NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)NGHIÊN CỨU BÊNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ (Luận án tiến sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN PHI BẰNG MSHV: P1014001
NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: BỆNH LÝ HỌC VÀ CHỮA BỆNH VẬT NUÔI
MÃ NGÀNH: 62 64 01 02
CẦN THƠ, 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN PHI BẰNG
NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: BỆNH LÝ HỌC VÀ CHỮA BỆNH VẬT NUÔI
MÃ NGÀNH: 62 64 01 02
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS.TS NGUYỄN HỮU HƯNG
CẦN THƠ, 2020
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, động viên của gia đình, thầy cô, bạn bè và các bạn sinh viên, cùng một số
cơ quan tổ chức và cũng đã hoàn thành luận án
Xin gửi lòng tri ân đến ba mẹ - đấng sinh thành - cùng anh chị em trong gia đình thân yêu luôn là nguồn động lực thúc đẩy tôi nỗ lực và phấn đấu Cảm
ơn vợ đã tạo điều kiện cho tôi có thời gian học tập thật tốt Tất cả những người thân yêu nhất đã dành cho tôi tất cả tình yêu, sự khuyến khích và ủng hộ tôi trong chặng đường học tập và hoàn thành luận án tiến sĩ
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Nguyễn Hữu Hưng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện
đề tài và hoàn thành luận án Đặc biệt, thầy là người truyền cho tôi lòng nhiệt huyết và niềm đam mê khoa học, khơi dậy trong tôi sự tự tin, nỗ lực, cố gắng không ngừng và không chùn bước trước những khó khăn trong suốt thời gian thực hiện luận án tiến sĩ Tôi cũng không thể nào quên sự ủng hộ và hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Hồ Bảo Trân, Bộ môn Thú y, Khoa Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, trong suốt thời gian thực hiện luận án Tôi xin chân thành cảm ơn thầy và cô đã dành nhiều thời gian, công sức giúp tôi có định hướng đúng đắn trong học tập và nghiên cứu Tôi luôn luôn ghi nhớ công ơn và tình cảm của PGS.TS Trần Đình Từ, PGS TS Võ Lâm những người thầy luôn dõi theo và nâng đỡ tôi trong suốt thời thực hiện và hoàn thành luận án
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban Giám Hiệu Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Nông Nghiệp, Khoa Sau Đại học, Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học luôn quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành tiến trình học tập và nghiên cứu Xin ghi nhớ công
ơn của quý Thầy, Cô Khoa Nông nghiệp đã hết lòng truyền đạt những kinh nghiệm và kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học
Xin cảm ơn và chia sẽ nghiên cứu này đến các bạn, các em sinh viên Bộ môn Thú Y, khoa Nông nghiệp; phòng thí nghiệm Sinh học phân tử của Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học, Đại học Cần Thơ Các anh, chị, bạn nghiên cứu sinh, học viên cao học và các em sinh viên Đại học đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu; đã chia sẻ những khó khăn, khuyến khích và động viên tôi trong suốt thời gian qua
Các cán bộ Chi cục Chăn nuôi Thú y tỉnh, trạm Chăn nuôi Thú y huyện, ban lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật trại, các hộ chăn nuôi ở tỉnh An Giang, Bến
Trang 4ii
Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi trong việc thu thập mẫu
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học An Giang, Ban
Chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp – Tài nguyên Thiên nhiên, trường Đại học An
Giang đã tạo điều kiện để tôi được tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên
môn, các bạn đồng nghiệp đã không ngừng động viên và giúp đỡ tôi trong suốt
Trang 5iii
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu dịch tễ học của bệnh sán dây trên chó tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và các biện pháp phòng trị Qua phương pháp kiểm tra phân và mổ khám tìm sự hiện diện sán dây trên chó tại 6 tỉnh ĐBSCL (Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre) từ 2014 đến 2018 cho thấy, chó nhiễm sán dây với tỷ lệ nhiễm chung là 22,51% (đối với phương pháp kiểm tra phân) và 25,86% (đối với phương pháp mổ
khám), với 5 loài sán dây được tìm thấy thuộc 2 bộ Cyclophyllidea và
Pseudophyllidea là Dipylidium caninum, Taenia pisiformis, Taenia hydatigena,
Spirometra mansoni, Diphyllobothrium latum, trong đó loài Dipylidium caninum có tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cao nhất trên chó tại vùng khảo sát
Trong đó, chó có tỷ lệ nhiễm sán dây tăng dần theo lứa tuổi, thấp nhất là 1-12 tháng tuổi (12,10%), kế đến là lứa tuổi 13-24 tháng (20,64%) và cao nhất là
>24 tháng (31,28%) Giống chó nội và lai có tỷ lệ nhiễm (25,40%) cao hơn giống ngoại (16,06%) Ngoài ra, chó nuôi tại ĐBSCL có tỷ lệ nhiễm sán dây chịu ảnh hưởng tác động của các yếu tố như: vùng sinh thái, mùa trong năm, phương thức nuôi, phương thức vệ sinh gia súc, vệ sinh thú y, phương thức cho ăn, kiểu lông, thể trạng của chó Cường độ nhiễm trung bình cao nhất là loài
Dipylidium caninum (11,99±5,47 sán dây/chó), kế đến là Spirometra mansoni
(7,21±3,36 sán dây/chó), Taenia pisiformis (3,06±1,36 sán dây/chó), Taenia
hydatigena (3,38±1,23 sán dây/chó) và thấp nhất là Diphyllobothrium latum
(2,23±1,37 sán dây/chó)
Phân tích loài Dipylidium caninum qua đặc điểm hình thái và kỹ thuật
sinh học phân tử qua khuếch đại vùng gene ITS và gene 28S Nghiên cứu đối chiếu trình tự của nucleotide của đoạn gene ITS thu được từ mẫu cùng đoạn gene này trong Ngân hàng gene với 99% tương đồng về kiểu gene sán dây trong nghiên cứu so với mẫu sán đã được đăng ký trong ngân hàng gene Tỷ lệ
tương đồng của các mẫu sán dây Dipylidium caninum ở khu vực ĐBSCL dao
động từ 99,3% đến 100%
Kết quả nghiên cứu xác định được vòng đời sán dây Dipylidium caninum trải qua 2 giai đoạn bên trong ký chủ trung gian Ctenocephalides và bên trong ký chủ chính (chó) Chu trình phát triển của ký chủ trung gian Ctenocephalides trải qua 6
giai đoạn trứng, larva 1, larva 2, larva 3, kén, bọ chét trưởng thành Cùng với thời
gian biến đổi hình thái của ấu trùng sán dây Dipylidium caninum từ oncosphere thành cysticercoid bên trong ký chủ trung gian Ctenocephalides tương đương với thời gian hoàn thành vòng đời của Ctenocephalides trung bình là 20,9 ngày và thời
Trang 6trên hệ tiêu hóa chó nhiễm sán dây Dipylidium caninum thể hiện tổn thương
trên niêm mạc ruột, cơ ruột và hạch bạch huyết ruột với dấu hiệu điển hình như đầu cầu lông nhung bong tróc, nhiều bạch cầu hiện diện trên niêm mạc ruột và
áo cơ, viêm cơ và áo cơ ruột, viêm sợi huyết trên bề mặt niêm mạc, tăng sinh hạch bạch huyết Chó nhiễm sán thường có lượng bạch cầu tăng (13,83±1,63x103/mm3), trong khi đó hematocrit (6,62±0,65 g/dL) và hồng cầu (4,12±0,27x106/mm3) giảm hơn so với chó không nhiễm sán dây
Thuốc praziquantel và niclosamide có hiệu quả điều trị rất cao trong điều trị bệnh sán dây trên chó với tỷ lệ sạch sán 100% ở liều 10 mg/kg thể trọng đối với praziquantel và 150 mg/kg thể trọng đối với niclosamide Thuốc ivermectine có tác dụng 100% số chó sạch bọ chét ở cả hai phương thức cấp thuốc, nhỏ đường sống lưng và tiêm bắp ở liều 1 mg/3 kg thể trọng với 2 lần cấp thuốc, ngày 1 và lặp lại sau 7 ngày
Từ khóa: Chó, sán dây, D caninum, tỷ lệ nhiễm, ĐBSCL
Trang 7v
ABSTRACT
The project was conducted to study the epidemiology of tapeworms in dogs
in several provinces at Mekong Delta and prevention measures The aim of thesis are as followed: -Identifying the species, distribution, biological characteristics and influential factors to the tapeworm infection rate in dog the Mekong Delta.Suggesting the treatment methods for infected dog in Mekong Delta The results show that dogs in 6 provinces of the Mekong Delta were tapeworm infection with the overall rate of 22.51% (for fecal examination) and 25.86% (for necropsy method), There are 5 species of tapeworm have been found which belong to 2
orders Cyclophyllidea and Pseudophylidea consisting of: Dipylidium caninum,
Taenia pisiformis, Taenia hydatigena, Spirometra mansoni, Diphyllobothrium latum Among the species, Dipylidium caninum was found to have the highest
infection rate and intensity in canines in the surveyed area In particular, canines have the rate of tapeworm infection increasing with age, the lowest is 1-12 months
of age (12.10%), followed by the age group of 13-24 months (20.64%) and the highest is over 24 months (31.28%) Domestic and cross canine breeds have higher infection rate (25.40%) than foreign canine breeds (16.06%) In addition, canine raised in the Mekong Delta have a rate of tapeworm infection affected by factors such as: ecological zone, season of the year, breeding methods, pet caring methods, veterinary hygiene, feeding methods, hair characteristic, canine fitness The tapeworm necropsy method had similar infection rate with the stool test
(25.86%) with the highest average intensity of infection was Dipylidium caninum (11.99 ± 5.47 tapeworm/dog), respectively Which are Spirometra mansoni (7.21 ± 3,36 tapeworm/dog), Taenia pisiformis (3.06 ± 1.36 tapeworm/dog), Taenia
hydatigena (3.38 ± 1.23 tapeworm/dog) and the lowest is Diphyllobothrium latum
(2.23 ± 1.37 tapeworm/dog) Analysis of Dipylidium caninum identification by
morphological characteristics and molecular biology techniques through amplification of ITS and 28S gene regions The study collated the sequence of nucleotides of the ITS gene segment from the same gene segment in the GenBank with 99% of the tapeworm genotypes in the study compared with the tapeworm samples registered in the GeneBank The similarity rate of the
samples of Dipylidium caninum in the Mekong Delta region ranged from 99.3%
to 100% The results of the study determined that the life cycle of the tapeworm
Dipylidium caninum has 2 stages inside the intermediate host
(Ctenocephalides) and inside the final host (dog) Ctenocephalides canis life
cycle through 6 stages of egg, 1st stage larva, 2nd stage larva, 3rd stage larva, cocoons, adult fleas The morphological transformation time of the tapeworm
larvae Dipylidium caninum from oncosphere to cysticercoid inside
Trang 8vi
Ctenocephalides was equivalent to the average completion time of Ctenocephalides life cycle of 20.9 days and development time from
cysticercoid to adult tapeworm in final host had an average of 29.5 days
Pathological research in canine infected D caninum with tapeworms shows common clinical symptoms such as itchy anus, diarrhea The canine with D
caninum tapeworm diseases often appears to have the most common gross
lesions in small intestine which are localized hemorrhage at the site of the hook
of the tapeworm, inflammatory bowel Microscopic lesions in the digestive
system of canines infected with Dipylidium caninum tapeworm that showed
lesions in the mucosal surface of the small intestine, intestinal muscle and mesenteric lymphadenitis These typical injuries were peeling off villi of intestinal myositis, precence of many leukocytes in the submucosal of small intestine, fibrinotis on mucosal surfaces, enlarged lymph nodes Regarding changes in canine complete blood counts, infected canines often had increased white blood cell counts (13.83±1.63 103/mm3), while hematocrit (6.62 ± 0.65 g/dL) and erythrocytes (4.12±0.27 106/mm3) was reduced compared to canines without tapeworm
Praziquantel and niclosamide have a very high therapeutic effect in treating tapeworm infection in canines with a rate of 100% of canines cured at
a dose of 10 mg/kg body weigh for praziquantel and 150 mg/kg body weigh for niclosamide The ivermectine is 100% effective against all flea bites in both drug delivery, transdermal, and intramuscular injections at a dose of 1 mg/3kgP with two injection of the first day and repeated after 7 days
Keywords: Canines, tapeworms, rate of infection, Mekong Delta
Trang 9vii
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh Nguyễn Phi Bằng với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hữu Hưng Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố bởi tác giả khác trong bất kỳ công trình nào trước đây
Người hướng dẫn khoa học Tác giả luận án
Trang 10viii
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC i
ABSTRACT v
LỜI CAM ĐOAN vii
MỤC LỤC viii
DANH MỤC BẢNG xi
DANH MỤC HÌNH xiii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xv
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học 2
1.4 Ý nghĩa thực tiễn 2
1.5 Những đóng góp mới của luận án 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sán dây và bệnh sán dây 3
2.1.1 Phân loại sinh học sán dây 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái sán dây 3
2.1.3 Đặc điểm sinh học sán dây 7
2.1.4 Bệnh sán dây trên chó 8
2.2 Sán dây trên chó 10
2.2.1 Phân loại sinh học các loài sán dây ký sinh trên chó 10
2.2.2 Đặc điểm hình thái một số loài sán dây ký sinh trên chó 11
2.3 Đặc điểm ký chủ trung gian của sán dây Dipylidium caninum 25
2.3.1 Đặc điểm phân loại và hình thái Ctenocephalides 25
2.3.2 Vòng đời của Ctenocephalides 28
2.4 Các phương pháp chẩn đoán sán dây trên chó 28
2.4.1 Chẩn đoán sán dây khi còn sống 28
2.4.2 Phương pháp chẩn đoán trên con vật chết 31
2.5 Các phương pháp xác định loài sán dây 32
2.5.1 Phương pháp xác định loài sán dây bằng đặc điểm hình thái học 32
2.5.2 Phương pháp xác định loài sán dây bằng sinh học phân tử 32
2.6 Thuốc tẩy trừ sán dây và ký chủ trung gian phổ biến trên chó 37
2.6.1 Praziquantel 37
2.6.2 Niclosamide 39
2.6.3 Ivermectine 41
2.7 Tình hình nghiên cứu về bệnh sán dây ký sinh trên chó trên thế giới và trong nước 42
Trang 11ix
2.7.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 42
2.7.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 45
2.8 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên, xã hội Đồng Bằng Sông Cửu Long 48
2.8.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên 49
2.8.2 Tình hình nuôi chó tại các tỉnh ĐBSCL 50
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52
3.1 Nội dung nghiên cứu 52
3.1.1 Xác định đặc điểm dịch tễ của sán dây trên chó tại các tỉnh ĐBSCL 52
3.1.2 Xác định loài sán dây D caninum bằng đặc điểm hình thái học và sinh học phân tử trên chó tại các tỉnh ĐBSCL 52
3.1.3 Nghiên cứu xác định vòng đời của loài sán dây D caninum 52
3.1.4 Nghiên cứu bệnh lý học trên chó nhiễm sán dây D caninum 52
3.1.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh sán dây trên chó 52
3.2 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 53
3.3 Dụng cụ và hóa chất 54
3.4 Phương pháp nghiên cứu 54
3.4.1 Xác định đặc điểm dịch tễ của sán dây trên chó tại các tỉnh ĐBSCL 54
3.4.2 Xác định loài một số đặc điểm hình thái học và sinh học phân tử sán dây Dipylidium caninum trên chó tại các tỉnh ĐBSCL 59
3.4.3 Nghiên cứu vòng đời sán dây Dipylidium caninum 66
3.4.4 Nghiên cứu bệnh lý trên chó nhiễm sán dây D caninum 68
3.4.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh sán dây D caninum trên chó 70
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 73
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LU N 74
4.1 Kết quả tình hình nhiễm sán dây trên chó tại các tỉnh ĐBSCL và các yếu tố nguy cơ 74
4.1.1 Kết quả kiểm tra phân 74
4.1.2 Kết quả mổ khám 88
4.2 Kết quả định danh phân loại loài sán dây Dipylidium caninum chủ yếu gây tác hại trên chó tại ĐBSCL 94
4.2.1 Phân loại định danh bằng hình thái học 94
4.2.2 Phân loại định danh bằng kỹ thuật sinh học phân tử 97
4.3 Kết quả nghiên cứu vòng đời của sán dây Dipylidium caninum và chu trình phát triển của ký chủ trung gian (Ctenocephalides canis) 103
4.3.1 Nghiên cứu chu trình phát triển của Ctenocephalides canis 103
4.3.2 Khảo sát tỷ lệ nhiễm và thời gian biến đổi hình thái của ấu trùng sán dây trong ký chủ trung gian 107
4.3.3 Thời gian hoàn thành vòng đời và tỷ lệ phát triển của cysticercoid thành sán dây trưởng thành 109
Trang 12x
4.4 Kết quả nghiên cứu đặc điểm bệnh lý trên chó bệnh sán dây Dipylidium
caninum 113
4.4.1 Triệu chứng lâm sàng trên chó nhiễm sán dây Dipylidium caninum 113
4.4.2 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể, vi thể và biến đổi sinh lý máu trên chó nhiễm sán dây 114
4.5 Kết quả thử nghiệm hiệu quả của một số thuốc tẩy trừ sán dây trên chó 120 4.5.1 Hiệu quả của các loại thuốc tẩy trừ sán dây trên chó 120
4.5.2 Hiệu quả thuốc ivermectine trong tẩy trừ và khống chế bọ chét trên chó 124
CHƯƠNG 5 KẾT LU N VÀ ĐỀ XUẤT 126
5.1 Kết luận 126
5.2 Đề xuất 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC A 142
PHIẾU ĐIỀU TRA TRÊN CHÓ 142
PHỤ LỤC B: XỬ LÝ THỐNG KÊ 145
PHỤ LỤC C: GIẢI TRÌNH TỰ DNA 166
PHỤ LỤC D: HÌNH ẢNH SÁN DÂY VÀ KÝ CHỦ TRUNG GIAN ĐIỂN HÌNH THU NH N ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 170
PHỤ LỤC E: CÁC GIỐNG CHÓ PHỔ BIẾN 181
Trang 13xi
DANH MỤC BẢNG Bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Sự khác nhau của bộ Cyclophyllidea và bộ Pseudophyllidea 6
Bảng 2.2 Thông tin biệt dược praziquantel 37
Bảng 2.3 Thông tin biệt dược niclosamide 39
Bảng 2.4 Tổng đàn chó nuôi tại các tỉnh ĐBSCL 50
Bảng 3.1 Phân bố mẫu điều tra 54
Bảng 3.2 Phân bố mẫu khảo sát theo giống, lứa tuổi, phương thức nuôi, mùa vụ và vùng sinh thái 55
Bảng 3.3 Mẫu sán dây và vùng gene khuếch đại được sử dụng trong nghiên cứu 62
Bảng 3.4 Trình tự primer tương ứng với gene 633
Bảng 3.5 Chu kỳ nhiệt cho phản ứng PCR 63
Bảng 3.6 Thành phần mix cho một phản ứng PCR 64
Bảng 3.7 Các mẫu sán dây trong Ngân hàng gene cung cấp chuỗi ITS-1 sử dụng trong nghiên cứu 65
Bảng 3.8 Xác định tỷ lệ sạch bệnh của chó nhiễm sán dây Dipylidium caninum sau điều trị bằng praziquantel và niclosamide 71
Bảng 3.9 Bố trí nghiệm thức dùng thuốc ivermectine trong điều trị bọ chét trên chó 73
Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó tại các tỉnh ĐBSCL 74
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó giữa thành thị và nông thôn 75
Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm các loài sán dây trên chó tại các tỉnh ĐBSCL 76
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo lứa tuổi tại các tỉnh ĐBSCL 78
Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo nhóm giống chó tại các tỉnh ĐBSCL 79
Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo vùng sinh thái tại các tỉnh ĐBSCL 80
Bảng 4.7 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo giới tính, mùa vụ 81
Bảng 4.8 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo phương thức nuôi 82
Bảng 4.9 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo phương thức vệ sinh gia súc 83
Bảng 4.10 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo chu kỳ tẩy sán dây định kỳ của chủ nuôi 84
Bảng 4.11 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo phương thức cho ăn của chủ nuôi 85
Bảng 4.12 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo kiểu lông 86
Bảng 4.13 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo thể trạng chó 87
Bảng 4.14 Tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó theo lứa tuổi tại các địa điểm khảo sát 88
Trang 14xii
Bảng 4.15 Tỷ lệ nhiễm ghép sán dây trên chó tại các tỉnh khảo sát 89 Bảng 4.16 Thành phần loài sán dây trên chó theo lứa tuổi tại các tỉnh ĐBSCL 90 Bảng 4.17 Cường độ nhiễm các loài sán dây trên chó (sán dây/chó) 92
Bảng 4.18 Một số đặc điểm hình thái Dipylidium caninum 94
Bảng 4.19 Kết quả theo dõi các yếu tố nhiệt độ và ẩm độ ảnh hưởng đến tỷ lệ
nở của trứng Ctenocephalides canis trong 7 ngày 103
Bảng 4.20 Kết quả theo dõi đặc điểm hình thái và kích thước của ấu trùng
Ctenocephalides canis qua các giai đoạn 103
Bảng 4.21 Kết quả thời gian phát triển của Ctenocephalides canis trong các
giai đoạn khác nhau ở nhiệt độ từ 25-28oC với ẩm độ từ 75-80% 105 Bảng 4.22 Tỷ lệ biến đổi hình thái trung bình của ấu trùng sán dây 107 Bảng 4.23 Khảo sát thời gian hoàn thành vòng đời và tỷ lệ phát triển của
sán dây D caninum 118
Bảng 4.27 Tỷ lệ chó sạch sán sau tẩy trừ của thuốc praziquantel và niclosamide tẩy trừ sán dây thí nghiệm 120 Bảng 4.28 Tỷ lệ sạch bệnh sán dây của chó qua cường độ cảm nhiễm sau khi tẩy trừ bằng thuốc praziquantel 121 Bảng 4.29 Đánh giá hiệu lực niclosamide qua cường độ cảm nhiễm của chó nhiễm sán dây sau tẩy trừ 123 Bảng 4.30 Kết quả thử nghiệm của ivermectine trong tẩy trừ và khống chế bọ chét trên chó 124
Trang 15xiii
DANH MỤC HÌNH Hình Tên hình Trang
Hình 2.1 Đầu sán dây và cấu tạo đốt sán 5
Hình 2.2 Cấu tạo bên trong của đốt sán dây 5
Hình 2.3 Trứng của lớp Cestoda 6
Hình 2.4 Các bộ phận của sán dây Dipylidium caninum 11
Hình 2.5 Các bộ phận cấu tạo của sán dây Dipylidium caninum 11
Hình 2.6 Cấu tạo túi trứng và đốt chữa của Dipylidium caninum 12
Hình 2.7 Vòng đời sán dây Dipylidium caninum 13
Hình 2.8 Các bộ phận của sán dây Spirometra mansoni 14
Hình 2.9 Vòng đời của sán dây Spirometra mansoni 15
Hình 2.10 Các dạng hình thái của D latum 17
Hình 2.11 Vòng đời phát triển của D latum 18
Hình 2.12 Các dạng hình thái của Taenia hydatigena 20
Hình 2.13 Vòng đời sán dây Taenia hydatigena 21
Hình 2.14 Các dạng hình thái của Taenia pisiformis 22
Hình 2.15 Trứng Taenia pisiformis và đốt trưởng thành (Bloch, 1780) 22
Hình 2.16 Vòng đời sán dây Taenia pisiformis 23
Hình 2.17 Sự khác biệt về hình thái giữa giác bám, đốt sinh dục và đốt chửa của loài Taenia pisiformis và Taenia hydatigena (Soulsby, 1982) 24
Hình 2.18 Sự khác biệt về hình thái và tương quan kích thước giữa các đốt chửa của loài sán dây Taeani spp (Soulsby, 1982) 24
Hình 2.19 Cấu tạo và các dạng hình thái của bọ chét 26
Hình 2.20 Đặc điểm phân biệt C canis và C felis 27
Hình 2.21 Vòng đời của Ctenocephalides 28
Hình 2.22 Các bước trong kỹ thuật ELISA gián tiếp 31
Hình 2.23 Nguyên tắc của PCR là nhân bản DNA đích qua các chu kỳ nhiệt 33 Hình 2.24 Sơ đồ khối minh họa nguyên tắc hoạt động của máy luân nhiệt với buồng ủ nhiệt bằng khí 33
Hình 2.25 Polymerase nhận diện được nucleotide ở đầu 3’ của mồi bắt cặp với nucleotide ở sợi khuôn nên trượt được trên sợi khuôn để tổng hợp sợi bổ sung 36
Hình 2.26 Sơ đồ hệ gene nhân tế bào 37
Hình 2.27 Mô phỏng sơ đồ hệ gene ty thể 37
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý các tỉnh khảo sát trong nghiên cứu 53
Hình 3.2 Mô tả phương pháp xác định tỷ suất chênh 56
Hình 3.3 Sơ đồ thí nghiệm phân tích đặc điểm hình thái và sinh học phân tử của sán dây D caninum 59
Hình 3.4 Dipylidium caninum 60
Hình 3.5 Đốt lưỡng tính D.caninum 61
Trang 16xiv
Hình 3.6 Trứng sán dây Dipylidium caninum 61
Hình 4.1 Hình thái loài sán dây Dipylidium caninum 95
Hình 4.2 Kết quả điện di sản phẩm PCR bằng gene ITS1 97
Hình 4.3 Sắc phổ chuỗi trình tự gene ITS1 của loài D caninum thu thập được tại các tỉnh ĐBSCL 98
Hình 4.4 Kết quả Blast trình tự nucleotide của sán dây D.caninum gene ITS1 trên NCBI 98
Hình 4.5 Mức độ tương đồng trình tự nucleotide của các mẫu D caninum thu thập tại các tỉnh ĐBSCL 99
Hình 4.6 Kết quả điện di sản phẩm PCR bằng gene 28S 100
Hình 4.7 Kết quả Blast trên của trình tự nucleotide của sán dây Dipylidium caninum bằng gene 28S rDNA trên NCBI 100
Hình 4.8 Sơ đồ phả hệ về quan hệ di truyền của các mẫu sán tại các tỉnh ĐBSCL và mẫu được đăng ký trên NCBI 102
Hình 4.9 Các dạng hình thái trứng và ấu trùng thu thập trong nghiên cứu 104
Hình 4.10 Các dạng hình thái Ctenocephalides canis từ ấu trùng đến trưởng thành 104
Hình 4.11 Kết quả biến đổi hình thái và hoàn thành vòng đời của Ctenocephalides canis thu thập từ nghiên cứu 106
Hình 4.12 Oncosphere chuẩn bị gây nhiễm 108
Hình 4.13 Chó thải đốt sán qua phân và đốt sán dính ở hậu môn 109
Hình 4.14 Thu thập phân chó thí nghiệm và gạn rữa đốt sán 109
Hình 4.15 D caninum trong hệ tiêu hóa chó thí nghiệm 110
Hình 4.16 Thu thập và đếm số lượng sán dây trưởng thành 110
Hình 4.17 Sơ đồ tóm tắt vòng đời của sán dây Dipylidium caninum 111
Hình 4.18 Mổ khám bệnh tích trên chó nhiễm sán dây 116
Hình 4.19 Các thể bệnh tích trên ruột non của chó nhiễm sán dây và các vết loét ở ruột non 116
Hình 4.20 Xuất huyết và xuất tiết chất nhầy ở ruột non của chó nhiễm sán dây 116
Hình 4.21 Viêm và tổn thương niêm mạc ruột 117
Hình 4.22 Viêm và tổn thương niêm mạc cơ ruột 117
Hình 4.23 Hạch bạch huyết ruột sưng to 117
Trang 17xv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CDC Center for Disease Control
and Prevention
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ
DNA Deoxyribonucleic acid A xít deoxyribonucleic
RNA Ribonucleic acid A xít ribonucleic
CYS Ấu trùng sán dây bộ viên
Đơn vị cấu tạo nên DNA
ELISA Enzyme linked
immunosorbent assay
Phản ứng miễn dịch gắn men
GABA Gama amino butyric acid
LAMP Loop Amplification
NTP Nucleoside triphosphate Ribônuclêôtit
PCR Polymerase Chain Reaction Phản ứng chuỗi polymerase
Trang 18Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và kiểm soát nội ký sinh trên chó ở vùng nhiệt đới
WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
WSAVA World Small Animal
Veterinary Association
Hiệp hội thú y thú nhỏ thế giới
Trang 191
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Loài chó được con người thuần hóa từ rất sớm và được nuôi rộng rãi ở khắp các quốc gia trên thế giới, ít nhất cũng 10.000 năm Nhiều nghiên cứu cho thấy chó có mối gắn kết rất thân thiết với trẻ em trong gia đình, mang lại
nhiều niềm vui cho các thành viên trong gia đình (Paul et al., 1996) Hiện nay
số lượng chó nuôi ở nước ta tại các hộ gia đình rất lớn, có đến hơn 9 triệu con, trong khi đó Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có khoảng 1,1 triệu con chiếm hơn 12% tổng đàn của cả nước (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, 2016) Chó là người bạn thân thiết và gần gũi nhất của con người nên chó cũng là một trong những nguồn truyền lây bệnh từ động vật truyền sang người Trong đó, bệnh do sán dây trên chó là bệnh tiềm tàng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của chó và cả con người Việc lây nhiễm bệnh từ động vật cưng này được cảnh báo từ rất lâu, ký sinh trùng từ chó sang người là rất dễ dàng nếu như chó nuôi bị nhiễm sán, trong đó có thể bệnh ấu trùngrất phức tạp và rất khó điều trị, đặc biệt là trẻ nhỏ (Huỳnh Hồng Quang, 2010a) Việc phòng bệnh cho thú cưng của mình đang rất được người nuôi quan tâm và kiểm soát chặt chẽ bằng các loại vaccine đã góp phần hạn chế rất lớn sự bùng nổ của các bệnh truyền nhiễm nhưng bệnh ký sinh trùng đặc biệt
là bệnh do sán dây gây ra vẫn tồn tại và rất ít được quan tâm Một số bệnh sán dây ký sinh trên chó còn có khả năng lây lan sang người có thể kể đến như
Dipylidium caninum, Spirometra mansoni, Taenia hydatigena… Bệnh thường
ở dạng tiềm ẩn với cường độ cảm nhiễm thấp dễ dẫn đến sự lơ là và chẩn đoán nhầm lẫn nếu không có các phương pháp chẩn đoán chuyên biệt Hiện nay, việc kiểm soát vệ sinh thú y trong chăn nuôi chó và kiểm soát giết mổ vẫn chưa được nhiều địa phương quan tâm đúng mức nên nguy cơ lây lan bệnh sán dây và bệnh ấu trùng trên chó sẽ rất lớn Bệnh cũng xuất hiện ở các quốc gia đang phát triển và cả những nước phát triển gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người và nền kinh tế của nhiều quốc gia (Agnieszka Tylkowska
et al., 2010; Jahangir Abdi et al., 2013) Ở Việt Nam, đặc biệt là vùng nông
thôn đa số chó được nuôi bằng phương thức thả tự do nên sán dây rất dễ lây lan, trứng sán theo phân phát tán khắp nơi, bệnh sán dây xuất hiện nhiều nơi
và có xu hướng gia tăng gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (Lê Trần Anh
và Nguyễn Khắc Lực, 2013) Chính vì những lý do trên, với mong muốn cần
có những cơ sở khoa học nhằm giúp cho chúng ta có cái nhìn và sự quan tâm đúng mức và để có các biện pháp phòng bệnh do sán dây gây ra Đề tài
Trang 202
“NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH SÁN DÂY TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ” được tiến hành
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định đặc điểm dịch tễ và yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm sán dây trên chó tại các tỉnh ĐBSCL
Đề xuất biện pháp tẩy trừ bệnh sán dây trên chó tại các tỉnh ĐBSCL
1.3 Ý nghĩa khoa học
Là công trình nghiên cứu có hệ thống về sán dây trên chó; xác định tình hình nhiễm bệnh và các yếu tố liên quan đến sự phân bố của mầm bệnh Xác định loài sán dây chủ yếu gây tác hại trên chó bằng hình thái học và sinh học phân tử sử dụng RADP-PCR và giải trình tự gene
Là công trình đầu tiên ở ĐBSCL nghiên cứu vòng đời sán dây trên chó, nghiên cứu bệnh lý trên chó, điều trị thử nghiệm và đề ra biện pháp tẩy trừ
Cung cấp thêm tư liệu khoa học về loài Dipylidium caninum ký sinh trên chó ở
ĐBSCL, đồng thời bổ sung thông tin khoa học cho các giáo trình thú y phục
vụ công tác giảng dạy
1.4 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả luận án là cơ sở khoa học để khuyến cáo người nuôi chó ở ĐBSCL, các yếu tố có ảnh hưởng đến sự phân bố bệnh và các biện pháp phòng trị hữu hiệu nhằm giảm thiểu các tác động có hại của loài sán dây gây tác hại trên chó mà những loài này có khả năng truyền lây cho người
1.5 Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình đầu tiên ở khu vực ĐBSCL xác định các đặc điểm dịch
tễ học bệnh sán dây trên chó và một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tỷ lệ nhiễm
sán dây ký sinh Xác định sán dây Dipylidium caninum trên chó bằng kỹ thuật
PCR và giải trình tự gene ở ĐBSCL và là công trình đầu tiên xác định thành
phần ký chủ trung gian, mô tả vòng đời của loài sán dây Dipylidium caninum trên chó tại ĐBSCL và mô tả bệnh lý học của sán dây D caninum gây ra trên
chó
Trang 213
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sán dây và bệnh sán dây
2.1.1 Phân loại sinh học sán dây
Sán dây ký sinh thuộc 5 bộ đó là Pseudophyllidea, Cyclophyllidea,
Monophyllidea, Dyphillidea, Tetraphyllidlea Trong đó có 2 bộ có liên quan
đến chăn nuôi thú y là bộ Pseudophyllidea, Cyclophyllidea (Heinz, 2016)
Anoplocephalidae, Taeniidae, Davaineidae, Diepidilae, Hymenopodidae
2.1.2 Đặc điểm hình thái sán dây
Cơ thể có hình dãi băng, dẹp theo hướng lưng bụng, có loài dài đến 10 mét Cơ thể có từ 3-5 đốt hoặc rất nhiều đốt Ngoài cùng được bao bọc bởi lớp cuticle có nhiều lỗ nhỏ Sau đó là lớp tế bào lớn nằm ở tầng dưới biểu bì và những lớp cơ vòng, cơ dọc Lớp trong cùng chứa đầy nhu mô Sán dây có 3 loại đốt: đốt đầu, đốt cổ và đốt thân (Alan and Sarah, 2012)
Đốt đầu: Thường có hình cầu, đôi khi có hình bầu dục, có các cơ quan
bám khác nhau như mõm, rãnh bám, giác bám…Đỉnh đầu có vòi hút hoặc không có phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng loài Đầu có móc hoặc không
có móc Những đặc điểm hình dạng móc số lượng móc, cách sắp xếp, phân bố móc và kích thước móc có ý nghĩa lớn trong trong phân loại Cấu tạo của móc gồm 3 phần: phần cán, phần thân và phần gai Ngoài ra, một số loài trên giác bám cũng có móc, sự phân bố và cấu tạo khác nhau (Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Hữu Hưng, 2015)
Đốt cổ: Đốt cổ là bộ phận tiếp giáp với đốt đầu, đốt cổ có vùng sinh
trưởng để sản sinh ra các đốt sán dây, thay thế những đốt già rụng ra ngoài
Trang 224
Đốt thân: nằm giáp với đốt cổ, cơ quan sinh dục phát triển chưa hoàn
chỉnh ở đốt non
Đốt trưởng thành: có các cơ quan sinh dục đã phát triển hoàn chỉnh như
tinh hoàn, buồng trứng, tuyến noãn hoàng tử cung, âm đạo, dương vật, ống bài tiết và một số cơ quan khác
Đốt già: còn gọi là đốt chửa, trong đốt già chứa đầy trứng trong tử cung
Trong những trường hợp tử cung có lỗ thông ra ngoài ở đốt già cơ quan sinh dục vẫn phát triển bình thường, vẫn có các cơ quan như buồng trứng, tuyến noãn hoàng, tử cung, tinh hoàn, dương vật và âm đạo… Ở một số sán dây không có lỗ thông của tử cung thì hầu hết các cơ quan sinh dục tiêu giảm, chỉ còn lại tử cung chứa đầy trứng Sán dây không có khoang thể, không có cơ quan tiêu hóa, lấy thức ăn bằng thẩm thấu Mỗi đốt sán có đủ cơ quan sinh dục đực và cái (Alan and Sarah, 2012)
Cấu tạo bên trong của sán dây
Hệ thần kinh: ít phát triển gồm có hạch thần kinh trung ương ở đầu và
các dây thần kinh dọc, chúng nối với nhau bằng dây thần kinh ngang Bộ phận thần kinh nằm ở khắp thân sán thông với hạch ở đầu
Hệ bài tiết: gồm nhiều tế bào hình ngọn lửa phân bố khắp cơ thể sau đó
đổ vào ống bài tiết nằm ở hai bên thân sán Ống bài tiết bắt đầu từ phần sau cơ thể đi ngược về phía dầu sau lại vòng xuống dưới, cuối cùng đóng kín lại, do vậy trước kia cho rằng có 4 ống bài tiết dọc (thật ra chỉ có 2 ống bài tiết dọc)
Bộ phận sinh dục: sán dây hầu hết là lưỡng tính trừ họ Dioicocestidae là
đơn tính Mỗi một đốt có 2 cơ quan sinh dục đực và cái, có khi 4 cơ quan sinh dục (gồm 2 cơ quan sinh dục đực và 2 cơ quan sinh dục cái) Cơ quan sinh dục đực bao giờ cũng hình thành trong đốt trước cơ quan sinh dục cái Cơ quan sinh dục đực gồm có 2 tinh hoàn, mỗi tinh hoàn có ống dẫn tinh riêng sau đó đổ vào ống dẫn tinh chung, thông ra ngoài qua túi sinh dục đực hay túi cirrus Ống dẫn tinh nằm trong túi sinh dục đực (dương vật) sau đó thông ra ngoài ở bên thân
sán (Nguyễn Thị Kim Lan và ctv., 2008) Cơ quan sinh dục cái ở giữa đốt hơi
dịch về nửa dưới gồm có túi trứng thông với buồng trứng, thông với tuyến mehlis thông với tuyến noãn hoàng, tử cung, âm đạo Tử cung bộ giả diệp
Pseudophyllidea có lỗ thông ra ngoài do vậy mỗi khi thải trứng đốt sán không
cần phải rụng, các cơ quan khác không bị tiêu giảm và vẫn phát triển bình
thường ở đốt già Trứng của sán dây bộ Cyclophyllidea thường có hình tròn
hay hơi bầu dục đầu nhỏ có nắp trong chứa tế bào phôi Sán dây không có hệ
Trang 235
tiêu hoá, lấy thức ăn bằng cách thẩm thấu qua bề mặt cơ thể Sán dây không có
hệ tuần hoàn và hệ hô hấp (Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Hữu Hƣng, 2015)
Hình 2.1 Đầu sán dây và cấu tạo đốt sán
(Heinz, 2016)
Hình 2.2 Cấu tạo bên trong của đốt sán dây
D – Lỗ sinh dục E – Ống bài tiết F - Dây thần kinh
G – Tinh hoàn H - Ống dẫn tinh I – Âm đạo
J – Tử cung K – Buồng trứng L – Tuyến lòng đỏ
M – Tử cung có trứng
(Heinz, 2016)
Trang 246
Hình 2.3 Trứng của lớp Cestoda
1 – Trứng Diphyllobothrium latum 2 – Trứng Diphyllobothrium mansoni
(Heinz, 2016)
Bảng 2.1 So sánh sự khác nhau của bộ Cyclophyllidea và bộ Pseudophyllidea
Cơ quan bám hút Có 4 giác hút Có 2 rãnh bám (ngoạm) Đốt sán Chia đốt rõ, đốt chửa rụng đi Chia đốt không rõ
Lỗ sinh dục Ở một bên hoặc 2 bên Ở giữa hoặc 2 bên (ở giữa) Tinh hoàn Ở giữa ống bài tiết, có ít Phân tán, có nhiều
Buồng trứng Phân thùy nhƣ cái quạt hoặc
chia 2 thùy nhƣ cái chuông
Phân 2 thùy ở giữa ống bài tiết
Tuyến noãn hoàn Thành khối Hình chấm, phân tán, nhiều
Tử cung chứa trứng Chia nhánh cành cây có túi
Trang 257
2.1.3 Đặc điểm sinh học sán dây
Hầu hết sán dây trưởng thành đều ký sinh trong cơ quan tiêu hóa của vật
chủ trừ họ Amphilinidae giai đoạn trưởng thành sống trong hốc cơ thể của cá
và họ Arrchigetes trưởng thành sống trong hốc cơ thể của giun Trong quá
trình phát triển của sán dây có quá trình sinh sản vô tính qua hình thức mọc chồi trong giai đoạn phát triển ở ký chủ trung gian Quá trình phát triển của sán dây hầu hết cần có sự tham gia của ký chủ trung gian
Bộ Cyclophyllidea
Không cần ký chủ trung gian: Vòng đời phát triển trực tiếp, các loài
sán trong bộ này thải đốt sán theo phân ra ngoài, đốt sán bị vỡ giải phóng trứng gặp các điều kiện thuận lợi qua một thời gian phát triển thành trứng có sức gây bệnh Trứng này lẫn vào thức ăn, nước uống của người và chuột và phát triển thành sán trưởng thành Đốt sán chửa rụng, theo phân ra ngoài, vỡ ra giải phóng nhiều trứng sán Ở ngoại cảnh, gặp điều kiện thuận lợi, sau một thời gian trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh Trứng này lẫn vào thức
ăn, nước uống, được ký chủ nuốt vào, trứng nở thành ấu trùng, sau 10-12 ngày
phát triển thành sán trưởng thành
Cần ký chủ trung gian: Ký chủ trung gian là động vật có xương sống,
đốt sán chửa rụng đi phân ra ngoài, trứng sán phân tán ra, ký chủ trung gian ăn phải, thai 6 móc nở ra chui vào niêm mạc, theo máu về các vị trí mà ấu trùng
ký sinh Lúc này, ký chủ cuối cùng ăn phải, ấu trùng này sẽ trở thành sán trưởng thành Ký chủ trung gian là động vật không xương sống: đốt sán theo phân thải ra ngoài, ký chủ trung gian côn trùng, giáp xác sẽ ăn phải ấu trùng sán dây sẽ được biến đổi hình thái bên trong ký chủ trung gian
Trong quá trình phát triển của sán dây dù trưởng thành hay ấu trùng có thể gây bệnh cho người và vật nuôi Tác động gây bệnh của ấu trùng cũng tương tự nhau Ngược lại, tác động của sán trưởng thành hoàn toàn khác với
ấu trùng (Nguyễn Hữu Hưng, 2010) Ví dụ: Loài sán dây Dipylidium caninum
thì sán trưởng thành sống trong ruột non của vật chủ chính Những đốt sán có chứa trứng đứt ra thành từng đốt hoặc từng đoạn ngắn rồi sau đó di chuyển xuống hậu môn và bò ra ngoài Tuy nhiên, những đốt sán khi bị tiêu hủy vẫn tìm thấy trứng trong phân Khi gói trứng được phóng thích ra khỏi đốt sán và được phát tán ra môi trường, bọ chét nuốt trứng vào ruột, phôi 6 móc sẽ phát triển thành ấu trùng đuôi, bọ chét mang ấu trùng có khả năng gây nhiễm Nếu các động vật có xương sống chó, mèo hay người nuốt bọ chét có mang ấu trùng đuôi này vào trong ruột Trong ruột non ấu trùng đuôi phát triển thành sán dây trưởng thành khoảng 1 tháng sau khi nhiễm (Heinz, 2016)
Trang 268
Bộ Pseudophyllidea
Chu kỳ phát triển của những sán dây thuộc bộ này cần có sự tham gia
của 2 ký chủ trung gian, ký chủ trung gian thứ nhất là lớp tôm (Cyclops), ký
chủ trung gian thứ hai là cá Trứng sán theo lỗ tử cung theo phân ra ngoài gặp
môi trường nước ở điều kiện thích hợp phát triển thành ấu trùng coracidium có nhiều lông bơi lội ở trong nước, sau đó ấu trùng này xâm nhập vào Cyclops hoặc Cyclops ăn phải tạo thành ấu trùng Procercoid Khi người, chó, mèo và
các động vật ăn phải cá sống chưa nấu chín có chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm thành sán dây trưởng thành Đại diện cho nhóm này là những sán dây
Diphyllobothrium latum, Spirotrema mansoni… (Bowman, 2009)
2.1.4 Bệnh sán dây trên chó
a Dipylidiasis là bệnh do sán dây Dipylidium caninum gây ra được Linnaeus
lần đầu tiên mô tả vào năm 1758 Bệnh xảy ra do nuốt phải cysticercoid trong
bọ chét Bệnh phân bố trên toàn thế giới với dấu hiệu lâm sàng thay đổi tùy
theo cường độ nhiễm sán Nhiễm Dipylidium caninum ở cường độ nhẹ thường
không có triệu chứng Tuy nhiên, đốt chứa trứng thụ tinh đi qua trực tràng sẽ gây ra kích ứng và chó sẽ thường ngứa hậu môn và chà đáy chậu vào mặt đất Trong những trường hợp hiếm gặp, chó bị nhiễm nặng có thể bị viêm ruột hoặc tắc ruột Việc chẩn đoán có thể thông qua tiểu sử và các dấu hiệu lâm sàng như thiếu kiểm soát bọ chét, không tẩy giun bằng praziquantel và phát hiện đốt sán trong phân, áo choàng và giường ngủ hoặc xung quanh hậu môn
Có thể phân biệt đốt sán D caninum với đốt sán của Taenia sp., dựa vào hình
dạng và có hai lỗ sinh dục đối xứng hai bên nằm ở giữa đốt Nghiền đốt sán
mang thai sẽ lộ ra nang trứng Có thể kiểm soát được bằng cách giữ cho chó
và mèo không có bọ chét hay áp dụng các biện pháp phòng ngừa bọ chét sẽ
hạn chế được sự lây lan của bệnh này (TroCCAP, 2017)
Đối với sức khỏe cộng đồng: Nhiễm D caninum thường xuất hiện ở
trẻ em, xảy ra do ăn phải bọ chét trưởng thành Trẻ có thể không có triệu chứng hoặc bị kích thích quanh hậu môn hoặc rối loạn đường ruột nhẹ Có thể quan sát thấy đốt sán trong phân hoặc quanh vùng hậu môn của trẻ (TroCCAP, 2017)
b Taeniasis là bệnh gây ra bởi các loài sán xơ mít thuộc chi Taenia (Taenia
hydatigena, Taenia ovis, Taenia multiceps, Taenia pisiformis, Taenia serialis…) phổ biến ở chó có tiếp xúc với thịt sống Ý nghĩa chính của sán xơ mít trên chó là bệnh này có khả năng lây nhiễm gia súc bằng các hình thức ấu trùng dẫn đến việc quy tội cho thịt và tổn thất kinh tế tại lò mổ
Trang 27(Thompson et al., 2009; TroCCAP, 2017)
Đối với sức khỏe cộng đồng: Ăn phải trứng Taenia sp rơi vào phân
của các giống chó có thể khiến giai đoạn ấu trùng của sán xơ mít phát triển trong hệ thần kinh trung ương, mắt, mô dưới da hoặc mô cơ của người, được gọi là bệnh sán nhiều đầu của con người Điều trị rất phức tạp và thường đòi
hỏi kết hợp phẫu thuật và can thiệp hóa trị liệu (Thompson et al., 2009)
c Diphyllobothriasis là ký sinh trùng lớn nhất trên chó (có thể dài tới 10 m)
gây ra bởi các loài sán thuộc giống Diphyllobothrium, là sán dây duy nhất của
con người có chu kỳ sống dưới nước Ở nước ngọt, trứng của
Diphyllobothrium từ phân người nở thành ấu trùng bơi tự do, được ăn bởi các
loài vi sinh vật Các vi sinh vật được ăn bởi cá, trong đó ấu trùng trở thành ấu
trùng cảm nhiễm Một số Diphyllobothrium sp khác có thể lây nhiễm cho
người, nhưng chúng không phổ biến Bệnh xảy ra trên toàn thế giới, đặc biệt là nơi các sông, hồ nước ngọt bị ô nhiễm bởi nước thải chứa trứng của loài các
loài Diphyllobothrium Bệnh xảy ra khi chó ăn phải cá nhiễm phải ấu trùng của sán dây Diphyllobothrium, với triệu chứng lâm sàng không điển hình như:
khó chịu, đau bụng, tiêu chảy, giảm cân có thể được ghi nhận ở nhiều nghiên
cứu Bệnh dây do Diphyllobothrium có thể dẫn đến thiếu vitamin B12 và thiếu
máu megaloblastic, là một bệnh về huyết học được đặc trưng bởi sự hiện diện của megaloblasts trong tủy xương và máu ngoại vi Trong hồng cầu (dòng phân biệt và trưởng thành của dòng máu đỏ), megaloblasts là tiền chất hồng cầu lớn Hiếm khi, nhiễm trùng nặng dẫn đến tắc nghẽn đường ruột hoặc bệnh
Trang 2810
túi mật do di cư của đốt sán dây Chẩn đoán bệnh bằng cách xác định trứng bằng hình thái đặc trưng hoặc đốt chửa trong phân Thực hiện kiểm tra các chỉ
tiêu sinh lý máu để định hướng chẩn đoán bệnh (Thompson et al., 2009)
Đối với sức khỏe cộng đồng: Tránh ăn thịt cá nước ngọt chưa được
nấu chín Nấu ăn đầy đủ hoặc đông lạnh cá nước ngọt sẽ giết chết ấu trùng sán dây cá Ngoài ra, vì phân của chó nhiễm sán là một cơ chế quan trọng để lây lan bệnh, nên việc xử lý nước thải đúng cách có thể cắt giảm sự lây nhiễm cho con người (Nguyễn Văn Đề và Phạm Văn Khuê, 2009)
2.2 Sán dây trên chó
2.2.1 Phân loại sinh học các loài sán dây trên chó
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) cho rằng, ở Việt Nam có 8 loài sán dây gây hại cho chó và phân bố hầu hết ở các vùng địa lý khác nhau, được sắp xếp như sau:
Loài Echinococcus granulosus Batcsh, 1786
Họ Dilepilidae (Fuhrmann, 1907) Giống Dipylidium (Leuckart, 1863) Loài Dipylidium caninum (Linnaeus, 1758)
Bộ Pseudophyllidea (Carus, 1863)
Họ Diphyllobothriidae (Luhe, 1910)
Giống Spirometra (Mueller, 1937) Loài Diphyllobothrium latum (Cobbold, 1858) Loài Spirometra mansoni hay Diphyllobothrium mansoni
(Cobbold, 1882)
Trang 2911
2.2.2 Đặc điểm hình thái một số loài sán dây trên chó
2.2.2.1 Dipylidium caninum (Linnaeus, 1758)
Hình thái sán dây Dipylidium caninum là một loài sán nhỏ dài 15 – 40
cm, chiều ngang tối đa 2 – 3 mm Đầu sán rộng 300 – 500 micromet, có bộ phận nhô ra khá rõ rệt và có 4 vòng móc dùng để bám vào thành ruột, gồm từ
100 – 200 móc
Hình 2.4 Các bộ phận của sán dây Dipylidium caninum
(Nguồn: Heinz, 2012)
H - tinh hoàn OV – Trứng D – Tuyến noãn hoàng R - Vòi
Hình 2.5 Các bộ phận cấu tạo của sán dây Dipylidium caninum
A Đầu sán B Đốt trưởng thành C Túi trứng D Đốt chữa
(Nguồn: CDC, 2017) Những đốt sán ở phần đầu rất nhỏ nhƣng những đốt sán già có hình hạt dƣa nên có tên là “sán hạt dƣa” Trong khi đó, đốt sán có lỗ sinh dục chạy về
Trang 3012
hai bên đốt và trứng sán hình tròn đường kính 35 – 40 micromet và thường chụm với nhau thành từng đám, trong một nang có từ 8 – 20 trứng Tinh hoàn của các đốt sán trưởng thành có 100 - 200 nang trứng Buồng trứng đã có tuyến noãn hoàng; tử cung phát triển giống hình mạng lưới
V ng đời: Đốt sán chửa thải ra ngoài có mang theo trứng, khi đốt sán vỡ sẽ
thải trứng ra tự nhiên, được các ký chủ trung gian là bọ chét chó
Ctenocephalides canis, bọ chét mèo Ctenocephalides felis, chấy Pulex irritans
ăn phải sẽ phát triển thành ấu trùng Chó mèo và các thú ăn thịt khác ăn phải
ký chủ trung gian có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán dây (Phạm Sỹ Lăng và Phan
Địch Lân, 2001) Bọ chét là ký chủ trung gian của sán dây Dipylidium
caninum gây bệnh trên chó mèo và ngay cả con người Ctenocephalides canis
là loài phân bố rộng, ngoại ký sinh tạm thời trên động vật ăn thịt, cả con đực
và con cái đều hút máu làm cho con vật nuôi bị bệnh, tạo cơ hội cho các mầm bệnh khác tấn công gây bệnh cho con vật nuôi Ấu trùng của loài này trải qua
3 giai đoạn để phát triển thành nhộng, được bao bọc bởi một kén, sau đó đến
giai đoạn trưởng thành và thời gian để Dipylidium caninum hoàn thành vòng
đời cần 21-28 ngày (Huỳnh Hồng Quang, 2008; Nguyễn Hữu Hưng, 2010)
EP – Túi trứng (Egg packet) ES – Vỏ trứng ON – oncosphere
Hình 2.6 Cấu tạo túi trứng và đốt chửa của Dipylidium caninum
(Nguồn: Center for Disease Control and Prevention, 2017)
Trang 3113
Hình 2.7 Vòng đời sán dây Dipylidium caninum
(Nguồn: Center for Disease Control and Prevention, 2017)
Sự truyền lây qua người: Ấu trùng của bọ chét ăn phải trứng sán dây có lẫn
trong đất, trong phân hoặc dính ở lông chó…, trứng sán sẽ phát triển thành ấu trùng, thời gian phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian khoảng 2 tuần Ở
người khi nuốt phải kén cysticercoid sẽ bị nhiễm và chúng phát triển thành
sán trưởng thành Thời gian từ khi nhiễm đến khi sán trưởng thành khoảng 20 ngày (Nguyễn Văn Đề và Phạm Văn Khuê, 2009) Ở người, hầu hết các ca nhiễm bệnh sán dây chó xảy ra ở trẻ em, có thể do phơi nhiễm/tiếp xúc với các động vật này hoặc do tuổi “dung nạp” của trẻ Sự lan truyền bệnh xảy ra do nuốt tình cờ những bọ chét bị nhiễm mà các bọ chét này có trong thực phẩm, nước và móng tay Tiếp xúc “mật thiết” với các vật nuôi như liếm, hôn giữa miệng các trẻ với chó là một đường lây quan trọng để chuyển ấu trùng đến lưỡi của chó vào vật chủ người Triệu chứng xuất hiện còn tùy thuộc vào số lượng sán ký sinh và mức đáp ứng của bệnh nhân Trẻ em là những đối tượng
dễ nhiễm nhất, thậm chí trẻ có 14 tháng tuổi vẫn bị nhiễm Biểu hiện triệu
Trang 3214
chứng có thể từ nhẹ đến vừa với các triệu chứng: chán ăn, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa nhẹ, khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy và ngứa vùng xung quanh hậu môn, suy nhược, thiếu máu, gầy sút
Chẩn đoán được bệnh này dựa trên tìm thấy những đốt sán hoặc là đốt riêng rẽ hoặc là chuỗi đốt ngắn hơn trong phân bệnh nhân Những đốt sán này thường bò nhung nhúc ra khỏi ruột của vật chủ Những đốt sán có hình dạng quả bí ngô với hiện diện 2 lỗ sinh dục; bọc trứng có chứa trứng hiếm khi tìm thấy trong phân (Huỳnh Hồng Quang, 2010b)
2.2.2.2 Diphyllobothrium mansoni hay Spirometra mansoni (Cobbold,
1882)
Hình thái: Theo Lê Hữu Khương (2005), qua kết quả khảo sát các loài
sán dây ký sinh trên chó tại 13 tỉnh phía nam Việt Nam đã xác định loài này có chiều dài khoảng 1.000 mm, màu trắng, đầu có hình ngón tay không rộng hơn phần cổ Lát cắt ngang có hình tứ giác, rãnh bám rộng, nông và mờ dần về phía cổ Lỗ sinh dục đực và cái nằm 3/8 về phía trước của đốt, 2 lỗ sinh dục tách biệt và nằm gần nhau Lỗ tử cung cũng là khe nằm ngang phía dưới lỗ sinh dục Tinh hoàn phân bố đều trong đốt, chỉ ở vùng trung tâm không có tinh hoàn, vùng trên lỗ sinh dục có tinh hoàn và tuyến noãn hoàng Biên độ tử cung giảm dần về hướng lỗ tử cung, trứng có mấu gai
Hình 2.8 Các bộ phận của sán dây Spirometra mansoni
A - S mansoni trưởng thành B - Trứng S mansoni
C – Đầu S mansoni D – Các proglottid S mansoni
(Nguồn: Bowman, 2009)
Trang 3315
Đây là loài thuộc bộ Pseudophyllidea được tìm thấy, loài này còn có tên khác là Spirometra mansoni Theo các tác giả Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch
Lân (2001), sán trưởng thành sống ở ruột non của chó mèo, người Sán dài 60
cm, rộng 5-6 mm Mỗi đốt có chiều ngang lớn hơn chiều dài Đầu sán có chiều ngang 1mm, trông giống như hình tứ giác, có môi tạo thành khe rãnh để bám Trên mỗi đốt có tinh hoàn và tuyến dinh dưỡng trứng ở hai bờ của đốt Số tinh
hoàn có từ 300-540 ở mỗi đốt Ấu trùng Sparganum sống ở mô và cơ của động
vật có xương sống và người, dài 8-36 cm, ngang 0,1-1,2 mm, không có bộ phận sinh dục
Hình 2.9 Vòng đời của sán dây Spirometra mansoni
(Nguồn: Center for Disease Control and Prevention, 2017)
V ng đời: Tóm tắt chu kỳ sinh học và sinh bệnh sán nhái ở người (hình 2.9)
như sau: Sán nhái trưởng thành thuộc giống Spirometra sống trong ruột của
chó và mèo ⑦ Trứng nở ra vào trong phân ① và tạo phôi hóa trong môi trường với điều kiện thích hợp ② Trứng đẻ vào trong nước rồi ly giải ra coracidia ③, loại ấu trùng này được ăn bởi các loài động vật thân giáp
(Copepods) Tiếp đến coracidia phát triển thành ấu trùng đốt (procercoid
larvae) vào nằm trong ký chủ trung gian là loài thân giáp ④
Ký chủ trung gian thứ 2 gồm có cá, loài giáp sát và lưỡng cư, đã tiêu hóa phải các động vật thân giáp nhiễm bệnh và mắc phải ấu trùng đốt này, ấu trùng đốt phát triển thành các ấu trùng đốt sán trưởng thành bên trong ký chủ trung gian thứ 2 này thêm một thời gian ⑤ Chu kỳ hoàn thành khi một chó hoặc
Trang 3416
mèo ăn ký chủ trung gian thứ 2 nhiễm bệnh ⑥ Người không thể đóng vai trò
như một vật chủ chính của loài sán nhái Spirometra spp., nhưng lại có vai trò như một vật chủ phụ (paratenic) hoặc ký chủ trung gian thứ 2 ⑧ và phát triển
thành bệnh sán nhái
Con người mắc phải bệnh sán nhái do uống nước nhiễm các loại động vật thân giáp nhiễm ấu trùng sán hoặc ăn phải thịt của các ký chủ trung gian chưa được nấu chín Sán có thể sống đến 20 năm trong vật chủ người (Huỳnh Hồng Quang, 2008)
Sán trưởng thành bài xuất trứng theo phân ra ngoài môi trường, trứng sẽ hình thành ấu trùng hình cầu có nhiều lông và chui ra khỏi trứng sau 21 ngày
Ấu trùng Coracidia trôi xuống nước, xâm nhập vào các loài giáp xác Cyclops
và phát triển thành ấu trùng đốt (Procercoid larvae), giáp xác có thể coi là vật chủ phụ Ấu trùng (Procercoid larvae) phát triển trong thời gian 20 ngày có
thể gây nhiễm được cho ký chủ trung gian là các loài cá, bò sát và lưỡng cư như ếch nhái ăn phải các giáp xác nhiễm ấu trùng, ấu trùng đốt sẽ phát triển
thành ấu trùng Sparganum (nang ấu) bên trong ký chủ trung gian thứ 2 (Subudhi et al., 2006)
Ở một số địa phương có tập quán dùng ếch nhái giã nhỏ đắp vào mắt người khi bị đau mắt Nếu ếch nhái có ấu trùng thì ấu trùng này sẽ chuyển vào sống trong kết mạc mắt và gọi là bệnh sán nhái, gây thành các u ở mắt Chó mèo ăn phải nhái, ếch, cá có ấu trùng thì sau 13 ngày sẽ có sán trưởng thành ở
trong ruột Ở Việt Nam có tới 75% ếch nhái mang ấu trùng của D mansoni
Ngoài ếch nhái, ấu trùng còn ký sinh ở chuột và một số động vật khác (Huỳnh Hồng Quang, 2008) (Nguyễn Phước Tương, 2002)
2.2.2.3 Diphyllobothrium latum (Cobbold, 1858)
Hình thái
D latum trưởng thành là sán dài nhất ký sinh ở người, dài từ 3-10 m, có
khi dài đến 20 m, có 3.000-4.000 đốt Đầu nhỏ, hình thuẫn, kích thước 2-3 mm
x 0,7-0,9 mm, có hai rãnh hút Thân sán có màu trắng ngà hoặc xám khói Đốt sán trưởng thành có hình thang Đốt già không rời khỏi thân sán, có chiều dài ngắn hơn chiều ngang Lỗ sinh dục ở giữa đốt gần bờ trên, lỗ đẻ thông với tử cung, nằm gần lỗ sinh dục và thụt phía sau Tử cung màu nâu, cuộn như bông hoa nằm ngay trung tâm đốt sán Trứng được đẻ từ lỗ đẻ rồi theo phân ra
ngoài Mỗi ngày sán có thể đẻ đến 1.000.000 trứng Trứng D latum không
giống trứng sán dải mà giống trứng sán lá, có nắp, vỏ mỏng, kích thước 70 x
45 μm (Heinz, 2012)
Trang 35D latum có đầu lớn, dài và thon, đầu rộng hơn cổ, dạng hình muỗng,
rãnh bám hẹp và sâu Tử cung có 4-8 vòng mỗi bên, hình dạng giống nơ hoa hồng Lỗ sinh dục và cái chung ra 1 lỗ Trứng có mấu gai, phía trên lỗ sinh dục
có sự phân bố của tinh hoàn và tuyến noãn hoàng (Soulsby, 1982; Nguyễn Thị
Kỳ, 1994)
Spirometra mansoni có đầu nhỏ hình ngón tay, 2 rãnh bám rộng và cạn
Lỗ sinh dục đực và cái tách biệt Tử cung có dạng xoắn, biên độ tử cung giảm dần từ dưới lên Trứng có mấu gai Phía trên lỗ sinh dục có sự phân bố của tinh hoàn và tuyến noãn hoàng (Soulsby, 1982; Lê Hữu Khương, 2005)
Trang 3618
V ng đời
Trong quá trình phát triển, D latum đòi hỏi phải qua hai ký chủ trung gian sống dưới nước Một là loài giáp xác (Cyclops hay Diaptomus), trứng sán theo phân ra môi trường, gặp nước nở thành ấu trùng lông (coracidium) được giáp xác nuốt và chuyển thành ấu trùng Procercoid trong thân giáp xác Ký
chủ trung gian thứ hai là loài cá (cá hồi, cá măng, ) ăn phải giáp xác có mang
ấu trùng Proceroid (Christopher Simpson, et al., 2012) Trong mô cá,
Procercoid chuyển thành ấu trùng Plerocercoid (còn gọi là Sparganum) có
hình con sâu Nếu cá bị loài cá lớn hơn ăn thịt thì ấu trùng plerocercoid sẽ
sang cá lớn và vẫn ở trong trạng thái chờ dịp bị nuốt bởi ký chủ cuối cùng Chu trình sẽ được khép kín khi người hoặc chó, mèo, chồn,… ăn phải thịt cá
sống có chứa ấu trùng Plerocercoid Vào ruột non, ấu trùng Plerocercoid sẽ
bám vào thành ruột bằng hai rãnh hút, hấp thụ các chất dinh dưỡng qua thẩm thấu đặc biệt, sán hấp thụ vitamin B12 rất nhiều, phát triển thành sán trưởng thành trong thời gian 30 ngày Một người có thể chứa nhiều sán, có khi lên
đến 70-80 con D latum có thể ký sinh cùng các loài sán khác (sán dải heo,
bò) trong cùng một người Sán trưởng thành sống được khoảng 20 năm (Heinz, 2012; Trần Mỹ Duyên, 2015)
Hình 2.11 Vòng đời phát triển của D latum
(Nguồn: CDC, 2017)
Trang 3719
Sự truyền lây sang người: Diphyllobothrium latum là một bệnh ký sinh
trùng ở người, nguyên nhân do sán dây cá thuộc chi Diphyllobothrium
(Cobbold, 1858) Đây là một bệnh lây truyền từ động vật sang người (zoonosis) quan trọng nhất do tác nhân gây bệnh là sán dây, bệnh lan truyền
do ký chủ trung gian là cá nhiễm ấu trùng sán dây và loài chiếm ưu thế trong các ca nhiễm sán dây cá ở người (Nguyễn Văn Chương, 2014) Trong quá
trình phát triển, D latum đòi hỏi phải qua hai ký chủ trung gian sống dưới nước Một là loài giáp xác Cyclops hay Diaptomus), trứng sán theo phân ra môi trường, gặp nước nở thành ấu trùng lông (coracidium) được giáp xác nuốt
và chuyển thành ấu trùng procercoid trong thân giáp xác Ký chủ trung gian
thứ hai là loài cá ăn phải giáp xác có mang ấu trùng proceroid Trong mô cá,
procercoid chuyển thành ấu trùng plerocercoid Nếu cá bị loài cá lớn hơn ăn
thịt thì ấu trùng plerocercoid sẽ sang cá lớn và vẫn ở trong trạng thái chờ dịp
bị nuốt bởi ký chủ cuối cùng (Trần Xuân Mai và ctv., 2010) Chu trình sẽ được
khép kín khi người hoặc chó, mèo, chồn,… ăn phải thịt cá sống có chứa ấu
trùng plerocercoid (Christopher, 2012) Vào ruột non, ấu trùng plerocercoid
sẽ bám vào thành ruột bằng hai rãnh hút, hấp thụ các chất dinh dưỡng qua thẩm thấu đặc biệt, sán hấp thụ vitamin B12 rất nhiều, phát triển thành sán trưởng thành trong thời gian 30 ngày Con người bị nhiễm khi ăn cá sống, cá nấu không đủ chín, hay ướp và cá biển Sự gia tăng phổ biến các món ăn được dựa vào thịt cá sống, cá chưa được nấu chín hoàn toàn như các món ăn theo kiểu Nhật Bản như: Sushi, Sashimi, Carpaccio (món bò hay cá xắt lát mỏng ướp với dầu o liu, chanh và được ăn sống) hoặc Ceviche (món cá sống ướp chanh), chính điều này đã làm gia tăng đáng kể nguy cơ bị nhiễm ký sinh
trùng, ngay cả ở các quốc gia phát triển nhất trong đó loài D latum (Linnaeus, 1758) là loài chiếm ưu thế trong các ca nhiễm sán dây cá ở người D latum
cũng được xem là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất ở người (Trần Mỹ Duyên, 2015)
2.2.2.4 Taenia hydatigena (Pallas, 1766)
Hình thái: Taenia hydatigena dài tới 5 m, rộng 7 mm, đầu có 26-44
móc, xếp thành 2 hàng Móc lớn có kích thước 0,17-0,22 mm, móc nhỏ dài 0,11-0,16 mm, đường kính đầu 1 mm Đốt chửa dài 10-14 mm, rộng 4-7 mm
Tử cung phân nhánh 5-10 đôi Buồng trứng phía lỗ sinh dục nhỏ hơn phía không có lỗ sinh dục Cổ dài 0,50 mm, đường kính giác bám 0,11 mm (Phạm
Sỹ Lăng và Nguyễn Hữu Hưng, 2015)
Trang 3820
Vật chủ: chó nhà và các loài thú khác thuộc bộ ăn thịt, dê, heo, bò Ấu
trùng Cysticercus tenuicolis sống ở mô và các cơ quan của người, khỉ, dê, heo, trâu, bò (Phan Thế Việt và ctv., 1977)
Hình 2.12 Các dạng hình thái của Taenia hydatigena
A Đầu sán B Taenia hydatigena trưởng thành
C Trứng sán dây Taenia hydatigena D Đốt trưởng thành
(Nguồn: Bowman, 2009)
V ng đời: Trứng sán được ký chủ trung gian (chuột, cừu, thỏ, bò, heo…) ăn
vào, trứng sán phát triển thành ấu trùng, ấu trùng Taenia hydatigena ký sinh
trong bụng và tổ chức gan, ấu trùng được ăn bởi động vật ăn thịt (chó, mèo) chúng phát triển thành sán trưởng thành ký sinh trong ruột sau 6-8 tuần và bài thải các đốt sán qua phân Sơ đồ cho thấy sự phát triển hoàn chỉnh từng giai đoạn trứng đến giai đoạn trưởng thành và bài thải trứng để phát triển thành chu
trình mới Trong sơ đồ Taenia sp cần có hai loại ký chủ trung gian khác nhau
đó là ký chủ trung gian và ký chủ chính, sơ đồ trên cũng cho thấy người vừa là
ký chủ chính vừa là ký chủ trung gian của Taenia sp nhưng đối với Taenia
hydatigena thì người chỉ là vật chủ chính, không có bệnh ấu trùng do Taenia hydatigena trên người (Alan and Sarah, 2012)
Taenia hydatigena gây ra bệnh sán dây, ngoài những nguy hiểm mà
chúng gây ra như rối loạn tiêu hóa, đau bụng, bán tắc và tắc ruột, suy kiệt do
bị chiếm dụng chất dinh dưỡng và do độc tố của nó tiết ra gây nhiễm độc cho
Trang 39Hình 2.13 Vòng đời sán dây Taenia hydatigena
(Nguồn: CDC, 2017)
Trang 40A: đốt đầu B: đốt cổ C: đốt trưởng thành D: đốt chữa
Hình 2.15 Trứng Taenia pisiformis và đốt thành thục (Bloch, 1780)
(Nguồn: Bowman, 2009) Loài sán này có tên gọi phổ biến là sán thỏ Đầu sán có 34 - 48 móc, xếp thành 2 hàng, móc lớn dài 0,225-0,294 mm, móc nhỏ dài 0,13-0,17 mm, đường kính đầu 1,30 mm Đốt chửa dài 8-10 mm, rộng 4-5 mm, núm sinh dục