Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)Nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ (Luận án tiến sĩ)
Trang 1i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN TRUNG NHÂN
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẾN CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Trang 2Cần Thơ - 2019
Trang 3iii
LỜI CẢM TẠ Trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động của CNTT đến các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các DN tại thành phố Cần Thơ”, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của tập
thể Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo Khoa Kinh tế, Khoa sau Đại học, quý Thầy giáo, Cô giáo, Cán bộ các phòng, ban chức năng của Trường Đại học Cần Thơ; tôi cũng nhận được sự quan tâm của lãnh đạo thành phố Cần Thơ, nhận được sự hỗ trợ chuyên môn và cung cấp dữ liệu của Cục Thống kê, Cục Thuế, VCCI, các Sở, Ngành của thành phố Cần Thơ Tôi đặc biệt trân trọng và xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lưu Thanh Đức Hải - người đã trực
tiếp hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của tôi tại Sở Thông tin và Truyền thông Cần Thơ, Quận ủy Thốt Nốt, Quận ủy Ninh Kiều, Ban Dân vận Thành ủy Cần Thơ là những nơi tôi công tác qua trong quá trình thực hiện luận án và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này Đồng thời, tôi xin bày rỏ lòng cảm ơn đến các Chuyên gia, Ban lãnh đạo các DN trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã hỗ trợ, cung cấp thông tin để tôi có thể hoàn thành luận
án
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2019
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Trung Nhân
Trang 4thấy tác động CNTT đến 06 yếu tố cấu thành NLCT của DN, đó là Năng
lực định hướng thị trường, Năng lực huy động vốn, Năng lực marketing, Năng lực tổ chức quản lý, Năng lực huy động nguồn lực, Năng lực quan
hệ xã hội Qua các phân tích, đo lường bằng các công cụ nêu trên tác giả đưa
ra các kết luận và hàm ý quản trị nhằm khẳng định các giả thuyết và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT nâng cao NLCT của DN tại TPCT
Trang 5v
ABSTRACT
The objective of this study is to determine the impact of information technology on the composition of the enterprise competitiveness Through survey data of 350 enterprises in Can Tho city; respondents in the following positions: Board of Directors; Chief accountant; Leaders of departments; They are knowledgeable about the production and business activities of enterprises and are responsible for the results of production and business activities of enterprises In addition, the Cronbach‟s Alpha Coefficient, the Exploratory Factor Analysis (EFA), the Confirmatory Factor Analysis (CFA) and the Structural Equation Modeling (SEM) were used in the study The results show that the impact of information technology
on the 6 factors that make up the competitiveness of enterprises is: Marketoriented capability, Capital mobilization capacity, Marketing capacity, Organizational capacitymanagement, Capacity to mobilizeresources, Capacity for social relations.Through the analysis and measurement by the aforementioned tools, the author draws conclusions and implications to confirm hypotheses and propose administrative implications to promote the application of information technology to improve the competitiveness of businesses in Can Tho city
Trang 6vi
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lưu Thanh Đức Hải Các số liệu trong luận án là trung thực, những kết quả trong luận án chưa được công bố trong các công
trình khác
Tác giả luận án
Nguyễn Trung Nhân
Trang 7vii
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1:GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ SỰ CẦN THIẾT 1
1.1.1 Đặt vấn đề 1
1.1.2 Sự cần thiết của nghiên cứu 3
1.1.3 Tính mới của luận án 5
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
1.2.1 Mục tiêu chung 6
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 6
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 6
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
1.4.2.1 Phạm vi không gian 7
1.4.2.2 Phạm vi thời gian 7
1.4.2.3 Phạm vi nội dung 7
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 7
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 7
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 8
1.6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 10
2.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KHUNG KIẾN TRÚC CNTT 10
2.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NLCT 27
2.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NLCT 30
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CNTT ĐẾN YẾU TỐ CẤU THÀNH NLCT CỦA DN 43
2.5 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NHÂN TỐ CNTT TÁC ĐỘNG CÁC YẾU TỐ NLCT CỦA DN 51
2.5.1 Về khung lý thuyết nền cho nghiên cứu: 51
Trang 8viii
2.5.2 Về khung lý thuyết đánh giá tác động CNTT đến các yếu tố cấu thành
NLCT của DN: 52
CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 54
3.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 54
3.1.1 Cơ sở lý thuyết về CNTT, các nhân tố liên quan CNTT trong DN 54
3.1.1.1 Cơ sở lý thuyết về thông tin 54
3.1.1.2 Cơ sở lý thuyết về Công nghệ thông tin 57
3.1.1.3 Cơ sở lý thuyết về các nhân tố CNTT trong DN 58
3.1.2 Cơ sở lý thuyết về ứng dụng CNTT trong DN 61
3.1.3 Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và NLCT của DN 64
3.1.3.1 Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh 64
3.1.3.2 Về khả năng cạnh tranh 66
3.1.3.3 Về lợi thế cạnh tranh 68
3.1.3.4 Cơ sở lý thuyết về NLCT của DN 70
3.1.4 Cơ sở lý thuyết về các yếu tố cấu thành NLCT của DN 78
3.1.4.1 Mô hình “5 áp lực cạnh tranh” của M Porter 79
3.1.4.2 Mô hình phân tích SWOT 80
3.1.4.3 Mô hình phân tích PESTEL 81
3.1.4.4 Lý thuyết về CNTT tác động đến NLCT của DN 85
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 89
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 89
3.2.1.1 Số liệu thứ cấp 89
3.2.1.2 Số liệu sơ cấp 90
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 93
3.2.2.1 Nghiên cứu định tính sơ bộ 93
3.2.2.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 97
3.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu định tính chính thức 100
3.2.2.4 Nghiên cứu định lượng chính thức 101
3.2.3 Quy trình nghiên cứu định lượng 109
3.2.4 Các giả thuyết nghiên cứu cần kiểm định 112
Trang 9ix
3.2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 117
3.2.6 Thang đo và các giả thuyết nghiên cứu 120
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 126
4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 126
4.1.1 Những chính sách và quá trình ứng dụng CNTT ở Việt Nam 126
4.1.2 Đánh giá về thực trạng DN tại TPCT 131
4.1.2.1 Số lượng và quy mô DN 131
4.1.2.2 Ngành nghề của DN 135
4.1.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của DN tại TPCT 136
4.1.3 Các chỉ số đánh giá liên quan ứng dụng CNTT trong các DN tại TPCT 138
4.1.3.1 Đánh giá xếp hạng chỉ số EBI của TPCT 139
4.1.3.2 Chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI - Provincial Competitiveness Index) 140
4.1.3.3 Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT (VietNam ICT Index) 142
4.1.3.4 Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII- Global Innovation Index) 145
4.1.4 Đánh giá thực trạng việc ứng dụng CNTT trong DN tại TPCT 147
Cũng theo Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, mục đích sử dụng Internet của các DN như sau: 149
4.1.5 Tình hình ứng dụng CNTT trong hoạt động của các DN được khảo sát 151
4.1.6 Nhận xét 156
4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 160
4.2.1 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 160
4.2.1.1 Thống kê mô tả quan sát nghiên cứu 160
4.2.1.2 Kiểm định thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha 161
4.2.1.3 Kiểm định mối quan hệ các biến số trong mô hình bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 165
4.2.2 Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức 167
4.2.2.1 Thống kê mô tả quan sát nghiên cứu 167
4.2.2.2 Kiểm định thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha 168
4.2.2.3 Kiểm định mối quan hệ các biến số trong mô hình bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 172
Trang 10x
4.2.2.4 Kiểm định SEM về sự tác động của CNTT đến các yếu tố cấu thành
NLCT của DN 177
4.2.2.5 Kiểm định ước lượng mô hình bằng Bootstrap 180
4.2.2.6 Kết luận về các giả thuyết nghiên cứu 180
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 184
5.1 KẾT LUẬN 184
5.2 HÀM Ý QUẢN TRỊ 186
5.2.1 Nâng cao năng lực định hướng thị trường 186
5.2.2 Nâng cao năng lực huy động vốn 187
5.2.3 Nâng cao năng lực marketing 187
5.2.4 Nâng cao năng lực tổ chức quản lý 188
5.2.5 Nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ 189
5.2.6 Nâng cao năng lực huy động nguồn lực 189
5.2.7 Nâng cao năng lực Quan hệ xã hội 190
5.3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 190
5.4 HẠN CHẾ VÀ CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 191
5.4.1 Hạn chế của luận án 191
5.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 192
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 194
TÀI LIỆU THAM KHẢO 195
Trang 11xi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
2.2 Tóm tắt một số lý thuyết về Khung kiến trúc hoặc Mô hình CNTT
2.3 Tổng hợp các nhân tố liên quan trong khung kiến trúc, mô hình
3.4 Mã hóa các biến quan sát tác động đến các yếu tố cấu NLCT của
4.6 Các chỉ số đánh giá việc ứng dụng CNTT trong các DN tại thành
Trang 12xii
4.30 Kết quả phân tích giá trị phân biệt (SEM) liên quan nhân tố CNTT 179
Trang 13xiii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 14Lãnh đạo về thông tin
(CNTT)
EIF
European Interroperability
FEAF
Federel Enterprise Architechter Framework
Khung kiến trúc DN Liên
bang
ISA
International Society of
Khung kiến trúc tiêu chuẩn cho ứng dụng CPĐT
SEM
Structural Equation
Trang 15xv
Enterprises
NIST
National Institute of Standards and Technology
Viện nghiên cứu quốc gia về tiêu chuẩn và công nghệ TOGAF
The Open Group
VCCI
Vietnam Chamber of Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 161
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ SỰ CẦN THIẾT
1.1.1 Đặt vấn đề
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, nhất là trong thời đại kinh tế tri thức như hiện nay, để nâng cao NLCT buộc các DN phải nắm chắc nhu cầu thị trường, đưa ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn Muốn vậy các DN phải áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào công tác nghiên cứu thị trường, quản
lý các nguồn lực đầu vào, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý nguồn nhân lực, quản lý tài chính và quản lý các sản phẩm đầu ra Bên cạnh
đó, DN cần thường xuyên cập nhật thông tin, thích ứng với sự thay đổi chính sách của Nhà nước, với môi trường bên ngoài nơi DN hoạt động, Tất cả những công việc này nếu được sự hỗ trợ của CNTT thì DN sẽ triển khai một cách thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả hơn, nó sẽ góp phần để DN nâng cao NLCT của mình, đặc biệt là trong thời đại CMCN 4.0
Ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) đã có bước phát triển vượt bậc,
nó đang hiện diện và đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong tất cả các hoạt động của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT đối với DN, đặc biệt là nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) của DN, các DN Việt Nam đã có những bước đi tích cực trong việc đầu tư, ứng dụng CNTT vào trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Có nhiều mô hình ứng dụng CNTT khác nhau trong DN, mỗi mô hình có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có chung mục đích là giúp DN xác định được lộ trình đầu tư, ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình sản xuất, kinh doanh của DN: hoạt động tác nghiệp, ra quyết định quản lý, quản lý khách hàng, quãng
bá sản phẩm của DN, mua bán, cung cấp sản phẩm - dịch vụ trực tuyến, xây dựng các chiến lược nhằm đạt lợi thế cạnh tranh, …Mục tiêu cuối cùng của quá trình này là nhằm nâng cao NLCT của DN trên thị trường
Trang 172
Trên địa bàn TPCT, qua số liệu khảo sát của Sở TTTT TPCT và VCCI Chi nhánh Cần Thơ (2017) thì có trên 90% DN đã có ứng dụng CNTT vào trong công tác quản lý điều hành DN, có 100% DN có kết nối Internet, số DN tham gia TMĐT và kinh doanh trực tuyến ngày càng tăng; các cơ quan Nhà nước và một số DN lớn đầu tư và triển khai các giải pháp ứng dụng CNTT khá tốt như: Hệ thống phần mềm “Một cửa điện tử” đến cấp xã, hệ thống kê khai thuế trực tuyến và hải quan điện tử, hệ thống eBanking, hệ thống đặt phòng qua mạng, hệ thống siêu thị, cửa hàng online (giao hàng tận nơi), gọi xe qua app, … đang ngày càng phát triển và đặc biệt phát triển nhanh vào những dịp
lễ, Tết và đặc biệt hữu ích trong các giao dịch giữa các đối tác có khoảng cách địa lý xa, các điều kiện hạn chế tiếp xúc gần (dịch bệnh, chiến tranh,…) Bên cạnh những DN lớn và có điều kiện tài chính, đa phần các DN nhỏ và vừa đầu
tư, ứng dụng CNTT vẫn còn ở mức cơ bản, chủ yếu là đầu tư thiết bị máy tính, mạng nội bộ (LAN), các thiết bị có kết nối internet và triển khai một số phần mềm chuyên dụng riêng lẻ như: phần mềm kế toán, phần mềm quản lý nhân
sự, phần mềm quản lý bán hàng,…chủ yếu thay thế các công việc thủ công, chưa triển khai các giải pháp tổng thể nhằm phục vụ công việc quản lý hàng ngày của DN; các ứng dụng này thiếu tính đồng bộ, chưa áp dụng trên quy mô lớn, chưa mang tầm chiến lược và hiệu quả mang lại còn hạn chế
Các DN ở Cần Thơ thường gặp phải những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình so với địa phương khác, đó là: điều kiện nền đất yếu, thấp không thuận lợi cho những công trình cao tầng, suất đầu tư hạ tầng thường cao hơn vùng khác; là thành phố trực thuộc Trung ương nên giá thuê đất thường cao hơn khu vực khác; trình độ chuyên môn và năng suất lao động được đánh giá chưa cao, đặc biệt là trong những ngành nghề, lĩnh vực công nghệ cao
Hiện nay, mặc dù được Đảng và Chính phủ quan tâm đặc biệt, nhưng mức độ đầu tư và sự phát triển CNTT so sánh với các nước phát triển thì Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn thấp, ứng dụng còn riêng lẻ, thiếu tính hệ thống và chưa được triển khai đồng bộ Bên cạnh đó, những khó khăn, rào cản mà DN phải đối mặt khi đầu tư CNTT ở Cần Thơ có thể được tổng hợp thành 04
Trang 183
nhóm chính: (1) nhận thức của lãnh đạo và cán bộ DN về CNTT; (2) nguồn lực phục vụ triển khai các hoạt động CNTT bao gồm cả nguồn lực tài chính và năng lực đội ngũ cán bộ tham gia triển khai và sử dụng các giải pháp CNTT; (3) thị trường các sản phẩm, giải pháp và dịch vụ CNTT chưa phù hợp với nhu cầu ứng dụng của DN và (4) trình độ dân trí và kỹ năng sử dụng CNTT trong
DN, dân cư còn hạn chế Đó là những rào cản tác động làm hạn chế hoạt động của các DN trên địa bàn cần được cải thiện trong tương lại để nâng cao NLCT của DN trong quá trình hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế
1.1.2 Sự cần thiết của nghiên cứu
Đại hội XII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh” Trong nền kinh tế thị trường thì NLCT là một hiện tượng phổ biến và có vai trò quan trọng trong việc thể hiện vị trí, năng lực (sức mạnh), vai trò của quốc gia, ngành, địa phương, DN hay một sản phẩm trong chiến lược phát triển của mình
Trong nền kinh tế tri thức và CMCN 4.0 hiện nay thì việc đầu tư, ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và trong DN nói riêng nhằm góp phần giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả công việc và NLCT của DN Đó là yêu cầu cấp thiết và có tính sống còn của mỗi tổ chức,
DN
Ở nước ta hiện nay, việc đầu tư, ứng dụng CNTT vào hoạt động sản xuất kinh doanh đang được các DN quan tâm ngày càng nhiều Điều này lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết khi mà sự phát triển và cạnh tranh giữa các DN ngày càng lớn, DN nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều, nhiều thành tựu CNTT đã được ứng dụng vào hệ thống quản lý của cơ quan Nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trên thị trường…Nếu DN
Trang 19(Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền,
Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị
trấn (44 phường, 5 thị trấn và 36 xã) TPCT là đơn vị hành chính Việt
Nam đông thứ 24 về số dân, GRDP xếp thứ 12 (83.216 tỷ đồng), GRDP bình quân đầu người đứng thứ 11 (67,780 triệu đồng/người), đứng thứ 40 về tốc độ tăng trưởng GRDP (7,73%/năm)
Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng
và phát triển TPCT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã xác định:
“phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành thành phố
đồng bằng cấp quốc gia văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, xứng đáng là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông; là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại - dịch vụ, du lịch, trung tâm giáo dục - đào tạo
và khoa học - công nghệ, trung tâm y tế và văn hoá, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước
Ngày 24 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 889/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Cần Thơ là đô thị loại I trực thuộc trung ương, đồng thời giao nhiệm vụ TPCT phải trở thành một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng ĐBSCL Để thực hiện được điều này, TPCT cần phải tăng cường đầu tư cơ sở
hạ tầng, phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực kinh tế, xây dựng các thiết chế văn
Trang 205
hóa – xã hội mới, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh và trật
tự an toàn xã hội Tất cả những công việc này tạo ra một áp lực lớn cho TPCT, đòi hỏi người quản lý phải có những tư duy mới, hành động quyết liệt và phải
có được trợ giúp của các công cụ quản lý hiện đại Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản lý Nhà nước và các DN cũng là một giải pháp quan trọng để giúp cho quá trình đó thuận lợi hơn và có điệu kiện phát triển nhanh hơn
Trong các năm qua, TPCT đã tăng cường đầu tư, ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước và bước đầu đã hình thành được nền tảng cho chính quyền điện tử; các DN trên địa bàn thành phố đã đầu tư, ứng dụng CNTT vào hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng tăng, tạo điều kiện nâng cao NLCT cho DN trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
1.1.3 Tính mới của luận án
Qua thực tiễn công tác và qua lược khảo tài liệu liên quan đề tài nghiên cứu, tác giả cũng thấy rằng hiện nay đa phần các tài liệu trong nước nghiên cứu liên quan NLCT của DN đều xem xét yếu tố định tính là chính, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu về các yếu tố cấu thành NLCT của
DN và đề xuất các giải pháp nâng cao NLCT của DN trong một ngành hay địa phương; việc xác định các yếu tố cấu thành NLCT của DN ở các nghiên cứu cũng có sự khác biệt tùy thuộc vào đặc điểm của ngành hay địa phương nghiên cứu, các nghiên cứu đều đưa ra được các yếu tố (thị trường, vốn, marketing, nguồn nhân lực, KHCN,…), trong đó có yếu tố CNTT thường được lồng ghép vào yếu tố KHCN
Qua lược khảo các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, danh mục đề tài, luận án ở các trường đại học có đào tạo chuyên ngành kinh tế thì phần lớn các nghiên cứu có liên quan nội dung đề tài đều ở nước ngoài Chưa
có đề tài khoa học cấp quốc gia ở Việt Nam nghiên cứu sâu về các nhân tố thuộc về CNTT có tác động đến các yếu tố cấu thành NLCT của DN, cũng như mức độ tác động của nhân tố CNTT chung đến các yếu tố cấu thành NLCT của DN một cách có hệ thống Chính vì vậy, đề tài này được xem là nghiên cứu khám phá, mong muốn bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý thuyết, triển
Trang 21Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên
cứu tác động của Công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành Năng lực cạnh tranh của các Doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ” làm nội dung
nghiên cứu của luận án
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu tác động của Công nghệ thông tin đến các yếu tố cấu thành Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ, qua đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Trong luận án này, các câu hỏi nghiên cứu cần tập trung giải quyết là:
Câu hỏi 1: Thực trạng ứng dụng CNTT và các yếu tố cấu thành NLCT
của các DN trên địa bàn TPCT như thế nào?
Câu hỏi 2: Tác động của CNTT đến các yếu tố cấu thành NLCT của
các DN tại TPCT hiện nay?
Câu hỏi 3: Để nâng cao NLCT của DN tại TPCT cần tác động của
CNTT như thế nào?
Trang 227
1.4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của CNTT đến các yếu tố cấu thành NLCT của các DN tại TPCT hiện nay
Đối tượng khảo sát của luận án là Ban Giám đốc, Kế toán trưởng và các nhà quản lý (cấp phòng) DN trên địa bàn TPCT trong việc ứng dụng CNTT vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi không gian
Nghiên cứu này lấy đối tượng là các DN trên phạm vi địa bàn TPCT,
tập trung vào 05 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và Thốt Nốt,
đây là nơi có số lượng DN tập trung đông nhất TPCT (trên 90%)
1.4.2.2 Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu: số liệu thứ cấp sử dụng trong luận án được thu thập trong giai đoạn 2013 - 2017 Số liệu điều tra sơ cấp được thu thập chủ yếu trong năm 2017 và bổ sung trong năm 2018, 2019
1.4.2.3 Phạm vi nội dung
Luận án nghiên cứu được thực hiện đối với các DN thuộc các thành phần kinh tế đang hoạt động trong các lĩnh vực chủ yếu tại TPCT; đồng thời nghiên cứu sự tác động của CNTT đến các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài cấu thành NLCT của các DN này
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án được thực hiện với những ý nghĩa khoa học như sau:
- Luận án tiến hành lược khảo tài liệu, kế thừa có chọn lọc và hệ thống hóa các nghiên cứu tiền nhiệm liên quan Khung kiến trúc CNTT trong DN, vấn đề Cạnh tranh, LTCT và NLCT trong DN; qua đó đề xuất các mô hình, qui trình nghiên cứu, các giả thuyết, thang đo liên quan đến việc đánh giá tác động của CNTT đến các yếu tố cấu thành NLCT của DN tại TPCT
Trang 238
- Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp (định tính và định lượng), luận án sẽ xác định được mức độ tác động của CNTT đến từng yếu tố cấu thành NLCT của các DN
- Từ kết quả nghiên cứu của Luận án, tác giả sẽ đưa ra các kiểm định các giả thuyết, kết luận thực nghiệm và đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp với thực tiễn đầu tư, ứng dụng CNTT trong DN tại TPCT hiện nay; qua đó đề xuất các hàm ý chính sách để các cơ quan Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư, ứng dụng CNTT trong DN thời gian sắp tới
- Kiến nghị đối với các cơ quan Nhà nước và các đơn vị tham mưu hoạch định chính sách là cơ sở để xác định các cơ chế chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy việc ứng dụng CNTT, nâng cao NLCT của DN và của địa phương
- Bên cạnh đó, luận án cũng mở ra một hướng mới trong nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá tác động của CNTT đến các yếu tố cấu thành NLCT của các nhóm DN theo đặc thù ngành nghề, qui mô hoặc địa bàn hoạt động tại Việt Nam và quốc gia khác
1.6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần tóm lược và phần kết luận, luận án được chia thành 5 chương được trình bày với kết cấu như sau:
- Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Tổng quan nghiên cứu
- Chương 3: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu;
Trang 249
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận;
- Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Trang 2510
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KHUNG KIẾN TRÚC CNTT
Khung Zachman được giới thiệu dưới dạng một khung chuẩn, được
công bố lần đầu tiên vào năm 1987, trong nghiên cứu "Một khung kiến trúc
cho các hệ thống thông tin - A framework for Information System
Architecture- ISA" trên tạp chí The IBM Systems Journal và được đặt tên theo John Zachman Khung Zachman được xem là khung kiến trúc đầu tiên, đưa ra
khái niệm Khung kiến trúc hệ thống thông tin; ông đã chỉ ra các thách thức và
tầm nhìn của khung kiến trúc này, được biểu diễn kiểu ma trận (6x6) và được chọn làm nền tảng để nghiên cứu và phát triển một số cách khác Khung Zachman đã được tổ chức Zachman International phát triển và đã phát hành phiên bản thứ ba vào năm 1992 (EA Zachman Framework - EA3)
Bảng 2.1 Khung kiến trúc cơ bản EA của Zachman (1992)
DỮ LIÊU (Làm gì
?)
CHỨC NĂNG (Như thế nào?)
MẠNG (Ở đâu
?)
CON NGƯỜI (Cho ai
?)
THỜI GIAN (Khi nào?)
ĐỘNG LỰC (Tại sao
KD
Danh mục quy trình KD
Danh mục địa phương
KD
Danh mục tổ chức quan trọng
Danh mục sự kiện
Danh mục chiến lược và mục tiêu
KD
MÔ HÌNH
DN (Chủ)
Dữ liệu chấp nhận
Quy trình KD
Hệ thống hậu cần
KD
Kiểu lưu
đồ công việc
Lịch trình chính
KH kinh doanh
Trang 26Kiến trúc hệ thống
Hệ thống phân phối KD
KIến trúc giao diện nhân lực
Cấu trúc
hệ thống
Đường lối KD
Kiến trúc giới thiệu
Cấu trúc kiểm tra
Đường lối thiết
Chương trình
Kiến trúc mạng
Kiến trúc
an ninh
Thời gian khả dụng
Đường lối dự phòng
Chức năng công việc
Mạng thông minh
Chức năng tổ chức
Lịch thực hiện
Chiến lược làm việc
Nguồn: Marcel Douwe Dekker (Wikimedia Commons, 2008)
Từ năm 1992, John Zachman đã tiếp tục gây ảnh hưởng đến một số khuôn khổ và bài viết khác nhau về khung EA, bao gồm cả khung EA3 Mặc
dù cách tiếp cận cơ bản của ISA (Hiệp hội tự động hóa) xác định Khung công tác Zachman khá rõ ràng trong hiện tại, tuy nhiên nhiều khái niệm mới đã được đề cập như hệ thống thông tin, cách bảo mật CNTT là một yếu tố tiềm ẩn mới tác động đến mỗi tế bào tạo tác nhân
Khung EA Zachman là một khuôn mẫu để tổ chức các thiết kế kiến trúc (tài liệu thiết kế, thông số kỹ thuật và mô hình) để tham chiếu triển khai ứng dụng CNTT trong DN, nó đề cập đến cả các mục tiêu tương lai (của Chủ doanh nghiệp và người xây dựng hệ thống) và vấn đề cụ thể đang được giải
quyết (cơ sở dữ liệu và chức năng cụ thể) trong DN (Charles D Tupper, Data
Architecture, 2011)
Về bản chất, khung Zachman ban đầu chỉ đơn giản là một khung đề cập đến các nhân tố tham gia và các công việc cần thiết để triển khai ứng dụng CNTT trong DN Nó không đại diện cho một khung lý thuyết nào khác, nhưng
Trang 2712
có thể được sử dụng (toàn bộ hoặc một phần) như là một nền tảng bổ sung cho các khung EA khác (như TOGAF và FEA), hoặc thậm chí trong khung tùy chỉnh bất kỳ nào hoặc cách tiếp cận mới mà bạn có thể có trong doanh nghiệp
của bạn (Stefan Bente, Shailendra Langade, Collaborative Enterprise
Architecture, 2012)
Khung Zachman hướng tới cung cấp một cấu trúc hệ thống để phân loại
và tổ chức các thành phần mô tả của một DN Nó được sử dụng như một nền tảng để phân tích và phát triển nhiều khung EA Khung Zachman định cấu trúc
mô tả các thành phần của một khung EA thành một lược đồ kiểu ma trận gồm
6 hàng, 6 cột Các hàng mô tả các vai trò người liên quan đến khung EA: người lập kế hoạch (Planner), người sở hữu (owner), người thiết kế (designer), người xây dựng (builder), người làm phụ (subcontractor), và người sử dụng (user) Các cột mô tả các câu hỏi (công việc) mà mỗi thành phần kiến trúc nên trả lời (thực hiện): DATA- cái gì (what), CHỨC NĂNG- ở đâu (where), MẠNG- như thế nào (how), CON NGƯỜI- (who), THỜI GIAN- khi nào (when), và ĐỘNG LỰC- tại sao (why)
Khung này được thiết lập và giải thích như sau:
(1) Là một khuôn khổ để tổ chức và phân tích dữ liệu,
(2) Là một khuôn khổ cho kiến trúc DN,
(3) Là một hệ thống phân loại, hoặc kế hoạch phân loại,
(4) Là một ma trận, thường ở dạng ma trận (6x6)
(5) Là một mô hình hai chiều hoặc một mô hình phân tích
(6) Là một lược đồ hai chiều, được sử dụng để tổ chức các phân công chi tiết của DN
Khung Zachman cũng được nhiều tổ chức khác tiếp tục nghiên cứu, phát triển để phù hợp với trình độ phát triển CNTT và yêu cầu công tác quản
lý trong tổ chức, DN Trong nó nổi bật là: Phương pháp lập kế hoạch kiến trúc
DN (Steven Spewak), Khung kiến trúc nhóm mở - TOGAF (Open Group Architectural Framework ); Mô hình Kiến trúc DN NIST (NIST EA Model), khung kiến trúc DN liên bang - FEAF (Mỹ), Khung kiến trúc OIO EA (Đan Mạch), Khung kiến trúc AGA (Úc), Khung kiến trúc SAGA (Đức), Phương
Trang 28a Phương pháp lập kế hoạch kiến trúc DN- EAP
Trong thời gian John Zachman phát hành bài viết thứ hai của mình để
mở rộng Khung công tác gốc – EA3 (1992), Steven Spewak đã tiếp tục mở rộng những ý Khung EA3 và đưa ra phương pháp Lập kế hoạch Kiến trúc DN (Enterprise Architecture Planning- EAP) của ông Ông cũng là người đầu tiên nêu bật thuật ngữ DN trực tuyến trong khuôn khổ nghiên cứu của mình như một cách để nhấn mạnh sự cần thiết của kiến trúc để vượt ra ngoài quy hoạch
hệ thống cá nhân Spewak tuyên bố rằng EAP là một phương pháp để phát triển hai cấp độ cao nhất của Khung Zachman Bảy giai đoạn của EAP được nhóm lại thành một mô hình hình bánh cưới bốn lớp, tạo ra một chuỗi các công việc cần thực hiện
Nguồn: Khung EAP (Spewak và Hill, 1992)
Hình 2.1 Khung lập kế hoạch kiến trúc DN của Spewak
Kế hoạch thực hiện / Dịch chuyển
Trang 2914
Khung EAP cũng là khung tham chiếu để Hội đồng CIO liên bang Mỹ nghiên cứu phát triển thành Khung kiến trúc DN liên bang FEAF- II (Mỹ) sau này
b Khung kiến trúc TOGAF
Theo Open Group, tổ chức lớn nhất thế giới hiện nay trong lĩnh vực tư vấn và đào tạo về kiến trúc tổng thể, kiến trúc và giải pháp hệ thống CNTT
Tổ chức này đã xây dựng và đưa ra Khung lý thuyết về kiến trúc tổng thể DN của Open Group (The Open Group Architecture Framework, viết tắt là TOGAF) Đến nay TOGAF đã đưa ra phiên bản 9.1, nó được kiểm chứng là khung kiến trúc có độ phổ dụng cao, dễ dàng triển khai và có khả năng tùy biến, thích hợp với nhiều loại hình và quy mô của tổ chức và DN
TOGAF được phát triển từ năm 1995 bởi The Open Group, dựa trên TAFIM của Bộ Quốc phòng (DoD) Hoa Kỳ Tính đến năm 2016, The Open Group báo cáo rằng TOGAF được 80% DN toàn cầu, 50% đến 60% trong số
500 DN Fortune đang sử dụng Nó được sử dụng để mô tả các khối xây dựng Tiêu chuẩn ANSI / IEEE 1471-2000 về kiến trúc hệ thống (của các hệ thống phần mềm) Nó có thể được định nghĩa như sau: "Một hệ thống thông tin được
tổ chức thành các thành phần cơ bản khác nhau, nó có quan hệ với nhau và với môi trường bên ngoài, nó được quản lý bằng những nguyên tắc và có thể phát triển (thay đổi) theo thời gian"
TOGAF là một cách tiếp cận cấp cao để thiết kế, nó thường được mô
hình hoá ở bốn thành phần: kinh doanh, ứng dụng, dữ liệu và công nghệ Nó
dựa chủ yếu vào mô hình mô đun hóa, tiêu chuẩn đã có sẵn và các công nghệ, sản phẩm đã được chứng minh TOGAF mô tả một phương pháp xác định một
hệ thống thông tin tập hợp được để xây dựng các khối có liên quan với nhau nhiều nhất, có tác động đến hiệu quả hoạt động của DN
Phương pháp phát triển kiến trúc (ADM) là cốt lõi của TOGAF, nó mô
tả một phương pháp để phát triển và quản lý vòng đời của kiến trúc DN
Trang 3015
Nguồn: Cục tin học hóa _ Bộ TTTT (2017)
Hình 2.2 Cấu trúc của Phương pháp phát triển kiến trúc TOGAF
TOGAF gồm 8 thành phần (từ A đến H) và được chia dựa trên bốn lĩnh vực liên quan với nhau về chuyên môn được gọi là các lĩnh vực kiến trúc: (1)
Kiến trúc nghiệp vụ xác định chiến lược kinh doanh, quản trị, tổ chức và các
quy trình kinh doanh chủ chốt của tổ chức, (2) Kiến trúc ứng dụng cung cấp kế
hoạch chi tiết cho từng hệ thống được triển khai, sự tương tác giữa các hệ thống ứng dụng và các mối quan hệ của họ với các quy trình kinh doanh cốt lõi của tổ chức với các khuôn khổ cho các dịch vụ được phơi bày dưới dạng
các chức năng kinh doanh để hội nhập, (3) Kiến trúc dữ liệu mô tả cấu trúc tài
sản dữ liệu hợp lý và vật lý của tổ chức và các tài nguyên quản lý dữ liệu liên
quan, (4) Kiến trúc kỹ thuật hoặc kiến trúc công nghệ (mô tả phần cứng, phần
mềm và cơ sở hạ tầng mạng) cần thiết để hỗ trợ việc triển khai các ứng dụng cốt lõi, quan trọng
Trang 3116
Mô hình TOGAF kết hợp với khung kiến trúc tổng thể Liên bang (Mỹ) FEAF-II được Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam tham chiếu, kế thừa
để xây dựng Khung kiến trúc khái quát TMĐT Việt Nam V2.0
c Khung kiến trúc DN liên bang FEAF (Hoa Kỳ)
Vào tháng 9 năm 1999, Hội đồng CIO Liên bang Mỹ đã công bố
"Khung Kiến trúc DN Liên bang" - FEAF Phiên bản 1.0, để phát triển khung Kiến trúc DN (EA) của Zachman, được áp dụng chung trong các Cơ quan Liên bang Nó dựa trên các thực tiễn kinh doanh thông thường và các thiết kế vượt qua ranh giới tổ chức, trong số đó là mô hình Kiến trúc DN (NIST EA Model) của Viện NIST Khung kiến trúc (FEAF) cung cấp một tiêu chuẩn lâu dài cho việc phát triển và ghi lại các mô tả kiến trúc của các khu vực có mức độ ưu tiên cao Nó cung cấp hướng dẫn mô tả kiến trúc cho các phân đoạn chức năng, đa chức năng của Chính phủ Liên bang
Năm 2001, Tổ công tác Kiến trúc Liên bang (FAWG) đã đầu tư cho việc phát triển các sản phẩm Kiến trúc DN (EA) và công bố ra công chúng các phân đoạn Kiến trúc DN liên bang FEAF phiên bản 1.1.FEAF phân chia một kiến trúc nhất định vào khung kiến trúc DN gồm: (1) kinh doanh, (2) dữ liệu, (3) ứng dụng và (4) kiến trúc công nghệ Khuôn khổ tổng thể của FEAF được tạo ra vào thời điểm đó bao gồm ba cột đầu tiên của Khung Zachman và kết hợp Phương pháp Lập kế hoạch Kiến trúc DN của Spewak
Vào tháng 5 năm 2012, Văn phòng Quản lý và Ngân sách Hoa Kỳ (OMB) đã được Chính phủ Mỹ giao nghiên cứu và công bố một hướng dẫn mới là "Phương pháp tiếp cận chung cho Kiến trúc DN Liên bang", đây được xem là phiên bản đầu tiên (FEAF-I) Được đưa ra như là một phần của các công cụ quản lý và hướng dẫn chính sách của Hội đồng CIO Liên bang nhằm tăng cường các cách tiếp cận chia sẻ về cung cấp dịch vụ CNTT, hướng dẫn đưa ra cách tiếp cận tổng thể để phát triển và sử dụng Kiến trúc DN trong Chính phủ Liên bang
Vào ngày 29 tháng 1 năm 2013, Nhà Trắng đã cho điều chỉnh và phát hành Phiên bản 2 của Khung Kiến trúc DN Liên bang (FEAF-II) và đồng thời
cho xây dựng Mô hình tham khảo hợp nhất của FEAF cho các cơ quan chính
Trang 3217
phủ, công bố công khai khoảng một năm sau đó Tài liệu đáp ứng các tiêu chí được nêu ra trong Phương pháp tiếp cận chung, các mục tiêu chiến lược thúc đẩy các dịch vụ kinh doanh được nhấn mạnh Cốt lõi của nó là Mô hình Tài chính hợp nhất (CRM), trang bị cho các cơ quan OMB và Liên bang một ngôn ngữ và khuôn khổ chung để mô tả và phân tích đầu tư công nghệ.Mô hình này bao gồm một tập hợp các mô hình tham chiếu tương quan được thiết kế để tạo thuận lợi cho việc phân tích giữa các cơ quan và xác định các khoản đầu tư trùng lắp (duplicative), khoảng trống và cơ hội hợp tác trong và giữa các cơ quan
Mô hình Tham khảo hợp nhất của Khung kiến trúc DN Liên bang (FEAF-II) từ 5 mô hình tham khảo trong phiên bản 1 (FEAF-I) đã được nhóm lại và mở rộng thành 6 mô hình trong phiên bản 2 (FEAF-II) – thêm Mô hình tham khảo bảo mật (SRM), có tác động bao trùm đối với các mô hình tác động còn lại Các mô hình bao gồm (từ dưới lên trên):
(Mục đích là kiểm soát rủi ro, an toàn và an ninh thông tin)
(Định hướng mục tiêu của DN)
(Chia sẻ nguồn lực và dịch vụ trong nội bộ và bên goài)
(Những thông tin cơ bản phục vụ DN)
(Phần mềm chức năng, chuyển tải dữ liệu phục vụ DN)
(Phần cứng, phần mềm, dữ liệu, đám mây, ảo hóa)
Nó được thiết kế để dễ dàng chia sẻ thông tin và các nguồn thông tin qua các cơ quan liên bang, DN nhằm giảm chi phí và cải thiện các dịch vụ công Đây là sáng kiến của Văn phòng Quản lý và Ngân sách Hoa Kỳ (OMB), được Nhà trắng công bố nhằm thực hiện theo Đạo luật Clinger-Cohen
Trang 3318
Mô hình tham chiếu hợp nhất liên bang Mỹ (FEAF-II, 2013) là một khung kiến trúc CNTT chuẩn được Chính phủ Hoa kỳ đầu tư nghiên cứu sâu, cập nhật thường xuyên để làm cơ sở cho việc tham chiếu và triển khai các ứng dụng CNTT trong cơ quan Chính phủ và DN Khung tham chiếu này cũng được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng toàn bộ hoặc một phần trong việc xây dựng các khung tham chiếu cho Chính phủ điện tử của mình và các DN áp dụng Chính phủ Việt nam khi xây dựng Khung kiến trúc CPĐT cũng tham chiếu một phần khung kiến trúc này
Nhìn chung, Kiến trúc Doanh nghiệp Liên bang (FEA) được ủy quyền bởi một loạt các luật và nhiệm vụ liên bang Những luật liên bang đã được ban hành gồm: (1) GPRA 1993: Đạo luật cải cách và hiệu suất của chính phủ, (2) PRA 1995: Luật giảm giấy tờ, (3) CCA 1996: Đạo luật Clinger- Cohen, (4) GPEA 1998: Đạo luật loại bỏ thủ tục giấy tờ của chính phủ, (5) FISMA 2002: Đạo luật quản lý bảo mật thông tin liên bang và (6) E-Gov 2002: Chính phủ điện tử
d Khung kiến trúc Chính phủ điện tử (CPĐT) Việt Nam (VGAF)
Ngày 21/04/2015, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành công văn
số 1178/BTTTT-THH về việc Ban hành Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam - Phiên bản 1.0 (Vietnam eGovernment Architecture Framework – VGAF)
Mục đích của việc xây dựng Khung kiến trúc CPĐT Việt Nam (v1.0) là nhằm mục đích: (1) Tăng cường khả năng kết nối liên thông, tích hợp, chia sẻ,
sử dụng lại thông tin, cơ sở hạ tầng thông tin, (2) Tăng cường khả năng giám sát, đánh giá đầu tư; đảm bảo triển khai ứng dụng CNTT đồng bộ, hạn chế trùng lặp, tiết kiệm chi phí, thời gian triển khai của cơ quan Nhà nước (CQNN), (3) Nâng cao tính linh hoạt khi xây dựng, triển khai các thành phần,
hệ thống thông tin theo điều kiện thực tế, (4) Tạo cơ sở xác định các thành phần, hệ thống CNTT cần xây dựng và lộ trình, trách nhiệm triển khai CPĐT tại Việt Nam và (5) các tổ chức khác có thể tham khảo để bảo đảm kết nối, liên thông, triển khai đồng bộ các hệ thống thông tin cùng với các CQNN trong phát triển CPĐT
Trang 3419
Nguồn: Cục tin học hóa - Bộ Thông tin và Truyền thông (2015)
Hình 2.3 Khung kiến trúc CPĐT tổng thể cấp quốc gia Việt Nam v1.0 Khung kiến trúc này gồm 04 cấp độ (hệ thống- ngang) là: Khung kiến trúc tổng thể CPĐT cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và cấp quận, huyện
Nếu xem xét ở tính cơ cấu thì Khung kiến trúc này được chia thành 8 tầng (thành phần- dưới lên):
+ Tầng (1) quản lý, chỉ đạo: đây là tầng cốt lõi được thiết lập nhằm thể
hiện mục tiêu của khung kiến trúc này, nó giúp cho cơ quan Nhà nước dựa vào
để xây dựng chính sách, tổ chức quản lý và chỉ đạo điều hành hoạt động ứng dụng CNTT một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc
+ Tầng (2) hạ tầng kỹ thuật: là tầng nền tảng (xương sống) cho việc
triển khai ứng dụng CNTT, nó bao gồm việc đầu tư xây dựng trung tâm dữ liệu, mạng máy tính, an toàn thông tin, dịch vụ cơ sở hạ tầng (CSHT) và quản
lý CSHT
+ Tầng (3) dịch vụ chia sẻ và tích hợp, bao gồm: dịch vụ thư mục, quản
lý định danh (xác thực và cấp quyền), dịch vụ GTGT, dịch vụ trao đổi dữ liệu, dịch vụ thanh toán điện tử, dịch vụ tích hợp thông tin
Trang 3520
+ Tầng (4) ứng dụng và CSDL, bao gồm: CSDL phục vụ các ứng dụng
và các ứng dụng từ cấp nội bộ, cấp huyện, cấp tỉnh và cấp quốc gia
+ Tầng (5) dịch vụ cổng thông tin (chính), bao gồm các dịch vụ liên
quan đến việc thiết lập, vận hành, quản trị,…cổng thông tin
+ Tầng (6) dịch vụ cổng con/ thành phần, bao gồm: các cổng con, cổng
liên kết, cổng thành phần,…được thể hiện trên cổng chính, nhưng CSDL có thể không cùng nằm trên một máy chủ của cổng chính
+ Tầng (7) các kênh kết nối, bao gồm: web/cổng, kiosk, e-mail, trực
tiếp, phone/fax Đây là các kênh được truy cập, kết nối vào hệ thống thông tin của khung kiến trúc
+ Tầng (8) người sử dụng, bao gồm: công dân, DN, chính phủ và công
chức Đây là những người dùng cuối (end users) tham gia vào khung kiến trúc này
Đây là phiên bản đầu tiên, hướng dẫn bước đầu các cơ quan trong hệ thống chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương triển khai ứng dụng CNTT, từng bước xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam Khung kiến trúc này vẫn còn khiếm khuyết, chưa mang tính hệ thống và chi tiết cao, chưa cập nhật đầy đủ những thành tựu mới nhất về xây dựng Khung kiến trúc CPĐT trên thế giới vì vậy cần phải được cập nhật và bổ sung thêm
Vào ngày 31/12/2019, Bộ trưởng Bộ thông tin và Truyền thông (TTTT) Việt Nam đã ký Quyết định số 2323/QĐ- BTTTT, về việc ban hành Khung kiến trúc CPĐT Việt Nam - Phiên bản 2.0 (VGAF -2.0) Khung kiến trúc khái quát được tham chiếu và kế thừa khung kiến trúc TOGAF của nhóm mở và Khung FEAF-II của Chính phủ Mỹ (Cục tin học hóa, 2019)
Mục đích của Khung Kiến trúc CPĐT Việt Nam- phiên bản 2.0 được
Bộ TTTT ban hành là để hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương cập nhật mới Khung kiến trúc CPĐT cấp bộ, cấp tỉnh nhằm đảm bảo triển khai CPĐT có hiệu quả, tránh đầu tư trùng lặp và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành; nâng cao chất lượng phục vụ người dân, DN; xây dựng CPĐT hướng tới Chính phủ
số và nền kinh tế số
Trang 3621
Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam bao gồm các thành phần
cơ bản: mục đích và phạm vi áp dụng, các nội dung khung kiến trúc, các mô hình tham chiếu, sơ đồ khái quát Chính phủ điện tử Việt Nam và tổ chức thực hiện
Cùng với việc hướng dẫn cụ thể các bộ, ngành, địa phương về những nội dung cơ bản trong Kiến trúc CPĐT, tại Khung Kiến trúc này, Bộ TTTT cũng nêu rõ, quá trình xây dựng, áp dụng các nội dung Kiến trúc Chính phủ điện tử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như: phù hợp với Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam và các văn bản hướng dẫn liên quan; phù hợp với định hướng, mục tiêu triển khai ứng dụng CNTT, phát triển Chính phủ điện tử của quốc gia; bảo đảm đầu tư triển khai Chính phủ điện tử hiệu quả; phù hợp với quy trình nghiệp vụ, thúc đẩy cải cách quy trình nghiệp vụ, hướng tới đơn giản hóa, chuẩn hóa; ưu tiên phát triển các dịch vụ, ứng dụng, nền tảng dùng chung…(Cục tin học hóa, 2019)
Một nội dung mới nổi bật của Khung Kiến trúc CPĐT Việt Nam phiên bản 2.0 so với phiên bản 1.0 là 5 mô hình tham chiếu (nội dung mà các bộ, ngành, địa phương tham chiếu trong quá trình xây dựng Kiến trúc Chính phủ điện tử của mình) về nghiệp vụ, dữ liệu, ứng dụng, công nghệ và an toàn thông tin và phạm vi điều chỉnh chỉ còn hai cấp là quốc gia và tỉnh (thành)
Cùng với đó, phiên bản mới của Khung Kiến trúc CPĐT Việt Nam cũng ban hành kèm theo danh mục các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tạo nền tảng CPĐT Việt Nam Đây là điểm thay đổi căn bản so với phiên bản 1.0
để các bộ, ngành, địa phương xây dựng, cập nhật Khung Kiến trúc CPĐT của mình
Trang 3722
Nguồn: Cục tin học hóa – Bộ TTTT (2019)
Hình 2.4 Khung kiến trúc khái quát CPĐT Việt Nam – Phiên bản 2.0 Các mô hình tham chiếu cơ bản của Khung kiến trúc khái quát CPĐT Việt Nam – Phiên bản 2.0, bao gồm 5 lớp và một hệ thống: (1) Mô hình tham chiếu nghiệp vụ (Business Reference Model – BRM), (2) Mô hình tham chiếu
dữ liệu (Data Reference Model – DRM), (3) Mô hình tham chiếu ứng dụng (Application Reference Model ARM), (4) Mô hình tham chiếu kỹ thuật, công nghệ (Technical Reference Model – TRM), (5) Mô hình tham chiếu an toàn thông tin (Security Reference Model – SRM) và (6) Chỉ đạo chính sách
Qua khung kiến trúc CPĐT v2.0 lần này, Bộ TTTT Việt Nam mong muốn công bố một khung kiến trúc tổng thể, toàn diện hơn và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế nhằm làm cơ sở để các cơ quan Chính phủ đến các Chính quyền địa phương làm nền tảng để triển khai các ứng dụng CNTT trong cơ quan Nhà nước, kết nối với các ứng dụng khác, tiến tới xây dựng Mô hình
Trang 38để phát triển CPĐT tại quốc gia mình
Tuy nhiên, do đề tài này chủ yếu nghiên cứu tác động của CNTT tác động đến yếu tố cấu thành NLCT của DN nên chỉ xem xét một số khung kiến trúc và mô hình CNTT tiêu biểu để xác định Khung kiến trúc chuẩn làm cơ sở triển khai nghiên cứu này
Dưới đây là tóm tắt một số khung kiến trúc hoặc mô hình đó
Bảng 2.2 Tóm tắt một số lý thuyết về Khung kiến trúc hoặc Mô hình CNTT
là khung chuẩn đầu tiên được công bố
John Zachman (1987); Spewak (1992)
DN bằng và qua CNTT
Stephen Marley (2003); Dirk Draheim, Gerald Weber (2007)
Trang 39W Bradford Rigdon (nhóm thứ 5) thuộc (MDISC -1989)
4
Khung
FEAF
Mô hình này kế thừa Mô hình EA, nó bao
gồm một tập hợp các Mô hình tham chiếu
tương quan (FEAF-I), sau phát triển thành
Mô hình tham chiếu hợp nhất (FEAF-II)
được thiết kế để tạo thuận lợi cho việc phân tích giữa các cơ quan, DN và xác định các khoản đầu tư trùng lắp (duplicative), khoảng trống và cơ hội hợp tác trong và giữa các cơ quan
Hội đồng CIO Liên bang ấn hành lần đầu FEAF-
I (1999); Nhà trắng
ấn hành phiên bản FEAF-II (2013)
Interoperability Framework) được phát
triển từ khung kiến trúc EA, là một phần của Thông báo từ Ủy ban châu Âu thông qua năm 2017 Khung này đưa ra hướng dẫn cụ thể về cách thiết lập các dịch vụ công cộng kỹ thuật số tương thích tại các nước Liên minh châu Âu (EU)
Ủy ban châu Âu thông qua ngày 23/3/2017
6
Khung
SAGA
(Đức)
SAGA là khung tương tác chính phủ điện
tử của Đức, thiết lập những chuẩn kỹ thuật cho thực thi hoạt động Chính phủ điện tử của Đức, được công bố lần đầu năm 2005
Khung này được phát triển dựa trên nền
Chính phủ điện tử của Đức
Trang 402000 Khung kiến trúc AGA có mục đích:
Cung cấp chuẩn chung cho các dịch vụ liên
cơ quan; xác định các dịch vụ trùng lắp, các dịch vụ có thể tái sử dụng, có thể chia sẻ;
cung cấp căn cứ xem xét đầu tư CNTT-TT
Được xây dựng bởi
Bộ Tài chính của
R Scott Bittler, Gregg Kreizman thuộc tổ chức Gartner
quản lý chỉ đạo, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ chia sẻ và tích hợp, ứng dụng và CSDL, dịch vụ cổng thông tin, dịch vụ cổng con/
thành phần, các kênh kết nối, và người sử dụng
Cục Tin học hóa –
Bộ TTTT (2015)
Cục Tin học hóa –
Bộ TTTT Việt Nam