Thông qua CĐSHHN, trẻ có nhiều cơ hội được tựlàm, tự thực hành, trải nghiệm mọi khả năng của chính mình, củng cố và rèn luyện nề nếp thói quen tốt trong các hoạt động, hình thành và phát
Trang 1LÊ THỊ HUYÊN
GI¸O DôC TÝNH Tù LËP CHO TRÎ MÉU GI¸O 3 - 4 TuæI
TH¤NG QUA CHÕ §é SINH HO¹T HµNG NGµY
ë TR¦êNG MÇM NON
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2LÊ THỊ HUYÊN
GI¸O DôC TÝNH Tù LËP CHO TRÎ MÉU GI¸O 3 - 4 TuæI
TH¤NG QUA CHÕ §é SINH HO¹T HµNG NGµY
ë TR¦êNG MÇM NON
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số: 9.14.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HÒA
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Những kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng aicông bố trong bất kỳ luận án nào.
Tác giả
Lê Thị Huyên
Trang 4Luận án “Giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non” được hoàn thành tại Khoa
GDMN,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa GDMN,Trường ĐHSP Hà Nội đã đào tạo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu,hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường ĐH Hồng Đức, các thầy cô giáoKhoa GDMN, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, đãtận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian góp ý và định hướng cho tôi trongquá trình thực hiện và hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của BGH, GVMN, cáccháu lớp 3 – 4 tuổi tại các trường MN Thực Hành Đại học Hồng Đức, MNQuảng Tâm, MN Lam Sơn, MN An Hoạch, MN Đông Thọ, MN Trường Thi
A, MN Trường Thi B, MN Ngọc Trạo
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong Gia đình đã luônbên cạnh động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận án
Tác giả
Lê Thị Huyên
Trang 5CĐSHHN : Chế độ sinh hoạt hàng ngày
ĐC STN : Đối chứng sau thực nghiệm
ĐC TTN : Đối chứng trước thực nghiệm
TN STN : Thực nghiệm sau thực nghiệm
TN TTN : Thực nghiệm trước thực nghiệm
TTN : Trước thực nghiệm
Trang 6MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
9 Đóng góp mới của luận án 7
10 Cấu trúc của luận án 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 8
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 8
1.1.1 Những nghiên cứu về tính tự lập của trẻ em 8
1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục tính tự lập cho trẻ em 16
1.1.3 Những nghiên cứu về giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 17
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 23
1.2.1 Khái niệm tính tự lập 23
1.2.2 Khái niệm tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi 26
Trang 71.2.4 Khái niệm giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 28 1.3 TÍNH TỰ LẬP CỦA TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI 29 1.3.1 Vai trò của tính tự lập đối với sự phát triển nhân cách của
trẻ 3 - 4 tuổi 29 1.3.2 Cấu trúc tâm lý tính tự lập của trẻ 3 – 4 tuổi 31 1.3.3 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 3 - 4 tuổi với sự phát triển
tính tự lập của trẻ 32 1.3.4 Sự hình thành và phát triển tính tự lập của trẻ 3- 4 tuổi
35
1.3.5 Những biểu hiện tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi 37 1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO
TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH
HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 40 1.4.1 Chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 40 1.4.2 Giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông
qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 43 1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC TÍNH TỰ
LẬP CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ
SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 53 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 56
Trang 8NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 57
2.1 TỔ CHỨC KHẢO SÁT THỰC TRẠNG 57
2.1.1 Mục đích khảo sát 57
2.1.2 Nội dung khảo sát 57
2.1.3 Vài nét về một số trường mầm non ở thanh phố Thanh Hóa 57
2.1.4 Đối tượng khảo sát 59
2.1.5 Thời gian và địa bàn khảo sát 59
2.1.6 Cách tiến hành khảo sát 59
2.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT 64
2.2.1 Thực trạng giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở một số trường mầm non Thành phố Thanh Hóa 64
2.2.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 77
2.2.3 Thực trạng tính tự lập của trẻ 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở một số trường mầm non Thành phố Thanh Hóa 78
2.2.4 Đánh giá chung thực trạng 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 86
Trang 9NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 87
3.1 CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 87
3.1.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 87
3.1.2 Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 89
3.1.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 112
3.2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 116
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 116
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 116
3.2.3 Đối tượng, thời gian và địa điểm thực nghiệm 116
3.2.4 Tiến trình thực nghiệm 117
3.2.5 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 119
3.2.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 120
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 147
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 149
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 1PL
Trang 11Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của
việc giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 64 Bảng 2.2 Thực trạng nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu
giáo 3 – 4 tuổi thông qua CĐSHHN ở trường mầm non
tự lập cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non 70 Bảng 2.6 Thực trạng đánh giá kết quả giáo dục tính tự lập cho trẻ
mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày
ở trường mầm non 74 Bảng 2.7 Thực trạng nhận thức của phụ huynh về sự cần thiết của
việc giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 76 Bảng 2.8 Thực trạng phụ huynh sử dụng các hình thức phối hợp
với GV để giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 – 4 tuổi 76 Bảng 2.9 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục tính tự
lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày 77
Trang 12Bảng 2.11 Thực trạng tính tự lập của trẻ 3 – 4 tuổi qua 3 tiêu chí 83 Bảng 3.1 Kết quả trước và sau TN của nhóm thực nghiệm thăm
dò 120 Bảng 3.2 Mức độ tính tự lập của trẻ 2 nhóm ĐC và TN trước
TN qua 3 tiêu chí 122 Bảng 3.3 Mức độ tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi ở 2 nhóm ĐC và
TN trước TN qua từng tiêu chí 123 Bảng 3.4 Mức độ tính tự lập của trẻ trai và trẻ gái 3- 4 tuổi ở 2
nhóm ĐC và TN trước khi tiến hành TN qua từng tiêu chí 126 Bảng 3.5 Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm ĐC và TN
sau TN qua từng tiêu chí 128 Bảng 3.6 Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 3 – 4 tuổi nhóm
ĐC và TN sau TN 133 Bảng 3.7 Kết quả tính TL của trẻ trước và sau TN của nhóm ĐC
135
Bảng 3.8 Kết quả mức độ tính tự lập trước và sau TN của nhóm
TN 136 Bảng 3.9 Kết quả mức độ biểu hiện tính TL trước và sau TN của
nhóm ĐC và nhóm TN 137 Bảng 3.10 So sánh mức độ tính tự lập giữa trẻ gái và trẻ trai lớp
thực nghiệm trước và sau thực nghiệm 143
Trang 13Bảng 3.12 Kiểm định kết quả nhóm thực nghiệm trước và sau thực
nghiệm 145
Trang 14Biểu đồ 2.1 Thực trạng tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi qua từng tiêu chí
79
Biểu đồ 2.2 Thực trạng tính tự lập của trẻ 3 – 4 tuổi qua 3 tiêu chí
(%) 83 Biểu đồ 3.1 Kết quả trước và sau TN của nhóm thực nghiệm thăm
dò 120 Biểu đồ 3.2 Kết quả biểu hiện tính TL của trẻ 2 nhóm TN và ĐC
trước TN (qua 3 tiêu chí) 123 Biểu đồ 3.3 Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 3 – 4 tuổi nhóm
ĐC và TN sau TN 133 Biểu đồ 3.4 Kết quả mức độ tính TL trước và sau TN của nhóm
ĐC 135 Biểu đồ 3.5 Kết quả mức độ biểu hiện tính TL của trẻ trước và sau
TN của nhóm TN 136
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục tính tự lập
cho trẻ 3-4 tuổi thông qua CĐSHHN ở Trường Mầm non 115
Hình 1.1 Các thành phần cấu trúc của tính tự lập của trẻ 13
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Bước sang thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển chung về mọi mặtcủa đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo tiếptục phát triển Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản
và toàn diện Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quátrình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáodục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [13, tr.3].Đây chính là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho các nhà giáo dục, giađình và toàn xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam tự chủ, độc lập, năngđộng, sáng tạo, có trách nhiệm, có khả năng thích ứng, hòa nhập, đáp ứng vớiyêu cầu của xã hội trong bối cảnh hiện nay
1.2 Tính TL là một trong những phẩm chất quan trọng trong tâm lýcủa nhân cách Tính TL giúp con người chủ động, dễ thích ứng, hòa nhậpvới hoàn cảnh thực tiễn và tạo cho họ có nhiều cơ hội thành công trongcuộc sống
Giáo dục tính TL cho trẻ ngay từ khi còn bé là hết sức cần thiết, giúp trẻ
tự tin hơn về bản thân khi giao tiếp hay khi làm bất cứ một việc gì đó; trẻ có ýthức trách nhiệm đối với bản thân, đối với công việc, nhiệm vụ được giao Đặcbiệt với trẻ 3 – 4 tuổi đã xuất hiện nhu cầu tự lập, mong muốn được tự làm, tựgiải quyết những công việc giống người lớn, không cần sự giúp đỡ của ngườilớn Vì vậy, đây chính là cơ hội để người lớn giáo dục tính tự lập cho trẻ
1.3 CĐSHHN ở trường mầm non là phương tiện giáo dục tính TL cho trẻ3- 4 tuổi phù hợp và hiệu quả Thông qua CĐSHHN, trẻ có nhiều cơ hội được tựlàm, tự thực hành, trải nghiệm mọi khả năng của chính mình, củng cố và rèn luyện
nề nếp thói quen tốt trong các hoạt động, hình thành và phát triển tính TL cho trẻ
1.4 Thực tiễn tại các trường mầm non hiện nay, do nhiều lý do khácnhau mà vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ nói chung, trẻ 3 – 4 tuổi nói
Trang 17riêng chưa được quan tâm đúng mức, cần tìm kiếm các biện pháp cải thiện,khắc phục để quá trình giáo dục tính TL cho trẻ 3 – 4 tuổi ở trường mầmnon mang lại kết quả cao.
Mặt khác, do ảnh hưởng quan niệm của người Á Đông trong đó có ViệtNam, bố mẹ thường bao bọc, lo lắng cho con quá mức; con lệ thuộc vào cha
mẹ, từ suy nghĩ đến hành động luôn vì ý muốn của cha mẹ hoặc người lớn.Ngoài ra, hiện nay, số con trong mỗi gia đình ít nên đứa trẻ là đối tượng tậptrung sự quan tâm của gia đình và xã hội Từ đó, một số gia đình quá quantâm, quá nuông chiều nên người lớn thường làm thay, làm hộ những việc màtrẻ có thể tự làm được Điều này có thể hình thành ở trẻ tính tự ti hay ích kỷ,coi mình là trung tâm, mình là nhất làm hạn chế tính TL của trẻ
Từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, vấn đề: “Giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non” được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng giáo dục tính tự lập chotrẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trườngmầm non, từ đó đề xuất một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫugiáo 3 – 4 tuổi, tạo điều kiện và cơ hội cho trẻ được tự làm trong các hoạtđộng và sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non và ở nhà
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông quaCĐSHHN ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua CĐSHHN ởtrường mầm non
4 Giả thuyết khoa học
Trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi đã có thể tự làm được một số việc trong sinh
Trang 18hoạt hàng ngày Nếu tổ chức CĐSHHN theo hướng kích thích và khuyếnkhích trẻ bộc lộ nhu cầu, mong muốn được tự làm và tạo cơ hội cho trẻ được
tự làm, thường xuyên được hoạt động, luyện tập, thực hành, trải nghiệm,…tính TL của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi sẽ tốt hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 –
4 thông qua CĐSHHN ở trường mầm non
5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 - 4
tuổi ở một số trường mầm non
5.3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục tính TL cho
trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua CĐSHHN ở trường mầm non
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thôngqua CĐSHHN ở trường mầm non
6.2 Về khách thể khảo sát
- 80 giáo viên dạy lớp MG 3 – 4 tuổi
- 120 trẻ MG 3 – 4 tuổi
- 120 phụ huynh (bố mẹ của 120 trẻ đã tiến hành khảo sát)
6.3 Về địa bàn nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu tại 8 trường
MN trên địa bàn Thành Phố Thanh Hóa Hóa (MN Thực Hành Đại học HồngĐức, MN Quảng Tâm, MN Lam Sơn, MN An Hoạch, MN Đông Thọ, MNTrường Thi A, MN Trường Thi B, MN Ngọc Trạo)
7 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm tiếp cận
7.1.1 Tiếp cận hoạt động
Nhân cách được hình thành và phát triển trong hoạt động và thông quahoạt đông; tâm lý trẻ được bộc lộ trong hoạt động và hình thành bằng hoạt độngcủa chính mình Tính tự lập là một phẩm chất trong nhân cách của trẻ, nó cũngđược hình thành và phát triển trong các hoạt động Vì vậy, trong quá trình giáo
Trang 19dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi cần coi trẻ là một chủ thể hoạt động, tạo
cơ hội cho trẻ được tự làm, luyện tập, thực hành… trong các hoạt động củaCĐSHHN ở trường mầm non
7.1.3 Tiếp cận hệ thống
Trẻ em là một đối tượng toàn vẹn với những đặc điểm, những mối quan
hệ trong một hệ thống nhất định Trong quá trình nghiên cứu về giáo dục tính
TL cho trẻ cần phải xem xét cả quá trình phát triển về các mặt thể chất, ngônngữ, trí tuệ, tình cảm; những điều kiện, yếu tố ảnh hưởng, tác động tới trẻ đểtìm ra bản chất, qui luật hình thành phát triển tính TL của trẻ Trên cơ sở kếthợp với thực tiễn để có tác động phù hợp, từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đếnkhó, diễn ra thường xuyên, liên tục trong các hoạt động, giúp quá trình giáodục tính TL cho trẻ mang lại kết quả
7.1.4 Tiếp cận phát triển
Thế giới luôn luôn vận động Mọi sự vật, hiện tượng luôn phát triển từthấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Nhiệm vụ giáo dục tính TL cho trẻ cầnđược tiến hành từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp phùhợp với sự phát triển của trẻ từng độ tuổi (mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt
và có sự phát triển khác nhau)
7.1.5 Tiếp cận cá thể hóa
Trong quá trình giáo dục trẻ nói chung, giáo dục tính TL cho trẻ nóiriêng cần quan tâm tới cá nhân trẻ, khai thác tiềm năng vốn có ở mỗi trẻ.Đồng thời, có tác động phù hợp với nhu cầu, mong muốn, khả năng của từng
cá thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi, cơ hội tốt cho mọi trẻ được tự làm, tựđiều chỉnh hoạt động của cá nhân
Trang 207.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa cácnguồn tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luậncủa luận án
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp quan sát
- Sử dụng phương pháp này nhằm phát hiện thực trạng giáo dục tính
TL của cô và trẻ 3 - 4 tuổi thông qua CĐSHHN ở một số trường mầm nonthuộc Thành phố Thanh Hóa Đồng thời thu thập thông tin trong quá trìnhthực nghiệm sư phạm
- Tiến hành dự giờ, quan sát, trao đổi, kết hợp ghi chép, quay băng hình,chụp ảnh hoạt động của cô và trẻ trong sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non
7.2.2.2 Phương pháp điều tra viết
- Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu về thực trạng giáo dục tính
tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ởtrường mầm non (nhận thức của GV, phụ huynh về giáo dục tính TL cho trẻ;việc lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện và đặc biệt là biện phápcủa GV trong quá trình giáo dục tính TL cho trẻ)
- Tiến hành lập phiếu hỏi (phụ lục 1& phụ lục 2), phát phiếu hỏi cho
GV, phụ huynh và tiến hành thu phiếu, tổng hợp số liệu kết quả khảo sát
7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn
- Nhằm tìm hiểu thực trạng về giáo dục tính TL cho trẻ 3 – 4 tuổi thôngqua CĐSHHN ở một số trường mầm non thuộc Thành phố Thanh Hóa
- Dự kiến nội dung câu hỏi cho GV, phụ huynh, trẻ
Tiến hành hỏi trực tiếp GV, phụ huynh, trẻ
Ghi ghép thông tin làm cơ sở phân tích thực trạng giáo dục tính TL trẻ
3 - 4 tuổi
7.2.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục
- Sử dụng phương pháp này nhằm nghiên cứu, phân tích kế hoạch tổ
Trang 21chức các hoạt động hàng ngày cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 ở trường mầm non củacác GV để phát hiện thực trạng về việc lập kế hoạch, lồng ghép nội dung giáodục tính TL cho trẻ thông qua CĐSHHN, làm cơ sở để xác định thực trạngcủa việc giáo dục tính TL cho trẻ.
- Tiến hành nghiên cứu các kế hoạch tổ chức các hoạt động hàng ngàycho trẻ mẫu giáo 3 - 4 ở trường mầm non của các GV tại các trường MN,phân tích và làm rõ cách thiết kế các hoạt động trong CĐSHHN để lồng ghép,tích hợp nội dung giáo dục tính TL cho trẻ thông qua CĐSHHN
7.2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng phương pháp này nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệuquả của các biện pháp đã đề xuất và khẳng định sự phù hợp của kết quả đạt đượcvới giả thiết khoa học đề ra
- Tiến hành tác động một số biện pháp đề xuất vào nhóm thực nghiệm,nhóm đối chứng sử dụng biện pháp giáo dục hiện hành, so sánh kết quả giữanhóm TN và ĐC từ đó rút ra kết luận về tính khả thi của các biện pháp
Độ lệch chuẩn (Standardie Deviation) dùng để mô tả mức độ phân tánhay mức độ tập trung của trẻ trong từng tiêu chí
Kiểm định Pair sample t– tets được sử dụng để kiểm định sự khác biệt
về Mean giữa các nhóm ĐC, TN trước TN và sau TN dựa vào chỉ số sig Nếusig > 0.05, không có sự khác biệt về giá trị TB, kết quả trước và sau TN khôngmang lại ý nghĩa Nếu sig < 0.05 có sự khác về giá trị TB và kết quả trước vàsau TN mang lại ý nghĩa
Tần xuất và phần trăm các phương án trả lời
8 Những luận điểm bảo vệ
8.1 Trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi có nhu cầu TL và có thể tự làm lấy một số
Trang 22việc trong cuộc sống hàng ngày Khi trẻ tích cực và thường xuyên được tự làm,được trải nghiệm trong sinh hoạt hàng ngày thì tính TL của trẻ 3 - 4 tuổi đượchình thành và phát triển.
8.2 CĐSHHN ở trường mầm non là phương tiện phù hợp để giáo dục
tính TL cho trẻ 3 – 4 tuổi GV là người thường xuyên tổ chức, hướng dẫn,trợ giúp trẻ khi cần thiết trong các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non
8.3 Kết quả giáo dục tính TL của trẻ sẽ cao hơn khi GV tổ chức CĐSHHN
theo hướng phát huy ưu thế của các hoạt động (Ăn, ngủ, chơi, học, lao động, vệsinh …) kích thích trẻ bộc lộ nhu cầu, mong muốn được tự làm và tạo cơ hội chotrẻ được hoạt động, luyện tập, thực hành, trải nghiệm, khuyến khích trẻ tự giác,tích cực và nỗ lực tự làm, tự hoàn thiện nhiệm vụ được giao
9 Đóng góp mới của luận án
9.1 Bổ sung và làm phong phú hơn lý luận về giáo dục tính tự lập cho
trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua CĐSHHN ở trường mầm non
9.2 Đề xuất một số biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
và vận dụng vào một số trường mầm non Thành Phố Thanh Hóa
9.3 Cung cấp tài liệu cho GV, sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm
non, GV các trường mầm non, phụ huynh trong quá trình giáo dục tính TLcho trẻ 3 - 4 tuổi
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Nội dung nghiên cứugồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về giáo dục tính TL cho trẻ mẫu
giáo 3 - 4 tuổi thông qua CĐSHHN ở trường mầm non
Chương 2: Thực trạng giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
thông qua CĐSHHN ở một số trường mầm non Thành phố Thanh Hóa
Chương 3: Biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
thông qua CĐSHHN ở trường mầm non
Kết luận và kiến nghị
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ
SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP
CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠTHÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1.1 Những nghiên cứu về tính tự lập của trẻ em
Vấn đề giáo dục tính TL cho trẻ em được các nhà khoa học trên thếgiới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu theo các hướng sau:
1.1.1.1 Những nghiên cứu về bản chất tính tự lập của trẻ
Các tác giả L.L Badina , E M Stepanov [57], A.M.Zhirikov [97], S.Teplyuk [79], L V Marantseva [86], K.P Kuzovkova [81], G.G Alekseeva [65],
Nguyễn Hồng Thuận [20] đã xem tính TL của trẻ là một phẩm chất của
nhân cách, gắn với quá trình tâm lý như: tư duy, chú ý, trí nhớ và hoạt động
ý chí của cá nhân và có mối liên quan trực tiếp với cảm xúc
Theo K.P Kuzovkova “Tính TL là một biểu hiện không thể thiếucủa nhiều đặc tính cảm xúc, trí tuệ, định hướng và ý chí của cá nhân” [81,
tr.56] G.G.Alekseeva thì cho rằng: “Tính TL là một trong những phẩm
chất quan trọng hàng đầu của một người, thể hiện bởi khả năng đặt ra mộtmục tiêu cụ thể, tính kiên trì hoàn thành nhiệm vụ của chính mình; khảnăng ghi nhớ mục tiêu cuối cùng của một hành động và sắp xếp các hànhđộng phù hợp với thành quả của nó” [65, tr.2] L.L Badina xem tính TL làmột trong những phẩm chất của người có năng lực xã hội, là cơ sở để hình thànhcác phẩm chất xã hội quan trọng khác như hoạt động tự chủ, sáng kiến [55]
Các tác giả S.L Rubinshtein [74], Yuri Serov [98], E M Stepanova [57],
N.N Bukina [53] xem tính tự lập như một trạng thái hoạt động của cá nhân,
được phát triển trên cơ sở là một hình thức mới của tự ý thức, là khả năng conngười biết cố gắng để tự đặt ra và giải quyết những mục đích có ý nghĩa xã hội
Theo Yuri Serov, “Tính tự lập là sự nỗ lực của một người để thực hiệnhành động hoặc hoạt động mà không có sự giúp đỡ của người khác” [98]
Trang 24L V Marantseva cho rằng “Tự lập là thể hiện trách nhiệm của một ngườiđối với hành vi của họ, có ý thức và chủ động, không chỉ trong môi trường quenthuộc mà ngay cả trong các điều kiện mới” [86, tr.5].
Theo S.L Rubinstein “Tính tự lập là một biểu hiện xã hội của một tínhcách đặc trưng cho thái độ đối với công việc, con người và xã hội” [74, tr.20]
Các tác giả L.A Porebska [69], G.N Godina [76], E.O Smirnova [ Dẫn theo
90] xem tính TL là khả năng hoạt động của cá nhân.
L.A Porebska nhấn mạnh tự lập của trẻ chính là khả năng hành động độc lập,phán đoán, sở hữu sáng kiến và quyết tâm của mình để hoàn thành nhiệm vụ [69]
Theo G.N Godina “Tính TL thể hiện khả năng nắm vững kiến thức và kỹnăng thực tế sau đó được sử dụng trong các điều kiện khác nhau” [76, tr.67]
Theo E.O Smirnova “Tính TL được hiểu khi một người có khả năngliên tục vượt xa khả năng của mình, đặt ra các nhiệm vụ mới và tìm cách giảiquyết chúng” [Dẫn theo 90, tr.3]
Như vậy, qua phân tích quan điểm của các nghiên cứu, bản chất tính
TL được nhìn nhận ở những góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc nhìn nhận tính
TL chỉ trên bình diện nhận thức, hành động ý chí hoặc chỉ biểu lộ tình cảm,cảm xúc của mình thì chưa thể đảm bảo cho cá nhân tự lập trong cuộc sống
Vì vậy, bản chất tính TL của trẻ cần được nhìn nhận là một phẩm chất nhâncách được thể hiện ở năng lực của cá nhân với sự tham gia của ý chí gắn liềnvới trách nhiệm của cá nhân để hoàn thành một mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
1.1.1.2 Những nghiên cứu về sự hình thành và phát triển tính tự lập của trẻ
Nghiên cứu về vấn đề hình thành và phát triển tính TL của trẻ đượctrình bày trong các nghiên cứu của N Frenck [75], Yuri Serov [98],S.N.Teplyuk [79], A.A Lyublinskaya [70], Nguyễn Hồng Thuận [20],Nguyễn Ánh Tuyết [22], Natalya [64], … Các tác giả đã chỉ ra tính TL của trẻ
được hình thành ngay từ lứa tuổi mầm non và phát triển thông qua việc tự ý
thức về bản thân và nhu cầu tự hoạt động ở cá nhân trẻ N Frenck [75],
trong bài “Giúp trẻ phát triển – con đường tự tập” cho rằng muốn hìnhthành và phát triển tính TL cho trẻ trước hết tự bản thân trẻ phải có nhu cầu
Trang 25được hoạt động, rồi trẻ phải tự làm chủ được ý định của mình và trở nên
TL trong quá trình hoạt
Theo S.N.Teplyuk, nguồn gốc của tính TL phát sinh từ khi còn nhỏ,ngay từ năm thứ hai và năm thứ ba của cuộc đời một đứa trẻ Lúc này, quátrình hình thành các hành động và kỹ năng tự lập đang dần trở nên phức tạphơn trong trò chơi và các hoạt động khác, trong nhận thức về môi trường vàtrong giao tiếp Với sự giúp đỡ của người lớn, các kỹ năng tự lập của trẻ đượccủng cố, biểu hiện trong một loạt các hoạt động, dần dần trẻ có được kinhnghiệm của cá nhân" [79, tr.63]
A.A Liublinskaia cho rằng tính TL không phát sinh đột ngột, nó phát triển
từ thời thơ ấu trên cơ sở củng cố kỹ năng và thói quen đơn giản [70, tr.11]
Theo M Montessori tính tự lập của con người đã có mầm mống trongmỗi cá nhân Con người cần tạo cơ hội phát triển chúng cho sự hình thành củatất cả các kỹ năng cần thiết, hiện thực hóa các khả năng, nắm vững kiến thức Tất cả các bước phát triển của trẻ con - từ kỹ năng có được trong cácđộng tác, học cách lăn qua, ngồi, bò, đi bộ đến hình thành các phản ứng và kỹnăng giao tiếp xã hội [83]
Theo Nguyễn Ánh Tuyết [22], tính TL xuất hiện vào khoảng 18tháng, đặc biệt là vào tuổi lên ba với biểu hiện muốn tự làm lấy nhiều việc, trẻthường nói “con tự xúc cơm”, “con tự mặc áo”, “con tự chơi” [22, tr 365]
Các nhà Tâm lý, giáo dục L.A Porebska [69], Yuri Serov [98],A.A.Liublinxkaia [70], Natalya [64], trên cơ sở phân tích về quá trình hình
thành và phát triển tính TL của trẻ, họ đều cho rằng tính TL được hình thành qua
từng giai đoạn với những biểu hiện phức tạp dần.
Thoạt đầu là bắt chước những hành động của người lớn (lúc này chỉ là
hình thức trẻ sao chép một hành động quen thuộc mà trẻ không nhận ra ý
nghĩa trong hoạt động đó), sau đó là hoạt động tái tạo theo sáng kiến riêng
của trẻ và cuối cùng là hoạt động theo khả năng sáng tạo của trẻ.
Natalya [64], Nguyễn Ánh Tuyết [22] căn cứ vào khả năng và mức
độ phụ thuộc của trẻ trong các hoạt động hàng ngày đã đưa ra các giai đoạnhình thành và phát triển tính TL của trẻ MN:
Trang 26- Trước tiên trẻ tự làm những công việc trong điều kiện quen thuộc màkhông cần nhắc nhở và sự giúp đỡ từ người lớn
- Tiếp theo trẻ tự hoạt động trong những tình huống mới
- Sau cùng trẻ tự khẳng định hành vi của mình dưới bất kỳ điều kiệnnào mà không cần sự giám sát liên tục của người lớn
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu tính TL của trẻ được hình thành
bắt đầu từ bản thân đứa trẻ có nhu cầu tự làm, tự bắt chước những thao
tác, hành vi của người lớn để thỏa mãn mong muốn được “tự khẳng định
mình”, được làm những công việc “giống như người lớn” Tiếp theo, tính TLcủa trẻ được hoàn thiện dần qua quá trình thực hành, rèn luyện trong các hoạt
động để tái tạo lại những gì trẻ đã bắt chước được và bước cao hơn đó chính
là sự sáng tạo của cá nhân trẻ trong việc vận dụng những gì đã tiếp thu được
để giải quyết các nhiệm vụ, các tình huống trong những điều kiện, hoàn cảnhkhác nhau trong thực tiễn hàng ngày
Dựa trên những nghiên cứu trên, có thể hiểu quá trình hình thành vàphát triển tính TL của trẻ như sau:
Giai đoạn trẻ tự thể hiện nhu cầu của cá nhân: Trẻ có nhu cầu được tự
làm, tự bắt chước hành động của người lớn và mọi người xung quanh mặc dùkhông biết khả năng của mình có làm được hay không
Giai đoạn trẻ tự tái tạo: Trẻ tập làm những công việc giống như người
lớn thông qua việc làm hàng ngày, thông qua trò chơi để tái tạo lại những gìtrẻ đã bắt chước được trong những điều kiện, hoàn cảnh quen thuộc
Giai đoạn trẻ tự lập sáng tạo: Trẻ chủ động tham gia vào hoạt động,
hành động, tự giải quyết các nhiệm vụ, các tình huống theo khả năng, sở thíchcủa mình trong những điều kiện, hoàn cảnh mới trong thực tiễn hàng ngày
1.1.1.3 Nghiên cứu về cấu trúc tâm lý tính tự lập của trẻ
Về cấu trúc TL của trẻ được các nhà nghiên cứu (S.A Zvereva, G.N.Godina, T.A Vlasova, I Molnar, T.S Borisova…) quan tâm Họ đã đưa ranhững quan điểm về cấu trúc tính TL của trẻ từ đó định hướng cho quá trìnhphát triển tính TL cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày
S.A Zvereva coi tính TL của trẻ là một đặc tính của phương thức hoạt
Trang 27động Theo đó, cấu trúc tính TL của trẻ tương ứng với cấu trúc hoạt động, baogồm động cơ và hoạt động của cá nhân [92]
Với cách tiếp cận của S.A Zvereva [92], cấu trúc tính TL của trẻ chứađựng cả yếu tố tâm lý bên trong (động cơ) và yếu tố bên ngoài (hành vi) Đểđạt được động cơ, thỏa mãn nhu cầu bên trong ở trẻ thì thành phần không thểthiếu trong cấu trúc tính TL đó chính là hành vi trong hoạt động Đứa trẻ muốnthỏa mãn được động cơ thì phải tham gia vào hoạt động Thông qua hoạt độngthực tiễn, trẻ được tự hành động, thao tác, được khám phá, trải nghiệm… trẻ sẽđạt được động cơ và xuất hiện động cơ mới Đồng thời, trong hoạt động, cánhân sẽ bộc lộ rõ hành vi và thái độ của mình Điều đó đồng nghĩa với tính TLcủa trẻ được phát triển hơn
Theo T.A Vlasova tính TL của trẻ là một hệ thống bao gồm các thànhphần nhận thức, xúc cảm, tình cảm (thái độ) và hành vi [46] Với cách tiếp cậnnày, tính TL của trẻ bao gồm khả năng nhận thức về hoạt động của trẻ; xúccảm, tình cảm thể hiện và hành vi bộc lộ của trẻ trong quá trình hoạt động.T.A Vlasova nhấn mạnh, ngoài thành phần nhận thức, thái độ thì hành vi là thànhphần quyết định chất lượng, kết quả hoạt động của cá nhân này so với cá nhânkhác Ngoài ra, T.A Vlasova nhấn mạnh, khi trẻ hành động với sự tham gia của ýchí thì hành vi TL của trẻ trở nên chất lượng
Đồng với quan điểm trên, T.S Borisova, I Molnar [Dẫn theo 90], xácđịnh cấu trúc tính TL của trẻ gồm thành phần nhận thức; xúc cảm, tình cảm
và hành vi Theo T.S Borisova tính TL phụ thuộc vào mức độ phát triển củacác chức năng tâm lý (suy nghĩ, trí nhớ, sự chú ý, v.v.) T.S Borisova chorằng, trong quá trình hành động để thực hiện các nhiệm vụ được giao và đạtđược mục tiêu sẽ quyết định mức độ phát triển tính TL của trẻ Xúc cảm, tìnhcảm hay đó chính là thái độ đi kèm với hành động của trẻ và làm tăng mức độhành động thể hiện ở trẻ Nhờ có thái độ tốt được thể hiện trong quá trình hoạtđộng của trẻ, làm cho hành động trở nên hiệu quả hơn và nhận thức của trẻđược phát triển cùng với quá trình hoạt động
G.N Godina [76] thiên về hành vi và thao tác cụ thể khi nhìn nhận vềtính TL của trẻ Theo G.N Godina, tính TL được xác định bởi mức độ phụthuộc của trẻ vào người lớn, sự trợ giúp bên ngoài khi trẻ hoạt động Cụ thể:
Trang 28Trẻ TL nhưng một phần phụ thuộc vào người lớn
Trẻ TL không phụ thuộc vào người lớn
Như vậy, cấu trúc TL của trẻ được giải quyết bởi các nhà nghiên cứuvới cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, quan điểm về các thành phần tính TL
của trẻ bao gồm nhận thức, xúc cảm, tình cảm (thái độ) và hành vi được nhiều
nhà nghiên cứu đề cập
Mặt khác, theo các nhà Tâm lý học Việt Nam [24], cấu trúc của ý thứcbao gồm mặt nhận thức, mặt thái độ và mặt năng động của ý thức Ý thức nảysinh và phát triển trong hoạt động Cấu trúc của hoạt động qui định cấu trúccủa ý thức Trong đó, tính TL được hình thành và phát triển trong hoạt động
và được điều khiển bởi ý thức Vì vậy, các thành phần cấu trúc của hoạt động
và ý thức đều có vị trí nhất định trong cấu trúc của tính TL và chi phối cấutrúc tính tự lập của trẻ
Dựa trên những phân tích trên, tính TL của trẻ có thể xem xét bao gồmcác thành phần: Nhận thức, thái độ và hành vi, điều này được thể hiện cụ thểqua sơ đồ sau:
Hình 1.1 Các thành phần cấu trúc của tính tự lập của trẻ
1.1.1.4 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tính tự lập của trẻ
Các nhà tâm lý học phương Tây như H.A.Witkin & D.R.Goodenough[Dẫn theo 23, tr.11] tìm hiểu sự phát triển tính TL trong lứa tuổi tiền học
Tính
độ
Hành vi
Nhận thức Nhận thức
Trang 29đường nhận thấy rằng, sự hình thành và phát triển tính TL của trẻ phụ thuộc
vào mối quan hệ với bạn bè nhiều hơn là với người lớn.
Các nhà nghiên cứu G.A Uruntayeva [94], L.S.Vygotsky [45],
M.V Kharlamov [Dẫn theo 90] đề cao yếu tố cá nhân trong việc hình thành
tính tự lập của trẻ Theo Vygotsky L.S “Sự hình thành tính TL phụ thuộc phần
lớn vào mức độ hình thành trí nhớ, suy nghĩ, sự chú ý, lời nói, của cá nhân Nhờđiều này, đứa trẻ có thể đạt được mục tiêu, vượt qua những khó khăn đã phát sinh
để hoàn thành nhiệm vụ” [45, tr.94] G.A Uruntayeva cho rằng, quá trình hìnhthành và phát triển tính TL phụ thuộc vào chính khát vọng và ham muốn của trẻ[94]
Các nghiên cứu của N.V Nikiforova, M.I Baisheva, O.N.Ubranckaia, Vũ
Huyền Trinh [Dẫn theo 45], Nguyễn Hồng Thuận [20], … đề cao vai trò của gia
đình thông qua các tác động có mục đích, thường xuyên và hệ thống của các
thành viên trong gia đình trong quá trình hình thành và phát triển tính TL cho trẻ
N.V Nikiforova, M.I Baisheva chỉ rõ “cha mẹ là nhà giáo dục đầu tiên
và quan trọng nhất của trẻ em, đặt nền móng cho tính cách của con Từ phẩmchất cá nhân của họ, tình yêu đích thực dành cho trẻ, khả năng nhận thức vàxây dựng đúng quy trình nuôi dưỡng của gia đình, tạo ra một không khí giađình tích cực, hỗ trợ cho trẻ trong hoạt động cũng như sự thành công của trẻtrong hoạt động” [61, tr.3]
N.V Abdulova [43], Maria Montessori [Dẫn theo19] đề cao yếu tố môitrường trong việc giáo dục tính TL cho trẻ N.V Abdulova [43] cho rằng, môitrường giúp trẻ tự thể hiện sáng kiến và sự sáng tạo trong các hoạt động khácnhau Nâng cao khả năng tự tổ chức và hoàn thành các hoạt động của chínhtrẻ, thúc đẩy quá trình phát triển tính TL của trẻ
Maria Montessori quan tâm đặc biệt đến môi trường vật chất và môitrường tâm lý Bà đặc biệt quan tâm đến việc chế tạo đồ dùng, đồ chơi vừa kích
cỡ với trẻ và mang tính cảm giác trực quan cho trẻ hoạt động Montessori nói:
“Giáo cụ dành cho việc giáo dục các giác quan của chúng ta sẽ trao cho trẻ chìakhóa hướng dẫn trẻ tự khám phá thế giới của chúng” [dẫn theo 19, tr.76]
A.S Mikerina [90, tr.3], M.V Kharlamov [Dẫn theo 90], Z.V.Eliseeva [59]
… xác định các điều kiện tâm lý và điều kiện sư phạm cho sự hình thành và
Trang 30phát triển tính tự lập ở trẻ trong độ tuổi mẫu giáo, bao gồm:
- Tổ chức tương tác giữa giáo viên và phụ huynh về sự phát triển tínhđộc lập và sáng kiến của trẻ trong hệ thống giáo dục gia đình;
- Tạo ra môi trường phát triển theo chủ đề trong trường mầm non nhằmthúc đẩy sự phát triển của trẻ và mong muốn giải quyết các nhiệm vụ của hoạtđộng mà không cần sự giúp đỡ của người lớn;
- Giáo viên tổ chức các hoạt động của trẻ nhằm phát triển mọi khả năng
ở trẻ em thông qua việc đặt mục tiêu, kế hoạch của hoạt động
- Vị trí của giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động của trẻ,được đặc trưng bởi khả năng hướng dẫn trẻ đạt được mục tiêu
M.V Kharlamov [dẫn theo 72], Z.V.Eliseeva [59],… cho rằng các điềukiện tâm lý để hình thành tính TL ở trẻ mẫu giáo là:
- Tích lũy ý tưởng và kiến thức về các hình thức hành vi độc lập, nhậnthức của trẻ em về tầm quan trọng của sự độc lập trong các điều khoản cánhân và xã hội;
- Hình thành thái độ tích cực đối với các hoạt động;
- Sự hình thành các yếu tố tự kiểm soát và lòng tự trọng khi thực hiệncác hoạt động
Đồng vớí quan điểm trên, các nhà nghiên cứu J.H Xartan, N.V.Pôntaxeva [Dẫn theo 23], Nguyễn Thanh Huyền [7]… đã đề cập đến hai điều
kiện cơ bản đó chính là các điều kiện sư phạm:
- Thường xuyên bổ sung, mở rộng hiểu biết, các kỹ năng, phương pháphành động của trẻ;
- Tạo điều kiện để trẻ thể hiện sáng kiến và tính sáng tạo, phát triểnhứng thú của trẻ đối với các hoạt động độc lập;
- Giúp trẻ hình dung trước quy trình hành động, hoạt động;
- Thường xuyên làm phức tạp hoá điều kiện thực hiện và nhiệm vụ hành động
Các điều kiện tâm lý:
- Có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết về các lĩnh vực hoạt động mà
trong đó tính TL được thể hiện;
Trang 31- Có kỹ năng tự đặt nhiệm vụ, kế hoạch hoá, kiểm tra hành động; Có sự
nỗ lực ý chí; Có niềm tin vào sức lực của bản thân; Có tính tích cực; Có tính
1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục tính tự lập cho trẻ em
Khi nghiên cứu về giáo dục tính TL cho trẻ, các nhà khoa học đi sâu nghiên
cứu về vai trò, phương pháp của người lớn trong giáo dục tính TL cho trẻ
Các nhà nghiêu cứu tiêu biểu như Christie Burnett [29], LindaDiProperzio [34], Victoria Vinogradova [50], Natalya kuznetsova [64], cho
rằng người lớn là người giúp đỡ, hỗ trợ và trao cho trẻ quyền quyết định
trong hoạt động.
Victoria Vinogradova, trong bài “Giúp một đứa trẻ trở nên độc lập” chorằng, muốn giáo dục tính tự lập cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày, ngườilớn cần tin tưởng trẻ, trao cho trẻ được tự đưa ra một sự lựa chọn, tự suy nghĩđộc lập, phân tích, tự ra quyết định [50]
Natalya kuznetsova trong bài “Vấn đề hình thành tính tự lập ở trẻ”, trên
cơ sở phân tích về những sai lầm từ người lớn trong việc hình thành tính tựlập cho trẻ ông cho rằng “người lớn không cho phép đứa trẻ tự đưa ra quyếtđịnh độc lập, tự chịu trách nhiệm về chúng và người lớn luôn bảo vệ đứa trẻkhỏi những sai lầm, cha mẹ tước đi cơ hội để có được kinh nghiệm sống quantrọng cho con Đó là lý do tại sao sự phát triển tính tự lập và sự chủ động ở trẻmẫu giáo có được một ý nghĩa đặc biệt” [64, tr.4]
Teplyuk S lưu ý vai trò của cha mẹ trong sự phát triển tính tự lậpcủa trẻ em: “Cha mẹ phải phát triển tính tự lập cho trẻ sớm, không để lại nósau này Trong đó, cha mẹ nên nhớ rằng với sự phát triển tính tự lập củatrẻ, khối lượng hành động tự lập của trẻ tăng lên thì sự giúp đỡ người lớn
sẽ suy giảm” [79, tr.10]
Trang 32Các nhà giáo dục như Carrie Shrier [27], Christie Burnett [29], SugaharaYuko [17] , Nguyễn Ánh Tuyết [22], … cho rằng, giáo dục tính tự lập cho trẻ
bằng cách người lớn khuyến khích để trẻ tự làm những gì chúng có khả năng
Theo Christie Burnett: “Khuyến khích trẻ em để tự làm cho mình những
gì chúng có khả năng là bạn đang đặt chúng vững chắc trên con đường độc lập,
tự tin” [29, tr 5] Sugahara Yuko cho rằng muốn trẻ có một cuộc sống tốt đẹp vàthành công sau này thì bước đầu tiên là tập cho con trẻ sự tự lập Khi con trẻ đãbắt đầu có thể làm những việc nhỏ thì cha mẹ lúc đó chỉ nên là người “hỗ trợ” đểcon phát triển chứ đừng “làm thay con” [17]
Các nhà nghiên cứu Maria Montessori [Dẫn theo 19], N.V Abdulova [43],
khẳng định, việc người lớn tạo ra một môi trường cho trẻ hoạt động, sẽ thúc đẩy
việc tự thể hiện sáng kiến và sự sáng tạo trong các hoạt động khác nhau, nângcao khả năng tự tổ chức và hoàn thành các hoạt động của chính trẻ
G.G Alekseeva [42], Maria Montessori [ Dẫn theo19], … đề cao việclựa chọn các phương pháp giáo dục tính TL cho trẻ G.G Alekseeva đề cậpphương pháp trò chơi, phương pháp trực quan, phương pháp tạo tình huống,phương pháp lấy trẻ làm trung tâm trong giáo dục tính TL cho trẻ [42]
Maria Montessori tập trung vào phương pháp lấy trẻ em làm trungtâm, phát huy năng lực và trách nhiệm của trẻ Theo bà “Trẻ em không tựlàm việc gì đó thì sẽ không học được cách làm việc đó như thế nào” [Dẫntheo 19, tr.77] Bà cho rằng, trẻ có thể trưởng thành và phát triển được các kĩnăng thì người lớn cần tạo cho trẻ cơ hội để các em tự mình làm những việc
đó Nuôi dưỡng tính TL là một phần trong phương pháp của Montessori.Montessori khuyến khích các giáo viên là không nên can thiệp vào cách thức
và nhịp độ học của trẻ Montessori đề cao việc để trẻ tự chịu trách nhiệm vàtăng cường thời gian cho trẻ được hoạt động tự do
Như vậy, vấn đề giáo dục tính TL cho trẻ cần xuất phát từ việc lấy trẻlàm trung tâm, tôn trọng trẻ, trao quyền quyết định cho trẻ Tăng cường cáchoạt động thực hành, trải nghiệm thực tiễn để tạo cơ hội cho trẻ được tự thểhiện nhu cầu hoạt động Giáo viên là người tạo môi trường thuận tiện cho trẻ
dễ dàng hoạt động, là người hỗ trợ khi trẻ cần, khuyến khích, động viên để tạoniềm tin cho trẻ trong hoạt động
1.1.3 Những nghiên cứu về giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua
Trang 33chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non
Giáo dục tính TL cho trẻ thông qua CĐSHHN ở trường MN đã đượccác nhà nghiên cứu tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:
1.1.3.1 Những nghiên cứu về vai trò của chế độ sinh hoạt đối với quá trình giáo dục tính tự lập cho trẻ em
Các nhà giáo dục Deborah Stewart [31], Daria Tomaeva [33], Hoàng
Thị Phương [16], Nguyễn Thanh Huyền [8] đã chỉ rõ, nhờ có tính lặp đi
lặp các hoạt động trong ngày (ăn, ngủ, học, chơi) và duy trì thường xuyên
CĐSHHN sẽ hình thành cho trẻ kỹ năng, thói quen, trong các hoạt động,
điều đó giúp trẻ dễ dàng và nhanh hơn để tự tổ chức cuộc sống cho chínhmình và thích nghi với xã hội
Olga cherenkov [73], Tatyana Brudanina [Dẫn theo 57] cho rằng,
nhờ tính hệ thống, khoa học trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các
hoạt động ăn, ngủ, chơi, học trong CĐSHHN… sẽ giúp trẻ có nhu cầu tự phục
vụ, tự nhận thức được trách nhiệm của mình đối với bản thân, đối với tập thểlớp
Các nhà nghiên cứu Sheryl [39], Manuscript [37], Olga cherenkov [73]
chỉ ra việc tổ chức thường xuyên, liên tục các hoạt động trong CĐSHHN
chính là cơ hội để trẻ thực hành, trải nghiệm, thực hiện thí nghiệm mới,hoạt động khoa học qua đó giáo dục trẻ tự tin thể hiện các hành vi, ứng
xử trong sinh hoạt hàng ngày, góp phần hình thành thái độ, cảm xúc, nhậnthức đúng đắn về các mối quan hệ xã hội của trẻ em, giúp trẻ TL trongcuộc sống và hoàn thiện nhân cách
Như vậy, CĐSHHN là phương tiện quan trọng để giáo dục tính TLcho trẻ Thông qua CĐSHHN GV cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng,thói quen tốt cho trẻ, giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu tự phục vụ, tự khẳng địnhmình trong hoạt động, ý thức được trách nhiệm đối với bản thân, với công
việc và mọi người Đồng thời, CĐSHHN chính là cơ hội để giáo dục trẻ các
hành vi ứng xử trong sinh hoạt hàng ngày, góp phần hình thành thái độ, cảmxúc, nhận thức đúng đắn về các mối quan hệ xã hội của trẻ em, giúp trẻ TLtrong cuộc sống và hoàn thiện nhân cách
1.1.3.2 Nghiên cứu về nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non
Trang 34Nghiên cứu về nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ, các nhà nghiêncứu Olga Sergienko [62], Victoria Vinogradova [50], Carrie Shrier [27], đề
cập những nội dung về khả năng tự phục vụ (vệ sinh thân thể, vệ sinh quần
áo, vệ sinh ăn uống, ngủ, chơi, học).
G.G Alekseeva [42], J A Voronchikhina [49] đề cập những nội dung về
tính tự tin, có trách nhiệm với hoạt động, ý thức và chủ động trong hành động.
J A Voronchikhina cho rằng, giáo dục ở trẻ tự tin vào khả năng củabản thân trẻ, khả năng tự tồn tại của mình [49] Alekseeva N.G, giáo dục chotrẻ có trách nhiệm với các hoạt động của họ, hành động một cách có ý thức vàchủ động, không chỉ trong môi trường xung quanh quen thuộc, mà còn trongcác điều kiện mới [42]
Các tác phẩm của N.V Nikiforova Và M I Baisheva [61, Tr.123], I N.Schukina [78] … đề cập những nội dung giáo dục trẻ tự nhận thức về bản thân vàkết quả hoạt động của mình Trong đó, I N Schukina quan tâm giáo dục trẻ tự
cảm nhận về mình và ý thức về mình như một thực thể tự lập N V Nikiforova và
M I Baisheva lại cho rằng, tự đánh giá kết quả hoạt động của mình và bản thânmình như là một kết quả giúp đứa trẻ phát triển khả năng so sánh kết quả với ýđịnh ban đầu, dần dần làm thay đổi nhận thức và thái độ đối với bản thân mình
Như vậy, trong các nghiên cứu đã đề cập một số nội dung giáo dục tính TLcho trẻ như :
- Khả năng tự phục vụ trong các hoạt động ăn, ngủ, chơi, học;
- Tự nhận thức về bản thân và kết quả hoạt động của mình;
- Tính tự tin và tính trách nhiệm trong hoạt động,
Tuy nhiên, để giúp trẻ trở nên một cá nhân tự lập, cần giáo dục trẻ biết bộc
lộ thái độ qua những xúc cảm, tình cảm (sự thích thú, thái độ sẵn sàng, sự tậptrung chú ý…) trong hoạt động
1.1.3.3 Nghiên cứu về việc sử dụng chế độ sinh hoạt hàng ngày làm phương tiện giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 – 4 tuổi
Các nhà nghiên cứu, А.Н Атарова [44] , A V Petrovsky [69], … đãcho rằng, tất cả các hoạt động của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non có thể tổchức được dưới hình thức hoạt động tự lập và trong các loại hoạt động đó, tính
TL của trẻ em được thể hiện và phát triển.Theo А.Н Атарова, những loại hoạt
Trang 35động trong ngày ở trường mầm non thú vị đối với trẻ bởi hình thức và nội dungcủa từng hoạt động Cụ thể như trò chơi trẻ được tự làm những điều trẻ muốnlàm, trẻ tự quyết định và tự đưa ra cách thực hiện theo khả năng của chính trẻ.Hay hoạt động trải nghiệm trong thực tiễn, trẻ được tự làm, tự hoạt động, tự trảinghiệm thực tế… hoạt động này tác động đến nhiều mặt của trẻ, là một trongnhững điều kiện quan trọng cho sự phát triển tính TL của trẻ [55].
Các nhà nghiên cứu Maria Montessori [Dẫn theo 19], Christie Burnett[29], L V Marantseva [86] cho rằng, việc chuẩn bị môi trường hoạt động
để khuyến khích trẻ tự hoạt động trong CĐSHHN có ý nghĩa rất lớn trong quátrình giáo dục tính TL cho trẻ Theo L V Marantseva “Cần tạo môitrường chứa đựng các phương tiện tự nhiên và văn hóa xã hội cho các hoạtđộng khác nhau của trẻ Nó cung cấp cho đứa trẻ những điều kiện để pháttriển khả năng sáng tạo và cơ hội để tự trẻ giải quyết các nhiệm vụ của mộthoạt động cụ thể” [86, tr.10]
gồm không gian mà trẻ sử dụng, cùng những vật dụng và giáo dục trongkhông gian đó, mà còn là việc người lớn và trẻ em cùng chia sẻ với nhautrong ngày làm việc Bà cũng tin rằng, một phần trong việc tạo ra trải nghiệmcảm giác cho trẻ là cần có giáo cụ và đồ dùng vừa kích cỡ trẻ và mang tínhcảm giác trực quan [Dẫn theo 19, tr.72 ]
Các tác giả M.N Acxarina [2], G.A Uruntayeva [93], M.A Ivanenko [75],V.G Nechaev [67], chọn hoạt động lao động trong CĐSHHN làm phương
tiện để giáo dục tính TL cho trẻ.
M.N Acxarina cho rằng, giáo dục tính TL bằng lao động tự phục vụ làphù hợp nhất, nó không chỉ tạo ra những thói quen tốt về lao động tự phục vụbản thân mà còn giúp trẻ tự khẳng định mình trong các hoạt động [1]
Theo G.A Uruntayeva, hoạt động lao động tạo ra những điều kiệnthuận lợi để trẻ bộc lộ những biểu hiện về tính tự lập như nhu cầu tự làm, tínhchủ động, tính trách nhiệm, sự nỗ lực để hoàn thành công việc trong hoạtđộng, thiết lập các mối quan hệ gần gũi hơn với người lớn và các hoạt độngcủa họ, đáp ứng các yêu cầu về xã hội, tự nhiên mà không thể thỏa mãn đầy
đủ trong các hoạt động khác, kể cả trong trò chơi [93]
Trang 36M.A Ivanenko lại cho rằng: “Hoạt động lao động của trẻ ở trườngmầm non cung cấp cơ hội cho trẻ được hoạt động và giải quyết các nhiệm
vụ cụ thể, thuận lợi cho sự hình thành phẩm chất quan trọng trong tâm lý
và nhận thức về hành động, sự kiên trì để đạt được một kết quả; là điềukiện thuận lợi để hình thành và phát triển tính TL cho trẻ” [75, tr.32]
В.А Евсеева đề cao vai trò lao động ngoài tự nhiên đối với giáo dụctính TL cho trẻ mẫu giáo В.А Евсеева cho rằng, công việc của mọi ngườitrong xã hội luôn nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần còn kết quảcông việc của trẻ em trong lao động ngoài tự nhiên thỏa mãn nhu cầu được tựlàm của trẻ Lao động ngoài tự nhiên là loại lao động sản xuất duy nhất dànhcho trẻ mẫu giáo nên có những đặc thù riêng Công việc này đòi hỏi một nỗlực lâu dài về thể chất và tinh thần của trẻ Trẻ làm việc chăm chỉ hàng ngày,giúp rèn luyện sức bền, sự kiên nhẫn Quan trọng hơn là đáp ứng nhu cầu củachính mình, mà không cần sự giúp đỡ của người lớn [60, tr.9 ]
Các nhà nghiên cứu L.S Vygotsky [47], J A Voronchikhina [49],
Yandex [97],… chọn hoạt động vui chơi làm phương tiện giáo dục tính tự lập
cho trẻ mẫu giáo thông qua CĐSHHN
L.S.Vygotsky cho rằng, trong độ tuổi đi học mẫu giáo, trẻ được tự dotham gia các trò chơi phân vai, và tham gia các hoạt động khác ở trường mầmnon là kênh chính để trẻ tự lập hoạt động Chính trong trò chơi mô phạm, trẻ
có khả năng thiết kế hành vi và hành động của riêng mình Trò chơi quyến rũđứa trẻ với sự đa dạng của các tình huống đòi hỏi trẻ phải chủ động thể hiện
cá tính, khéo léo, tháo vát, sáng tạo và độc lập điều này góp phần vào sự pháttriển tính TL ở trẻ mầm non [47]
Theo Yandex: “Trò chơi là một phương pháp giúp trẻ hiểu biết thực tế Nóđược định hướng bởi giáo viên và cho phép đứa trẻ làm chủ trong quá trình chơi.Trò chơi thu hút đứa trẻ với nhiều tình huống khác nhau, đòi hỏi trẻ biểu hiện tíchcực của cá nhân, sự khéo léo, tháo vát, sáng tạo, tự lập” [96, tr.3]
J A.Voronchikhina cho rằng, “Trò chơi có tác động tích cực đến việcgiáo dục tính TL cho trẻ Trò chơi là một cách nghĩ đặc biệt của trẻ về thực
tế Giá trị giáo dục của trò chơi góp phần phát triển sự chú ý, tự nguyện vàsuy nghĩ tập trung của trẻ” [49, tr.7]
Nguyễn Hồng Thuận [20] nghiên cứu về biện pháp giáo dục tính TL
Trang 37cho trẻ trong gia đình thông qua CĐSHHN cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi Tácgiả Nguyễn Thị Mĩ Lộc giáo dục tính TL cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạtđộng Tạo hình…
Như vậy, với cách tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu đã đề cập việc sửdụng hoạt động vui chơi, lao động tự phục vụ, lao động ngoài thiên nhiên, tạomôi trường thuận tiện… trong CĐSHHN giúp trẻ hoạt động nhằm giáo dục tính
TL cho trẻ … Tuy nhiên, trong các nghiên cứu chưa khai thác ưu thế của cáchoạt động trong CĐSHHN, để tác động một cách hệ thống, thường xuyên, liêntục, phối hợp đồng bộ các biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ, giúp trẻ có cơ hộiluyện tập, rèn luyện và thể hiện mọi khả năng trong các hoạt động hàng ngày
Các nghiên cứu đã khẳng định trẻ 3 - 4 tuổi đã bộc lộ nhu cầu TL,mong muốn được tự làm, có khả năng tự làm được một số việc trong sinhhoạt hàng ngày Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung nhiều ở trẻ 5 – 6 tuổi,hay một số nghiên cứu đề cập đến trẻ 24 – 36 tháng tuổi; chưa có công trìnhnào đi sâu nghiên cứu giáo dục tính TL cho trẻ 3- 4 tuổi
Các nhà tâm lí, giáo dục đã khẳng định được vai trò quan trọng củaCĐSHHN, là phương tiện để giáo dục tính TL cho trẻ
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu của các tác giả trong vàngoài nước chưa khai thác được mối quan hệ giữa các hoạt động trong chế độsinh hoạt hàng ngày đối với việc giáo dục tính TL cho trẻ Chủ yếu họ sửdụng một trong các hoạt động trong CĐSHHN làm phương tiện để giáo dụctính TL cho trẻ như lao động tự phục vụ, hoạt động vui chơi, hoạt động thủcông, hoặc có sử dụng CĐSHHN nhưng dành cho trẻ 5 – 6 tuổi
Trang 38Ngoài ra, khi nghiên cứu về các biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ, cácnhà tâm lý, giáo dục phần lớn đưa ra những định hướng, những nguyên tắchay những giải pháp chung chung để giáo dục tính TL cho trẻ mầm non Cácbiện pháp chưa xuất phát từ việc phân tích từ bản chất của tính tự lập, cơ sởhình thành và phát triển tính TL, cấu trúc tâm lý tính TL … của trẻ 3 - 4 tuổi
để đưa ra những biện pháp phù hợp
Luận án kế thừa có chọn lọc những nội dung liên quan từ các nghiêncứu trong và ngoài nước, vận dụng làm sáng tỏ một số vấn đề còn bỏ ngỏtrong các nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục tính TL cho trẻ 3– 4 tuổi thông qua CĐSHHN ở trường MN
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, trong luận án, chúng tôi dùng
“tính tự lập” xuất phát từ tiếng Nga “самостоятельность” và tiếng Anh
“Self-relianc” hoặc “Independence”.
Trong từ điển Tiếng Việt: Tính tự lập là dựa vào, tin vào khả năng và
Trang 39tưởng hành vi của mình là đúng, có ý nghĩa xã hội” [82, tr.26]
A.S.Myazin cho rằng: “Tính tự lập là đặc điểm tính cách tâm lý,được đặc trưng bởi khả năng tự đặt mục tiêu của một hoạt động, kiên trì và
nỗ lực để hoàn thành mục tiêu mà không cần sự giúp đỡ từ bên ngoài, thểhiện trách nhiệm, chủ động và tự kiểm soát hoạt động của mình [85, tr.3]
Theo Nguyễn Hồng Thuận: “Tính tự lập là một phẩm chất nhân cáchđược nhìn nhận trên cơ sở cá nhân có nhu cầu, kỹ năng và tự lực giải quyếtnhững nhiệm vụ đặt ra, tự tìm kiếm cách thức để giải quyết chúng một cách
tự tin Phẩm chất đó được hình thành trong quá trình tham gia vào hoạtđộng một cách chủ động” [20, tr.29]
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau nhưng trong khái niệm củacác nhà nghiên cứu đều có nội hàm chung khi nhận định về tính tự lập:
- Là một phẩm chất tâm lý của nhân cách, biểu hiện ở nhu cầu của cánhân trong hoạt động;
- Là khả năng của cá nhân (tự đưa ra quyết định, tự thực hiện hoạtđộng, không dựa dẫm, phụ thuộc vào người khác;)
- Tự chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân và tự kiểm soát hoạt độngcủa mình với sự nỗ lực của bản thân để hoàn thành nhiệm vụ
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu, chúng ta thường bắt gặp các cụm từ tính
tự lập, tính tự lực, tính độc lập Để thuận tiện cho mục đích nghiên cứu, chúngtôi mạnh dạn đưa ra sự phân biệt các khái niệm trên một cách tương đối như sau:
Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng: “Tính độc lập chỉ trạng thái
tồn tại và hoạt động của sự vật hiện tượng Độc lập là tự mình hoạt động,không nương tựa, không phụ thuộc vào ai Tính độc lập dùng trong phạm vihẹp để chỉ trạng thái tồn tại của một sự vật, một cá nhân và một hành độngmang tính chất riêng biệt [4, tr.969]
Theo nhà Tâm lý học Nguyễn Thị Mỹ Trinh: “Tính độc lập là mộtphẩm chất tâm lý cá nhân cho phép cá nhân thực hiện hoạt động theo cáchriêng của mình, dựa vào trí tuệ và sức lực của bản thân để thực hiện mục đíchđặt ra, mà không lệ thuộc vào người khác” [23, tr.17]
Theo Vũ Dũng trong Tâm lý học, tính tự lực: “Có xu hướng thiên về
Trang 40biểu hiện hành vi và hoạt động bằng chính sức lực của bản thân” [4, tr.969].
Theo tác giả Nguyễn Thanh Huyền: “Tính tự lực là một phẩm chấtnhân cách được hình thành trong quá trình hoạt động, thể hiện mối quan hệcủa cá nhân với các sự vật, hiện tượng, với người khác và bản thân Nó đặctrưng cho thái độ không phụ thuộc, sẵn sàng chịu trách nhiệm và niềm tin vàonăng lực của mình, thói quen tự giác trong việc đặt mục đích, nhiệm vụ và tựđiều khiển, kiểm tra bản thân, sử dụng tối đa các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo,
có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực và ý chí nhằm đạt mục đích đã định để thỏamãn nhu cầu của bản thân và xã hội” [7, tr.27]
Với những nhận định của các nhà nghiên cứu về “tính độc lập”, “tính tựlực”, “tính tự lập” cho thấy, nội hàm của các khái niệm có điểm chung nhận định
về một cá nhân trong quá trình hoạt động với những biểu hiện tư lập trong hoạtđộng, có khả năng tự làm, tự quyết định trong hoạt động và luôn có sự nỗ lực củabản thân để hoàn thành mục tiêu Vì vậy, trên thực tế “tính tự lập”, “tính độc lập”,
“tính tự lực” nhiều lúc được dùng thay thế cho nhau.Tuy nhiên, chúng cũng cónhững sắc thái riêng nên đôi lúc có trường hợp sử dụng khái niệm này chứ khôngdùng khái niệm khác
Tính độc lập chỉ trạng thái tồn tại của một sự vật, một cá nhân và một
hành động mang tính chất riêng biệt Tự mình hoạt động, không nương tựa,không phụ thuộc vào ai
Tính tự lực có xu hướng thiên về biểu hiện hành vi ý chí, hoạt động bằng
chính sức lực của bản thân, không phụ thuộc, tự chịu trách nhiệm, tự tin vào bản thân
Tính tự lập dường như bao hàm cả các phạm trù trên Nó thể hiện đầy
đủ về nhận thức, trạng thái hoạt động cũng như hành vi ý chí của cá nhântrong quá trình hoạt động.
Từ cách hiểu trên, có thể đưa ra khái niệm, tính tự lập là một phẩm chất
nhân cách, thể hiện ở năng lực của cá nhân biết tự đưa ra quyết định và tự thực hiện quyết định đã lựa chọn mà không phụ thuộc vào người khác, luôn
cố gắng nỗ lực và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của bản thân để thực hiện mục đích đề ra.