngược lại
Hệ số VCSH so với nguồn
tài trợ thường xuyên =
VCSHNguồn tài trợ thường xuyên
(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, 2008)
Hệ số này cho biết so với tổng nguồn tài trợ thường xuyên thì VCSH chiếmmấy phần Hệ số này càng cao thì tính độc lập, tự chủ về tài chính càng lớn hay cânbằng tài chính càng tốt và ngược lại
Hệ số nguồn tài trợ thường
Sau khi đã tính toán được các chỉ tiêu trên, ta đối chiếu giữa kỳ phân tích với
kỳ gốc để thấy được quy mô và tốc độ thay đổi của chúng cũng như xu hướng biếnđộng từ đó thấy được việc huy động, sử dụng và phân bổ nguồn vốn có được đảmbảo phù hợp với đặc điểm hoạt động SXKD của DN hay không
- Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán
- Phân tích tình hình thanh toán
Tình hình thanh toán (hay tình hình công nợ) và khả năng thanh toán củakhách hàng là tính hai mặt của một vấn đề Khi hoạt động, khách hàng sẽ phát sinhnhững mối quan hệ chiếm dụng vốn với các đối tác Trong những trường hợp đó,công nợ giữa các bên sẽ phát sinh Nếu tình hình công nợ nhiều và kéo dài sẽ làmgiảm khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến tình hình và an ninh tài chính của khách
Trang 27hàng Ngược lại, khi khách hàng không đi chiếm dụng cũng như không bị các đơn
vị khác chiếm dụng vốn nhiều thì tình hình và khả năng thanh toán của họ dồi dào,đảm bảo được an ninh tài chính Mục đích việc phân tích là cung cấp thông tin cầnthiết cho người sử dụng thông tin trong việc đánh giá được tình hình tài chính, sứcmạnh tài chính và an ninh tài chính hiện tại của doanh nghiệp cũng như nắm đượcviệc chấp hành và tôn trọng kỳ hạn thanh toán của khách hàng Bởi vậy, khi phântích tình hình công nợ, ta phải tính toán cụ thể các khoản phải thu và các khoản phảitrả giữa DN với các đối tác Các khoản công nợ khi quá hạn mà DN vẫn chưa thanhtoán được gọi là vốn chiếm dụng Ngược lại, các khoản phải thu của DN quá hạnnhưng vẫn chưa thu hồi được gọi là vốn bị chiếm dụng Khi số lượng vốn chiếmdụng hay vốn bị chiếm dụng tăng mạnh sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chínhcủa DN Đánh giá tình hình biến động của các khoản phải thu và công nợ phải trảcủa DN cũng như mối tương quan giữa chúng
* Nội dung:
Nếu các khoản phải thu lớn hơn công nợ phải trả nghĩa là DN đã bị chiếmdụng vốn nhiều hơn khoản chiếm dụng được Ngược lại, nếu các khoản phải thunhỏ hơn công nợ phải trả thì DN đang có nguồn chiếm dụng nhiều hơn, cần tậndụng tối đa trong điều kiện có thể ưu thế này Tuy nhiên cần xem xét trường hợp
DN có số dư phải trả cán bộ công nhân viên nhiều có thể phản ánh tình trạng khókhăn về tài chính Từ đó đánh giá chính sách tín dụng thương mại (hay tình hình bịchiếm dụng vốn) của DN Kết hợp xem xét mức độ biến động của các khoản phảithu, phải trả, tìm ra nguyên nhân của các khoản nợ quá hạn, khó đòi, những khoảntranh chấp, mất khả năng thanh toán Để phân tích tình hình công nợ, các chỉ tiêusau được sử dụng
Hiệu năng thanh toán là chỉ tiêu phản ảnh mức độ hay khả năng mà doanhnghiệp có thể thực hiện được trong việc thanh toán các khoản nợ phải thu, nợ phảitrả gắn liền với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Hiệu năng thanh toán thể hiệnqua 2 chỉ tiêu: Số vòng quay và thời gian 1 vòng quay, số vòng quay nhiều thể hiệnhiệu năng thanh toán cao và thời gian một vòng quay, thời gian 1 vòng quay ngắn
Trang 28thể hiện hiệu năng thanh toán cao và ngược lại.
Số vòng quay các khoản phải
DT hoặc DTT về BH và cung cấp DV
Số dư bình quân các khoản phải thu
Nợ phải thu bình quân được tính qua công thức sau
Số dư bình quân các khoản
Số dư phải thu KH đầu kỳ và cuối kỳ
2Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ các khoản phải thu quay được bao nhiêuvòng Nếu số vòng quay cao chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền bán hàng càng nhanh, DN
đã thu được nhiều tiền ngay khi tiêu thụ, ít bị chiếm dụng vốn, không để xảy ra việcbán chịu cho khách hàng Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này cao quá chứng tỏ DN đã cứngnhắc, chặt chẽ trong phương thức thanh toán, không có chính sách bán hàng linhđộng, không để khách hàng mua chịu, điều này về lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu đến khảnăng tiêu thụ của DN Ngược lại, nếu số vòng quay càng thấp thì tốc độ thu hồi tiềnbán hàng chậm trễ, DN bị chiếm dụng vốn lớn
Sau khi tính toán chỉ tiêu trên, xác định chỉ tiêu thời gian một vòng quay cáckhoản phải thu theo công thức [2, tr 138]
Thời gian 1 vòng quay các
khoản phải thu khách hàng =
Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay phải thu khách hàngThời gian này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền của DN nhanh, ít bịchiếm dụng vốn Tuy nhiên, chỉ tiêu này nhỏ quá lại phản ánh việc cứng nhắc trongtiêu thụ của DN, không linh động khi cho khách hàng nợ khi mua hàng nên cũng cóthể ảnh hưởng đến lượng hàng bán ra
Ngược lại, thời gian này càng dài, tốc độ thu hồi vốn chậm bị chiếm dụng vốn.Chỉ tiêu này càng lớn, DN bị chiếm dụng vốn càng nhiều
Khi xem xét các khoản phải trả người bán, ta sử dụng những chỉ tiêu tương tựnhưng với ý nghĩa ngược lại Trước hết là chỉ tiêu số vòng quay các khoản phải trả
Trang 29(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
để sản xuất, trả tiền ngay hay trả sau Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ DN luôn trảtiền ngay khi mua hàng hay ít đi chiếm dụng vốn, uy tín nâng cao Ngược lại, chỉtiêu này càng thấp sẽ ảnh hưởng đến uy tín của DN vì khả năng thanh toán thấp,chiếm dụng vốn của nhà cung cấp lớn
Sau khi đã tính được chỉ tiêu số vòng quay các khoản phải trả, ta sẽ xác địnhchỉ tiêu thời gian một vòng quay các khoản phải trả
Thời gian 1 vòng quay các khoản phải
trả người bán (Thời gian thanh toán
Phân tích tình hình thanh toán nợ phải thu, phải trả
Khi phân tích các khoản phải thu và các khoản phải trả, người phân tích cònphải tính cả quy mô, cơ cấu lẫn tốc độ thay đổi của những khoản mục này giữa thờiđiểm cuối kỳ so với đầu kỳ Việc phân tích này sẽ giúp người sử dụng thông tin sắpxếp để trang trải các khoản nợ đến hạn; cũng như lên kế hoạch thu hồi các khoảncông nợ sắp đến hạn nhằm giảm bớt tình trạng chiếm dụng vốn giữa DN với các đối
Trang 30tác cũng như nâng cao uy tín và ổn định tình hình tài chính
- Phân tích khả năng thanh toán
Việc phân tích này xem xét mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầuthanh toán của DN tại một thời điểm nhất định Cho biết khả năng thanh toán của
DN hiện tại cũng như lâu dài để cân đối giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanhtoán, nhằm tránh rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Do vậy việc phân tíchnày phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm nào trong chu kỳ kinh doanh của DN hay đốivới những DN có hoạt động SXKD mang tính thời vụ
Chỉ tiêu phân tích:
Hệ số khả năng thanh
Các khoản có thể sử dụng để thanh toán
Các khoản phải thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán xác định cho từng giai đoạn ngắn (quý tới, hai quýtới) cũng như giai đoạn dài (năm tới, hai năm tới) tùy thuộc vào nhu cầu thông tin.Khả năng thanh toán của DN 'đề cập đến khả năng thanh khoản của những tàisản của DN Tính thanh khoản phản ánh khả năng chuyển đổi một loại tài sản thànhtiền mặt cần mất bao nhiêu thời gian và tốn bao nhiêu chi phí Tài sản nào càng tốn
ít thời gian và chi phí để chuyển đổi thành tiền mặt thì tính thanh khoản của tài sản
đó càng cao và ngược lại Vì vậy, ở BCĐKT của DN thì TSNH là những tài sản cótính thanh khoản cao hơn so với TSDH nên những TSNH sẽ được xem xét trước sovới các TSDH
Khi nhận xét cần tiến hành liệt kê các khoản có thể sử dụng để thanh toán vàcác khoản cần phải thanh toán Với các khoản có thể sử dụng để thanh toán liệt kêtheo khả năng huy động Với các khoản phải thanh toán liệt kê theo mức độ khẩntrương Do đó, khi xem xét khả năng thanh toán của một DN thì phải ưu tiên phântích về khả năng thanh toán nợ ngắn hạn trước rồi mới đề cập đến khả năng thanhtoán nợ dài hạn; vì nếu các khoản công nợ ngắn hạn không thanh toán được thì chắcchắn sẽ không trang trải được những khoản công nợ dài hạn
Phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn han
Trang 31Đối với bất kỳ DN nào thì ngoài việc ưu tiên số một là phải tạo ra lợi nhuậnhay có khả năng sinh lời thì còn phải quan tâm đến một yếu tố mang tính chất sốngcòn đó là khả năng thanh toán công nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn Cho dù DN đó đanglàm ăn có lãi nhưng lại không có khả năng chi trả những khoản nợ ngắn hạn trongmột khoảng thời gian dài hay khả năng thanh toán nợ ngắn hạn thấp thì dễ dẫn đếntình trạng phá sản.
Nợ ngắn hạn là những khoản mục mà DN có trách nhiệm phải trả trong vòngmột năm hay một chu kỳ SXKD Nợ ngắn hạn bao gồm: vay và nợ ngắn hạn, phảitrả người bán, phải trả công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước Khinói đến phân tích khả năng thanh toán, thì không thể không xem xét khả năng thanhtoán nợ ngắn hạn, vì khi đảm bảo được khả năng này thì tình hình tài chính của DNlành mạnh, góp phần ổn định và khuyến khích hoạt động SXKD Khi phân tích khảnăng thanh toán nợ ngắn hạn, các chỉ tiêu sau được xem xét:
Hệ số thanh toán nợ
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng mà các tài sảnngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn, với tổnggiá trị của khối lượng TSNH mà DN đang nắm giữ có đủ trang trải các khoản nợngắn hạn hay không Tỷ lệ nhỏ hơn 1 có thể do DN đang dùng các khoản vay ngắnhạn để tài trợ TSCĐ
Hệ số này có trị số bằng hay lớn hơn một ( ≥ 1) cho thấy DN có khả năngthanh toán các khoản nợ ngắn hạn và do đó tình hình tài chính của DN là bìnhthường Tỷ lệ này được đánh giá ở mức trên 1 lần là an toàn
Nếu hệ số này cao, có thể đem lại an toàn về khả năng bù đắp cho sự giảm giátrị của tài sản ngắn hạn Điều đó thể hiện tiềm năng thanh toán cao so với nghĩa vụphải thanh toán Tuy nhiên, một doanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán nợ ngắnhạn quá cao cũng có thể doanh nghiệp đó đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn,
Trang 32một sự đầu tư không mang lại hiệu quả Mặt khác, trong toàn bộ tài sản ngắn hạncủa doanh nghiệp, khả năng chuyển hóa thành tiền của các bộ phận là khác nhau.Một tỷ lệ quá cao có thể do quá nhiều tiền nhàn rỗi, quá nhiều các khoản phải thu,quá nhiều hàng tồn kho Xu hướng tăng lên của hệ số này cũng cần được kiểm tra
kỹ vì có thể đó là kết quả của một số bất lợi như: hàng tồn kho tồn đọng tăng, phảithu tăng do chất lượng công tác thu hồi công nợ Khả năng chuyển hóa thành tiềncủa bộ phận hàng tồn kho thường được coi là kém nhất Do vậy, để đánh giá khảnăng thanh toán một cách khắt khe hơn có thể sử dụng hệ số khả năng thanh toánnhanh
Hệ số khả năng
thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Chỉ tiêu này cho biết, với giá trị còn lại của TSNH sau khi đã trừ đi giá trị của hàngtồn kho (đây là những TSNH có tính thanh khoản thấp nhất trong TSNH) có đủtrang trải các khoản công nợ ngắn hạn hay không Đo lường khả năng thanh toáncác khoản nợ ngắn hạn của DN bằng việc chuyển đổi các tài sản NH, không kể hàngtồn kho Hệ số này đánh giá khả năng sẵn sàng thanh toán nợ ngắn hạn cao hơn sovới hệ số thanh toán ngắn hạn Do đó, hệ số thanh toán nhanh có thể kiểm tra tìnhtrạng tài sản một cách chặt chẽ hơn so với hệ số thanh toán ngắn hạn
- Phân tích tương tự như hệ số thanh toán ngắn hạn với mức độ an toàn là 0.5 lần
- Tuy nhiên đối với DN xây lắp, do đặc điểm các khoản phải thu thường chiếm tỷtrọng cao trong phần tài sản nên hệ số thanh toán nhanh của các DN xây lắp thườngcao hơn các DN trong các lĩnh vực khác
Tiếp theo để đánh giá về khả năng thanh toán, cần xem xét hệ số khả năngthanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạnTrong đó:
Tiền bao gồm: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, vàng bạc đá quý
Trang 33Mầu số có thể gồm: Nợ ngắn hạn và nợ đến hạn và quá hạn (nếu xác định được)Tương đương tiền bao gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn có thời gianđáo hạn trong 03 tháng, có khả năng chuyển đổi thành tiền chắc chắn không rủi ro.
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của vốn bằng tiền và các khoản tươngđương tiền so với nợ ngắn hạn, nhất là nợ đến hạn và quá hạn có được đảm bảo haykhông Nếu chỉ tiêu này có trị số cao chứng tỏ khả năng thanh toán dồi dào, tuynhiên nếu chỉ số này quá cao, DN bắt đầu có dấu hiệu cho thấy hiệu quả sử dụngvốn thấp vì bị ứ đọng những tài sản có tính thanh khoản cao, vốn bằng tiền nhàn rỗi.Nhưng nếu chỉ tiêu này thấp thì không đủ khả năng thanh toán công nợ, thậm chíkhi chỉ tiêu này quá thấp và kéo dài thì DN đang đối mặt với nguy cơ không trảđược nợ, ảnh hưởng đến uy tín và có nguy cơ phá sản Nhìn chung hệ số này quánhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ, vì vào lúc cầndoanh nghiệp có thể buộc phải sử dụng các biện pháp bất lợi như bán các tài sản vớigiá thấp để trả nợ Tuy nhiên cũng như hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, độlớn của hệ số này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toáncủa món nợ phải thu, phải trả trong kỳ
Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn
Trong các khoản mục nợ phải trả của DN, bên cạnh những khoản nợ ngắn hạnthì DN cũng còn có những khoản nợ dài hạn Những khoản nợ này có thời gian trả
nợ trên một năm hay một chu kỳ kinh doanh, bao gồm: phải trả người bán dài hạn,vay và nợ dài hạn Những khoản nợ này thường được DN dùng để tài trợ việc muasắm TSCĐ, máy móc trang thiết bị sử dụng trong sản xuất hay đầu tư vào bất độngsản, chứng khoán Việc phân tích này sẽ giúp cho DN lên kế hoạch trả nợ đúng nạn,tăng uy tín của DN và lành mạnh hoá tình hình tài chính Khi phân tích ta sử dụngcác chỉ tiêu sau:
Hệ số nợ dài hạn so với
nợ phải trả =
Tổng nợ dài hạnTổng nợ phải trả
Hệ số này cho biết trong tổng số nợ phải trả thì nợ dài hạn chiếm mấy phần
Hệ số này có giá trị càng cao chứng tỏ số nợ dài hạn của DN nhiều, nhu cầu thanh
Trang 34toán ngay thấp Tuy vậy, DN cũng cần phải dần cân đối các nguồn để trả nợ trong thời gian tới.
Hệ số nợ dài hạn so vớitổng tài sản =
Tổng nợ dài hạnTổng nợ phải trả
Hệ số này cho biết trong tổng số tài sản đem vào kinh doanh thì được tài trợ mấyphân từ vay nợ dài hạn Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ DN đã huy động được nhiềunguồn vốn dài hạn để mua sắm TS, nâng cao tính ổn định trong hoạt động SXKD cũngnhư khẳng định được uy tín của DN với các đối tác trong kinh doanh Thông thường cáckhoản nợ dài hạn được DN mua sắm các TSDH là những máy móc thiết bị hay TSCĐ
có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài, nên để chi tiết hơn, ngoài chỉ tiêu trên cần phảixem xét những khoản nợ này sẽ được dùng để đầu tư vào TSDH qua chỉ tiêu sau:
Hệ số thanh toán nợ dài
Tài sản dài hạn
Nợ dài hạn
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng nợ dài hạn đi vay mượn thì được đầu tưvào TSDH mấy phần Hệ số này càng lớn thì càng chứng tỏ việc ổn định trong đầu
tư vì những TSDH được huy động từ nguồn vay nợ dài hạn, góp phần lành mạnhhóa tình hình tài chính của DN
Khi xem xét khả năng thanh toán công nợ bao gồm cả trong ngắn và dài hạn,sau khi tính toán được các chỉ tiêu ở các thời điểm ta thực hiện việc so sánh chúnggiữa kỳ phân tích với kỳ gốc để thấy quy mô và tốc độ thay đổi của chúng có phùhợp với đặc thù hoạt động của DN hay không; các khoản nợ đang ở mức báo độnghay ở trong tình trạng kiểm soát được Từ đó đưa ra những kế hoạch trả nợ và đivay nợ cho thời gian tới nhằm đảm bảo an ninh tài chính cũng như lành mạnh hóathực trạng tài chính của DN
Phân tích khả năng thanh toán lãi vay: Nếu việc kinh doanh hiệu quả, doanhnghiệp có khả năng trang trải lớn thì rủi ro tài chính thấp Tiến hành phân tích khảnăng chi trả lãi vay (dựa trên lợi nhuận) Xét LNTT và lãi vay để xem LNTT và lãivay có đủ để chi trả hay không Trước khi đóng thuế, trước khi trừ chi phí lãi vay,
Trang 35DN có đủ thanh toán nợ hay không.
Hệ số khả năng thanh toán
lãi tiền vay =
LNTT và lãi vayChi phí lãi vay
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được đo sử dụng vốn đểđảm bảo trả lãi cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho chúng tabiết được số vốn vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lại một khoản lợi nhuận
là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không
Hệ số thanh toán lãi vay năm nay lớn hơn hệ số thanh toán lãi vay năm trướcchứng tỏ việc sử dụng vốn vay có hiệu quả hơn và khả năng an toàn trong việc sửdụng vổn vay càng cao
- Hệ số này càng cao thể hiện khả năng của DN sử dụng thu nhập từ hoạt động kinhdoanh để đáp ứng các chi phí lãi vay hàng năm càng lớn và lợi nhuận của các nhàđầu tư càng cao
- Hệ số này nhỏ hơn 1 thể hiện DN bị lỗ Tuy nhiên, việc đánh giá chỉ tiêu này còntuỳ thuộc DN đang hoạt động trong giai đoạn nào Nếu DN đang trong quá trình đầu
tư, chưa có lợi nhuận, có thể không xem xét đến chỉ tiêu này
- Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh sao cho kết quả thu được làlớn nhất với hao phí thấp nhất
- Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản
Tài sản là một loại tư liệu sản xuất thiết yếu và cốt lõi của mọi hoạt động trong
DN Bởi vậy khi xem xét tình hình tài chính của DN, một trong những nội dungquan trọng là đo lường hiệu quả sử dụng của tài sản Tài sản trong mỗi DN có nhiềuloại khác nhau nhưng trước hết, cần xem xét hiệu quả sử dụng của toàn bộ tài sảnqua các chỉ tiêu sau
Khi phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào sử dụng hai chỉ tiêu là: Sứcsinh lợi của chi phí đầu vào, của yếu tố đầu vào hay chính là sức sinh lợi của đầu ra
Trang 36phản ánh kết quả sản xuất và mức hao phí của chi phí đầu vào hay của yếu tố đầu vào so với lợi nhuận.
Sức sản xuấtcủa tài sản =
Doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ (tháng, quý, năm) một đồng TSCĐ tại DNtạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sửdụng TSCĐ của DN càng tốt và là cơ sở để nâng cao lợi nhuận Trong đó, tài sảnbình quân được tính theo công thức như sau:
Tỷ suất sinh lờicủa tài sản
Lợi nhuận sau thuế x 100
=
Tổng tài sản bình quân
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ kinh doanh thì một đồng tài sản tại DN đãtạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Cũng giống như chỉ tiêu trên, trị sốcàng lớn thể hiện hiệu quả sử dụng của tài sản càng cao và ngược lại
Suất hao phí của
Tài sản bình quânDoanh thu thuần hay LNST
Chỉ tiêu này có ý nghĩa ngược với hai chỉ tiêu trước, tức là trong một kỳ để cóđược một đồng doanh thu thuần hay lợi nhuận thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng tổng tàisản Chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả sử dụng tài sản càng cao và ngược lại
Khi xem xét hiệu quả sử dụng của tài sản thì không thể không đề cập đếnTSCĐ, là một loại tài sản đặc thù và chiếm tỷ trọng lớn trong TSDH ở các doanhnghiệp Khi phân tích các chỉ tiêu được dùng như sau:
Sức sản xuất của
Doanh thu (Doanh thu thuần) trong kỳGiá trị TSCĐ bình quân trong kỳ
Trang 37(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ (tháng, quý, năm) một đồng TSCĐ tại DNtạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sửdụng TSCĐ của DN càng tốt và là cơ sở để nâng cao lợi nhuận
Để phân tích khả năng sinh lời của tài sản sử dụng công thức sau:
Tỷ suất sinh lời của
tài sản (ROA) =
Lợi nhuận sau thuếTổng tài sản bình quân
= Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu
Doanh thu Tổng tài sản bình quân
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Công thức này được dùng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinhlời của tổng tài sản
Ý nghĩa: Tỷ suất sinh lời của tài sản phản ánh cứ một trăm đồng tài sản đưavào SXKD đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Trong điều kiện bình thường, chỉ tiêunày càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của tài sản càng tốt Tùy theo mục đích củanhà phân tích, lợi nhuận trước thuế có thể chỉ là phần lợi nhuận dành cho chủ sởhữu, cũng có thể là tổng lợi nhuận trước thuế mà tài sản tạo ra trong một kỳ kinhdoanh (bao gồm cả phần lợi nhuận tạo ra cho người cho vay)
Tỷ suất sinh lời của
tài sản cố định =
Lợi nhuận sau thuế x 100Giá trị còn lại TSCĐ bình quân
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ cứ 100 đồng giá trị TSCĐ tạo ra bao nhiêu
Trang 38đồng lợi nhuận sau thuê Nếu tỷ suất sinh lời của tài sản cố định càng lớn thì hiệu quả sử dụng của TSCĐ càng cao và ngược lại.
Suất hao phí của tài
sản cố định =
Giá trị TSCĐ bình quânDoanh thu (Doanh thu thuần) bán hàng
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Chỉ tiêu này có ý nghĩa ngược với hai chỉ tiêu trước, cụ thể trong một kỳ để cómột đồng doanh thu thuần hay lợi nhuận thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng TSCĐ Trị sốcủa chi tiêu càng thấp thể hiện hiệu quả sử dụng TSCĐ càng cao và ngược lại
Trong đó, TSCĐ phải được tính theo giá trị còn lại qua công thức sau
Giá trị còn lại của TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ - Hao mòn lũy kế TSCĐ
- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Mục tiêu hàng đầu của đa phần các DN là lợi nhuận kể cả trong ngắn hạn vàdài hạn Để làm được điều đó, DN phải huy động, quản lý và sử dụng vốn có hiệuquả Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chỉ là một trong nhiều nội dung của phân tíchhiệu quả kinh doanh Việc phân tích này vừa là mục đích và cũng là yêu cầu trongcông tác quản lý DN nhằm bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanh, nhất lànguồn VCSH Hiệu quả sử dụng VCSH là nhân tố then chốt quyết định sự tồn vongcủa DN cũng như lợi ích sống còn của nhiều đối tượng quan tâm
Hiệu quả sử dụng VCSH nhìn chung được xác định bằng cách đem kết quảđầu ra của DN so với VCSH được sử dụng để tạo ra kết quả tương ứng đó hayngược lại Hiệu quả sử dụng VCSH là mối quan tâm của không chỉ những người sửdụng thông tin bên trong mà còn cả những người sử dụng thông tin bên ngoài DN,nhất là đối với các nhà đầu tư trước khi đưa ra quyết định Chỉ tiêu đầu tiên đượcxem xét ở đây là sức sản xuất của VCSH (hay số vòng quay của VCSH)
Sức sản xuất
Doanh thu thuầnVCSH bình quânChỉ tiêu này cho biết một đồng VCSH bỏ ra trong kỳ đem lại được bao nhiêu
Trang 39đồng doanh thu thuần (hay trong một kỳ phân tích VCSH quay được bao nhiêuvòng) Chỉ tiêu này có trị số càng cao, hiệu quả sử dụng vốn càng lớn và giúp thuhút được sự quan tâm của nhà đầu tư và ngược lại Trong đó, VCSH bình quân đượcxác định như sau:
VCSHbình quân =
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2011)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này nói lên một trăm đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư manglại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế So với kỳ trước, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sởhữu tăng chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu lớn hơn trước và ngược lại
- ROE cao phản ánh hiệu quả SXKD của DN cao và ngược lại
Để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ suất lợi nhuận VCSH có thể sửdụng công thức sau đây
Tỷ suất sinh lời của
Hệ số tài sản sovới VCSH
Trang 40- Phân tích được cách mà DN đã sử dụng để làm tăng suất sinh lời: Tăng doanh thu
và giảm tương đối chi phí; Tăng số vòng quay tài sản; Thay đổi cơ cấu vốn (đòn bẩytài chính)
- Trường hợp DN mới cho ra sản phẩm, có chi phí ban đầu lớn làm cho ROE thấp thìchưa thể khẳng định DN kinh doanh kém hiệu quả, mà ở đây DN đang trong chiếnlược mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường nhằm đạt được một lợi nhuận ổn địnhtrong tương lai
Bởi vậy, DN trong đà kinh doanh hiệu quả thì muốn đẩy đòn bẩy tài chính caolên Ngược lại, ngân hàng với mục tiêu an toàn vốn, phòng khi bất trắc xẩy ra (màrủi ro thì có thể xẩy ra bất cứ khi nào) lại muốn khống chế một tỷ lệ vay nợ hạn chế.Một đòn bẩy tài chính như thế nào là hợp lý và có thể chấp nhận được còn tùy thuộcvào dự đoán khả năng thuận lợi của công việc kinh doanh và mức độ rủi ro chấpnhận đánh đổi Đánh giá ROE như thế nào là tốt còn phải phân tích cách mà DN sửdụng để đạt được nó Nếu để nâng cao ROE mà DN sử dụng đòn bẩy tài chính (vay
nợ lớn) thì mức độ rủi ro lớn Ngân hàng có thể chấp nhận mức độ rủi ro như vậykhông hay chọn ROE thấp hơn lại an toàn
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng PTTC khách hàng
Công tác PTTC là một công tác quan trọng trong khâu thẩm định cho vay vàquá trình sử dụng vốn vay Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác này, chúng taxem xét các yếu tố này dưới góc độ: Nhân tố từ phía ngân hàng, nhân tố từ phíakhách hàng và nhân tố khách quan khác