AMỞ BÀIKhoa học, kĩ thuật, công nghệ không chỉ là sáng tạo đơn thuần của con người mà đã trở thành bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất có tính chất quyết định đến năng suất lao động. Những sản phẩm này là những sản phẩm vô hình mà bản thân người tạo ra nó không thể chiếm hữu cho riêng mình, nó dễ bị tướt đoạt và chiếm dụng. Do đó, nhà nước đã quy định về sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng nhằm bảo vệ quyền của những người trong hoạt động này. Trong đó, sáng chế là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (nhóm có tính sáng tạo). Những sản phẩm sáng chế đang trở thành tài sản thương mại có giá trị thương mại lớn và đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Việc bảo hộ đối với sáng chế là một trong những điều cần thiết không chỉ trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi quốc tế nhằm tránh những hành vi xâm hại đến quyền đối với sáng chế. Do đó, để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề về sáng chế cũng như quyền đối với sáng chế, nhóm đã xây dựng hình huống: “Vụ việc về xâm phạm quyền sáng chế vế máy sấy thóc bằng nhiệt tự đông của ông Trần Việt Hoàng”, trên cơ sở phân tích nội dung tình huống nhằm làm rõ nội dung về vấn đề này. BNỘI DUNGIXây dựng tình huống. Nông nghiệp nước ta phụ thuộc phần lớn vào thời tiết nên ảnh hưởng khá nhiều đến sản lượng lúa. Thấy được điều đó, nông dân Trần Việt Hoàng mới nghĩ ra việc sáng chế chiếc máy sấy bằng nhiệt tự động, có cấu tạo vận hành khép kín, cho năng suất cao phù hợp với người nông dân, và ông Hoàng đã đặt tên cho sản phẩm của mình là GH8. Vì ông Hoàng là người đầu tiên nghĩ ra công nghệ này nên ông Hoàng sợ rằng khi đưa ra thị trường sẽ có nhiều người khác bắt chước công nghệ và sản xuất sản phẩm tương tự.Vì vậy, ngày 10042019, ông Trần Việt Hoàng có nộp đơn đăng kí độc quyền sáng chế chiếc máy sấy nhiệt tự động của mình và đã được cục Sở Hữu Trí Tuệ cấp biên nhận nộp đơn hợp lệ. Ngày 20042019, ông Hoàng phát hiện thấy ông Lô Khánh Minh đang sản xuất sản phẩm giống với chiếc máy của mình đã đăng kí độc quyền. Ngày 15092019, Cục Sở Hữu Trí Tuệ đã cấp bằng độc quyền sáng chế đối với chiếc máy nói trên cho ông Hoàng.Trên cơ sở phân tích nội dụng vụ việc trên, hãy làm rõ:1.Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế2.Các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế3.Bình luận hoặc đưa ra hướng giải quyết với tình huống nêu trên? Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm.IICƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SÁNG CHẾ.1,Khái niệm sáng chếSáng chế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. (Khoản 12, Điều 4 luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009). 2,Đặc điểm của sáng chếSáng chế là một giải pháp kĩ thuật tồn tại thông qua hai dạng chủ yếu là sản phẩm hoặc quy trình. Giải pháp kĩ thuật là sáng chế phải giải quyết được một vấn đề kĩ thuật cụ thể bằng việc áp dụng các quy luật tự nhiên.Dưới dạng là sản phẩm thì sáng chế có thể tồn tại dưới dạng vật thể, chất thể và vật liệu sinh học.Sản phẩm dưới dạng vật thể (dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện...) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về kết cấu, sản phẩm đó có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người. Ví dụ: máy in (sáng chế của Johannes Gutenberg, người Anh), đồng hồ quả lắc (sáng chế của Christiaan Huygens, người Hà Lan) …Sản phẩm dưới dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm...) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về sự hiện diện, tỉ lệ và trạng thái của các phần tử, có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người. Ví dụ: chất làm lạnh Freon (sáng chế của Chrstiaan Neethling Barnard và các đồng nghiệp) …Sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học (gen, thực vậtđộng vật biến đổi gen...) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin về một sản phẩm chứa thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người, có khả năng tự tái tạo. Ví dụ: gen nhân tạo (sáng chế của Har Gobind Khorana, người Mỹ)…Khi sáng chế là quy trình (quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý...) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định cách thức tiến hành một quá trình, một công việc cụ thể được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được một mục đích nhất định. Ví dụ: kỹ thuật cấy ghép tim người (sáng chế của Christiaan Neethling Barnard, người Nam Phi) …3,Ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chếBảo hộ sáng chế là việc Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền công nhận và bảo đảm việc khai thác, sử dụng sáng chể chỉ có thể được thực hiện bởi chủ sở hữu sáng chế; thể hiện bằng việc cấp cho chủ sở hữu sáng chế một bằng độc quyền sáng chế hay theo quy định của pháp luật là: Giấy chứng nhận đăng ký sáng chế.Việc bảo hộ sáng chế có lịch sử rất lâu đời, từ khoảng thế kỉ 1718 tại châu Âu sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất để bảo hộ những sáng tạo, những phát minh mới. Việc bảo hộ sáng chế không chỉ đem lại lợi ích cho chủ sở hữu sáng chế mà còn mang lại lợi ích cho cả xã hội.Ở góc độ của chủ sở hữu, người sáng tạo, phát minh ra sáng chế thì đây là sự đền bù tương xứng của nhà nước dành cho họ vì đã đầu tư, nghiên cứu để tạo ra bước tiến khoa học mới, phục vụ cộng đồng. Ngăn không cho các đối tượng khác ngang nhiên ăn cắp thành quả sáng tạo của người khác để thu lợi bất chính. Từ việc được độc quyền sử dụng sáng chế sẽ đem lại cho chủ sở hữu sáng chế những nguồn lợi về tài chính, do đó càng khuyến khích họ tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo. Ở góc độ của xã hội, sự khuyến khích sáng tạo sẽ tạo ra nhiều sản phẩm mới tốt hơn để phục vụ cộng đồng, từ đó tiện ích trong cuộc sống cũng không ngừng được nâng lên. Mặt khác, độc quyền sáng chế chỉ được bảo hộ 20 năm cũng được coi là một khoảng thời gian hợp lý đủ để chủ sở hữu sáng chế thu được nguồn lợi từ sử dụng sáng chế và sau đó sáng chế được trả về cho công chúng và mọi người có thể được tự do nghiên cứu, sử dụng và phát triển sáng chế này.Người phát minh ra sáng chế cũng không thể hưởng thụ thành quả sáng chế cả đời mà cũng phải nỗ lực để tạo thêm những sáng chế mới, điều này tạo ra và thúc đẩy sự phát triển khoa học trên quy mô toàn xã hội.Thực tiễn thành công của các quốc gia phát triển như Nhật, Hoa Kỳ đều đến từ việc họ đã xây dựng thành công một cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là quyền sáng chế từ đó nền công nghiệp không ngừng phát triển, chi phí sản xuất không ngừng giảm xuống nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khi giá trị sản phẩm lại tăng lên là minh chứng rõ ràng nhất cho ý nghĩa to lớn của bảo hộ sáng chế.IIIGIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG.1,Điều kiện bảo hộ đối với sáng chếTheo Điều 27 Hiệp định TRIPs (Hiệp định các khía cạnh thương mại có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ): “Bằng sáng chế có thể cấp cho bất kỳ sáng chế nào, bất kể là sản phẩm hay quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó có tính mới, trình độ sáng tạo khả năng áp dụng công nghiệp.” Tại Việt Nam, tùy theo từng tiêu chí mà sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Theo đó, Khoản 1 Điều 58 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức được cấp bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây:a) Có tính mới;b) Có trình độ sáng tạo;c) Có khả năng áp dụng công nghiệp”. Thứ nhất, về tính mới (Điều 60 LSHTT năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tính mới của sáng chế được công nhận là mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới nếu đáp ứng được các tiêu chí sau: Một là, sáng chế nêu trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế không trùng với giải pháp được mô tả trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn. Hai là, trước ngày ưu tiên của đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn chưa bị bộc lộ công khai ở trong nước hoặc ở nước ngoài dưới hình thức sử dụng hoặc mô tả trong bất kỳ nguồn thông tin nào dưới đây tới mức mà căn cứ vào đó người có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng cũng có thể thực hiện được giải pháp đó: Các nguồn thông tin liên quan đến sáng chế ở nước ngoài, tính từ ngày công bố bao gồm các nguồn thông tin dưới bất kỳ nguồn tin nào (ấn phẩm, phim ảnh, băng đĩa, đĩa từ,…) – tính từ ngày công bố tin, vật mang tin bắt đầu được lưu hành. Các nguồn thông tin đại chúng: các báo cáo khoa học, các bài giảng,… nếu được ghi lại bằng bất kỳ phương tiện nào – tính từ ngày báo cáo hoặc giảng bài; các triển lãm – tính từ ngày hiện vật được trưng bày. Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định một số trường hợp nhằm loại trừ khả năng làm mất tính mới của sáng chế như: Một là, sáng chế bị người khác do được biết thông tin đó tự ý công bố nhưng không được phép của người nộp đơn và ngày người đó công bố nằm trong thời hạn 06 tháng từ ngày nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ sáng chế.
Trang 1MỤC LỤC
A/ MỞ BÀI 2
B/ NỘI DUNG 3
I/ Xây dựng tình huống 3
II/ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SÁNG CHẾ 3
1, Khái niệm sáng chế 3
2, Đặc điểm của sáng chế 3
3, Ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế 5
III/ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 6
1, Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế 6
2, Các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế 10
3, Bình luận hoặc đưa ra hướng giải quyết với tình huống nêu trên? Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm 12
IV/ MỘT SỐ HẠN CHẾ VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ & KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 14
C/ KẾT BÀI 17
D/ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2A/ MỞ BÀI
Khoa học, kĩ thuật, công nghệ không chỉ là sáng tạo đơn thuần của con người mà đã trở thành bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất có tính chất quyết định đến năng suất lao động Những sản phẩm này là những sản phẩm vô hình mà bản thân người tạo ra nó không thể chiếm hữu cho riêng mình, nó dễ bị tướt đoạt và chiếm dụng Do đó, nhà nước đã quy định về sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng nhằm bảo vệ quyền của những người trong hoạt động này Trong đó, sáng chế là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (nhóm có tính sáng tạo) Những sản phẩm sáng chế đang trở thành tài sản thương mại có giá trị thương mại lớn và đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Việc bảo hộ đối với sáng chế
là một trong những điều cần thiết không chỉ trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi quốc tế nhằm tránh những hành vi xâm hại đến quyền đối với sáng chế
Do đó, để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề về sáng chế cũng như quyền đối với sáng chế, nhóm đã xây dựng hình huống: “Vụ việc về xâm phạm quyền sáng chế vế máy sấy thóc bằng nhiệt tự đông của ông Trần Việt Hoàng”, trên cơ sở phân tích nội dung tình huống nhằm làm rõ nội dung về vấn đề này
Trang 3B/ NỘI DUNG
I/ Xây dựng tình huống.
Nông nghiệp nước ta phụ thuộc phần lớn vào thời tiết nên ảnh hưởng khá nhiều đến sản lượng lúa Thấy được điều đó, nông dân Trần Việt Hoàng mới nghĩ ra việc sáng chế chiếc máy sấy bằng nhiệt tự động, có cấu tạo vận hành khép kín, cho năng suất cao phù hợp với người nông dân, và ông Hoàng đã đặt tên cho sản phẩm của mình là GH8 Vì ông Hoàng là người đầu tiên nghĩ ra công nghệ này nên ông Hoàng sợ rằng khi đưa ra thị trường sẽ có nhiều người khác bắt chước công nghệ và sản xuất sản phẩm tương tự.Vì vậy, ngày 10/04/2019, ông Trần Việt Hoàng có nộp đơn đăng kí độc quyền sáng chế chiếc máy sấy nhiệt tự động của mình và đã được cục Sở Hữu Trí Tuệ cấp biên nhận nộp đơn hợp lệ Ngày 20/04/2019, ông Hoàng phát hiện thấy ông Lô Khánh Minh đang sản xuất sản phẩm giống với chiếc máy của mình đã đăng kí độc quyền Ngày 15/09/2019, Cục Sở Hữu Trí Tuệ đã cấp bằng độc quyền sáng chế đối với chiếc máy nói trên cho ông Hoàng
Trên cơ sở phân tích nội dụng vụ việc trên, hãy làm rõ:
1 Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế
2 Các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế
3 Bình luận hoặc đưa ra hướng giải quyết với tình huống nêu trên? Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm
II/ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SÁNG CHẾ.
1, Khái niệm sáng chế
Sáng chế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (Khoản 12, Điều 4 luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009)
2, Đặc điểm của sáng chế
Sáng chế là một giải pháp kĩ thuật tồn tại thông qua hai dạng chủ yếu là sản phẩm hoặc quy trình
Trang 4Giải pháp kĩ thuật là sáng chế phải giải quyết được một vấn đề kĩ thuật cụ thể bằng việc áp dụng các quy luật tự nhiên
Dưới dạng là sản phẩm thì sáng chế có thể tồn tại dưới dạng vật thể, chất thể và vật liệu sinh học
Sản phẩm dưới dạng vật thể (dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện ) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về kết cấu, sản phẩm đó có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người Ví dụ: máy in (sáng chế của Johannes Gutenberg, người Anh), đồng hồ quả lắc (sáng chế của Christiaan Huygens, người Hà Lan) …
Sản phẩm dưới dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm ) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về sự hiện diện, tỉ lệ và trạng thái của các phần tử, có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người Ví dụ: chất làm lạnh Freon (sáng chế của Chrstiaan Neethling Barnard và các đồng nghiệp) …
Sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học (gen, thực vật/động vật biến đổi gen ) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin về một sản phẩm chứa thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người, có khả năng tự tái tạo Ví dụ: gen nhân tạo (sáng chế của Har Gobind Khorana, người Mỹ)…
Khi sáng chế là quy trình (quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán,
dự báo, kiểm tra, xử lý ) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định cách thức tiến hành một quá trình, một công việc cụ thể được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được một mục đích nhất định Ví dụ: kỹ thuật cấy ghép tim người (sáng chế của Christiaan Neethling Barnard, người Nam Phi) …
Trang 53, Ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế
Bảo hộ sáng chế là việc Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền công nhận và bảo đảm việc khai thác, sử dụng sáng chể chỉ có thể được thực hiện bởi chủ sở hữu sáng chế; thể hiện bằng việc cấp cho chủ sở hữu sáng chế một bằng độc quyền sáng chế hay theo quy định của pháp luật là: Giấy chứng nhận đăng ký sáng chế
Việc bảo hộ sáng chế có lịch sử rất lâu đời, từ khoảng thế kỉ 17-18 tại châu Âu sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất để bảo hộ những sáng tạo, những phát minh mới Việc bảo hộ sáng chế không chỉ đem lại lợi ích cho chủ sở hữu sáng chế mà còn mang lại lợi ích cho cả xã hội
Ở góc độ của chủ sở hữu, người sáng tạo, phát minh ra sáng chế thì đây là
sự đền bù tương xứng của nhà nước dành cho họ vì đã đầu tư, nghiên cứu để tạo
ra bước tiến khoa học mới, phục vụ cộng đồng Ngăn không cho các đối tượng khác ngang nhiên ăn cắp thành quả sáng tạo của người khác để thu lợi bất chính
Từ việc được độc quyền sử dụng sáng chế sẽ đem lại cho chủ sở hữu sáng chế những nguồn lợi về tài chính, do đó càng khuyến khích họ tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo
Ở góc độ của xã hội, sự khuyến khích sáng tạo sẽ tạo ra nhiều sản phẩm mới tốt hơn để phục vụ cộng đồng, từ đó tiện ích trong cuộc sống cũng không ngừng được nâng lên Mặt khác, độc quyền sáng chế chỉ được bảo hộ 20 năm cũng được coi là một khoảng thời gian hợp lý đủ để chủ sở hữu sáng chế thu được nguồn lợi từ sử dụng sáng chế và sau đó sáng chế được trả về cho công chúng và mọi người có thể được tự do nghiên cứu, sử dụng và phát triển sáng chế này
Người phát minh ra sáng chế cũng không thể hưởng thụ thành quả sáng chế cả đời mà cũng phải nỗ lực để tạo thêm những sáng chế mới, điều này tạo ra
và thúc đẩy sự phát triển khoa học trên quy mô toàn xã hội
Trang 6Thực tiễn thành công của các quốc gia phát triển như Nhật, Hoa Kỳ đều đến từ việc họ đã xây dựng thành công một cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là quyền sáng chế từ đó nền công nghiệp không ngừng phát triển, chi phí sản xuất không ngừng giảm xuống nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khi giá trị sản phẩm lại tăng lên là minh chứng rõ ràng nhất cho ý nghĩa to lớn của bảo hộ sáng chế
III/GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG.
1, Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế
Theo Điều 27 Hiệp định TRIPs (Hiệp định các khía cạnh thương mại có
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ): “Bằng sáng chế có thể cấp cho bất kỳ sáng chế nào, bất kể là sản phẩm hay quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó có tính mới, trình độ sáng tạo & khả năng áp dụng công nghiệp.”
Tại Việt Nam, tùy theo từng tiêu chí mà sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc bằng độc quyền giải pháp hữu ích
Theo đó, Khoản 1 Điều 58 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung
năm 2009) quy định: “Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức được cấp bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có trình độ sáng tạo;
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp”.
Thứ nhất, về tính mới (Điều 60 LSHTT năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tính mới của sáng chế được công nhận là mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới nếu đáp ứng được các tiêu chí sau:
Một là, sáng chế nêu trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế
không trùng với giải pháp được mô tả trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn
Trang 7Hai là, trước ngày ưu tiên của đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế,
giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn chưa bị bộc lộ công khai ở trong nước hoặc ở nước ngoài dưới hình thức sử dụng hoặc mô tả trong bất kỳ nguồn thông tin nào dưới đây tới mức mà căn cứ vào đó người có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng cũng có thể thực hiện được giải pháp đó:
Các nguồn thông tin liên quan đến sáng chế ở nước ngoài, tính từ ngày công bố bao gồm các nguồn thông tin dưới bất kỳ nguồn tin nào (ấn phẩm, phim ảnh, băng đĩa, đĩa từ,…) – tính từ ngày công bố tin, vật mang tin bắt đầu được lưu hành
Các nguồn thông tin đại chúng: các báo cáo khoa học, các bài giảng,… nếu được ghi lại bằng bất kỳ phương tiện nào – tính từ ngày báo cáo hoặc giảng bài; các triển lãm – tính từ ngày hiện vật được trưng bày
Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định một số trường hợp nhằm loại trừ khả năng làm mất tính mới của sáng chế như:
nhưng không được phép của người nộp đơn và ngày người đó công bố nằm trong thời hạn 06 tháng từ ngày nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ sáng chế
luật công bố dưới dạng báo cáo khoa học trong thời hạn trước 06 tháng từ ngày nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ sáng chế
Ba là, sáng chế được người có quyền đăng ký theo quy định của pháp luật
trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia Việt Nam hoặc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận chính thức trong thời hạn 06 tháng từ ngày nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ quyền sáng chế
lượng người xác định có liên quan được biết đến thông tin đó, tức là số lượng
Trang 8người nắm được thông tin về sáng chế này là nằm trong sự kiểm soát của chủ sáng chế
Thứ hai, về trình độ sáng tạo (Điều 61 LSHTT năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009) Qua đó, sáng chế phải được tạo ra từ quá trình đầu tư sáng tạo nhất định, phải là thành quả của ý tưởng sáng tạo nổi trội, có thể nhận biết rõ ràng Giữa tình trạng kỹ thuật đã được biết trước đó và sáng chế yêu cầu bảo hộ phải tạo ra bước tiến rõ rệt và đó được coi là bản chất của sáng chế Bên cạnh đó, trình độ sáng tạo của sáng chế mang tính không hiển nhiên, tức là giải pháp kỹ thuật đó không được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng, hơn thế chúng còn tạo ra bước tiến sáng tạo vượt trội hơn hẳn so với các giải pháp kỹ thuật trước đây
Thứ ba, về có khả năng áp dụng công nghiệp (Điều 62 LSHTT năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009) Một sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu thỏa mãn các tiêu chí cơ bản sau:
Các thông tin về bản chất của giải pháp cùng với chỉ dẫn về điều kiện kỹ thuật cần thiết được rình bày một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức cho phép người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng cũng có thể tạo
ta, sản xuất ra hoặc sử dụng, khai thác hoặc tiến hành được giải pháp đó
Việc tạo ra, sản xuất ra, khai thác, sử dụng hoặc tiến hành giải pháp đó có thể lặp đi lặp lại với kết quả giống nhau và giống với kêt quả được nêu trong đơn
Đồng thời, tại khoản 2 Điều 58 quy định: “Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có tính mới;
b) Có khả năng áp dụng công nghiệp.”
Trang 9Cách hiểu về tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp của giải pháp hữu ích cũng được hiểu tương tự như với sáng chế
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 59 của Luật sở hữu trí tuệ thì các đối tượng sau không được Nhà nước bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế cho dù có đầy
đủ 3 điều kiện trên: Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học; sơ
đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính; cách thức thể hiện thông tin; giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ; giống thực vật, giống động vật; quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học
mà không phải là quy trình vi sinh;phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật
Cụ thể trong tình huống trên, ông Trần Việt Hoàng sáng chế ra chiếc máy sấy thóc bằng nhiệt tự động, sản phẩm này là sáng chế của ông Hoàng, thuộc đối tượng của sáng chế và thỏa mãn các điều kiện về bảo hộ đối với sáng chế:
Thứ nhất về tính mới đó là sáng chế, giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn chưa bị bộc lộ công khai ở trong nước hoặc ở nước ngoài dưới hình thức
sử dụng hoặc mô tả trong bất kỳ nguồn thông tin nà, dạng nào
Thứ hai về tính sáng tạo đó là sáng chế này thành quả sáng tạo nổi trội của ông Hoàng, nó không hiển nhiên mà có, giải pháp kỹ thuật đó không được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng, hơn thế chiếc máy sấy mà ông Hoàng sáng tạo ra vượt trội hơn hẳn so với các giải pháp kỹ thuật trước đây
Thứ ba về khả năng áp dụng công nghiệp, có thể tạo ra, sản xuất ra hoặc
sử dụng, khai thác hoặc tiến hành được giải pháp đó
Như vậy, sản phẩm sáng chế chiếc máy sấy thóc bằng nhiệt tự động của ông Hoàng là thỏa mãn được các điều kiện bảo hộ đối với sáng chế
Trang 102, Các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế
Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền đối với sáng chế nói riêng Để tạo căn cứ pháp lý cho chế tài xử phạt đối với hành vi này, Điều 126 Luật SHTT quy định các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế:
Một là, Sử dụng sáng chế được bảo hộ trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu
Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế được bảo hộ, và bất kỳ người nào sử dụng sáng chế mà không có
sự đồng ý của chủ sở hữu đó thì đều bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế này, trừ một số trường hợp Luật có quy định khác
Thực tế, nhiều cá nhân vì mục đích thương mại đã sử dụng các sáng chế
đã được đã bảo hộ của các chủ sở hữu khác nhằm tạo ra những sản phẩm tương
tự để trục lợi Bằng cách bám sát các chi tiết như được bộc lộ trong bản mô tả sáng chế, người ta có thể xâm phạm quyền của một bằng độc quyền sáng chế khác, trừ khi nó thuộc trường hợp ngoại lệ như việc thực hiện một thử nghiệm hoặc sử dụng trong nghiên cứu Nhưng việc sao chép sáng chế không phải là cách duy nhất để một doanh nghiệp xâm phạm quyền đối với sáng chế Trong thực tế, cho dù cố ý hay vô ý nếu kết hợp một sáng chế được bảo hộ độc quyền hoặc sử dụng hoặc tích hợp đầy đủ một sáng chế tương tự với sáng chế được bảo
hộ thì còn có thể bị xử lý vì hành vi xâm phạm độc quyền sáng chế Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế có thể ngăn chặn hợp pháp các doanh nghiệp khác sử dụng sáng chế, và cũng có thể kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu có
Hai là, Sử dụng sáng chế mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời quy định tại Điều 131 của Luật này.
Theo quy định tại điều 131 Luật SHTT, trường hợp người nộp đơn đăng
ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp biết rằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đang được người khác sử dụng nhằm mục đích thương mại và người đó không