1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan điểm toàn diện đặc biệt là quan điểm toàn diện trong đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay

22 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 101,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét riêng về kinh tế, thứ nhất đổi mới đã chuyển nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần,

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trải qua 20 năm (1986 - 2006), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước

do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạtđược những thành tựu to lớn, và có ý nghĩa lịch sử trọng đại Điều đó chứng

tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủnghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Nhờ đổi mới mà nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất được tăng cường, đời sống của cáctầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện Đổi mới làm thay đổi gần nhưtất cả mọi mặt đời sống kinh tế đất nước Từ sau Đại hội Đảng VI (12/1986)đến nay đã có rất nhiều thay đổi quan trọng trong sản xuất và tiêu dùng, tiếtkiệm đầu tư, chính sách tiền tệ và ngoại thương Chính sách đổi mới đã tạo ranguồn động lực sáng tạo cho hàng tiêu dùng Việt Nam thi đua sản xuất đưakinh tế đất nước tăng trưởng trung bình trên 7%/ năm từ 1987

Xét riêng về kinh tế, thứ nhất đổi mới đã chuyển nền kinh tế Việt Nam

từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu trong đó kinh

tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân đều đượckhuyến khích phát triển không hạn chế; thứ hai, đã chuyển 1 nền kinh tế khépkín, thay thế nhập khẩu là chủ yếu sang nền kinh tế mở, chủ động hội nhập,hướng mạnh về xuất khẩu, thứ ba, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ vàcông bằng xã hội trong từng giai đoạn đổi mới và phát triển ở Việt Nam, trong

đó xoá đói giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm là 2 ưu tiên trọng tâm;thứ tư, cùng với đổi mới kinh tế đã từng bước đổi mới hệ thống chính trị vớitrọng tâm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Trong công cuộc đổi mới đó, Đảng ta đã vận dụng đúng đắn, hợp lý

quan điểm toàn diện, đặc biệt là quan điểm toàn diện trong đổi mới kinh

tế ở nước ta hiện nay.

Trang 2

Nội dung đề tài:

I Một số vấn đề về quan điểm toàn diện

II Quan điểm toàn diện về vấn đề đổi mới kinh tế ở Việt Nam

hiện nay

III Những thành tựu về đổi mới kinh tế

Trang 3

Lời mở đầu

Trải qua 20 năm (1986 - 2006), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước

do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạtđược những thành tựu to lớn, và có ý nghĩa lịch sử trọng đại Điều đó chứng

tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủnghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Nhờ đổi mới mà nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất được tăng cường, đời sống của cáctầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện Đổi mới làm thay đổi gần nhưtất cả mọi mặt đời sống kinh tế đất nước Từ sau Đại hội Đảng VI (12/1986)đến nay đã có rất nhiều thay đổi quan trọng trong sản xuất và tiêu dùng, tiếtkiệm đầu tư, chính sách tiền tệ và ngoại thương Chính sách đổi mới đã tạo ranguồn động lực sáng tạo cho hàng tiêu dùng Việt Nam thi đua sản xuất đưakinh tế đất nước tăng trưởng trung bình trên 7%/ năm từ 1987

Xét riêng về kinh tế, thứ nhất đổi mới đã chuyển nền kinh tế Việt Nam

từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu trong đó kinh

tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân đều đượckhuyến khích phát triển không hạn chế; thứ hai, đã chuyển 1 nền kinh tế khépkín, thay thế nhập khẩu là chủ yếu sang nền kinh tế mở, chủ động hội nhập,hướng mạnh về xuất khẩu, thứ ba, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ vàcông bằng xã hội trong từng giai đoạn đổi mới và phát triển ở Việt Nam, trong

đó xoá đói giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm là 2 ưu tiên trọng tâm;thứ tư, cùng với đổi mới kinh tế đã từng bước đổi mới hệ thống chính trị vớitrọng tâm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Trong công cuộc đổi mới đó, Đảng ta đã vận dụng đúng đắn, hợp lý

quan điểm toàn diện, đặc biệt là quan điểm toàn diện trong đổi mới kinh

tế ở nước ta hiện nay.

Trang 4

I Một số vấn đề về quan điểm toàn diện

1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến - cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện

a Khái niệm về mối liên hệ phổ biến

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mối liên hệ là phạm trù triết họcdùng để chỉ sự qui định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các

sự vật, của một hiện tượng trong thế giới

b Các tính chất của mối liên hệ

• Tính khách quan: Mọi mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là kháchquan, là vốn có của mọi sự vật hiện tượng Ngay cả những vật vô tri vô giáccũng đang ngày hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của các sự vật hiệntượng khác nhau (như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm…) tự nhiên, dù muốn haykhông, cũng luôn luôn bị tác động bởi các sự vật hiện tượng khác Đó là tínhkhách quan của mối liên hệ

• Ngoài ra, mối liên hệ vốn có tính phổ biến Tính phổ biến của mốiliên hệ thể hiện:

Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiệntượng khác, không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Trongthời đại ngày nàykhông có một quốc gia nào không có quan hệ, liên hệ vớicác quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội và ngay cả Việt Nam ta khitham gia tích cực vào các tổ chức như ASEAN, hay sắp tưói đây là WTOcũng không ngoài mục đích là quan hệ, liên hệ, giao lưu với nhiều nước trênthế giới

Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt cụ thểtuỳ theo điều kiện nhất định Song, dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ làbiểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất

c Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện

Trang 5

Từ nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến

và về sự phát triển rút ra phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạohiện thực Đó chính là quan điểm toàn diện

Vì bất cứ sự vật nào, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trongmối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật hiện tượng

ta phải xem xét nó thông qua các mối liên hệ của nó với sự vật khác hay nóicách khác chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diệnchỉ xét sự vật hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chấthay về tính qui luật của chúng

2 Nội dung của quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức sự vật trong mối liên

hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật đóvới các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉtrên cơ sở đó chúng ta mới có thể nhận thức đúng về sự vật

Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệttừng mối liên hệ, phải chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất,mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên… để hiểu rõ bản chất của sự vật

Quan điểm toàn diện không chỉ đòi hỏi chúng ta nắm bắt những cáihiện đạng tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển tươnglai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi

có tính chất thụt lùi Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi đểvạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật

3 Vai trò của quan điểm toàn diện trong hoạt động của con người

Nắm chắc quan điểm toàn diện xem xét sự vật hiện tượng từ nhiều khíacạnh, từ mối liên hệ của nó với sự vật hiện tượng từ nhiều khía cạnh từ mốiliên hệ với sự vật hiện tượng khác sẽ giúp con người có nhận thức sâu sắc,toàn diện về sự vật và hiện tượng đó tránh được quan điểm phiến diện về sựvật và hiện tượng chúng ta nghiên cứu Từ đó có thể kết luận về bản chất quiluật chung của chúng để đề ra những biện pháp kế hoạch có phương pháp tác

Trang 6

động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả coa nhất cho hoạt động của bản thân.Tuy nhiên, trong nhận thức và hành động chúng ta cần lưu ý tới sự chuyểnhoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ trong điều kiện xác định.

II Quan điểm toàn diện trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay

1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam những năm trước đổi mới

Sau khi đất nước được giải phóng (năm 1976) và đất nước thống nhấtnăm (1976) Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở miền Bắc được ápdụng trên phạm vi cả nước Mặc dù có nỗ lực rất lớn trong xây dựng và pháttriển kinh tế, Nhà nước đã đầu tư khá lớn nhưng vì trong chính sách có nhiềuđiểm duy ý chí nên trong 5 năm đầu (1976 - 1980) tốc độ tăng trưởng kinh tếchậm chạp chỉ đạt 0,4%/năm (kế hoạch là 13 - 14%/năm) thậm chí có xuhướng giảm sút và rơi vào khủng hoảng Biểu hiện ở các mặt

• Kinh tế tăng trưởng chậm, nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 nămlần thứ hai và ba không đạt được Tất cả 15 chỉ tiêu kế hoạch đặt ra cho năm

1976 - 1980 đều không đạt được, thậm chí tỉ lệ hoàn thành còn ở mức rấtthấp Chỉ có 7 chỉ tiêu đạt 50 - 80% so với kế hoạch (điện, cơ khí, khai hoang,lương thực, chăn nuôi lợn, than, nhà ở) còn 8 chỉ tiêu khác chỉ đạt 25 - 48%(trồng rừng, gỗ tròn, vải lụa, cá biẻn, giấy, xi măng, phân hoá học, thép)

• Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của nền kinh tế Quốc dân còn yếukém, thiếu đồng bộ, cũ nát, trình độ nói chung còn lạc hậu (phổ biến là trình

độ kỹ thuật của những năm 1960 trở về trước) lại chỉ phát huy được công suất

ở mức 50% là phổ biến công nghiệp nặng còn xa mới đáp ứng được nhu cầutối thiểu; công nghiệp nhẹ bị phụ thuộc 70 - 80% nguyên liệu nhập khẩu Do

đó đa bộ phận lao động vẫn là lao động thủ công, nền kinh tế chủ yếu là sảnxuất nhỏ Phân công lao động xã hội kém phát triển, năng suất lao động xã hộirất thấp

• Cơ cấu kinh tế chậm thay đổi, nền kinh tế bị mất cân đối nghiêmtrọng Sản xuất phát triển chậm, không tương xứng vưói sức lao động và vốnđầu tư bỏ ra Sản xuất không đủ tiêu dùng, làm không đủ ăn, phải dựa vào

Trang 7

nguồn bên nogài ngày càng lớn Toàn bộ qũy tích luỹ (rất nhỏ bé) và mộtphần quỹ tiêu dùng phải dựa vào nguồn nước ngoài (riêng lương thực phảinhập 5,6 triệu tấn trong thời gian 1976 - 1980 Năm 1985 nợ nước ngoài lêntới 8,5 tỉ Rup - USD cái hố ngăn cách giữa nhu cầuvà năng lực sản xuất ngàycàng sâu.

• Phân phối lưu thông bị rối ren Thị trường tài chính, tiền tệ không ổnđịnh Ngân sách Nhà nước liên tục bị bội chi và ngày càng lớn năm 1980 là18,1%, 1985 là 36,6% dẫn đến bội chi tiền mặt Năm 1976, trên phạm vi cảnước, lạm phát đã xuất hiện và ngày càng nghiêm trọng giá cả tăng nhanh.Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, do đó tiêu cực và bất công xã hộităng lên Trật tự xã hội bị giảm sút Những điều đó chứng tỏ trong giai đoạnnày nước ta bị khủng hoảng kinh tế chính trị, xã hội

Trước tình hình đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã khởi xướng lãnh đạothực hiện công cuộc đổi mới

2 Nội dung của đổi mới

Tại Đại hội Đảng VI (tháng 12 / 1986) đã xem lại một cách căn bản vềvấn đề cải tạo XHCN và đưa ra quan điểm về xây dựng nền kinh tế nhiềuthành phần và coi nó là nhiệm vụ cơ bản cho quá trình đổi mới toàn diện nềnkinh tế Vậy nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thực chất là nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN

2.1.Xây dựng nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan

Cơ sở khách quan cho sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở ViệtNam, gồm 3 cơ sở chính:

• Trong nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu đó là sở hữutoàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân (gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ,

sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tếđộc lập, lợi ích riêng nên quan hệ kinh tế hàng hoá giữa họ chỉ có thể thựchiện bằng quan hệ hàng hoá tiền tệ

Trang 8

• Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuấthàng hoá chẳng những không mất đi, mà trái lại còn được phát triển cả vềchiều rộng và chiều sâu Phân công lao động trong từng khu vực, từng địaphương cũng ngày càng phát triển sự phát triển của phân công lao động đượcthể hiện ở tính phong phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩmđưa ra trao đổi trên thị trường.

• Quan hệ hàng hoá, tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đốingoại đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc,

vĩ mô nước là một quốc gia riêng biệt, là người chủ sở hữu đối với các hànghoá đưa ra tra đổi trên thị trường thế giới Sự trao đổi ở đây phải theo nguyêntắc ngang giá

Mặt khác xây dựng kinh tế thị trường còn nhiều tác dụng to lớn đối vớinền kinh tế Việt Nam

+ Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kì quá độ lên CNXH mangnặng tính tự cung tự cấp, vì vậy sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ dầnkinh tế tự nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hoásản xuất Kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển Do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá, buộc mỗi chủ thểsản xuất phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới để giảm chi phí nhờ đó

có thể cạnh tranh về giá cả Quá trình đó thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển, nâng cao năng suất lao động xã hội

+ Kinh tế hàng hoá kích thích tính năng động sáng tạo của chủ thể kinh

tế kích thích việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã cũng như tăng khốilượng hàng hoá và dịch vụ Sự phát triển của kinh tế chuyên môn hoá sảnxuất Vì thế phát huy được tiềm năng và lợi thế của từng vùng, cũng như lợithế của đất nước có tác dụng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài

+ Sự phát triển của kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ vàtập trung sản xuất, do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn có xã hội hoácao; đồng thời chọn lọc được những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình

Trang 9

thành đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ lao động lành nghề đáp ứng vào nhucầu phát triển của đất nước.

Nói tóm lại, phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế với nước

ta, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước tathành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế Đó làcon đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quảtiềm năng của đất nước vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá

2.2 Giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

a Thực hiện nhất quá chính sách kinh tế nhiều thành phần

Đại hội VI đã xem xét lại một cách căn bản vấn đề cải tạo XHCN vàđưa ra quan điểm mới về nền kinh tế nhiều thành phần: "Đi đôi với việc pháttriển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích luỹ tập trungcủa Nhà nước và tranh thủ vốn nước ngoài cần có chính sách sử dụng và cảitạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác" (1)

Quan điểm của Đảng về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần và xuấtphát từ thực trạng kinh tế nền kinh tế Việt Nam Nó cho phép có nhiều hìnhthức sản xuất kinh doanh theo qui mô thích hợp với từng khâu của quá trìnhtái sản xuất và lưu thông nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phầnkinh tế Đảng coi đây là giải pháp có ý nghĩa chiến lược để giải phóng sức sảnxuất và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý

• Đổi mới doanh nghiệp Nhà nước

Là thành phần nắm giữ một khối lượng lớn tài sản cố định và vốn lưuđộng, với gần 3 triệu lao động tạo ra khoảng 35 - 40% tổng sản phẩm xã hội

và đóng góp trên 50% ngân sách Nhà nước Trong nhiều ngành công nghiệp,các xí nghiệp quốc doanh chiếm khoảng từ 70 - 100% sản lượng Tuy nhiêncác xí nghiệp quốc doanh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều cơ sở kinh doanh yếukém và không có hiệu quả thua lỗ hoặc không có lãi Vì vậy đổi mới các xínghiệp quốc doanh (sau này gọi là doanh nghiệp Nhà nước) là một trong

Trang 10

những nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới và được thực hiện từngbước với các biện pháp:

+ Từng bước mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp Nhà nước đi đôivới xoá bỏ chế độ Nhà nước bao cấp tài chính, cung ứng và bao cấp giá vật tư

và định giá đối với hầu hết các sản phẩm do DNNN sản xuất và tiêu thụ Chế

độ quốc doanh cũng được bãi bỏ thay vào đó là chế độ thuế

+ Sắp xếp lại DNNN theo hướng giải thể các doanh nghiệp hoạt độngkém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, sát nhập các doanh nghiệp có liên quan vớinhau về công nghệ và thị trường Tổ chức lại công ty và các liên hiệp côngnghiệp được thành lập trước đây thành lập các Tổng công ty mới, trong đóNhà nước bổ nhiệm Hội đồng quản trị để điều hành và chịu trách nhiệm trướcnhà nước về kết quả hoạt động của Tổng công ty

+ Chuyển sang các hình thức sở hữu khác, cổ phần hoá DNNN bắt đầuthực hiện thí điểm từ năm 1992, đến năm 1996 mới có 10 doanh nghiệp đựơc

cổ phần hoá.Từ năm 1998 đến năm đến nay Nhà nước đã thực hiện nhiều biệnpháp thúc đẩy nhanh hơn tiến trình cổ phần hoá, ngoài ra Nhà nước còn thựchiện nhiều biện pháp chuyển đổi DNNN sang các hình thức sở hữu và kinhdoanh khác như: giao, bán, khoán, kinh doanh đối với các doanh nghiệp quy

mô nhỏ

+ Sắp xếp đổi mới phát triển DNNN vẫn được nghiên cứu và tiếp tụcthực hiện theo hướng đa dạng hoá sở hữu, hoàn thiện thể chế làm cho DNNN

có quyền tự chủ và hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày một nâng cao Năm

2003, chính phủ bắt đầu thực hiện chuyển đổi DNNN, kể cả các tổng công tytheo mô hình công ty mẹ - công ty con

• Đổi mới kinh tế hợp tác

Kinh tế hợp tác chủ yếu dưới các hình thức: Tổ hợp tái tập đoàn sảnxuất, hợp tác xã được hình thành trong quá trình cải tạo XHCN đối với nhữngngười sản xuất nhỏ cá thể trong nông nghiệp thủ công nghiệp, thương nghiệp

và dịch vụ Trong kinh tế hợp tác sở hữu tập thể kiểu chung chung, không

Trang 11

phân định rõ trách nhiệm thêm vào đó là những yếu kém trong quản lý, nên

đã bộc lộ nhiều hạn chế đặc biệt mô hình hợp tác xã nông nghiệp đã rơi vàokhủng hoảng sâu sắc Nhiều hợp tác xã tồn tại trên hình thức Trong thời kỳđổi mới, kinh tế hợp tác chuyển theo các hướng sau:

+ Giải thể các tập đoàn sản xuất hoặc các hợp tác xã làm ăn kém, thua

lỗ kéo dài hoặc chỉ tồn tại trên hình thức

+ Giao khoán hoặc nhượng bán tư liệu sản xuất cho xã viên để họ trựctiếp quản lý, sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình Hợp tác xã chỉ làm một sốkhâu dịch vụ đầu vào hoặc tiêu thụ sản phẩm cho xã viên Đối với các đất đaitrong hợp tác xã nông, lâm nghiệp Nhà nước vẫn nắm quyền sở hữu nhưnggiao cho các hộ gia đình nông dân quản lý, sử dụng với 5 quyền cơ bản: Thừa

kế, cho thuê chuyển đổi, chuyển nhượng và thế chấp (theo luật đất đai banhành năm 1993)

+ Chuyển các hợp tác xã còn hoạt động kinh doanh thành các hợp tác

xã cổ phần, hoạt động theo luật hợp tác xã (ban hành năm 1997)

• Phát triển kinh tế cá thể, tư nhân và các loại hình sở hữu hỗn hợp.Trước khi đổi mới khu vực kinh tế tư nhân và cá thể vẫn còn tồn tại ởnước ta, chiếm tới 29,1% trong tổng sản phẩm xã hội Nhưng chủ trương củaNhà nước là hạn chế, cải tạo nên khu vực này từng bước được khôi phục vàphát triển theo chủ trương cải cách của Nhà nước

Với chủ trương giao ruộng đất cho xã hội hợp tác xã nông nghiệp thì ởnông thôn, các hộ gia đình đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủ hoàn toàn Sựtan rã của các tập đoàn sản xuất và các hợp tác xã đã thúc đẩy sự phục hồi rấtnhanh của kinh tế cá thể

Hiến pháp năm 1992 qui định mọi công dân được tự do kinh doanhtheo pháp luật không hạn chế qui mô vốn là số lao động sử dụng Sau đó hệthống luật pháp tiếp tục được hoàn chỉnh và nhiều chính sách mới được banhành nhằm khuýến khích phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể

Ngày đăng: 24/08/2020, 09:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w