1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình tình chất lượng sản phẩm sợi ở công ty dệt may hà nội

71 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 377,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tính chất, đặc trưng của sản phẩm giúp xác định đượcquá trình gia công chế tạo thích hợp và trang bị những kiến thức để khảosát, quy định các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm,

Trang 1

Theo quan niệm của môn học Marketing: "Sản phẩm là bất cứ thứ gì

có thể mang ra thị trường nhằm tạo ra sự chú ý mua sắm và tiêu dùng"

Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật,của văn hoá xã hội, từ thực tế cạnh tranh trên thị trường , sản phẩm đượcquan niệm khá rộng rãi: " Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay củacác quá trình" (theo TCVN 5814)

Sản phẩm là kết quả của các quá trình hoạt động, của tất cả các ngànhsản xuất vật chất và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Như vậy, sản phẩmkhông chỉ là những sản phẩm thuần vật chất mà còn bao gồm các dịch vụ

Sản phẩm được chia làm hai nhóm chính:

+ Nhóm sản phẩm thuần vật chất: là những vật phẩm mang các đặctính lý hoá nhất định

+ Nhóm sản phẩm phi vật phẩm: là các dịch vụ, thông tin

Trang 2

Tên đề tài: Tình tình chất lượng sản phẩm sợi ở công ty dệt-may

Hà Nội

Nội dung đề tài:

Phần I: Cơ sở lý luận chất lượng sản phẩm

Phần II: Đặc điểm- tình hình sản xuất kinh doanh của công ty dệt may Hà Nội

Phần III: Phân tích tình hình chất lượng sản phẩm sợi ở công ty dệt may Hà Nội

Trang 3

Theo quan niệm của môn học Marketing: "Sản phẩm là bất cứ thứ gì

có thể mang ra thị trường nhằm tạo ra sự chú ý mua sắm và tiêu dùng"

Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật,của văn hoá xã hội, từ thực tế cạnh tranh trên thị trường , sản phẩm đượcquan niệm khá rộng rãi: " Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay củacác quá trình" (theo TCVN 5814)

Sản phẩm là kết quả của các quá trình hoạt động, của tất cả các ngànhsản xuất vật chất và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Như vậy, sản phẩmkhông chỉ là những sản phẩm thuần vật chất mà còn bao gồm các dịch vụ

Sản phẩm được chia làm hai nhóm chính:

+ Nhóm sản phẩm thuần vật chất: là những vật phẩm mang các đặctính lý hoá nhất định

+ Nhóm sản phẩm phi vật phẩm: là các dịch vụ, thông tin

1.2 Các thuộc tính của sản phẩm

Thuộc tính của sản phẩm là tất cả những đặc tính vốn có của sảnphẩm qua đó sản phẩm tồn tại và nhờ đó mà có thể phân biệt được sảnphẩm này với sản phẩm khác

Trang 4

Nghiên cứu tính chất, đặc trưng của sản phẩm giúp xác định đượcquá trình gia công chế tạo thích hợp và trang bị những kiến thức để khảosát, quy định các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm, xác định những biệnpháp, điều kiện bảo vệ chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất và lưuthông tiêu dùng.

Mỗi một sản phẩm đều có một số giá trị sử dụng nhất định mà giá trị

sử dụng của sản phẩm lại tạo thành từ thuộc tính cụ thể

Có thể nêu ra một số thuộc tính của sản phẩm như sau:

Nhóm thuộc tính chức năng công dụng

Đây là một nhóm thuộc tính quyết định giá trị sử dụng của sản phẩm ,nhằm thoả mãn một loại nhu cầu nào đó, trong điều kiện xác định phù hợpvới tên gọi

Nhóm thuộc tính kỹ thuật công nghệ

Nhóm thuộc tính này rất đa dạng và phong phú, các đặc tính về kỹthuật có quan hệ hữu cơ với đặc tính công nghệ của sản phẩm Đây là nhómtính chất quan trọng nhất trong việc thẩm định, lựa chọn, nghiên cứu, cảitiên, thiết kế sản phẩm mới Việc nghiên cứu thành phần hoá học củanguyên vật liệu, đến các tính chất cơ, lý, điện, hoá, sinh giúp xây dựngquy trình chế tạo sản phẩm, xác định các phương pháp bảo quản, mặt kháccác đặc tính về phương pháp công nghệ lại quyết định chất lượng của sảnphẩm như: cấu trúc, kích thước, khối lượng, các thông số kỹ thuật, độ bền,

độ tin cậy

Nhóm thuộc tính sinh thái

Sản phẩm phải đảm bảo các yêu cầu về môi sinh, không gây ô nhiễmmôi trường khi sử dụng, phải đảm bảo tính an toàn, thuận tiện trong sửdụng, vận chuyển, bảo dưỡng Ngoài ra, sản phẩm còn thể hiện tính phù

Trang 5

hợp giữa sản phẩm với môi trường, với người sử dụn, đảm bảo vệ sinh, tâm

- Tính thẩm mỹ của sản phẩm phải thể hiện sự kết hợp giữa giá trị sửdụng với giá trị thẩm mỹ

Nhóm thuộc tính kinh tế- xã hội

Nhóm thuộc tính này quyết định mức chất lượng của sản phẩm, phảnánh chi phí lao động xã hội cần thiết để chế tạo sản phẩm, cũng như nhữngchi phí thoả mãn nhu cầu Đây cũng là thuộc tính quan trọng khi thẩm địnhthiết kế sản phẩm được thể hiện qua các chỉ tiêu như : chi phí sản xuất thấp,giá cả hợp lý, chi phí bảo dưỡng, sử dụng vừa phải phù hợp với nhu cầu thịhiếu, lợi nhuận cao, khả năng sinh lợi lớn trong khi sử dụng

2 Chất lượng sản phẩm

2.1 Khái niệm chất lượng sản phẩm

Có nhiều cách lập luận khác nhau về quản lý chất lượng sản phẩm.Giáo sư người Mỹ Philíp B Crosby nhấn mạnh: "Chỉ có thể tiến hành cóhiệu quả công tác quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá khi có quan niệmđúng đắn, chính xác về chất lượng" Chất lượng sản phẩm hàng hoá đã trởthành mối quan tâm hàng đầu của nhiều người, nhiều ngành Có thể tổnghợp ra mấy khuynh hướng sau:

Trang 6

- Khuynh hướng quản lý sản xuất: " Chất lượng của một sản phẩm nào đó là mức độ mà sản phẩm ấy thể hiện được những yêu cầu, những chỉ tiêu thiết kế hay những quy định riêng cho sản phẩm ấy".

- Khuynh hướng thoả mãn nhu cầu: "Chất lượng của sản phẩm

là năng lực mà sản phẩm ấy thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng".

- Theo TCVN 5814 - 94:" Chất lượng là đặc tính của một thực thể,

đối tượng tạo cho thực thể đối tượng đó có khả năng thoả mãn nhu cầu

đã nêu ra hoặc tiềm ẩn"

Như vây chất lượng của một sản phẩm là trình độ mà sản phẩm ấythể hiện được những yêu cầu (tiêu chuẩn- kinh tế - kỹ thuật) về chế tạo quyđịnh cho nó, đó là chất lượng trong pham vi sản xuất, chế tạo ra sản phẩm,mức độ thoả mãn tiêu dùng

" Chất lượng của sản phẩm là tổng hợp những tính chất, đặc trưng của sản phẩm tạo nên giá trị sử dụng, thể hiện khả năng, mức độ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng với hiệu quả cao trong điều kiện sản xuất-

kỹ thuật- kinh tế - xã hội nhất định".

Những tính chất đặc trưng đó thường được xác định bằng những chỉtiêu, những thông số về kinh tế- kỹ thuật- thẩm mỹ có thể cân, đo, tínhtoán được, đánh giá được Như vậy chất lượng của sản phẩm là thước đocủa giá trị sử dụng Cùng một giá trị sử dụng, sản phẩm có thể có mức độhữu ích khác nhau, mức chất lượng khác nhau

Một sản phẩm có chất lượng cao là một sản phẩm có độ bền chắc,

độ tin cậy cao, dễ gia công, tiện sử dụng, đẹp, có chi phí sản xuất, chi phí sửdụng và chi phí bảo dưỡng hợp lí, tiêu thụ nhanh trên thị trường, đạt hiệuquả cao

Trang 7

Như vậy, chất lượng sản phẩm không những chỉ là tập hợp cácthuộc tính mà còn là mức độ các thuộc tính ấy thoả mãn nhu cầu tiêu dùngtrong những điều kiện cụ thể.

Quan niệm chất lượng sản phẩm hàng hoá nêu trên thể hiện một lậpluận khoa học toàn diện về vấn đề khảo sát chất lượng, thể hiện chức năngcủa sản phẩm trong mối quan hệ: " sản phẩm - xã hội - con người"

2.2 Vai trò của chất lượng sản phẩm trong nền kinh tế hiện nay

Trình độ khoa học kỹ thuật của từng nước cũng như trên thế giớicàng ngày càng phát triển, thúc đẩy sản xuất nhiều sản phẩm cho xã hội.Người tiêu dùng ngày càng có thu nhập cao hơn, do đó có những yêu cầungày càng cao, những đòi hỏi của họ về các sản phẩm tiêu dùng ngày càngphong phú, đa dạng và khắt khe hơn

Do có chính sách mở cửa, người tiêu dùng có thể lựa chọn nhiều sảnphẩm của nhiều hãng, nhiều quốc gia khác nhau cùng một lúc Buôn bánquốc tế ngày càng được mở rộng, sản phẩm hàng hoá phải tuân thủ nhữngquy định, luật lệ quốc tế, thống nhất về yêu cầu chất lượng và đảm bảochất lượng

Hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới là chấp nhận sự cạnh tranh,chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh

Quy luật cạnh tranh vừa là đòn bẩy để các Doanh nghiệp tiến lên đàphát triển, hoà nhập với thị trường khu vực và trên thế giới, nhưng đồngthời cũng là sức ép lớn đối với mỗi Doanh nghiệp Trong quản trị kinhdoanh, nếu không lấy chất lượng làm mục tiêu phấn đấu trước tiên, nếuchạy theo lợi nhuận trước mắt , rõ ràng Doanh nghiệp sẽ bị đẩy ra ngoàivòng quay của thị trường và dẫn đến thua lỗ phá sản

Trang 8

Chính vì vậy, mà cạnh tranh không phải là thực tế đơn giản, nó là kếtquả tổng hợp của toàn bộ các nỗ lực trong quá trình hoạt động của Doanhnghiệp

Chất lượng sản phẩm chính là một trong những phương thức Doanhnghiệp tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lợi trong sự cạnh tranhgay gắt ấy trên thương trường, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển củaDoanh nghiệp

Hiện nay vấn đề chất lượng sản phẩm đã trở thành nhân tố chủ yếutrong chính sách kinh tế của mỗi Doanh nghiệp Như vậy, có thể tóm tắt tầmquan trọng của chất lượng sản phẩm như sau:

* Chất lượng sản phẩm đã trở thành yếu tố cạnh tranh hàng đầu,

là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi Doanh nghiệp Nó là sự sống còn của mỗi Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

* Chất lượng sản phẩm là yếu tố hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho Doanh nghiệp

* Chất lượng sản phẩm là điều kiện quan trọng nhất đê không ngừng thoả mãn nhu cầu thay đổi liên tục của con người.

2.3 Những tính chất, đặc trưng của chất lượng sản phẩm

Khi đề cập đến vấn đề chất lượng sản phẩm, tức là nói đến mức độthoả mãn nhu cầu của sản phẩm trong những điều kiện tiêu dùng xác định,phù hợp với công dụng của nó Mức độ thoả mãn nhu cầu không thể táchrời khỏi những điều kiện sản xuất - kinh tế - kỹ thuật - xã hội cụ thể Khảnăng thoả mãn nhu cầu của sản phẩm sẽ được thể hiện thông qua các tínhchất, đặc trưng của nó

Tính kinh tế: Thể hiện ở khía cạnh chất lượng sản phẩm chịu sự

chi phối trực tiếp của điều kiện kinh tế Một sản phẩm có chất lượng tốt

Trang 9

nhưng nếu được cung cấp với giá cao , vượt khả năng của người tiêu dùngthì sẽ không phải là sản phẩm có chất lượng cao về mặt kinh tế.

Tính kỹ thuật: Được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu

thể lượng hoá và so sánh được Những chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng nhất củasản phẩm gồm:

+ Chỉ tiêu công dụng: Đo giá trị sử dụng của sản phẩm

+ Chỉ tiêu độ tin cậy: Đo mức độ hỏng hóc, mức độ dễ bảo quản, tuổithọ

+ Chỉ tiêu thẩm mĩ: Đo mức độ mỹ quan

+ Chỉ tiêu công nghệ: Đánh giá mức độ tối ưu của các giải pháp côngnghệ để tạo ra sản phẩm

+ Chỉ tiêu sinh thái học: Đánh giá mức độ tác động của sản phẩm đếnmôi trường trong quá trình sản xuất và sử dụng

+ Chỉ tiêu an toàn: Đánh giá mức độ an toàn trong sản xuất và trongquá trình sử dụng

Tính xã hội: Thể hiện khả năng thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, phù hợp

với điều kiện và trình độ phát triển của một xã hội nhất định

Tính tương đối: Thể hiện ở sự phụ thuộc của nó vào không gian,

thời gian ở mức độ tương đối khi lượng hoá chất lượng sản phẩm

2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm được hình thành trong quá trình nghiên cứuphát triển, thiết kế được đảm bảo trong quá trình vận chuyển, chế tạo, bảoquản, phân phối lưu thông và được duy trì trong quá trình sử dụng Tại mỗigiai đoạn đều có các yếu tố ảnh hưởng tác động với mức độ khác nhau.Đứng ở góc độ những nhà sản xuất kinh doanh thì chất lượng sản phẩm làmột vũ khí cạnh tranh nên nó chịu tác động của một số yếu tố sau:

2.4.1 Một số yếu tố tầm vi mô

Trang 10

Nhóm yếu tố nguyên nhiên vật liệu

Đây là yếu tố cơ bản của đầu vào, nó ảnh hưởng quyết định đến chấtlượng sản phẩm Muốn có sản phẩm đạt chất lượng tốt điều trước tiên,nguyên vật liệu để chế tạo phải đảm bảo những yêu cầu về chất lượng, mặtkhác phải dảm bảo cung cấp cho cơ sở sản xuất những nguyên nhiên vậtliệu đúng số lượng, đúng kì hạn, có như vậy cơ sở sản xuất mới chủ động

ổn định quá trình sản xuất và thực hiện đúng kế hoạch sản xuất

Nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị

Nếu yếu tố nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản quyết định tính chất vàchất lượng của sản phẩm thì yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị lại cótầm quan trọng đặc biệt, có tác dụng quyết định việc hình thành chất lượngsản phẩm

Trong quá trình sản xuất hàng hoá, người ta sử dụng và phối trộnnhiều nguyên vật liệu khác nhau về thành phần, về tính chất, công dụng.Nắm vững được đặc tính của của nguyên vật liệu để thiết kế sản phẩm làđiều cần thiết, song trong quá trình chế tạo, việc theo dõi khảo sát chấtlượng sản phẩm theo tỷ lệ phối trộn là điều quan trọng để mở rộng mặthàng, thay thế nguyên vật liệu, xác định đúng đắn các chế độ gia công đểkhông ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm

Nhìn chung các sản phẩm hiện đại phải có kết cấu gọn nhẹ, thanhnhã, đơn giản, đảm bảo thoả mãn toàn diện các yêu cầu sử dụng

Công nghệ: quá trình công nghệ có ảnh hưởng lớn quyết định chấtlượng sản phẩm Đây là quá trình phức tạp, vừa làm thay đổi ít nhiều, hoặc

bổ sung, cải thiện nhiều tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướngsao cho phù hơp với công dụng của sản phẩm

Trang 11

Bằng nhiều dạng gia công khác nhau: gia công cơ, nhiệt, lý, hoá vừatạo hình dáng kích thước, khối lượng, hoặc có thể cải thiện tính chất củanguyên vật liệu để đảm bảo chất lượng sản phẩm theo mẫu thiết kế.

Ngoài yếu tố kỹ thuật- công nghệ cần chú ý đến việc lựa chọn thiết

bị Kinh nghiệm cho thấy kỹ thuật và công nghệ hiện đại và được đổi mới,nhưng thiết bị cũ kỹ thì không thể nào nâng cao chất lượng sản phẩm

Nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị có mối quan hệ tương hỗkhá chặt chẽ không chỉ góp phần vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm

mà còn tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường, đa dạng hoáchủng loại, nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tạo ra nhiều sản phẩm cóchất lượng cao, giá thành hạ

Nhóm yếu tố phương pháp quản lý

Có nguyên vật liệu tốt, có kỹ thuật - công nghệ - thiết bị hiện đại,nhưng không biết tổ chức quản lý lao động, tổ chức sản xuất, tổ chức thựchiện tiêu chuẩn, tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm, tổ chức tiêu thụ sảnphẩm hàng hoá, tổ chức sửa chữa, bảo hành hay nói cách khác không biết

tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh thì không thể nâng cao chất lượngsản phẩm

Nhóm yếu tố con người

Nhóm yếu tố con người bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộcông nhân viên trong đơn vị và người tiêu dùng

Đối với cán bộ lãnh đạo các cấp cần có nhận thức mới về việc nângcao chất lượng sản phẩm, để có những chủ trương, những chính sách đúngdắn về chất lượng sản phẩm, thể hiện trong mối quan hệ sản xuất , tiêudùng, các biện pháp khuyến khích tình thần vật chất, quyền ưu tiên cungcấp nguyên vật liệu, giá cả

Trang 12

Đối với cán bộ công nhân viên trong Doanh nghiệp phải có nhận thứcrằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm là trách nhiệm, vinh dự của mọithành viên, là sự sống còn, là quyền lợi thiết thân đối với sự tồn tại và pháttriển của Doanh nghiệp cũng như của chính bản thân mình.

2.4.2 Một số yếu tố tầm vĩ mô

Chất lượng sản phẩm hàng hoá là kết quả của một quá trình thực hiệnmột số biện pháp tổng hợp : kinh tế - kỹ thuật - hành chính xã hội nhữngyếu tố vừa nêu trên mang tính chất của lực lượng sản xuất Nếu xét về quan

hệ sản xuất, thì chất lượng sản phẩm hàng hoá còn phụ thuộc chặt chẽ vàocác yếu tố sau:

Nhu cầu của nền kinh tế

Chất lượng của sản phẩm chịu sự chi phối của các điều kiện cụ thểcủa nền kinh tế, thể hiện ở các mặt: đòi hỏi của thị trường, trình độ, khảnăng cung ứng của sản xuất, chính sách kinh tế của Nhà nước

Nhu cầu của thị trường đa dạng phong phú về số lượng, chủng loại nhưng khả năng của nền kinh tế thì có hạn: tài nguyên, vốn đầu tư, trình độ

kỹ thuật công nghệ, đổi mới trang thiết bị , kỹ năng, kỹ sảo của cán bộ côngnhân viên Như vậy, chất lượng của sản phẩm còn phụ thuộc vào khảnăng hiện thực của toàn bộ nền kinh tế

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật

Ngày nay, khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão trên toàn thếgiới Cuộc cách mạng này đang thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vựchoạt động của xã hội loài người Chất lượng của bất ký một sản phẩm nàocũng gắn liền với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật hiện đại, chu kỳcông nghệ của sản phẩm được rút ngắn, công dụng của sản phẩm ngày càngphong phú, da dạng nhưng cũng chính vì vậy mà không bao giờ thoả mãn

Trang 13

động của thị trường về sự đổi mới của khoa học kỹ thuật liên quan đếnnguyên vật liệu kỹ thuật, công nghệ, thiết bị để điều chỉnh kịp thời nhằmnâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển Doanh nghiệp.

Hiệu lực của cơ chế quản lý

Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, sự quản lý

ấy thể hiện bằng nhiều biện pháp: kinh tế - kỹ thuật- hành chính xã hội cụthể hoá bằng nhiều chính sách nhằm ổn định sản xuất, nâng cao chất lượngsản phẩm, hướng dẫn tiêu dùng, tiết kiệm ngoại tệ, đầu tư vốn, chính sáchgiá, chính sách thuế, chính sách hỗ tr, khuyến khích của Nhà nước đối vớicác Doanh nghiệp

Hiệu lực của cơ chế quản lý là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lýchất lượng sản phẩm, đảm bảo sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo

uy tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng Mặt khác, hiệu lực

cơ chế quản lý còn dảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh đối vớicác Doanh nghiệp trong nước, giữa khu vực quốc doanh, khu vực tập thể,khu vực tư nhân, giữa các Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài

Các yếu tố về phong tục, tập quán, thói quen tiêu dùng

Ngoài các yếu tố mang tính khách quan vừa nêu trên, nhu cầu củanền kinh tế, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, hiệu lực của cơ chế quản

lý, còn có một yếu tố không kém phần quan trọng đó là yếu tố phong tục tạpquán, thói quen, tiêu dùng của từng vùng, từng lãnh thổ

Sở thích tiêu dùng của từng nước, từng dân tộc, từng tôn giáo, từngngười không hoàn toàn giống nhau Do đó, các Doanh nghiệp phải tiếnhành điều tra, nghiên cứu nhu cầu, sở thích của từng thị trường cụ thể,nhằm toả mãn những yêu cầu về số lượng và chất lượng sản phẩm

Các yếu tố ảnh hưởng đến CLSP

Yếu tố vi mô Các yếu tố vĩ mô

- Nguyên vật liệu - Nhu cầu thị trường

Trang 14

Hình1: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm 2.5 Một số yêu cầu tổng quát đối với chất lượng sản phẩm

Với sự phát triển không ngừng của khoa học - kỹ thuật và sự đòi hỏingày càng cao của sản phẩm, đời sống nhu cầu mở rộng giao lưu quốc tế vấn đề chất lượng sản phẩm đã trở thành một chính sách kinh tế, mộtphương tiện quan trọng nhất để phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả laođộng

Về phương diện quản lý chất lượng sản phẩm, khi khoa học, kỹ thuậtphát triển, đổi mới hàng ngày, thì chất lượng của sản phẩm cũng phảithường xuyên xem xét, đối chiếu, cải tiến sao cho phù hợp với tiêu dùng,thúc đẩy sản phẩm phát triển

Do đó, khi xây dựng các yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm cầnchú trọng các vấn đề sau:

- Chất lượng của sản phẩm phải phù hợp với công dụng, mục đíchchế tạo, với nhu cầu của thị trường

- Trình độ chất lượng thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu

- Sản phẩm phải tiện dùng, vệ sinh an toàn

- Sản phẩm phải có tính thẩm mỹ cao

Trang 15

2.6 Một số chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm

Khi đề cập đến chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm, người ta thườngphân biệt ra hai hệ thống chỉ tiêu chất lượng

2.6.1 Hệ thống chỉ tiêu xác nghiên cứu, xác định chất lượng trong chiến lược phát triển kinh tế.

Trong chiến lược phát triển kinh tế của Doanh nghiệp một trongnhững vấn đề chủ yếu phải xác định được chiến lược sản phẩm trong mộtthời gian nhất định, mà nội dung quan trọng là phải nghiên cứu một số chỉtiêi chất lượng nhằm:

- Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm

- Kéo dài thời gian cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong vàngoài nước với những sản phẩm cùng loại của Doanh nghiệp khác

Trong hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu xác định chất lượng sảnphẩm của chiến lược phát triển Doanh nghiệp thường có các nhóm chỉ tiêusau:

Chỉ tiêu công dụng: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho thuộc tính sử

dụng của sản phẩm hàng hoá như giá trị dinh dưỡng, độ bền, thời gian sửdụng

Chỉ tiêu công nghệ: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho quy trình chế

tạo sản phẩm có chất lượng cao, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, chi phí,

hạ thấp giá thành

Chỉ tiêu thống nhất hoá: đặc trưng cho tính lắp lẫn của các linh kiện,

các phụ tùng Nhờ tác dụng thống nhất hoá mà các chỉ tiêu, các bộ phậnhình thành một cách ngẫu nhiên lộn xộn, trở thành những dãy thông số kíchthước thống nhât hợp lý Điều đó cho phép tổ chức sản xuất hàng loạtnhững chi tiết trong các loại sản phẩm khác nhau

Trang 16

Chỉ tiêu độ tin cậy: đặc trưng cho tính chất của sản phẩm đảm bảo

các thông số kỹ thuật làm việc trong khoảng thời gian nhất định

Chỉ tiêu an toàn: dảm bảo thao tác an toàn đối với công cụ sản xuất

cũng như đồ dùng sinh hoạt gia đình

Chỉ tiêu kích thước: thể hiện gọn nhẹ, thuận tiện trong sử dụng,

trong vận chuyển

Chỉ tiêu sinh thái: đặc trưng tính chất của sản phẩm có khả năng thải

ra những khí thải không độc hại đến môi trường

Chỉ tiêu thẩm mỹ: sản phẩm phải đẹp, phải có tính chân thật, mang

trong mình yếu tố hiện đại, sáng tạo, đồng thời kiểu dáng cũng như trang tríhoạ tiết phải có tính dân tộc

Chỉ tiêu về sáng chế phát minh: tôn trọng năng lực trí tuệ, khuyến

khích các hoạt động sáng tạo, áp dụng có hiệu quả thành tựu khoa học kỹthuật vào sự nghiệp phát triển của Doanh nghiệp

2.6.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm trong sản xuất - kinh doanh

Khi kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá phải dựa vàotiêu chuẩn Nhà nước, tiêu chuẩn nghành, tiêu chuẩn của hợp đồng kinh tế Đây là cơ sở đúng đắn hợp pháp nhất

Tuỳ theo mục đích sử dụng, chất lượng sản phẩm hàng hoá có thểchia làm 4 nhóm cơ bản:

Trang 17

+ Khả năng sửa chữa, bảo dưỡng, thay thế các chi tiết+ Hiệu quả sử dụng ( sinh lợi, tiện lợi)

Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật - công nghệ

Đây là nhóm chỉ tiêu mà cơ quan nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, kinhdoanh thường dùng để đánh giá giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá.Những chỉ tiêu này thường được quy định trong các vắn bản tiêu chuẩn,hợp đồng gia công mua bán

Các chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ rất nhiều, nhưng quan trọng hơn cả lànhững chỉ tiêu kích thước, cơ lý, chỉ tiêu thành phần hoá học

+ Chỉ tiêu về kích thước

+ Chỉ tiêu về cơ lý: như khối lượng, các thông số, các yêu cầu

về kỹ thuật như độ bền, độ chính xác, độ tin cậy, dộ an toàn trong sửdụng là những chỉ tiêu chất lượng quan trọng của hầu hết các loại sảnphẩm

+ Các chỉ tiêu về sinh - hoá: như thành phần hoá học biểu thịgiá trị dinh dưỡng của thực phẩm, khả năng sinh nhiệt , hệ số tiêu hoá

Nhóm chỉ tiêu hình dáng, trang trí thẩm mỹ

Nhóm này bao gồm các chỉ tiêu về hình dáng sản phẩm, tính chất cácđường nét, sự phối hợp của các yếu tố tạo hình chất lượng trang trí, màusắc, tính thời trang, tính thẩm mỹ

Nhóm các chỉ tiêu kinh tế

Các chỉ tiêu kinh tế bao gồm chi phí sản xuất, giá cả, giá thành, chiphí cho quá trình sử dụng Đây là những chỉ tiêu có tính tổng hợp khá quantrọng mà trước đây quan điểm " kỹ thuật thuần tuý" thường ít chú ý kiểmtra đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá

Trên đây là các chỉ tiêu kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm hànghoá trong sản xuất kinh doanh Khi kiểm tra, xác định chất lượng của một

Trang 18

sản phẩm hàng hoá cụ thể, cần căn cứ vào các đặc điểm sử dụng và nhiềuyếu tố như tình hình sản xuất, quan hệ cung cầu, điều kiện của mỗi Doanhnghiệp mà chon những chỉ tiêu chủ yếu và những chỉ tiêu bổ sung thíchhợp.

2.7 Sự hình thành nên chất lượng sản phẩm

Chúng ta đều bít mục đích của sản xuất hàng hóa là nhằm thoả mãnnhu cầu của con người Lịch sử văn hoá của các dân tộc đã chứng minhrằng: trong quá trình lao động sáng tạo và hoạt động thực tiễn, con ngườitạo ra của cải vật chất, tạo ra vật phẩm và môi trường cũng chính là tạo rađiều kiện tồn tại của bản thân mình Vật phẩm tự nó không thể có đời sốngriêng, nhưng vật phẩm lại liên quan đến điều kiện môi trường, vật phẩm gắnliền với cuộc sống của con người

Vì vậy, khi giải quyết vấn đề chất lượng của sản phẩm hàng hoá,phải đặt chúng trong mối quan hệ với con người, với các sản phẩm hànghoá khác Hay nói cách khác, mức độ hữu ích, trình độ chất lượng sảnphẩm hàng hoá phải được xem xét với điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể

Chất lượng của bất kỳ một sản phẩm nào cũng được hình thành quanhiều quá trình theo một trật tự nhất định Các học giả đưa ra quá trìnhkhác nhau, song họ đều thống nhất là quá trình hình thành chất lượng sảnphẩm xuất phát từ thị trường và trở về với thị trường, trong một chu trìnhkhép kín, vòng sau của chất lượng sản phẩm sẽ hoàn chỉnh hơn

Sự hình thành chất lượng sản phẩm có thể được chia thành 3 phân hệ

và mỗi phân hệ có nhiều quá trình khác nhau:

Phân hệ trước sản xuất

- Nghiên cứu: nhu cầu về số lượng, yêu cầu về chất lượng, mục tiêukinh tế cần đạt

Trang 19

- Thiết kế: xây dựng quy định chất lượng sản phẩm, xác đinh nguồnnguyên vật liệu, nơi tiêu thụ sản phẩm

Phân hệ trong sản xuất

- Nghiên cứu triển khai: thiết kế dây chuyền công nghệ, sản xuất thử,đầu tư xây dựng cơ bản, dự toán chi phí sản xuất, giá thành, giá bán

- Chế tạo sản phẩm

- Kiểm tra chất lượng sản phẩm, tìm biện pháp đảm bảo chất lượngquy định, bao gói, thu hoá chuẩn bị xuất xưởng

Phân hệ sau sản xuất

- Vận chuyển sang mạng lưới kinh doanh, tổ chức dự trữ, bảo quan

- Bán hàng, dịch vụ kỹ thuật - bảo hành, hướng dẫn sử dụng

- Trưng cầu ý kiến khách hàng về chất lượng, số lượng của sảnphẩm, lập dự án cho bước sau, thanh lý sau sử dụng

Có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:

Hình 2: Quá trình hình thành chất lượng sản phẩm 2.8 Các mức chất lượng của sản phẩm hàng hoá

Dựa vào quá trình hình thành chất lượng sản phẩm người ta chia racác mức chất lượng của sản phẩm như sau:

Mức chất lượng thiết kế

Mức chất lượng thiết kế của sản phẩm là các chỉ tiêu đặc trưng củasản phẩm được phác thảo qua văn bản, trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thịtrường, các đặc điểm của sản xuất - tiêu dùng, đồng thời có so sánh với chỉtiêu chất lượng các mặt hàng tương tự cùng loại của nhiều hãng, nhiềucông ty trong và ngoài nước

Trang 20

Mức chất lượng thực tế

Mức chất lượng thực tế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu chấtlượng sản phẩm thực tế đạt được do các yếu tố chi phối như: nguyên vậtliệu, máy móc thiết bị, phương pháp quản lý

Mức chất lượng cho phép

Mức chất lượng cho phép là mức độ cho phép về độ lêch các chỉ tiêuchất lượng của sản phẩm giữa mức chất lượng thưc với mức chất lượngchuẩn

Mức chất lượng cho phép của sản phẩm phụ thuộc vào điều kiệnkinh tế - kỹ thuật, trình độ tay nghề của công nhân, phương pháp quản lýcủa Doanh nghiệp

Mức chất lượng tối ưu

Mức chất lượng tối ưu là giá trị chất lượng sản phẩm dạt được mứchợp lý nhất trong điều kiện nhất định, hay nói cách khác chất lượng sảnphẩm đạt mức chất lượng tối ưu là các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thoảmãn nh cầu tiêu dùng, có khả năng cạnh tranh với nhiều hãng trên thịtrường, có sức tiêu thụ nhanh, và đạt hiệu quả cao

Phấn đấu đưa chất lượng của sản phẩm đạt mức chất lượng tối ưu làmột trong những mục đích quan trọng của quản lý Doanh nghiệp nói riêng

và quản lý kinh tế nói chung

Trang 21

Mức chất lượng tối ưu tuỳ thuộc vào dặc điểm tiêu dùng cụ thể củatừng nước, từng vùng.

II - Nội dung, công cụ phân tích chất lượng sản phẩm

1 Nội dung phân tích chất lượng sản phẩm

Trong kinh doanh không có gì đảm bảo chắc chắn rằng một sản phẩm đã được giới thiệu với thị trường và được tiếp nhận là sản phẩm

sẽ tiếp tục thành công Trừ khi chất lượng của nó luôn được cải tiến, nâng cao và các bước tiến hành được tổng kết đánh giá kịp thời Do vậy, các nhà kinh doanh muốn giữ vững uy tín của sản phẩm và muốn chiếm vĩ trí độc quyền trong việc sản xuất một loại sản phẩm nào đó, không còn con đường nào khác là phải luôn nâng cao chất lượng sản phẩm của mình Muốn làm được điều đó,việc phân tích chất lượng sản phẩm phải đươc tiến hành thường xuyên.

Việc phân tích chất lượng sản phẩm có thể thông qua một số nội dung sau:

- Phân tích các chỉ tiêu chất lượng

- Tình hình chất lượng của công ty

- Đánh giá tình hình chất lượng của công ty

+ Đánh giá tình hình sai hỏng trong sản xuất

+ Đánh giá thứ hạng chất lượng sản phẩm

- Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

2 Các công cụ dùng để phân tích chất lượng sản phẩm

Phân tích chất lượng sản phẩm có thể sử dụng rất nhiều công cụ đểđảm bảo, cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm Trong đó, phân tíchbằng thống kê (SPC) đóng một vai trò quan trọng

SPC là việc áp dụng phương pháp thống kê để thu thập, phân tích các

dữ liệu một cách đúng đắn, chính xác và kịp thời nhằm theo dõi, kiểm soát,

Trang 22

cải tiến các khuyết tật gây ra trong quá trình sản xuất sản phẩm, giảm tínhbiến động của nó.

Các công cụ thống kê chủ yếu là: gồm 11 công cụ

2.1 Mẫu thu thập dữ liệu

Mẫu thu thập dữ liệu là biểu mẫu để thu thập và ghi chép dữ liệu Nóthúc đẩy việc thu thập dữ liệu một cách nhất quán và tạo điều kiện thuận lợicho việc phân tích

Dùng mẫu thu thập dữ liệu để thu thập dữ liệu một cách hệ thống để

có bức tranh rõ ràng về thực tế

Có thể sử dụng mẫu thu thập dữ liệu để:

- Kiểm tra lý do sản phẩm bị trả lại

- Kiểm tra vị trí các khuyết tật

- Tìm nguyên nhân gây ra khuyết tật

- Kiểm tra sự phân bố của dây chuyền sản xuất

2.4 Biểu đồ quan hệ:Biểu đồ quan hệ là một công cụ để ghép các

thông tin thành nhóm, dựa trên mối quan hệ tự nhiên đang tồn tại giữa

Trang 23

chúng Quá trình này được thiết kế để khuyến khích sáng tạo và tham giađầy đủ của các thành viên.

Công cụ này được dùng để ghép nhóm một số lượng lớn các ý kiến,quan điểm

2.5 Biểu đồ cây

Biểu đồ cây chia cắt một cách hệ thống một chủ đề thành các yếu tố

tạo thành nó Các ý kiến phát sinh từ tấn công não được vẽ thành đồ thịhoặc được tụ hợp lại thành biểu đồ quan hệ có thể biến đổi thành biểu đồcây để chỉ các mắc xích liên tiếp và thống nhất

2.6 Biểu đồ nhân quả

Đây là một công cụ sử dụng để suy nghĩ và trình bày mối quan hệgiữa một kết quả cho sự biến động của một đặc trưng chất lượng vớinguyên nhân tiềm tàng có thể ghép lại thành nguyên nhân chính và nguyênnhân phụ để trình bày giống như một xương cá Vì vậy, công cụ này còn

được gọi là biểu đồ xương cá

Công nghệ, thiết bị Nguyên vật liệu

Phương pháp Q L Con người

Hình 3: Biểu đồ nhân quả

2.7 Biểu đồ tiến trình

Là dạng biểu đồ mô tả một quá trình bằng cách sử dụng các hình ảnhhoặc những ký hiệu kỹ thuật nhằm cung cấp sự hiểu biết đầy đủ về các

ChỉtiêuCL

Trang 24

đầu ra và dòng chảy của quá trình Tạo điều kiện cho việc điều tra các cơhội cải tiến bằng việc có được hiểu biết chi tiết về quá trình làm việc củanó.

Bằng cách xem xét từng bước trong quá trình có liên quan đến cácbước khác nhau thế nào, người ta có thể khám phá ra nguồn gốc tiềm tàngcủa những trục trặc Biểu đồ này có thể áp dụng cho tất cả các khía cạnhcủa bất cứ quá trình nào, từ nhập nguyên liệu cho đến các bước trong việcbán và làm dịch vụ hco một sản phẩm

2.8 Biểu đồ kiểm soát

Là biểu đồ có một đường tâm để chỉ giá trị trung bình của quá trình

và hai đường song song trên và dưới đường tâm biểu hiện giới hạn kiểmsoát trên và giới hạn kiểm soát dưới của quá trình Biểu đồ này dùng đểphân biệt các biến động do các nguyên nhân đặc biệt cần được nhận biết,điều tra và kiểm soát gây ra với những thay đổi ngẫu nhiên vốn có trongquá trình

Biểu dồ kiểm soát dùng để :

+ Dự đoán, đánh giá sự ổn định của quá trình + Kiểm soat, xác định khi nào cần điều chỉnh quá trình+ Xác định một sự cải tiến của quá trình

2.9 Biểu đồ cột

Là dạng trình bày số liệu bằng một loạt hình chữ nhật có chiều dàinhư nhau và chiều cao khác nhau Biểu đồ cột cho ta thấy rõ hình ảnh sựthay đổi, biến động của một tập dữ liệu

2.10 Biểu đồ Pareto

Trang 25

Là một dạng biểu đồ hình cột được xắp xếp từ cao xuống thấp Mỗicột đại diện cho một cá thể, chiều cao mỗi cột thể hiện mức đóng góp tươngđối của mỗi cá thể vào hiệu quả chung.

Tác dụng của công cụ này là cho thấy sự đóng góp của mỗi cá thể tớihiệu quả chung theo thứ tự quan trọng, giúp phát hiện cá thể quan trọngnhất Xếp hạng những cơ hội cải tiến

Hình 6: Biểu đồ Pareto 2.11 Biểu đồ tán xạ

Là một kỹ thuật đồ thị, để nghiên cứu mối quan hệ giữa hai bộ số liệuliên hệ xảy ra theo căp Biểu đồ tán xạ trình bày các cặp như một đám mâyđiểm Mối quan hệ giữa các bộ số liệu liên hệ được suy ra từ hình dạng củađám mây đó

III- Vai trò của việc nâng cao chất lượng sản phẩm và hướng nâng cao chất lượng sản phẩm

1 Vai trò của việc nâng cao chất lượng sản phẩm

Trong kin doanh không có gì đảm bảo chắc chắn rằng một sản phẩm

đã được giới thiệu với thị trường và được tiếp nhận là sản phẩm sẽ tiếp tụcthành công Trừ khi chất lượng của nó luôn được cải tiến, nâng cao và cácbước tiến hành được tổng kết, đánh giá kịp thời Do vậy các nhà kinh doanhmuốn giữ vững uy tín của sản phẩm và muốn chiếm vị trí độc quyền trong

Trang 26

sản xuất một loại sản phẩm nào đó, không còn con đường nào khác là luônnâng cao chất lượng của mình Nâng cao chất lượng làm tăng giá trị sửdụng, kéo dài thời gian sử dụng của sản phẩm , tạo điều kiện thuận lợi choviệc tiêu thụ sản phẩm , tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn và nâng caodoanh lợi của Doanh nghiệp.

Việc nâng cao chất lượng sản phẩm có tầm quan trọng sống còn đốivới mỗi Doanh nghiệp

2 Hướng nâng cao chất lượng sản phẩm

- Huấn luyện, đào tạo, nâng cao nhận thức về chất lượng cho toànthể cán bộ công nhân viên trong Công ty

- Cải tiến và đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị

- Tăng cường sự kiểm tra, khắc phục phòng ngừa

- Tăng cường sự quản lý trong suốt quá trình hình thành nên chấtlượng sản phẩm từ nghiên cứu- thiết kế - sản xuất - tiêu dùng

Phần II Đặc điểm - tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Dệt- May

Trang 27

I-Đặc điểm của Công ty Dệt- May Hà Nội

1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Tên doanh nghiệp: Công ty Dệt- May Hà Nội Tên giao dịch quốc tế: HANOSIMEX

ra ngoài luật pháp Việt Nam.

Cơ chế mở đã mở ra cho các Doanh nghiệp nhiều cơ hội mới nhưng cũng không ít rủi ro Để tồn tại và phát triển được Doanh nghiệp luôn phải nắm bắt đựơc tình hình kinh tế thị trường và đưa ra những phương sách sản xuất kinh doanh hợp lý.

Công ty Dệt- May Hà Nội cũng không vượt ra ngoài những vấn

đề trên Là một Doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán kinh doanh độc lập, thuộc Tổng Công ty Dệt- May Việt Nam.

Sự hình thành và phát triển của Công ty Dệt- May Hà Nội cóthể chia ra làm 3 giai đoạn sau:

 Giai đoạn I: Từ 1979 đến 1984 là gia đoạn xây dựng, lắpđặt thiết bị công nghệ và phụ trợ

Trang 28

 Giai đoạn II: Từ 1984 đến 1990 là giai doạn vừa sản xuấtvừa hoàn thiện đồng thời mở rộng sản xuất

 Giai đoạn III: Từ năm 1990 đến nay là giai đoạn củng cố

và phát triển sản xuất

-Ngày 7/4/78: Hợp đồng xây dựng nhà máy được kí chính thức giữaTổng công ty nhập khẩu thiết bị Việt Nam và hãng UNIONMATEX ( Cộnghoà Liên Bang Đức)

-Tháng 2/79: Khởi công xây dựng nhà máy

- Tháng 1/82: Lắp đạt thiết bị sợi và phụ trợ

- Tháng 11/84: Hoàn thành các hạng mục cơ bản, chính thức bàn giaocông trình cho nhà máy quản lý và điều hành ( Gọi tên là nhà máy Sợi HàNội)

- Tháng 12/87: Toàn bộ thiết bị công nghệ, phụ trợ đưa vào sản xuất,các công trình còn lại trong thiết kế của toàn xí nghiệp tiếp tục xây dựng vàđưa vào sử dụng

Ngay từ khi mới thành lập , Công ty đã vấp phải khó khăn là sự sụp

đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và một số quốc gia Đông Âu Điều nàycũng có nghĩa là Công ty mất đi một thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn vàtương đối dễ tính Đứng trước tình hình đó Công ty đã phải chủ động tìmkiếm bạn hàng mới và thay đổi hướng sản xuất kinh doanh phù hợp, đặcbiệt Công ty đã không ngừng hoàn thiện cơ cấu quản lý và nhân sự cho phùhợp với tình hình mới của xã hội và của Công ty

Công ty mạnh dạn đầu tư, không ngừng mở rộng phạm vi sản xuất,

mở rộng chủng loại sản phẩm sản Đầu tư các dây chuyền hiện đại để sảnxuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, nhằm chiếm lĩnh thị trường

Tháng 12/89: Đầu tư xây dựng dây chuyền dệt kim số một với công

Trang 29

- Tháng 4/90: Bộ kinh tế đối ngoại cho phép xí nghiệp được kinhdoanh xuất nhập khẩu trực tiếp ( có tên giao dịch là Hanosimex)

- Tháng 4/91: Bộ công nghiệp nhẹ quyết định tổ chức và hoạt độngcủa nhà máy sợi Hà Nội thành Xí nghiệp liên hợp Sợi- Dệt kim Hà nội

-Tháng 6/93: xây dựng dây chuyền dệt kim số II và tháng 3/94 đưavào hoạt động

- Tháng 10/93: Bộ công nghiệp nhẹ quyết định sát nhập nhà máy SợiVinh thuộc tỉnh Nghệ An vào xí nghiệp liên hợp

- Ngày 19/5/94: Khánh thành nhà máy dệt kim ( gồm cả 2 dâychuyền I và II)

- Tháng 1/95: Khởi công xây dựng nhà máy may thêu Đông Mỹ

- Tháng 3/95: Xát nhập thêm nhà máy Dệt Hà Đông vào xí nghiệpliên hợp

- Tháng 6/95: Bộ công nghiệp nhẹ quyết định đổi xí nghiệp liên hợpthành công ty Dệt Hà Nội

- Tháng 9/95: Khánh thành nhà máy May- Thêu Đông Mỹ

- Tháng 6/2000: Đổi tên thành Công ty Dệt- May Hà Nội

Sau hơn 10 năm hoạt động, Công ty Dệt- May Hà Nội đã đạt đượcnhững kết quả đáng khích lệ về mọi mặt Từ một nhà máy với quy mô nhỏ,hiện nay Công ty Dệt- May Hà Nội đã mở rộng quy mô, với nhiều đơn vịthành viên trực thuộc

+ Nhà máy sợi

+ Nhà máy sợi Vinh

+ Nhà máy Dệt Hà Đông

+ Nhà máy Dệt- Nhuộm

+ Nhà máy may I + II + III

+ Nhà máy cơ điện

Trang 30

+ Nhà máy May- Thêu Đông Mỹ

+ Nhà máy may thời trang

+ Và các đơn vị dịch vụ ( gọi là các đơn vị thành viên)

Công ty có chi nhánh văn phòng trong và ngoài nước theo quy địnhcủa Nhà nước

Năng lực sản xuất của Công ty không ngừng tăng lên bao gồm:

- Năng lực kéo sợi: Tổng số 150.000 cọc sợi / 2 nhà máy

Sản lượng trên 10.000 tấn/ nămChi số sợi trung bình Ne 36/1

- Năng lực dệt kim: Vải các loại: 4000 tấn/ năm

Sản phẩm may: 7 triệu sản phẩm mỗi năm

- Năng lực dệt khăn bông: 6,5 triệu chiếc/ năm

- Tổng kim nghạch XNK: 24,012 triệu USD/năm

- Tổng diện tích mặt bằng là 24 ha ( Tại HN là 14 ha)

- Tổng số lao động hơn 5000 người, trong đó lao động nữ chiếm đa

số (khoảng 70%), lao động trực tiếp sản xuất chiếm 93%

Với sự đi lên bằng năng lực của chính mình và đạt được những kếtquả như vậy, ngoài sự giúp đỡ của các Bộ ngành, cơ quan chức năng phải

kể đến sự nỗ lực cố gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty

đã dành nhiều tâm huyết để lao động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh.Những năm qua Công ty Dệt- May Hà Nội đã vinh dự đón nhận nhiều phầnthưởng cao quý do Đảng và Nhà nước trao tặng, đã trở thành một trongnhững Công ty hàng đầu của ngành dệt may Việt Nam

2 Lĩnh vực hoạt động, chức năng nhiệm vụ của Công ty

2.1 Lĩnh vực hoạt động và mặt hàng chủ yếu

Với một dây chuyền đồng bộ và khép kín cùng với trang thiết bị máy

Trang 31

chuyên sản xuất kinh doanh, xuất khẩu các loại sản phẩm có chất lượngcao như:

Bảng : Một số sản phẩm chủ yếu của công ty Dệt- May Hà nội

Nhà máy sợi + Sợi Vinh - Sợi đơn từ Ne 1- Ne 60

- Sợi xe từ Ne 1- Ne 60Nhà máy Dệt- nhuộm - Vải bò

- Vải dệt kimNhà máy may I,II,III - áo Poloshirt

- áo T- shirt Hineck

- Bộ quần áo thể thao trẻ em

- Bộ quần áo trẻ em

- áo sơ mi dài tay

- áo sơ mi ngắn tayNhà máy Dệt Hà đông - Sản phẩm khăn các loại

- Sản phẩm mũ

- Sản phẩm lều bạt

2.2 Chức năng của Công ty

- Công ty thực hiện việc sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực sợi, maymặc

- Xuất nhập khẩu trực tiếp các loại sợi và các mặt hàng may mặc

- Thực hiện việc hạch toán kinh doanh độc lập, có hiệu quả, có tàikhoản, con dấu riêng để thực hiện giao dịch theo đúng pháp luật

2.3 Nhiệm vụ của Công ty Dệt- May Hà Nội

- Phải sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển các nguồn lực

- Xây dựng kế hoạch phát triển phù hợp với mục tiêu của Công ty vànhiệm vụ do Tổng công ty giao

- Ký kết và thực hiện hợp đồng với bên đối tác

- Đổi mới hiện đại hoá công nghệ sản xuất và tổ chức quản lý

Trang 32

-Thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh

có hiệu quả, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người lao động

- Thực hiện các báo cáo thống kê, kế toán, báo cáo định kỳ theo quyđịnh của Tổng Công ty dệt may Việt Nam và Nhà nước, chịu trách nhiệm vềtính xác thực của nó

- Công ty có nghĩa vụ nộp đầy đủ các khoản thuế cho Nhà nước

- Thực hiện nghiêm túc pháp luật của Nhà nước, bảo vệ tài sản, bảo

vệ sản xuất, môi trường, giữ gìn trật tự, an ninh, an toàn xã hội, làm nghĩa

vụ quốc phòng

3 Quy trình công nghệ một số sản phẩm chủ yếu

Công ty Dệt- May Hà Nội sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau,mỗi loại có quy trình công nghệ sản xuất khác nhau Các sản phẩm củaCông ty có quy trình sản xuất phức tạp, kiểu liên tục Sản phẩm được đưaqua nhiều công đoạn sản xuất kế tiếp nhau

3.1 Quy trình công nghệ sản xuất sợi đơn

Nguyên vật liệu bông, xơ được nhập về kho nguyên liệu của nhàmáy sợi theo chủng loại, chất lượng yêu cầu để đưa vào sản xuất Nóichung để tạo thành sợi đơn thành phẩm phải qua các công đoạn sau:

- Công đoạn máy bông: Nguyên liệu là các kiện bông, xơ được đưavào máy bông để xé tơi và loại bỏ một phần tạp chất

- Công đoạn cúi chải: Sau đó được đưa sang máy cúi chải để loại bỏtiếp tạp chất và tạo thành cúi chải

- Công đoạn cúi ghép : Cúi chải được đưa sang máy ghép để tạothành cúi ghép

- Công đoạn sợi thô: Cúi ghép được đưa sang máy thô, qua bộ kéodài tạo thành sợi thô

Trang 33

- Công đoạn sợi con : Sợi thô được đưa sang máy sợi con rạo thànhsợi con

- Công đoạn ống: Sợi con được đưa sang máy ống quấn thành ống,tại máy ống sợi tiếp tục được loại bỏ nốt tạp chất , làm đều điểm dầy, điểmmỏng, điểm Neps

Quả sợi ống là công đoạn cuối cùng của sơ đồ sản xuất sẽ, đượckiểm tra trước khi bao gói, đóng tải nhập kho để bán hoặc tiếp tục đưa vào

Trang 34

Hình 6: Quy trình sản xuất sợi đơn PE/CO chải kỹ 3.2 Quy trình sản xuất sợi xe

Nguyên liệu đầu vào của sản phẩm sợi xe chính là sợi đợn Vì vậy, sợi đơn phải đảm bảo chất lượng mới được đưa vào sản xuất sợi xe

Quả sợi ống đơn

Đậu

Xe

Trang 35

Hình 7: Quy trình sản xuất sợi xe

Giải thích quy trình:

Quả sợi ống đơn là nguyên liệu đầu vào của công đoạn sợi xeđược đưa vào máy đậu chập 2 hoặc 3 sợi vào với nhau tạo thành quả sợiđậu

- Quả sợi đậu tiếp tục được đưa sang máy xe để xe các sợi đã đượcchập với nhau thành sợi xe và đựơc quấn ống tạo thành quả sợi xe

- Quả sợi xe sẽ được đánh ống trên máy đánh ống tạo ra quả sợi ống

xe Sản phẩm quả sợi ống xe là sản phẩm cuối cùng của quy trình côngnghệ sản xuất sợi xe, sẽ được kiểm tra phân cấp và bao túi, đóng gói nhậpvào kho công ty để bán

4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Dệt- May Hà Nội

Việc tổ chức quản lý là rất quan trọng đối với các Doanh nghiệp, nógiúp cho việc dảm bảo sản xuất kinh doanh và đặc biệt là việc nâng caochất lượng sản phẩm được thực hiện và hoàn thiện hơn Doanh nghiệp nàothực hiện công tác quản lý được thực hiện một cách nghiêm túc và có hệ

Ngày đăng: 23/08/2020, 22:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w