1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tình huống (CÓ LỜI GIẢI) môn luật hình sự tội Hiếp dâm

10 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 66,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NHÓM HÌNH SỰ SỐ II ĐỀ SỐ 7.Ngày 1752019, Trần Tuấn A và Đỗ Quang I (đều sinh năm 1990) (đều là nam giới) rủ nhau đi uống rượu. Khi đã ngà ngà say, A và I vào một chòi canh cá nghỉ. Ngay lúc đó, A nhìn thấy Lê Thị D (sinh năm 1998) đang đi một mình trên quãng đường vắng gần đó liền bàn với I kế hoạch thực hiện hành vi giao cấu với D. A nói I ngồi canh chừng còn mình đi tìm một đoạn dây dứa. Khi D đi tới thì I lao ra khống chế, bịt miệng D kéo vào chòi canh còn A dùng dây dứa buộc chặt hai tay D. Sau đó A và I thay nhau thực hiện hành vi giao cấu với D. Sau khi thực hiện hành vi giao cấu, A và I dìm đầu D xuống mương nước gần đó cho đến khi thấy D không còn thở liền bảo nhau lấy vỏ lọ thuốc trừ sâu bên bờ ruộng nhét vào miệng D, phòng trường hợp D tỉnh lại sẽ hô hoán. Hậu quả D chết.Hỏi:1. Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?2. Giả sử D được người dân trong làng phát hiện kịp thời và cứu sống thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A và I có thay đổi không? Vì sao?3. Giả sử D đang có thai ở tháng thứ hai thì A và I có phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS không? Vì sao?PHẦN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG CỦA NHÓM:1. Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội Hiếp dâm và tội Giết người theo điều 141 và điều 123 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:•Đối với tội Hiếp dâm: Tội hiếp dâm theo pháp luật hiện nay được quy định tại điều 141 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Có tổ chức;b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;c) Nhiều người hiếp một người;d) Phạm tội 02 lần trở lên;đ) Đối với 02 người trở lên;e) Có tính chất loạn luân;g) Làm nạn nhân có thai;h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;i) Tái phạm nguy hiểm.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên;b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”Như vậy, có thể thấy rằng hiếp dâm là hành vi của một người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.Về khách thể của tội phạm: hành vi hiếp dâm xâm phạm đến quyền tự do về tình dục của con người. Đồng thời xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm cũng như tính mạng của con người. Như vậy, trong tình huống trên, hành vi của anh A và I đã xâm phạm đến thân thể của chị D, cụ thể là sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của chị D, ngoài ra còn xâm phạm đến quyền tự do về tình dục của chị (tức là có hành vi giao cấu trái với ý muốn của chị D).Về mặt khách quan của tội phạm: Đối với tội hiếp dâm, có 2 nhóm hành vi khách quan như sau: Nhóm hành vi thứ nhất là: dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác. Nhóm hành vi thứ hai là: giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân. Dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâmTrong tình huống trên, nhóm hành vi thứ nhất của anh A và anh I thể hiện đó là dùng vũ lực, cụ thể hành vi lao ra khống chế chị D, bịt miệng chị D, kéo chị D vào chòi canh, dùng dây dứa buộc chặt hai tay D. Nhóm hành vi thứ hai đối với tội danh này được thể hiện, hành vi giao cấu với chị D. Bên cạnh đó, dấu hiệu trái ý muốn với nạn nạn nhân như nhóm phân tích ở trên là dấu hiệu bắt buộc đối với tội danh này, Trong tình huống các hành vi khách quan của A và I như khống chế, bịt miệng, buộc chặt tay chị D, thể hiện rằng việc giao cấu được thực hiện trái với ý muốn của chị D.Về mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm với lỗi cố ý trực tiếp. Xét đến tình huống, khi thực hiện hành vi phạm tội anh A và anh I đã có ý định từ ban đầu, mong muốn thực hiện hành vi của mình và thực tế đã thực hiện được đến cùng để thỏa mãn nhu cầu sinh lý sau khi uống rượu. Do đó, lỗi của A và I là lỗi cố ý trực tiếp.

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM HÌNH SỰ SỐ II

ĐỀ SỐ 7.

Ngày 17/5/2019, Trần Tuấn A và Đỗ Quang I (đều sinh năm 1990) (đều là nam giới) rủ nhau đi uống rượu Khi đã ngà ngà say, A và I vào một chòi canh cá nghỉ Ngay lúc đó, A nhìn thấy Lê Thị D (sinh năm 1998) đang đi một mình trên quãng đường vắng gần đó liền bàn với I kế hoạch thực hiện hành vi giao cấu với D

A nói I ngồi canh chừng còn mình đi tìm một đoạn dây dứa Khi D đi tới thì I lao

ra khống chế, bịt miệng D kéo vào chòi canh còn A dùng dây dứa buộc chặt hai tay

D Sau đó A và I thay nhau thực hiện hành vi giao cấu với D Sau khi thực hiện hành vi giao cấu, A và I dìm đầu D xuống mương nước gần đó cho đến khi thấy D không còn thở liền bảo nhau lấy vỏ lọ thuốc trừ sâu bên bờ ruộng nhét vào miệng

D, phòng trường hợp D tỉnh lại sẽ hô hoán Hậu quả D chết

Hỏi:

1 Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?

2 Giả sử D được người dân trong làng phát hiện kịp thời và cứu sống thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A và I có thay đổi không? Vì sao?

3 Giả sử D đang có thai ở tháng thứ hai thì A và I có phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS không? Vì sao?

Trang 2

PHẦN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG CỦA NHÓM:

1 Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?

Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội Hiếp dâm và tội Giết người theo điều 141 và điều 123 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Đối với tội Hiếp dâm: Tội hiếp dâm theo pháp luật hiện nay được quy định tại

điều 141 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể

tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến

07 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến

15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành

vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến

20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành

vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên;

Trang 3

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4 Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy, có thể thấy rằng hiếp dâm là hành vi của một người dùng vũ lực,

đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với

ý muốn của nạn nhân

Về khách thể của tội phạm: hành vi hiếp dâm xâm phạm đến quyền tự do

về tình dục của con người Đồng thời xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo

vệ về sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm cũng như tính mạng của con người

Như vậy, trong tình huống trên, hành vi của anh A và I đã xâm phạm đến thân thể của chị D, cụ thể là sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của chị D, ngoài ra còn xâm phạm đến quyền tự do về tình dục của chị (tức là có hành vi giao cấu trái với

ý muốn của chị D)

Về mặt khách quan của tội phạm: Đối với tội hiếp dâm, có 2 nhóm hành vi

khách quan như sau:

Nhóm hành vi thứ nhất là: dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng

tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác

Nhóm hành vi thứ hai là: giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục

khác trái ý muốn của nạn nhân Dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm

Trang 4

Trong tình huống trên, nhóm hành vi thứ nhất của anh A và anh I thể hiện đó

là dùng vũ lực, cụ thể hành vi lao ra khống chế chị D, bịt miệng chị D, kéo chị D

vào chòi canh, dùng dây dứa buộc chặt hai tay D Nhóm hành vi thứ hai đối với tội danh này được thể hiện, hành vi giao cấu với chị D Bên cạnh đó, dấu hiệu trái ý

muốn với nạn nạn nhân như nhóm phân tích ở trên là dấu hiệu bắt buộc đối với tội danh này, Trong tình huống các hành vi khách quan của A và I như khống chế, bịt miệng, buộc chặt tay chị D, thể hiện rằng việc giao cấu được thực hiện trái với ý muốn của chị D

Về mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm

với lỗi cố ý trực tiếp Xét đến tình huống, khi thực hiện hành vi phạm tội anh A và anh I đã có ý định từ ban đầu, mong muốn thực hiện hành vi của mình và thực tế

đã thực hiện được đến cùng để thỏa mãn nhu cầu sinh lý sau khi uống rượu Do đó, lỗi của A và I là lỗi cố ý trực tiếp

Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội hiếp dâm là người từ đủ 16 tuổi

trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nếu thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Trường hợp trên, A và I sinh năm

1990 do đó, A và I đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội này

Đối với tội giết người: theo pháp luật hiện nay tội giết người được quy định

tại điều 123 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

“1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

Trang 5

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2 Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt

tù từ 07 năm đến 15 năm.

3 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4 Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ

01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy, tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật

Khách thể của tội phạm: tội phạm xâm phạm đến quyền sống của con

người

Như vậy, trong tình huống trên A và I đã xâm phạm đến quyền sống của D,

cụ thể là có những hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của chị D, trên thực tế đã gây

ra hậu quả là D chết

Mặt khách quan của tội phạm: thể hiện ở hành vi tước đoạt tính mạng của

người khác một cách trái pháp luật Hành vi có thể được thực hiện dưới hình thức hành động, như đâm, chém, nổ súng, bóp cổ, cho uống thuốc độc… Có thể được

Trang 6

thể hiện bằng không hành động, như không cho ăn uống đối với người mà mình có trách nhiệm nuôi dưỡng Hậu quả là dẫn đến chết người

Trong tình huống trên, A và I đã có các hành vi khách quan của tội giết người, tước đoạt mạng sống của D, cụ thể các hành vi đó là: dùng tay dìm đầu D xuống mương nước gần đó cho tới khi chị D tắc thở, lấy vỏ lọ thuốc trừ sâu bên bờ ruộng nhét vào miệng chị D mặc dù chị D đã bị dìm dẫn đến tắc thở và bên cạnh

đó, đây là vỏ lọ thuốc trừ sâu chứ không phải vỏ chai nhựa bình thường Hậu quả

là dẫn đến chị D chết

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.

Xuất phát từ các hành vi khách quan của tội giết người mà A và I thực hiện,

và bên cạnh đó là có ý định phòng chị D tỉnh dậy chứng tỏ rằng A và I không muốn chị D tỉnh dậy để không ai biết hành vi phạm tội của mình (tức là mong muốn chị

D chết) Vậy, lỗi của A và I là lỗi cố ý trực tiếp

Chủ thể của tội phạm: là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách

nhiệm hình sự Trường hợp trên, A và I sinh năm 1990, như vậy A và I đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này

Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội theo điều khoản sau:

Đối với tội Hiếp dâm: Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội theo khoản 2 điều 141 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì căn cứ theo khoản điểm c, khoản 2 điều 141 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội này là

nhiều người hiếp một người Như vậy, trong tình huống trên có anh A và anh I cùng hiếp chị D, do đó Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội theo 2 điều 141

Trang 7

BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với khung hình phạt là phạt tù từ 7-15 năm tù giam.

Đối với tội Giết người: Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội theo khoản 2 điều 123 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Bởi vì, xét trong tình huống trên, hành vi của anh A và anh I đối với tội giết người không thuộc bất cứ trường hợp nào theo quy định tại khoản 1 điều này

Do đó, hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội theo 2 điều 123 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vậy, qua phân tích trên của nhóm đối với các hành vi của A và I, có thể khẳng định rằng, Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội hiếp dâm và tội giết người theo điều 141 và điều 123 BLHS.

2 Giả sử D được người dân trong làng phát hiện kịp thời và cứu sống thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A và I có thay đổi không? Vì sao?

Đối với tội hiếp dâm: Như đã phân tích tại câu 1, các hành vi của A và I đã

cấu thành tội Hiếp dâm, bao gồm hành vi dùng vũ lực và hành vi giao cấu

trái với ý muốn của chị D Do đó, tội hiếp dâm và khung hình phạt của tội này áp dụng đối với A và I không thay đổi

Đối với tội giết người: Theo như nhóm phân tích tại câu 1, nhóm cho rằng

lỗi của A và I trong trường hợp trên đối với tội giết người là lỗi cố ý trực tiếp, xuất phát từ những nguyên do sau:

 Thứ nhất, A và I có hành vi dìm đầu chị D xuống bờ mương bên cạnh đến khi tắc thở

 Thứ hai, sau khi dìm A và I lại tiếp tục có hành vi dùng vỏ chai thuốc sâu bên bờ nhét vào miệng chị D, mặc dù chị D đã tắc thở, bên cạnh đó có thể

Trang 8

thấy rằng, vỏ chai đây không phải là chai nhựa bình thường mà là vỏ chai thuốc sâu, một người bình thường khi ngậm vào có nguy cơ chết rất cao nếu như không cứu chữa kịp thời…

 Thứ ba, A và I có ý định phòng chị D tỉnh dậy, như vậy chứng tỏ rằng A và I mong muốn chị D sẽ không tỉnh dậy để hành vi phạm tội của mình không bị phát hiện tức là mong muốn chị D chết sau khi dìm đến tắc thở và nhét vỏ thuốc sâu vào miệng chị D

Nhóm cho rằng nếu như chị D được người dân trong làng phát hiện kịp thời

và cứu sống thì tội giết người và khung hình phạt của tội này áp dụng đối với A và

I cũng sẽ không thay đổi Vì căn cứ vào lỗi của A và I là lỗi cố ý trực tiếp như nhóm đã phân tích ở trên thì việc chị D được người dân phát hiện và cứu sống kịp thời là những trở ngại khách quan, nằm ngoài ý thức chủ quan, nằm ngoài ý muốn, mong muốn của A và I Hành vi của A và I là mong muốn chị D chết để hành vi

phạm tội của mình không bị phát hiện Do đó, về tội giết người và khung hình phạt của tội này áp dụng đối với A và I sẽ không thay đổi

Như vậy, tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A và I sẽ không thay đổi, cho dù D được người dân phát hiện và cứu sống kịp thời.

3 Giả sử D đang có thai ở tháng thứ hai thì A và I có phải chịu trách nhiệm

hình sự về tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS không? Vì sao?

Tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai” được quy định

tại điểm i, khoản 1, Điều 52 BLHS Theo như quy định Tại mục 2 của Nghị số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 05 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý

Trang 9

thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được người bị xâm hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già”

Như vậy, điều kiệp để áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội là: thứ nhất, đối với các trường hợp phạm tội do lỗi cố ý; thứ hai, trên thực tế nạn nhân là người có thai;

Để kết luận có áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ

có thai” đối với A và I hay không, nhóm sẽ chia thành 2 trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất: A và I khi thực hiện hành vi phạm tội không biết rằng chị D có thai Như vậy xét đến 2 điều kiện để áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS

“phạm tội đối với phụ nữ có thai” thì trong trường hợp trên, A và I đã đủ kiểu kiện

để áp dụng tình tiết này Do đó nếu như D đang có thai ở tháng thứ hai và A và I không biết việc có thai này khi thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS trên

Trường hợp thứ hai: A và I khi thực hiện hành vi phạm tội mà biết rằng chị

D là người đang có thai Căn cứ theo điểm c, khoản 1, điều 123 BLHS đối với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “giết phụ nữ mà biết có thai”, nhóm cho rằng,

để áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội thì cần thỏa mãn 2 điều kiện: thứ nhất, người thực hiện hành vi phạm tội biết rằng nạn nhân là người có thai; thứ hai,

Trên thực tế nạn nhân đang mang thai Trong trường hợp thứ hai này, khi thực hiện hành vi phạm tội, A và I biết rằng chị D có thai và trên thực tế chị D đang mang thai Vậy, hành vi của A và I đã thỏa mãn hết các điều kiện để áp dụng tình tiết tăng

nặng định khung hình phạt “giết phụ nữ mà biết có thai”

Căn cứ theo khoản 2 điều 52 BLHS thì “các tình tiết đã được bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng” Do đó, đối với trường hợp thứ hai này nhóm sẽ áp dụng tình tiết

Trang 10

tăng nặng định khung là “giết phụ nữ mà biết có thai” quy định tại điểm c, khoản

1, điều 123 BLHS chứ không áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai” đối với A và I Chính vì vậy, A và I sẽ bị áp dụng tình tiết tặng nặng định khung hình phạt là “giết phụ nữ mà biết có thai”.

Ngày đăng: 23/08/2020, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w