Trong thời gian qua, tỉnh Cà Mau đã được biết đến như một địa phương cuối cùng cực nam Tổ quốc “Ai nghĩ đến Cà Mau cũng đều nghĩ đến nơi cuối cùng của Tổ quốc: Mũi Cà Mau, đến với điểm d
Trang 1-
DƯƠNG THANH THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
GIAI ĐOẠN 2020-2030
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
DƯƠNG THANH THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
GIAI ĐOẠN 2020-2030
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8340403 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HỮU LAM
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài “Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Cà
Mau giai đoạn 2020-2030” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được sự hướng dẫn
của TS Nguyễn Hữu Lam Các nội dung nghiên cứu, các số liệu thu thập và kết quả
trong Luận văn là hoàn toàn hợp pháp, trung thực Các tài liệu tham khảo có nguồn trích rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu
Cà Mau, ngày tháng năm 2019
Người thực hiện
Dương Thanh Thảo
Trang 4Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc tới TS
Nguyễn Hữu Lam, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề
tài Sự giúp đỡ tận tình, những lần góp ý bổ ích của Thầy đối với luận văn là động lực giúp tôi hoàn thành đề tài của mình
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến quý Thầy, Cô trong khoa Kinh tế Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, công chức tại Sở Văn Hóa Thể Thao Du Lịch tỉnh Cà Mau đã tận tình giúp đỡ, cung cấp số liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nỗ lực, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện Luận văn
Trang 5
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÓM TẮT
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.2.2 Nhiệm vụ: 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Cấu trúc luận văn 4
1.6 Ý nghĩa thực tiễn luận văn 4
CHƯƠNG 2 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỈNH CÀ MAU 5
2.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.1 Du lịch 5
2.1.2 Các hoạt động du lịch 7
2.1.3 Các loại hình du lịch 7
2.1.4 Quản lý nhà nước về du lịch 9
2.2 Phát triển du lịch bền vững 10
2.3 Nội dung chủ yếu về quản lý nhà nước về du lịch 11
Ngành du lịch Cà Mau trong hoạt động du lịch Đồng bằng sông Cửu Long 12
2.4 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về du lịch 13
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch 14
Trang 62.5.3 Các yếu tố về quản lý nhà nước về du lịch 17
2.6 Tổng quan các nghiên cứu trước 19
2.7 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước về du lịch ở một số tỉnh ĐBSCL 20
CHƯƠNG 3 24
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỈNH 24
CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 24
3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Cà Mau 24
3.1.1 Vị trí địa lý 24
3.1.2 Hiện trạng đất đai 25
3.1.3 Khí hậu 26
3.1.4 Dân số 26
3.1.5 Tài nguyên nước 28
3.1.6 Tài nguyên rừng 28
3.1.7 Cảnh quan thiên nhiên 29
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 30
3.2.1 Kinh tế 30
3.2.2 Xã hội 30
3.3 Tài nguyên du lịch tự nhiên 31
3.4 Tài nguyên du lịch văn hóa lịch sử 32
3.4.1 Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Cà Mau 33
3.4.2 Hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch 34
3.4.3 Xây dựng hình ảnh đến 35
3.4.4 Thông tin du lịch 36
3.4.5 Khách du lịch 36
3.4.6 Hoạt động tài chính 37
3.4.7 Hoạt động du lịch 37
3.5 Kết quả đạt được 39
3.6 Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau 41
3.6.2 Tổ chưc bộ máy quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Cà Mau 44
Trang 73.6.5 Quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch 47
3.7 Những hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau 50
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030 56
4.1 Dự báo phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau tầm nhìn 2030 56
4.2 Định hướng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau 57
4.3 Những giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau 57
4.3.1 Thực hiện tốt công tác quy hoạch, thu hút đầu tư phát triển du lịch theo hướng bền vững 57
4.3.2 Tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về phát triển du lịch 59
4.3.3 Chú trọng bảo vệ tôn tạo các điểm du lịch, cảnh quan, môi trường phục vụ phát triển du lịch bền vững 59
4.3.4 Xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch 60
4.3.5 Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá và hợp tác phát triển du lịch 60
4.3.6 Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển du lịch 61
4.3.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch 61
4.3.8 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng; quản lý, điều hành của chính quyền; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân 61
4.3.9 Kịp thời xử lý những hiện tượng trái pháp luật trong hoạt động kinh doanh du lịch 62
4.3.10 Khuyến khích, khen thưởng và nêu gương đối với các cá nhân tập thể có đóng góp tích cực trong hoạt động du lịch 63
4.4 Kết quả nghiên cứu 64
4.5 Đề xuất, kiến nghị 65
Trang 8UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9Hình 2.2 Sơ đồ hệ thống Quản lý nhà nước về du lịch ……… trang 18
Trang 10Bảng 3.1 Đơn vị hành chính phân cấp theo huyện, xã ……… trang 25 Bảng 3.2 Dân số trung bình phân theo giới tình và phân theo đô thị nông thôn
Giai đoạn 2010-2015 của tỉnh Cà Mau ……… trang 27 Bảng 3.3 Giá trị GDP các ngành kinh tế của Cà Mau trang 33 Bảng 3.4 Lượng khách du lịch đến Cà Mau giai đoạn 2010-2015 trang 37 Bảng 3.5 Chỉ tiêu doanh thu trang 37
Trang 11Quản lý nhà nước về du lịch, phát triển bền vững, tỉnh Cà Mau
Trang 12người dân, đóng góp ngày càng nhiều vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố ở Việt Nam Vì vậy, việc nâng cao vai trò quản lý của nhà nước đối với du lịch là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhiều địa phương trong cả nước
Trong thời gian qua, tỉnh Cà Mau đã được biết đến như một địa phương cuối cùng cực nam Tổ quốc “Ai nghĩ đến Cà Mau cũng đều nghĩ đến nơi cuối cùng của Tổ quốc: Mũi Cà Mau, đến với điểm du lịch Mũi Cà Mau, du khách được thăm cột mốc toạ độ quốc gia, ngắm rừng, ngắm biển, chiêm ngưỡng ráng chiều ẩn hiện trên vùng trời biển bao la”, điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài tỉnh, với đặc thù về tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan môi trường sinh thái và những ưu đãi khác
do thiên nhiên ban tặng cho Cà Mau, nhưng hiện nay ngành Du lịch vẫn chưa thực sự phát huy lợi thế này
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đề ra những giải pháp thiết thực để nâng cao vai trò quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch tỉnh Cà Mau phát triển bền vững, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau là yêu cầu cần thiết
Trang 13The tourism industry plays an important role in creating jobs, increasing incomes for people, contributing more and more to the economic growth and development of many provinces and cities in Vietnam Therefore, improving the state management role for tourism is one of the top priorities in the socio-economic development strategy of many localities in the country
In recent years, Ca Mau province has been known as a locality at the southernmost end of the country “Anyone who thinks of Ca Mau thinks about the last place of the Fatherland: Mui Ca Mau, coming to Mui Ca Mau tourist destination”, visitors are visiting the national landmark, watching the forest, watching the sea, admiring the ambition hidden in the vast sea sky”, tourist attractions for tourists inside and outside the province, with particularity on natural resources, landscape of ecological environment and other incentives given to Ca Mau by nature, but now the tourism industry has not really promoted this advantage
Therefore, studying the situation and proposing practical solutions to improve the state management role in order to promote the development of Ca Mau tourism industry to develop sustainably, really become a nasal economic sector At the same time, contributing to speeding up the socio-economic development of Ca Mau province is a necessary requirement
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của du lịch Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch luôn được chú trọng, không ngừng đổi mới và hoàn thiện để phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước trong thời kì hội nhập quốc tế Ngành du lịch đóng góp rất nhiều cho sự tăng trưởng và phát triển của các quốc gia Ngành du lịch góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan như giao thông vận tải, các ngành nghề dịch
vụ ăn uống, giải trí, thương mại và một số ngành nghề khác Bên cạnh đó du lịch góp phần giải quyết vấn đề việc làm, tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động và giải quyết các vấn đề xã hội Ngoài ra ngành du lịch còn góp phần thúc đẩy hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa, điều hòa nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa… Trong những năm qua ngành du lịch Việt Nam đã đóng góp rất nhiều cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là những địa phương có lợi thế và xem du lịch là ngành kinh tế quan trọng như Cà Mau
Cà Mau là tỉnh ven biển ở cực Nam của Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có ba mặt giáp biển, với 254km bờ biển, và hệ thống rừng ngập mặn tạo thành lá phổi xanh cho thành phố Cà Mau Qua nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, đến ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Cà Mau được tái lập theo Nghị Quyết khóa IX, kỳ họp thứ 10 ngày 06 tháng 11 năm 1996 về việc điều chỉnh địa giới hành chính, chia tách tỉnh Minh Hải thành tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu Biển Cà Mau tiếp giáp với vùng biển Thái Lan, Malaysia, Indonesia và là trung tâm của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á Với vị trí địa lý đặc biệt và điều kiện thiên nhiên thuận lợi, Cà Mau đã, đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
Du lịch của vùng và quốc gia Trong đó Khu du lịch quốc gia Mũi Cà Mau được xác định trở thành trung tâm giao thương quốc tế, du lịch quốc gia với sản phẩm chất lượng cao của cả khu vực Nam Bộ và hạ lưu sông Mê Kông
Trang 15Thiên nhiên đã ban tặng cho mảnh đất này nhiều cảnh quan đẹp, độc đáo: Cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối; bãi biển Khai Long, Vườn Quốc gia Mũi
Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ… đang thu hút nhiều du khách đến tham quan
Du lịch Cà Mau đã và đang đóng góp một vai trò khá quan trọng trong ngành
du lịch kinh tế trọng điểm Đồng Bằng Sông Cửu Long, không chỉ thu hút được lượng khách du lịch trong và ngoài tỉnh đồng thời mang lại nguồn thu tương đối lớn cho nguồn ngân sách của tỉnh nói riêng và Việt Nam nói chung Sự phát triển của du lịch tỉnh Cà Mau đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của du lịch Việt Nam nói chung và kinh tế xã hội của tỉnh Cà Mau nói riêng Tuy nhiên, vấn đề quản lý nhà nước đối với ngành du lịch hiệu quả còn thấp, nhất là việc quản lý các dịch vụ, các cơ
sở du lịch Để phát huy hết tiềm năng và lợi thế du lịch hiện có của tỉnh, Cà Mau đang tiếp tục xây dựng lộ trình, bước đi thích hợp trên cơ sở khảo sát điều tra, quy hoạch tổng thể để phát triển ngắn và dài hạn có mục tiêu rõ ràng, hình thành các giải pháp chiến lược cụ thể, khả thi đảm bảo lý luận thực tiễn, đồng bộ góp phần phát triển ngành Du lịch trong giai đoạn hiện nay Do đó, Ngành Du lịch cần chủ động thúc đẩy xúc tiến du lịch và nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, đẩy mạnh quảng bá hình ảnh, tiềm năng của đất và người Cà Mau Để từ đó, định hướng cho sự phát triển về mọi mặt của ngành du lịch, đem lại lợi nhuận ngày càng nhiều cho nền kinh tế toàn tỉnh
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về
du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2020 - 2030” làm luận văn tốt nghiệp
thạc sỹ chuyên ngành Quản lý Công nhằm góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng vấn đề quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Cà Mau để tìm ra các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả đối với du lịch trên địa bàn tỉnh Qua đó thúc đẩy ngành du lịch phát triển nhanh, hiệu quả, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Cà Mau
1.2.2 Nhiệm vụ:
Trang 16Nghiên cứu những lý luận chung về du lịch và quản lý nhà nước về du lịchPhân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh, nêu lên những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế
Đề xuất các chiến lược, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn về vấn đề quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Nghiên cứu về quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau Thời gian: Nghiên cứu về vấn đề quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Cà Mau từ năm 2010-2015, định hướng quản lý nhà nước giai đoạn 2020-2030
Nội dung: Các nội dung liên quan về quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu
Đây là phương pháp quan trọng được sử dụng để hoàn thiện luận văn này Phương pháp được vận dụng một cách linh hoạt để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ, chính xác nhất về chiến lược phát triển du lịch tỉnh Cà Mau: nội dung chính sách, kết quả thực hiện chính sách trong những năm qua, các bài học, kinh nghiệm phát triển du lịch địa phương, tỉnh lân cận
- Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê: Từ những thông tin, tài liệu đã thu thập cần được thống
kê lại một cách đầy đủ, khoa học để có thể nghiên cứu, phân tích các tài liệu dễ dàng hơn, trình bày một cách dễ hiểu, đặc biệt các thông tin liên quan đến con số như: số lượng khách du lịch đến Cà Mau, doanh thu từ du lịch, số lượng nhân lực phục vụ du lịch trong giai đoạn 2015-2020,
- Phương pháp phân tích tài liệu, số liệu
Phương pháp được áp dụng nhằm hiểu rõ được nội dung của chiến lược phát
Trang 17triển du lịch của tỉnh Cà Mau, cũng như làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và cách khắc phục để hoàn thiện chiến lược thì phương pháp phân tích tài liệu, số liệu là không thể thiếu
- Phương pháp khảo sát thực tiễn
Phương pháp khảo sát từ thực tế địa phương về các loại hình du lịch, thực tế tình hình du lịch tỉnh Cà Mau có những điểm mạnh yếu để đưa ra định hướng, kiến nghị đề xuất chiến lược quản lý phù hợp trong giai đoạn 2020-2030
- Phương pháp phân tích SWOT
Là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và quyết định thông qua việc phân tích điểm mạnh (strengths), điểm yếu (weaknesses) bên trong và cơ hội (Opportunities), thách thức (Threats) bên ngoài đối tượng nghiên cứu SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng phát triển của ngành quản lí du lịch để lựa chọn các chiến lược quản lí và phát triển tiềm năng kinh tế du lịch phù hợp với địa phương tỉnh Cà Mau
1.5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 4 chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về du lịch và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010-2015 Chương 4: Kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau đến năm 2020, tầm nhìn 2030
1.6 Ý nghĩa thực tiễn luận văn
Ý nghĩa lý luận: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về
du lịch đối với tỉnh Cà Mau
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau Từ đó đưa ra được những việc đã làm được và chưa làm được, tìm ra nguyên nhân của vấn đề
Đề xuất những giải pháp mới nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh, phù hợp với tình hình phát triển của tỉnh
Trang 18CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỈNH CÀ MAU 2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Du lịch
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm thậm chí hàng ngàn nghiên cứu lớn, nhỏ về
du lịch và phát triển du lịch Bởi thế, việc xác định một định nghĩa chung nhất về du lịch là điều vô cùng khó khăn Mỗi học giả, mỗi tổ chức du lịch dựa trên quan điểm đánh giá, nhìn nhận, nghiên cứu của mình đã đưa ra những cách định nghĩa về du lịch rất khác nhau
Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) năm 1995 đưa ra thuật ngữ: “Du lịch là
các hoạt động của con người liên quan đến việc dịch chuyển tạm thời của con người đến một điểm đến nào đó bên ngoài nơi mà họ sống và làm việc thường xuyên cho mục đích giải trí, và các mục đích khác
Từ điển bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa du lịch ở hai khía cạnh:
Thứ nhất: du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con
người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật
Thứ hai: du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều
mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ
Theo định nghĩa trên, du lịch được hiểu theo cả hai khía cạnh: đi du lịch (của
du khách) và làm du lịch (của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân kinh
doanh du lịch) Trong định nghĩa này có "hình ảnh" của kinh tế du lịch
Luật Du lịch 2017 có đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian
Trang 19không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”
Định nghĩa của Luật Du lịch có quan điểm tương đồng với định nghĩa của UNWTO - tức chỉ bàn đến hoạt động của khách du lịch, không bàn đến hoạt động
Như vậy, qua các định nghĩa về du lịch được trích dẫn và phân tích trên, thật khó để có thể xác định định nghĩa nào là chính xác nhất Nghiên cứu đề tài dưới gốc
độ quản lí công, trong khuôn khổ luận văn này tác giả sẽ nghiên cứu khái niệm du lịch
theo Luật Du lịch 2017: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của
con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”
Từ những khái niệm trên, có thể rút ra những luận điểm cơ bản về du lịch như sau:
- Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên;
- Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn;
- Mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập nơi đến viếng thăm
- Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch
vụ du lịch, chính quyền địa phương và cư dân ở địa phương
Trang 202.1.2 Các hoạt động du lịch
Luật Du lịch năm 2005 đưa ra khái niệm về hoạt động du lịch như sau: “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch”
Với cách tiếp cận như vậy, hoạt động du lịch được nhìn nhận dưới 3 khía cạnh: Thứ nhất, hoạt động của khách du lịch nghĩa là việc di chuyển và lưu trú tạm thời của người du lịch đến một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ để tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa và nghệ thuật
Thứ hai, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch là những người hoạt động tổ chức lưu trú, phục vụ ăn uống, hướng dẫn tham quan, vận chuyển đưa đón khách du khách, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ khác nhằm mục tiêu lợi nhuận
Thứ ba, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tức là cơ quan nhà nước và các tổ chức có liên quan tại địa phương du lịch tổ chức quản lý, điều phối, phục vụ hoạt động của khách du lịch và tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh du lịch nhằm đảm bảo cho các đối tượng này thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia hoạt động du lịch theo đúng luật định
Như vậy, hoạt động du lịch ở đây được tiếp cận bao gồm các dịch vụ trực tiếp
và gián tiếp cho du lịch Ở một chừng mực nhất định, hoạt động du lịch có thể được coi là đồng nghĩa với khái niệm ngành du lịch
Trang 21- Căn cứ vào mục đích chuyến đi:
Du lịch tham quan văn hóa – lịch sử:
“Du lịch địa lý, văn hóa lịch sử là loại hình du lịch mà khách muốn cảm nhận
về thực tế địa lý, bề dày văn hóa lịch sử của một quốc gia, tỉnh, vùng, địa phương thông qua các di tích văn hóa lịch sử, phong tục tạp hóa còn hiện diện”
Cà Mau đặc trưng có các khu di tích lịch sử như di tích Bác Ba Phi; Điểm du lịch, di tích Hòn Đá Bạc, các di tích lịch sử tại Trung tâm Thành phố Cà Mau phục vụ dịch vụ, Lễ hội Nghênh Ông Sông Đốc…
Du lịch nghỉ dưỡng:
Du lịch được coi như một phương tiện nhằm tái hồi sức lao động của con người sau những ngày tháng lao động vất vả Loại hình du lịch nghỉ dưỡng được phân ra thành ba loại khác nhau theo tiêu thức địa lý, đó là: Du lịch nghỉ dưỡng ven biển và đảo; du lịch nghỉ dưỡng ở vùng núi và du lịch nghỉ dưỡng ở vùng nước khoáng
Du lịch thể thao:
Loại hình du lịch này gồm hai nhóm, đó là du lịch thể thao dành cho các vận động viên thi đấu và khách du lịch đi xem các sự kiện thi đấu thể thao Đối với loại thứ nhất, du lịch phục vụ các đoàn vận động viên đi thi đấu trong các giải thế giới, khu vực hoặc đi tập huấn kết hợp với tham quan du lịch Loại thứ hai là các cổ động viên, khán giả đi xem các cuộc thi đấu thể thao kết hợp với tham quan du lịch
Du lịch sinh thái:
Theo định nghĩa của Việt Nam (Luật Du lịch, 2005):
“Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn liền với bản sắc văn hóa địa phương và sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững ngành Du lịch”
Cà Mau có các khu du lịch sinh thái đặc trưng như: Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia U Minh Hạ; Khu du lịch Sông Trẹm; Khu du lịch vườn quốc gia Đất Mũi; Khu du lịch Khai Long…
Trang 22Nhìn chung, Du lịch sinh thái được hiểu một cách đầy đủ là loại hình du lịch chỉ dựa vào tự nhiên và văn hóa bản địa Sản phẩm, tài nguyên trước hết là thiên nhiên, không có thiên nhiên sẽ không có Du lịch sinh thái Các hoạt động du lịch hướng tới nâng tầm nhận thức của con người sống thân thiện với thiên nhiên; khám phá, hưởng thụ và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển du lịch
2.1.4 Quản lý nhà nước về du lịch
Hoạt động du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi có sự quản lý của Nhà nước để duy trì và phát triển Việc thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào khung pháp lý
và những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước Quản
lý nhà nước về du lịch là một lĩnh vực của quản lý nhà nước (QLNN), là hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước nhằm quản lý vi mô các hoạt động du lịch thông qua hệ thống các chính sách, chương trình, văn bản quy phạm pháp luật các văn bản chỉ đạo, điều hành về lĩnh vực du lịch nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực
du lịch
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp từ những quan điểm khác nhau về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch, có thể đưa ra định nghĩa tổng quát như sau: “Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước (qua hệ thống pháp luật) đối với các quá trình, hoạt động du lịch của con người
để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và quốc tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội đặt ra” Quản lý nhà nước về du lịch nhằm đưa du lịch phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển đất nước và theo quy định của pháp luật Ở Việt Nam, cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về lĩnh vực du lịch trong phạm vi cả nước là Tổng cục Du lịch Tổng cục Du lịch thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về du lịch trong phạm vi cả nước, quản lý các dịch vụ công về du lịch theo quy định của pháp luật
Trang 23Khái quát hóa sơ đồ quản lý như hình 2.1
Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống quản lý
2.2 Phát triển du lịch bền vững
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra rằng: Bí quyết để phát triển du lịch bền vững là Nhà nước phải dành ưu tiên trước hết cho công tác quy hoạch phát triển hơn là ưu tiên cho khu vực tư nhân và lấy nó làm động lực cho sự phát triển Trong sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động du lịch: chính quyền địa phương, doanh nghiệp, khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương, giới truyền thông và giới chuyên gia thì vai trò quản lý nhà nước của chính quyền địa phương sẽ giúp xây dựng khuôn khổ để phát triển du lịch bền vững
Bên cạnh đó, ngành du lịch có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, do
đó luôn đòi hỏi cần có sự quản lý của nhà nước để duy trì và phát triển Việc thành công hay thất bại của ngành du lịch phụ thuộc vào khung khổ pháp lý và những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước Do vậy, vấn đề quản
lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững trở nên cấp thiết
Quản lý nhà nước về du lịch là quá trình thực hiện và phối hợp các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động du lịch trên thị trường trong
Chủ thể quản lý
Mục tiêu quản lý
Đối tượng quản lý
Nguyên tắc
Phương pháp
Công cụ
Trang 24sự tác động của hệ thống quản lý đến hệ thống được quản lý nhằm đạt mục tiêu thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý
2.3 Nội dung chủ yếu về quản lý nhà nước về du lịch
Nội dung quản lý nhà nước về du lịch theo Luật Du lịch (Điều 10) bao gồm:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch;
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động du lịch;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch;
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu
- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch;
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
du lịch
- Quản lý nhà nước đối với du lịch theo hướng phát triển bền vững là nhằm tạo
ra sự thống nhất trong tổ chức và phối hợp các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh tế du lịch Đồng thời, chỉ có sự quản lý thống nhất của nhà nước đối với phát triển du lịch mới giúp việc khai thác các thế mạnh của từng địa phương đạt kết quả và phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong xu thế phát triển du lịch toàn cầu hiện nay
Trang 25Ngành du lịch Cà Mau trong hoạt động du lịch Đồng bằng sông Cửu Long
Cà Mau là một trong những trọng điểm phát triển du lịch của vùng, là trung tâm của cụm du lịch bán đảo Cà Mau với các sản phẩm chính là du lịch sinh thái và tham quan Đất Mũi, điều này được xác định tại Quyết định số 803/QĐ-BVHTTDL ngày 09/3/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt “Đề án phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020” Các Nghị quyết của Bộ Chính trị, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch tỉnh Cà Mau đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; các quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và định hướng đến 2030; phê duyệt Chương trình phát triển bền vững tỉnh Cà Mau giai đoạn 2009-2015 và tầm nhìn đến năm 2020, chỉ ra những loại hình du lịch khai thác phát triển chủ yếu bao gồm du lịch tham quan cảnh quan tự nhiên; du lịch văn hóa lễ hội gắn với các di tích lịch sử văn hóa, các đặc trưng văn hóa của cư dân miền biển Cà Mau; du lịch “về nguồn”: đến với Mũi Cà Mau - điểm cực Nam của Tổ quốc Bên cạnh những sản phẩm truyền thống, sản phẩm du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng được tổ chức gần đây cũng tạo thêm nhiều lựa chọn cho du khách, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch Cà Mau
Sự phát triển của du lịch Cà Mau có tác động lớn tới phát triển du lịch của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long và ngược lại du lịch Cà Mau sẽ chịu những tác động trực tiếp từ hoạt động du lịch của cả vùng Du lịch nội địa là thế mạnh đặc biệt của Cà Mau, với thế mạnh Đất Mũi Tỷ lệ lượng khách đến Cà Mau năm 2017 chiếm trên 6% lượng khách của toàn vùng
Việc hình thành vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long với các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, An Giang và thành phố Cần Thơ khẳng định vị trí quan trọng của Cà Mau với cả vùng Với Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 19/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020; Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm này xác định đây là trung tâm dịch vụ, du lịch lớn của cả nước với tỷ trọng khối
Trang 26dịch vụ lên tới 45% vào năm 2020 Đặc biệt, là Quyết định số 744/QĐ-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mũi Cà Mau, tỉnh Cà Mau đến năm 2030
Với những vị trí như trên, du lịch Cà Mau có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, có đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển chung của vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như du lịch cả nước
2.4 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về du lịch
Nhà nước định hướng sự phát triển của du lịch bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của hoạt động du lịch
và ngành du lịch Cụ thể là nhà nước không buông lỏng hay thả nối công tác quy hoạch, kế hoạch nhưng phải đổi mới công tác đó cho phù hợp với yêu cầu xã hội, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Cần phát huy tối đa mọi lợi thế về du lịch và các hoạt động phục vụ du lịch của quốc gia, vùng
và địa phương Thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội nói chung
và của ngành du lịch nói riêng Thông qua các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành du lịch, nhà nước sẽ định hướng cho các hoạt động du lịch phát triển theo hướng tích cực với việc khai thác hiệu quả và bền vững các tài nguyên du lịch, nhất là tài nguyên du lịch tự nhiên và lịch sử
Sự quản lý của nhà nước sẽ giúp cho các chủ thể kinh doanh du lịch hoạt động trong khuôn khổ cho phép, xóa bỏ dần các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thiếu văn minh, hoặc đơn thuần chỉ chạy theo lợi nhuận mà phá hoại môi trường sinh thái, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội Cơ quan quản lý nhà nước không chỉ đơn thuần là kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp mà còn có vai trò quan trọng trong việc giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp được phát triển hoạt động kinh doanh của mình
Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu buông lỏng quản lý nhà nước để tự nó phát triển, hoạt động du lịch sẽ bị chệch hướng, thị trường
bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, không đảm bảo phát triển du
Trang 27lịch bền vững Như vậy, quản lý nhà nước về du lịch là việc làm không thể thiếu và thực sự rất cần thiết đối vợi sự phát triển của đất nước nói chung và sự phát triển của ngành du lịch nói riêng
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch
2.5.1 Yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa phương
có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành các điểm đến du lịch và tính bền vững của các sản phẩm du lịch Thực tiễn cho thấy, một quốc gia, một vùng, một địa phương nếu có nhiều cảnh đẹp tự nhiên, có khí hậu ấm áp, có rừng, biển, động vật, thực vật phong phú, hệ thống giao thông thuận lợi thì ở nơi đó chắc chắn sẽ có sức hấp dẫn lớn thu hút khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu Đồng thời, nơi đó cũng
sẽ có khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhiều loại hình du lịch với các đối tượng khác nhau góp phần thúc đẩy mạnh du lịch phát triển
Cà Mau là tỉnh nằm tận cùng phía Nam Việt Nam trong khoảng từ 8o34’ đến
9o33’ vĩ độ Bắc và 104o43’ đến 105o25’ kinh độ Đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 370km về phía Nam Tỉnh Cà Mau có ba mặt tiếp giáp với biển: phía Đông giáp biển Đông, phía Nam và phía Tây giáp vịnh Thái Lan Phía Bắc Cà Mau giáp hai tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang
Lãnh thổ gồm 02 phần: đất liền và vùng biển chủ quyền Diện tích đất liền hơn 5.294km2, chiếm 12,97% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam do tỉnh Cà Mau quản lý có diện tích 71.000 km2 Trong đó, có đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối và Hòn Đá Bạc Cà Mau nằm ở khu vực trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á, có điều kiện thuận lợi trong giao lưu hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực Tỉnh Cà Mau cũng nằm trong hành lang kinh tế phía Nam của chương trình hợp tác Tiểu vùng Sông Mêkông mở rộng, đây là điều kiện thuận lợi góp phần phát triển kinh tế xã hội, trong đó khả năng mở rộng và kết nối khai thác du lịch là rất lớn
Trang 28Cà Mau có vị trí nằm ở rìa giáp biển của đồng bằng sông Cửu Long, là vùng đất mới, bằng phẳng và thấp so với mực nước biển (trung bình chỉ cao từ 0,5 đến 1,5m so với mặt biển) Hướng địa hình nghiêng dần từ bắc xuống nam, từ đông bắc xuống tây nam Phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh bị ngập nước vào mùa mưa, trong
đó một số diện tích đất đai khá lớn thường xuyên bị ngập nước Ngoài đất ngập mặn, đất phèn và than bùn, Cà Mau có diện tích lớn đất bãi bồi màu mỡ, có giá trị cao đối với việc phát triển các vườn cây ăn trái phục vụ phát triển du lịch miệt vườn Do có độ cao trung bình thấp, Cà Mau là một trong những địa phương được dự báo là chịu tác động nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng
Do chịu ảnh hưởng của vị trí địa lý, Cà Mau có khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt trung bình hàng năm cao Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh vào khoảng 26,5oC, ở mức trung bình so với toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long
Cùng chung đặc điểm của miền khí hậu phía Nam, Cà Mau có khí hậu phân thành hai mùa mưa, khô rõ rệt Hàng năm, mùa mưa kéo dài khoảng 7 tháng từ tháng
5 đến tháng 11 và mùa khô kéo dài 5 tháng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Tổng lượng mưa năm ở đây đạt xấp xỉ 2.400mm và rơi chủ yếu vào thời gian mùa mưa (chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm) Trung bình trên địa bàn tỉnh có khoảng 165 ngày mưa/năm Độ ẩm tương đối trung bình năm thường đạt 85,6% với cực tiểu rơi vào tháng 3 hàng năm (đạt xấp xỉ 80%)
Chế độ gió cũng mang tính mùa rõ rệt Mùa khô hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc và Đông với vận tốc trung bình 1,6m-2,8m/s Mùa mưa hướng gió thịnh hành là hướng Tây Nam hoặc Tây với vận tốc trung bình 1,8-4,5m/s Cà Mau nằm trong khu vực ít chịu ảnh hưởng của bão nhưng thỉnh thoảng cũng có giông, lốc xoáy
Như vậy, vị trí địa lý thuận lợi cũng như điều kiện về thời tiết và khí hậu là một thuận lợi lớn cho Cà Mau phát triển du lịch, có thể khai thác hầu hết các thời điểm trong năm
2.5.2 Các yếu tố về điều kiện kinh tế xã hội
Trang 29Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu, làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Thực tế cho thấy
ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển, nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi du lịch còn rất hạn chế Ngược lại, nhu cầu nghỉ ngơi du lịch ở các nước kinh tế phát triển rất đa dạng Nhưng sự phát triển của kinh tế kéo theo nhu cầu về sự nghỉ ngơi cũng tăng theo và ngược lại, Du lịch càng phát triển thì điều kiện kinh tế xã hội cũng được tăng
lên
- Dân cư và lao động
Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội, cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Số lượng lao động và học sinh tăng lên sẽ làm gia tăng nhu cầu tham gia vào các loại hình du lịch khác nhau Số lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của kinh
tế du lịch Số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, cấu trúc, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch
Con người giữ vai trò then chốt trong tất cả các hoạt động và ngành du lịch cũng không ngoại lệ Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến phát triển du lịch Nguồn nhân lực du lịch gián tiếp và tự phát tại tỉnh Cà Mau chiếm gần 70%, hầu hết
là không chuyên nghiệp, khiến du khách phiền lòng về cung cách phục vụ, hiện tượng chèo kéo và bán hàng giá cao tại các điểm tham quan đến nay vẫn còn
Số lượng lao động và cơ cấu đào tạo của đội ngũ lao động trong du lịch có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của dịch vụ du lịch Lao động trong du lịch bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp là số lao động làm việc trong các công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ khác Lao động gián tiếp tham gia vào các hoạt động có liên quan đến hoạt động du lịch Trên địa bàn tỉnh
Cà Mau, tỷ lệ giữa lao động trực tiếp và lao động gián tiếp trong lĩnh vực du lịch là 1/2,2 Trong khách sạn, số lao động bình quân trên một phòng càng cao, chứng tỏ hệ thống các dịch vụ bổ sung càng hoàn chỉnh Đối với khách sạn hiện đại, đầy đủ các dịch vụ tỷ lệ này có thể lên tới 2 - 2,2 người/phòng
Trang 30- Điều kiện sống của dân cư
Điều kiện sống của dân cư là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hóa, giáo dục Không có mức thu nhập (cả cá nhân và xã hội) cao thì khó có thể nghĩ đến việc nghỉ ngơi du lịch Nhìn chung, ở những nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập bình quân theo đầu người cao, thì nhu cầu về hoạt động du lịch trên thực tế phát triển càng mạnh mẽ
Thực trạng chung của đội ngũ lao động ngành du lịch Cà Mau trong những năm qua là số người đã qua đào tạo chiếm số lượng rất thấp, chiếm tỉ lệ dưới 15%, trong đó số người được đào tạo từ đại học trở lên chiếm tỉ lệ chưa đến 10% Đại đa số
là lao động phổ thông chưa qua đào tạo (chiếm khoảng trên 80%), trong số đó có một
số ít được hướng dẫn, tập huấn thực hành một số dịch vụ, kỹ năng, nghiệp vụ phục vụ
du lịch (chiếm khoảng trên 20%) Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, số người được đào tạo tập huấn trong lĩnh vực du lịch có tăng lên, do các địa phương bắt đầu có sự quan tâm phát triển nguồn nhân lực du lịch
2.5.3 Các yếu tố về quản lý nhà nước về du lịch
Quá trình phát triển du lịch chịu sự tác động của quy luật khách quan trong nền sản xuất xã hội Tuy nhiên, các hoạt động du lịch không thể thiếu sự quản lý của nhà nước Nhà nước là chủ thể đặc biệt trong các mối quan hệ xã hội, đảm bảo cho các quan hệ xã hội được thực hiện theo định hướng Để đảm bảo cho việc tìm kiếm, hưởng thụ, bảo vệ và tái tạo những tài nguyên du lịch, nhà nước phải điều phối các thành viên, các nhóm xã hội khác nhau để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia các hoạt động liên quan đến du lịch
Cán bộ chuyên trách khu vực liên kết chặt chẽ khu vực tư nhân và mô hình hợp tác, khuyến khích sự tham gia của các đoàn thể chính trị, xã hội các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch
Trang 31Nâng cao năng lực giám sát các dự án đầu tư nhằm giữ gìn, bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, di tích lịch sử văn hóa, đảm bảo phát triển các dự án du lịch không làm mất đi các giá trị văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, ô nhiễm môi trường
Như vậy, bộ máy tổ chức, cơ chế hoạt động và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch Thực tiễn cho thấy, nếu một quốc gia, một vùng, một địa phương nào đó xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý có chuyên môn nghiệp vụ về du lịch, có trình độ ngoại ngữ tốt, am hiểu luật pháp về du lịch, sử dụng thành thạo các thiết bị thông tin, điện tử cộng với tổ chức
bộ máy quản lý nhà nước thống nhất, đồng bộ thì sẽ thúc đẩy du lịch phát triển nhanh Ngược lại, sẽ làm cho du lịch chậm phát triển, thậm chí không phát triển và sử dụng lãng phí tài nguyên du lịch
Các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau UBND Phường, Xã
Trang 32Các tiêu chí về quản lý nhà nước:
Nội dung quản lý nhà nước về du lịch theo Luật Du lịch (Điều 10) bao gồm: (1) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch; (2) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động du lịch; (3) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch; (4) Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ; (5)
tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch; (6) Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch, hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài; (7) Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch; (8) Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch; (9) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch
2.6 Tổng quan các nghiên cứu trước
Hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến khái niệm phát triển du lịch bền vững và quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững Cụ thể như:
Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài có Martin Oppermann và Kye Sung
Chon (1997) với nghiên cứu “Tourism in Developing Countries” (Du lịch ở các nước
đang phát triển)
Medlik (1995) với nghiên cứu “Managing Tourism” (Quản lý Du lịch) Nghiên cứu tập trung vào những nội dung chính sau: “Tương lai – Phân tích – Kế hoạch” Và một số lý thuyết như: “Lý thuyết phân bổ doanh nghiệp trong phát triển lãnh thổ” của Schoon (1990); Peroux (1994) với “Lý thuyết cực phát triển”; “Lý thuyết điểm trung
tâm” của Christaller (1993)… các lý thuyết này đều đánh giá vai trò quan trọng của
chính quyền địa phương cho phát triển kinh tế nói chung…
Trang 33Công trình trong nước tiêu biểu có Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước (2000) của ông Phạm Trung Lương “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam”
Tác giả Nguyễn Đình Hoè (2001) với cuốn sách “Du lịch bền vững”, tác giả Trịnh Đăng Thanh với Luận án tiến sĩ (2004) “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay”; tác giả Nguyễn Mạnh Cường với Luận
án tiến sĩ (2015) “Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình”…
Dưới góc độ nghiên cứu và tư duy của từng tác giả, quan niệm về du lịch bền vững cũng như quản lý nhà nước về du lịch được diễn giải khá đa dạng
2.7 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước về du lịch ở một số tỉnh ĐBSCL
Du lịch biển tỉnh Kiên Giang:
Là một tỉnh được biết đến với ngành thể loại du lịch biển, nổi tiếng ở khu vực ĐBSCL, qua danh lam thắng cảnh là đảo Phú Quốc và hòn Phụ Tử Kiên Giang có trung tâm là thành phố Rạch Giá - là thành phố biển ở miệt sông nước, kế đến là địa danh Hà Tiên Ngoài ra, Kiên Giang có nền văn hóa phong phú, thể hiện qua các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, các làng nghề đậm chất truyền thống như làm hàng thủ công
mỹ nghệ bằng đồi mồi, nhiều lễ hội được tổ chức hàng năm
Du lịch Kiên Giang có sự phát triển đáng khíc lệ tính từ năm 2013 - 2017, Kiên Giang đã đón khoảng 20,4 triệu lượt khách, trong đó có 1,1 triệu khách quốc tế, tăng trưởng bình quân hàng năm là 12,2%; doanh thu du lịch đạt 8.525 tỷ đồng
(Nguồn: niên giám thống kế tỉnh Kiên Giang)
Sự phát triển đó có được là có sự đóng góp to lớn của việc tăng cường công tác QLNN về du lịch cụ thể:
Thứ nhất, việc nắm bắt được thời cơ để có những định hướng phát triển du lịch
cho phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh; triển khai tốt pháp luật và các chính sách
du lịch nhằm tạo môi trường hợp lý, kinh tế, xã hội và kết cấu hạ tầng phát triển du lịch ở địa phương
Trang 34Thứ hai, Kiên Giang đã và đang phát triển đồng bộ chính sách, đặc biệt là
chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào việc khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch địa phương
Thứ ba, chú trọng đầu tư và bảo tồn các di tích - văn hóa lịch sử, công trình văn
hóa, thể thao tạo điểm ấn tượng để phục vụ khách đến tham quan, nghỉ dưỡng
Thứ tư, kiểm tra giám sát thường xuyên việc thực hiện kế hoạch quản lý và có
điều chỉnh kịp thời
Du lịch thành phố Cần Thơ:
- Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương (TTTU), du lịch thành phố Cần
Thơ đã phát triển khá nhanh, chính quyền thành phố có nhiều biện pháp thúc đẩy du lịch, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý du lịch, tạo điều kiện để các chủ thể kinh doanh du lịch Nhờ đó, hoạt động du lịch, doanh thu, các sản phẩm du lịch ngày càng
đa dạng Năm 2017, lượng du khách đến Cần Thơ trên 7.5 triệu lượt khách, trong đó, khách có lưu trú tại thành phố trên 2 triệu lượt, tăng 4 lần so với năm 2006 và tăng 27% so với năm 2016 Năm 2007, tổng thu nhập du lịch mới đạt 365 tỷ đồng, đến năm 2017 thu nhập đạt 2.879 tỷ đồng (Nguồn báo cáo số liệu du lịch Cần Thơ)
Để đạt được những kết quả như trên, Thành phố Cần Thơ có những biện pháp trong công tác quản lý nhà nước như sau:
Một là, xây dựng được quy hoạch tổng thể du lịch để phát triển du lịch cho thời
gian dài hạn, có chiến lược, kế hoạch và chính sách khai thác tiềm năng phát triển du lịch
Hai là, ban hành các chính sách để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đồng
thời tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách
Ba là, hoàn thiện bộ máy QLNN về du lịch và quan tâm đến việc đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực du lịch
Bốn là, làm tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến du lịch và đẩy mạnh sự liên kết
hợp tác giữa các địa phương để phát triển du lịch
Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho QLNN về du lịch tỉnh Cà Mau như sau:
Trang 35Du lịch Cà Mau đã và đang đóng góp một vai trò khá quan trọng trong ngành
du lịch kinh tế trọng điểm Đồng Bằng Sông Cửu Long, không chỉ thu hút được lượng khách du lịch trong và ngoài tỉnh đồng thời mang lại nguồn thu tương đối lớn cho nguồn ngân sách của tỉnh nói riêng và Việt Nam nói chung Thiên nhiên đã ban tặng cho mảnh đất này nhiều cảnh quan đẹp, độc đáo: Cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối; bãi biển Khai Long, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ… đang thu hút nhiều du khách đến tham quan
Tuy nhiên, QLNN về du lịch còn nhiều hạn chế như thiếu tầm nhìn tổng thể về phát triển du lịch nên còn đơn điệu, công tác quản lý chưa hiệu quả, chưa liên kết được sở ban ngành, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực chưa ổn định về bộ máy tổ chức nên chưa đưa ngành du lịch tỉnh Cà Mau phát triển tương xứng với tài nguyên thiên nhiên hiện có
Từ những kinh nghiệm quản lý nhà nước du lịch của tỉnh Kiên Giang và Cần Thơ, đối với QLNN tỉnh Cà Mau cần thực hiện các công tác như sau:
Một là, xây dựng được quy hoạch tổng thể du lịch để phát triển du lịch cho thời
gian dài hạn, có chiến lược, kế hoạch và chính sách khai thác tiềm năng phát triển du lịch
Hai là, ban hành các chính sách để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đồng
thời tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách
Ba là, hoàn thiện bộ máy QLNN về du lịch và quan tâm đến việc đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực du lịch
Bốn là, làm tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến du lịch và đẩy mạnh sự liên kết
hợp tác giữa các địa phương để phát triển du lịch
Tóm tắt chương 2:
Chương 2 của Luận văn đã đề cập đến và làm rõ nhưng cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch Chương này gồm 03 nội dung chính mà tác giả muốn đề cập, đó là:
- Du lịch và hoạt động du lịch: Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn vã đã xuất hiện lâu đời ở nhiều nước trên thế giới Trong thực tế có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về du lịch khác nhau nhưng có thể hiểu về du lịch như sau: Du lịch là hoạt động
Trang 36của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên; mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn; nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, du lịch thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và cư dân ở địa phương Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch
- Quản lý nhà nước về du lịch: Đề tài này nghiên cứu về quản lý nhà nước về
du lịch cho nên luận văn phải có những nghiên cứu về lý thuyết quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch qua việc làm rõ những đặc điểm, vai trò, nội dung và những nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về du lịch Từ đó, có thể hiểu sâu hơn thế nào
là quản lý nhà nước về du lịch để có những cơ sở lý thuyết quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu vấn đề tại tỉnh Cà Mau
- Một số kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Kiên Giang & Cần Thơ
Từ đó rút ra các biện pháp để có định hướng QLNN về du lịch tại tỉnh Cà Mau
Trang 37CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỈNH
CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Cà Mau
3.1.1 Vị trí địa lý
Phần lãnh thổ đất liền của tỉnh Cà Mau nằm trong tọa độ từ 8o30' - 9o10' vĩ Bắc
và 104o80' - 105o5' kinh Đông Điểm cực Đông tại 105o24' kinh Đông thuộc xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi Điểm cực Nam tại 8o33’ vĩ Bắc thuộc xã Viên An, huyện Ngọc Hiển Điểm cực Tây tại 104o43' kinh Đông thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển Điểm cực Bắc tại 9o33' vĩ Bắc thuộc xã Biển Bạch, huyện Thới Bình Cà Mau là mảnh đất tận cùng của tổ quốc với 3 mặt tiếp giáp với biển, phía Đông giáp với Biển Đông, phía Tây và phía Nam giáp với vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp với 2 tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang
Thành phố Cà Mau nằm trên trục đường quốc lộ 1A và quốc lộ 63, cách thành phố Cần Thơ 180 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 380 km Đường biển của Cà Mau dài gần 254 km, trong đó có 107 km bờ Biển Đông và 147 km bờ Biển Tây Biển Cà Mau tiếp giáp với vùng biển các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và là trung tâm của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á
Cà Mau hiện có 8 huyện (Ngọc Hiển, Năm Căn, Cái Nước, Thới Bình, Trần Văn Thời, U Minh, Phú Tân, Đầm Dơi ) và một thành phố trực thuộc tỉnh, cách thành phố Hồ Chí Minh 380km về hướng Tây Nam
Trang 38Bảng 3.1 Đơn vị hành chính phân cấp theo huyện, xã
(Nguồn: Cục thống kê Cà Mau)
Số đơn vị hành chính của tỉnh Cà Mau được chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 1 thành phố và 8 huyện Đơn vị hành chính cấp xã tổng số có
101, trong đó có 10 phường, 9 thị trấn và 82 xã
3.1.2 Hiện trạng đất đai
Đất ở Cà Mau được chia thành 3 nhóm chính:
1) Nhóm đất mặn có diện tích 208.500ha, chiếm 40,0% diện tích tự, nhiên; đất mặn phân bố chủ yếu ở các huyện: Ngọc Hiển, Năm Căn, Đầm Dơi, Phú Tân, Cái Nước và xen kẽ ở Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình, thành phố Cà Mau Trong đất mặn có: đất mặn nặng có 32.600ha, chiếm 6,26% đất tự nhiên; đất mặn ít có 175.900ha, chiếm 33,75% đất tự nhiên Những nơi có độ mặn ít có khả năng sản xuất
1 đến 2 vụ lúa trong mùa mưa, trồng cây lâu năm hoặc nuôi tôm vào mùa khô kết hợp trồng cấy 1 vụ lúa trong mùa mưa
Trang 392) Nhóm đất phèn có diện tích 271.926ha, chiếm 52,18% diện tích tự nhiên; phân bố chủ yếu ở, các huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời và xen kẽ ở các huyện khác trong toàn tỉnh Trong, đó đất phèn tiềm tàng có 190.640ha, chiếm 36,59% diện tích tự nhiên, đất phèn hoạt động có, 81.285ha, chiếm 15,60% Nhóm đất phèn nhiễm mặn phân bố ở những vùng ven biển, khỏang 30.387ha Đối với diện, tích đất phèn không ngập mặn có thể trồng lúa trong mùa mưa, trồng các cây công nghiệp chịu, phèn, như mía, khóm, chuối, tràm Đối với diện tích phèn bị ngập mặn có thể trồng rừng ngập, mặn, nuôi thủy sản nước mặn
3) Ngoài ra, còn có nhóm đất than bùn, với diện tích khoảng 8.698 ha, phân bố
ở các huyện U, Minh, Trần Văn Thời, diện tích có tầng than bùn dày chủ yếu trong khu vực rừng tràm và nhóm, đất bãi bồi với diện tích 15.483 ha, phân bố ở huyện Ngọc Hiển và Phú Tân
3.1.3 Khí hậu
Tỉnh Cà Mau mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với nền nhiệt độ cao vào loại trung bình trong tất cả các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Khí hậu Cà Mau được chia thành 2 mùa là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa ở Cà Mau trung bình có 165 ngày mưa/năm, với 2.360mm Độ ẩm trung bình năm là 85,6%, nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,50C Trong đó, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là vào tháng 4, khoảng 27,60
C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng
1, khoảng 250
C Biến đổi nhiệt độ trung bình trong 1 năm là 2,70C Năm 2014, nhiệt
độ thấp nhất ở đây đã xuống tới 200C (tháng 1, trước đó vào tháng 12 năm 2013 đã xuống còn 18 độ C) Nhiệt độ cao nhất là 33 độ C khi đang trong mùa khô vào tháng
1 năm 2013
3.1.4 Dân số
Trang 40Bảng 3.2 Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo đô thị, nông thôn
giai đoạn 2010 - 2015 của Cà Mau
Đơn vị: người
Năm Tổng số Phân theo giới tính Phân theo nơi cư trú
(Nguồn cục thống kê Cà Mau)
Mật độ dân số trung bình đạt 234 người/km² Mật độ dân số phân bố không đồng đều giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã trong tỉnh, trong đó mật độ cao nhất ở thành phố Cà Mau đạt 861 người/km² và thấp nhất là huyện Ngọc Hiển đạt
106 người/km²
Dân cư sinh sống tại Cà Mau có khoảng 20 dân tộc, trong đó chủ yếu 03 dân tộc gồm: Kinh, Khmer và Hoa Đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Cà Mau, người Kinh chiếm đại đa số với 1.169.982 người, chiếm 95,65%, sống ở hầu hết các nơi trong vùng; kế đến là người Khmer có 33.638 người, chiếm 2,75%, chủ yếu sinh sống tập trung ở xung quanh những ngôi chùa tạo thành các xóm (sóc) người Khmer và sinh sống bằng nghề trồng lúa nước, chăn nuôi, nuôi trồng, khai thác thủy sản và mua bán nhỏ; người Hoa có 9.419 người, chiếm 0,77%, sống tập trung phần lớn ở đô thị, sinh sống chủ yếu bằng nghề mua bán Các dân tộc khác khoảng 10.153 người, chiếm 0,83% dân số của tỉnh và sống rải rác khắp nơi trên địa bàn tỉnh Đồng bào các dân tộc trong tỉnh Cà Mau đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán riêng nhưng luôn đoàn