1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý – thực tiễn thực hiện tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân

61 217 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 123,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước những yêu cầu cấp thiết trên, với đề tài “Pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân” , tác giả đã tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu

Trang 1

cơ hội hoặc bị những sai phạm thậm chí phải chịu những hậu quả pháp lý nặng nề Dovậy, các tổ chức, cá nhân rất cần sự an toàn về mặt pháp luật trong hoạt động của mình

và ngày càng phát sinh nhu cầu có được sự trợ giúp pháp lý thường xuyên Nhu cầu ấycủa xã hội được đáp ứng thông qua các DVPL mà các chủ thể có đủ điều kiện đượcpháp luật cho phép có thể cung ứng thông qua HĐDVPL

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng

HĐDVPL tác giả đã lựa chọn đề tài: Pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý – thực tiễn thực hiện tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân làm đề tài khóa luận của mình.

Khóa luận tốt nghiệp có nội dung chính gồm: Phần mở đầu và 3 chương

Phần mở đầu: Tổng quan nghiên cứu đề tài Phần này nêu lên tính cấp thiết của

đề tài, tính hình nghiên cứu của các công trình những năm trước, mục tiêu nghiên cứu,phạm vi nghiên cứu của đề tài

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ pháp lý Trong chương 1,

tác giả đã trình bày lý thuyết liên quan đến hợp đồng dịch vụ pháp lý, cơ sở ban hành

và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý, một số nguyên tắc cơbản của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý và thực

tiễn thực hiện tại văn phòng luật sư Vạn Xuân Trong chương 2, tác giả đã trình bàytổng quan về Văn phòng luật sư Vạn Xuân và tập trung làm rõ thực trạng quy định củapháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý cũng như thực tiễn thực hiện tại Văn phòng luật

sư Vạn Xuân, từ đó tổng kết lại kết quả nghiên cứu

Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả

thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân Nộidung chương 3 phân tích về các kết luận đưa ra được từ kết quả nghiên cứu, trên cơ sở

đó tìm ra được những kết quả đạt được và những hạn chế Từ đó đưa ra những giảipháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụpháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân

i

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban giámhiệu trường Đại học Thương Mại, các thầy cô trong Khoa Kinh tế - Luật, Bộ môn LuậtCăn Bản đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng em hoàn thành bài khóa luận này

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - Th.S Nguyễn Thị VinhHương, cảm ơn cô đã dành thời gian, tận tình quan tâm, giúp đỡ em hoàn thành bàikhóa luận

Bên cạnh đó, trong thời gian thực tập tại văn phòng luật sư Vạn Xuân, em đãnhận được sự giúp đỡ của trưởng văn phòng luật sư, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tìnhcủa các cô chú, anh chị trong văn phòng đã giúp em tìm hiểu thực tế về môi trườnglàm việc trong lĩnh vực chuyên ngành của mình và tạo điều kiện để em có thể hoànthành tốt nhiệm vụ được giao

Trong quá trình làm khóa luận vì trình độ của bản thân và thời gian thực tập cònhạn chế nên em kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía các thầy cô giáo đểkiến thức của em được hoàn thiện và bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

ii

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu của khóa luận 4

4.2 Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận 4

4.3 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu của khóa luận 5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG 6

DỊCH VỤ PHÁP LÝ 6

1.1 Khái quát chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý 6

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng dịch vụ pháp lý 6

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ pháp lý 8

1.1.3 Phân loại hợp đồng dịch vụ pháp lý 11

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý 12

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý 12

1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý 13

1.3 Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý 16

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VẠN XUÂN 18

2.1 Tổng quan về văn phòng Luật sư Vạn Xuân và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng 18

2.1.1 Tổng quan về văn phòng luật sư Vạn Xuân 18

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân 18

iii

Trang 4

2.2 Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý 20 2.2.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý 20 2.2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 27 2.2.3 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về sửa đổi và chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý 28 2.2.4 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng dịch vụ pháp lý 31 2.3 Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân 34 2.3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp

lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân 34 2.3.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân 36 2.3.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về sửa đổi và chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân 37 2.3.4 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân 38 2.4 Đánh giá chung 38 2.4.1 Về thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý 38 2.4.2 Về thực trạng thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý của Văn phòng luật sư Vạn Xuân 41 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TẠI VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VẠN XUÂN 43 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý 43 3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý 45 3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại văn phòng luật sư Vạn Xuân 48 3.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 51 KẾT LUẬN 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

iv

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động dịch vụ pháp lýngày càng phát huy mạnh mẽ vai trò của mình trong việc thông thương hoá các hoạtđộng thương mại Ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi cơ chế hoạt động của nền kinh

tế, nhu cầu về cung cấp dịch vụ pháp lý đã phát triển liên tục, không ngừng, đặc biệt làtrong lĩnh vực tư vấn pháp luật Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua đãkhẳng định được vị trí cần thiết của mình trong số nhiều loại hình dịch vụ khác củanền kinh tế

Theo chủ trương, đường lối của Đảng, hoạt động dịch vụ pháp lý cần được địnhhướng phát triển như một loại hình dịch vụ thương mại và cần thiết phải tạo lập mộtthị trường riêng, sôi động, lành mạnh, hiệu quả Điều này cũng phù hợp các quy địnhcủa GATS/WTO về dịch vụ pháp lý

Tuy nhiên, để hoạt động dịch vụ pháp lý phát triển đúng vai trò, vị trí của nó, đápứng nhu cầu của thực tiễn đời sống xã hội, cần thiết phải có một hành lang pháp lý cụthể, vững chắc, làm cơ sở để nó hoạt động Thực tiễn hệ thống pháp luật Việt Nam vềdịch vụ pháp lý chưa đáp ứng được điều này Cụ thể, pháp luật điều chỉnh HĐDVPL ởViệt Nam hiện nay còn chưa hoàn chỉnh và được quy định ở rất nhiều văn bản phápluật khác nhau, như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật luật

sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) Các đạo luật chuyên ngành và một số văn bản dướiluật, bước đầu đặt cơ sở pháp lý cho hoạt động DVPL của các nhà cung cấp DVPL kýkết HĐDVPL với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng DVPL Các văn bản phápluật nêu trên quy định về hợp đồng, HĐDV và DVPL chứ không quy định trực tiếp vềHĐDVPL Điều đó dẫn đến một thực tế là trong một số trường hợp cùng một vấn đềnhưng lại được điều chỉnh bằng nhiều quy định của các văn bản khác nhau và nhữngquy định đó lại chồng chéo, mâu thuẫn với nhau Ngược lại, có nhiều vấn đề lại khôngđược quy phạm pháp luật nào điều chỉnh hoặc quy định không rõ ràng hoặc quá chungchung…gây khó khăn, lúng túng cho các chủ thể trong HĐDVPL, cho hoạt độngQLNN và hoạt động giải quyết tranh chấp về HĐDVPL Trong quá trình thực tập tạivăn phòng luật sư Vạn Xuân, em thấy rằng đội ngũ luật sư đã gặp phải rất nhiều khókhăn trong việc thực hiện các quy định của pháp luật trong các hoạt động liên quanđến HĐDVPL

Trước những yêu cầu cấp thiết trên, với đề tài “Pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân” , tác giả đã tiến

hành tìm hiểu và nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về các vấn đề lý luậncủa HĐDVPL; thực trạng các quy định của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ

Trang 7

pháp lý ở nước ta hiện nay và cụ thể là Văn phòng luật sư Vạn Xuân, từ đó đưa ra một

số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồngdịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, DVPL

đã được ghi nhận, cho phép thành lập và hoạt động (tuy chỉ đối với hoạt động của luậtsư) và chỉ được xác lập trở lại và phát triển khá mạnh mẽ từ hơn hai thập kỷ qua

Cho đến hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới các vấn đề, khíacạnh khác nhau của DVPL và HĐDVPL với phạm vi nghiên cứu khác nhau, như giáotrình, sách chuyên khảo, chuyên đề, nhưng chủ yếu tồn tại dưới hình thức những bàiviết đăng trên tạp chí, đăng trên kỷ yếu hội thảo và đề tài nghiên cứu của một số cánhân, tổ chức Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống về hợpđồng dịch vụ pháp lý Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quan đếnhợp đồng dịch vụ pháp lý đã được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua như sau:

- Luận án tiến sĩ “Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam” của tác giả Hoàng ThịVịnh, Học viện khoa học xã hội (2014) đã tiếp cận nghiên cứu pháp luật HĐDVPLdựa trên các nội dung cơ bản bao gồm: Các quy định về chủ thể, về nội dung, về thựchiện, về điều kiện có hiệu lực và tránh nhiệm do vi phạm HĐDVPL Tác giả đã đưa ranhững luận cứ logic để bước đầu xây dựng hệ thống lý luận về DVPL và thương mạiDVPL cũng như thực tiễn về các quan hệ cung ứng DVPL, trên cơ sở đó luận án xâydựng hệ thống lý luận khoa học về pháp luật, đưa ra các luận cứ khoa học, tính tất yếukhách quan đối với việc thiết lập chế định pháp luật về HĐDVPL Luận án cũng đánhgiá mức độ phù hợp của pháp luật HĐDVPL với thực tiễn hoạt động DVPL đồng thờiđưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này

- Luận văn thạc sĩ luật học “Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam” của tác giảNguyễn Mai Anh, Đại học quốc gia Hà Nội (2015) đã tập trung nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật về hợp đồng tư vấp pháp lý, xây dựng khái niệm về hợp đồng tưvấn pháp lý đối chiếu với thực tiễn và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện phápluật về hợp đồng tư vấn pháp lý

- Luận văn thạc sĩ luật học “Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa tổ chức hành nghềluật sư và doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê BìnhPhương, Học viện khoa học xã hội Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2017)nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về HĐDVPL giữa TCHNLS và doanhnghiệp Đề tài đã nghiên cứu sâu ở phạm vi chủ thể và pháp luật liên quan làm cơ sở

để thực hiện đồng thời kiến nghị hoàn thiện pháp luật

- Luận văn thạc sĩ luật học “Giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý từthực tiễn tỉnh Tây Ninh” của tác giả Đinh Thái Hoàng, Học viện khoa học xã hội Viện

Trang 8

hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2018) Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn

đề lý luận, quy định pháp luật về việc giao kết và thực hiện HĐDVPL và thực trạngviệc giao kết và thực hiện HĐDVPL từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh

- Bài viết “Từng bước xây dựng quan niệm về dịch vụ pháp lý phù hợp tiến trìnhhội nhập quốc tế” của TS Phan Trung Hoài đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật

số 2 năm 2007, cho rằng DVPL chỉ có thể do luật sư thực hiện

- Bài viết “Dịch vụ pháp lý và nhu cầu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”của TS Nguyễn Văn Tuân đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số Chuyên đề Phápluật về Doanh nghiệp Đã xác định thời điểm xuất hiện thuật ngữ DVPL ở Việt Nam,khẳng định DVPL là hoạt động rất đặc thù so với các loại dịch vụ thông thường khác

và xác định phạm vi DVPL ở Việt Nam gồm DVPL của luật sư và DVPL của tổ chức,đoàn thể xã hội

Tóm lại, các công trình trên đã nghiên cứu, đánh giá những vấn đề có liên quanđến HĐDVPL ở những khía cạnh khác nhau và là tài liệu tham khảo hữu ích cho việcnghiên cứu pháp luật HĐDVPL Tuy nhiên, do có những mục đích và nhiệm vụ nghiêncứu khác nhau nên hầu hết các tác giả vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu các qui định củapháp luật về HĐDVPL như giao kết, thực hiện, sửa đổi và chấm dứt, về giải quyếttranh chấp trong HĐDVPL, dẫn đến các thông tin về HĐDVPL còn bị hạn chế, nhiềubất cập còn tồn tại trong thực tiễn

Nhằm hiểu và thực hiện các qui định của pháp luật về HĐDVPL, tác giả đã đặt rathêm một số vấn đề mà các công trình trước chưa đề cập đến và đồng thời chỉ ra một

số thực trạng trong việc thực hiện các qui định pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lýcủa Văn phòng luật sư Vạn Xuân, các đề xuất giải pháp hoàn thiện các qui định củapháp luật về HĐDVPL nói chung và việc thực hiện pháp luật của Văn phòng luật sưVạn Xuân nói riêng

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Qua thời gian tìm hiểu thực tế về các hợp đồng dịch vụ pháp lý của Văn phòngluật sư Vạn Xuân cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại nhữnghạn chế nhất định trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụpháp lý Việc nghiên cứu cơ sở lý luận của HĐDVPL cũng như xem xét, khảo cứuthực trạng các qui định pháp luật, thực tiễn áp dụng hợp đồng dịch vụ pháp lý là mộtđiều hết sức cần thiết, không chỉ để giúp văn phòng có cơ hội hiểu hơn về loại hợpđồng dịch vụ này mà còn giúp cơ quan nhà nước và các tổ chức hữu quan nghiên cứu

để hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý Bên canh đó, việc tìm ra giải pháp hoàn thiện những hạn chế trên sẽ trở thànhđòn bẩy đối với văn phòng, giúp văn phòng thực sự phát huy vai trò của mình, gây

Trang 9

dựng được thương hiệu, uy tín và niềm tin cho khách hàng khắp mọi miền đất nước,đặc biệt là người dân thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận

Do vậy để làm sáng tỏ và cung cấp thêm tài liệu nghiên cứu về hợp đồng dịch vụpháp lý cho Văn phòng luật sư Vạn Xuân trong việc thực hiện các quy định của phápluật về hợp đồng dịch vụ pháp lý và có những biện pháp để hoàn thiện trong việc thực

hiện các qui định của pháp luật về HĐDVPL, tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Pháp luật

về hợp đồng dịch vụ pháp lý - Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

Các kết quả nghiên cứu của đề tài khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo để Vănphòng luật sư Vạn Xuân hoàn thiện năng lực pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

về hợp đồng dịch vụ pháp lý

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của khóa luận

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp là: Các quan điểm, tư tưởng luậthọc về DVPL và HĐDVPL; những văn bản pháp luật điều chỉnh về DVPL vàHĐDVPL; thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật HĐDVPL ở Việt nam nói chung

và Văn phòng luật sư Vạn Xuân nói riêng

4.2 Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận

- Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ pháp lý tạiViệt Nam để hiểu rõ một cách hệ thống và toàn diện các quy định của pháp luật về vấn

đề này

- Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý tạiVăn phòng luật sư Vạn Xuân Từ đó, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong quiđịnh của pháp luật và những hạn chế của Văn phòng

- Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, khóa luận đưa ramột số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện pháp luậthợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân nói riêng, cũng như của các

tổ chức hành nghề luật sư nói chung

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Khóa luận nghiên cứu pháp luật về HĐDVPL kể từ khiLTM 2005, BLDS 2015, LLS 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) ban hành và có hiệulực cho đến nay

- Phạm vi về không gian: Tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân và các tổ chức, cánhân có đủ điều kiên hành nghề DVPL chỉ trong giới hạn lãnh thổ Việt Nam

- Phạm vi về nội dung: Trong hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ pháp lýnói riêng thì nội dung của hợp đồng bao gồm rất nhiều vấn đề Tuy nhiên, trong bài

Trang 10

khóa luận tốt nghiệp của mình, tác giả xin phép được giới hạn phạm vi nghiên cứu vàonhững vấn đề sau: Việc giao kết và thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý;Sửa đổi và chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý; Giải quyết tranh chấp trong hợp đồngdịch vụ pháp lý và thực tiễn thực hiện tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Đây là phương pháp luận khoahọc được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ khóa luận để đánh giá khách quan sự thểhiện của các qui định của pháp luật về HĐDVPL Khóa luận cũng được nghiên cứu dựatrên đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát triển thương mại dịch vụ vàhội nhập kinh tế của Đảng và Nhà nước ta; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhànước ta về đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp; lý thuyết về quan

hệ pháp luật, lý thuyết về hợp đồng dân sự, lý thuyết về hợp đồng dịch vụ thương mại.Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học

cụ thể khác nhau như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháplịch sử cụ thể và phương pháp nghiên cứu trực tiếp qua khảo sát thực tế nhằm minhchứng cho những lập luận, cho những nhận xét đánh giá, kết luận khoa học của khóaluận và đặc biệt là phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử được sử dụngxuyên suốt khóa luận để phân tích, đối chiếu so sánh những quy định pháp luật vềHĐDVPL, để thấy sự phát triển của pháp luật về HĐDVPL của nước ta cũng nhưnhững điểm tương đồng và khác biệt, những hạn chế, bất cập của pháp luật vềHĐDVPL của Việt nam so với các quy định của WTO và pháp luật quốc tế

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu thì có sự kết hợp giữa các phương pháptrong từng phần của khoá luận Đối với mỗi mục thì có một số phương pháp nghiêncứu chủ đạo để làm rõ mục đích nghiên cứu Cụ thể, trong quá trình nghiên cứu khóaluận đã sử dụng một số phương pháp như phương pháp tiếp cận, nghiên cứu tài liệu,thu thập thông tin để làm rõ những nội dung chủ yếu trong chương 1, phương phápquan sát và khảo cứu thực tiễn áp dụng cho chương 2, phương pháp phân tích – tổnghợp cho chương 3

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệutham khảo, kết luận, nội dung khóa luận kết cấu gồm 03 chương:

Trang 11

Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên

về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”, định nghĩa hợp đồng

theo BLDS năm 2015 tuy ngắn gọn nhưng phản ánh đầy đủ các dấu hiệu pháp lý cơbản của hợp đồng, thể hiện đúng, đầy đủ bản chất của hợp đồng

Về khái niệm hợp đồng dịch vụ :

Theo quy định tại Điều 513 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ ” Như vậy, BLDS năm 2015 đã thay cụm từ “bên sử dụng dịch vụ” cho cụm từ “bên thuê dịch vụ” của Điều 518 BLSD năm 2005 Đây là một sự thay đổi phù hợp vì nó thể hiện

sự tương quan về mục đích mà các bên hướng tới trong hợp đồng

Với khái niệm đã được quy định như trên thì HĐDV là một loại hợp đồng thông dụng, đối tượng của HĐDV phải là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội.

Khái niệm về dịch vụ pháp lý:

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý thì DVPL là: “Loại hình dịch

vụ do tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu được biết, được tư vấn hoặc được giúp đỡ về mặt pháp lý của các tổ chức, cá nhân trong xã hội”

Trang 12

Tóm lại, DVPL là loại hình dịch vụ gắn liền với pháp luật do các tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện hành nghề thực hiện cung ứng DVPL nhằm đáp ứng nhu cầu

về pháp lý của các chủ thể khác.

Như vậy, hợp đồng dịch vụ pháp lý là gì?

Quan hệ cung ứng DVPL được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý

là HĐDVPL HĐDVPL có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cung ứng DVPL.

Theo nguyên tắc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành trong trường hợp cùng điềuchỉnh quan hệ HĐDVPL thì các nguyên tắc và quy định đối với hợp đồng dịch vụtrong BLDS 2015 và LTM 2005 cũng được áp dụng cho HĐDVPL

Bên cạnh BLDS và LTM 2005, LLS 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2012) có quy

định "Luật sư thực hiện DVPL theo HĐDVPL, trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức HĐDVPL phải được làm thành văn bản" (Điều 26) Như vậy, đối với hoạt động cung ứng DVPL của luật sư,

pháp luật đã có quy định chính thức về việc quan hệ giữa luật sư và khách hàng làquan hệ HĐDVPL và phải được thể hiện dưới hình thức bằng văn bản

Các luật chuyên ngành khác về DVPL, tuy không đưa ra định nghĩa về HĐDVPLnhưng căn cứ vào bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý của các quan hệ cungứng DVPL cụ thể cũng như xem xét các quan hệ cung ứng này trong sự so sánh vớiquan hệ cung ứng DVPL của luật sư, có thể khẳng định quan hệ giữa bên cung ứngDVPL và bên sử dụng các loại hình DVPL khác là quan hệ HĐDVPL

Từ các quy định của BLDS, LTM và các luật chuyên ngành về DVPL, có thểkhẳng định HĐDVPL là một dạng của hợp đồng dịch vụ thương mại Và HĐDVPLmang đầy đủ các dấu hiệu của hợp đồng dịch vụ thương mại

Ngoài ra, HĐDVPL còn là loại hợp đồng thương mại dịch vụ, chứa đựng đặcđiểm của một số loại hợp đồng thương mại dịch vụ khác khác Cụ thể là một sốHĐDVPL có những điểm tương đồng với hợp đồng đại diện cho thương nhân, đó làbên đại diện được nhân danh và vì lợi ích của bên được đại diện để tiến hành cáccông việc do bên được đại diện giao, mang lại quyền và nghĩa vụ cho bên được đạidiện Tuy nhiên, đại diện trong hoạt động DVPL là để thực hiện các công việc cóliên quan đến pháp luật thuộc lĩnh vực hành nghề của bên cung ứng DVPL (chẳnghạn luật sư đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn để khởi kiện và tham gia tố tụngtrong vụ kiện đòi nợ), còn đại diện cho thương nhân trong hoạt động thương mại là

để thực hiện các công việc thuộc lĩnh vực hoạt động của bên giao đại diện (hợp đồngđại lý là một điển hình)

Trang 13

Từ những phân tích ở trên, theo giới hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận (chỉnghiên cứu những DVPL có tính thương mại), có thể đưa ra định nghĩa về hợp đồng

dịch vụ pháp lý (có tính thương mại) như sau: Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cung ứng cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý cho bên thuê dịch vụ để nhận thù lao, còn bên sử dụng dịch vụ

có nghĩa vụ thanh toán và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ pháp lý

Ngoài việc có đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng thương mại dịch vụ, HĐDVPL

có những đặc điểm riêng do đối tượng của HĐDVPL chi phối Đặc điểm riêng biệt nàycủa HĐDVPL nhấn mạnh đến khía cạnh gắn liền với pháp luật của HĐDVPL và chínhHĐDVPL đã làm thay đổi chủ thể, phương thức ký kết và phương thức thực hiện, kéotheo đó là cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp HĐDVPLcũng có nhiều đặc điểm khác biệt

HĐDVPL có những đặc điểm riêng như sau:

1.1.2.1 Bên cung ứng DVPL phải là các tổ chức hành nghề có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Chủ thể cung ứng trong HĐDVPL phải đáp ứng về kinh doanh có điều kiện:DVPL là phải luôn gắn liền với pháp luật và chủ thể thực hiện, phải có đủ các điềukiện theo quy định của pháp luật mới được cung ứng DVPL Theo quy định tại khoản

2, Điều 7 Luật Đầu tư quy định về Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiệnđược quy định tại Phụ lục 4 của Luật này thì hành nghề luật sư, hành nghề côngchứng, hoạt động dịch vụ của tổ chức trọng tài thương mại và hành nghề thừa phát lại

là những nghề kinh doanh có điều kiện

Để có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ HĐDVPL với tư cách là bên cungứng DVPL, bên cung ứng DVPL phải là các tổ chức hành nghề tồn tại hợp pháp, cóthẩm quyền cung cấp DVPL và có quyền cung ứng loại hình DVPL đã đăng ký Cụthể, bên cung ứng DVPL phải đáp ứng các điều kiện sau: i) được tổ chức dưới hìnhthức các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL hoặc người cung ứng DVPL hành nghềvới tư cách cá nhân (gọi chung là tổ chức cung ứng DVPL); ii) đã đăng ký hoạt độngcung ứng DVPL và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc cấp giấyphép hoạt động DVPL; iii) cung ứng loại DVPL đúng lĩnh vực và đúng loại hìnhDVPL của tổ chức hành nghề

Ví dụ: Tổ chức hành nghề luật sư chỉ được đăng ký hành nghề đối với một sốhoặc cả 4 lĩnh vực hành nghề luật sư quy định tại LLS 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012),không được đăng ký và cung ứng các DVPL thuộc loại hình DVPL (lĩnh vực hànhnghề) của công chứng viên hoặc của thừa phát lại và ngược lại Ngoài ra, tổ chức cung

Trang 14

ứng DVPL không được đăng ký kinh doanh để hoạt động sản xuất, kinh doanh, làmdịch vụ đối với bất kỳ ngành, nghề nào khác.

Tóm lại, chủ thể của HĐDVPL gồm hai bên hoặc nhiều bên Bên cung ứngDVPL bắt buộc phải là các tổ chức hành nghề được thành lập hợp pháp hoặc ngườicung ứng DVPL hành nghề với tư cách cá nhân Bên sử dụng DVPL là tổ chức, cánhân bất kỳ có nhu cầu sử dụng DVPL và có năng lực chủ thể HĐDVPL Mục đíchgiao kết HĐDVPL của bên cung ứng DVPL là để nhận thù lao còn mục đích của bên

sử dụng DVPL là nhằm thỏa mãn nhu cầu về DVPL

1.1.2.2 Phương thức ký kết và hình thức tồn tại đặc biệt của hợp đồng dịch vụ pháp lý

Đa số các HĐDVPL được ký kết theo hai phương thức ký kết HĐDV truyềnthống đó là phương thức trực tiếp và phương thức gián tiếp và tồn tại dưới các hìnhthức do pháp luật quy định Tuy nhiên, có một số loại HĐDVPL, phương thức ký kết

và hình thức tồn tại rất đặc biệt nhưng vẫn thể hiện được đầy đủ sự thỏa thuận của cácbên Việc đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng được thể hiện bằng những cách thức

và dưới những hình thức rất đặc thù hay nói cách khác hoàn toàn không tồn tại mộtbản HĐDVPL độc lập, chứa đựng đầy đủ nội dung của một HĐDVPL và không đượcthể hiện dưới một hình thức truyền thống nhất định nào mà tồn tại dưới hình thức sựpha trộn các hình thức tồn tại của một HĐTMDV HĐDVPL loại này được giao kết vàphát sinh hiệu lực khi bên sử dụng DVPL có yêu cầu và bên cung ứng chấp nhận thựchiện một hoặc nhiều công việc thuộc lĩnh vực hành nghề của mình cho bên yêu cầu.Quá trình thực hiện cũng đồng thời là quá trình các bên tiếp tục đưa ra những thỏathuận và đề nghị mới thuộc nội dung hợp đồng HĐDVPL của Công chứng viên vàThừa phát lại là những loại hợp đồng có phương thức ký kết và hình thức tồn tại điểnhình của trường hợp này

1.1.2.3 Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính đối nhân và tính rủi ro cao

Thứ nhất: Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính đối nhân

Tính đối nhân của HĐDVPL thể hiện ngay trong yếu tố hình thức tổ chức củacác tổ chức cung ứng DVPL Hiện nay, pháp luật quy định cho hầu hết tổ chức hànhnghề cung ứng các loại hình DVPL dưới hình thức Văn phòng hoặc công ty hợp danh.Đối với hình thức Văn phòng, các luật chuyên ngành quy định "hoạt động như mộtloại hình doanh nghiệp tư nhân” (Điều 33 LLS), mà doanh nghiệp tư nhân là loại hìnhdoanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phátsinh trong kinh doanh Đối với hình thức công ty hợp danh, cũng đồng nghĩa với việccác thành viên của tổ chức hành nghề phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn về cácnghĩa vụ tài sản của tổ chức hành nghề Ngoài ra, pháp luật cũng cho phép các tổ chức

Trang 15

hành nghề tổ chức dưới hình thức Công ty TNHH để được hưởng chế độ chịu TNHHtrong kinh doanh nhưng các công ty luật TNHH đăng ký kinh doanh DVPL ngoài việctuân theo các quy định của Luật doanh nghiệp cho loại hình Công ty TNHH thì cònphải tuân thủ các quy định của các luật chuyên ngành về DVPL để nhà nước quản lý

và kiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động hành nghề của nó

Các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL tại Việt Nam thường có quy mô vừa vànhỏ, hoạt động mang tính chất đối nhân, do các cá nhân có trình độ chuyên môn vàkinh nghiệm nghề nghiệp quen biết nhau, tin cậy vào trình độ chuyên môn và đạo đứcnghề nghiệp của nhau, cùng nhau thành lập ra và đồng thời là người trực tiếp thực hiệncông việc thuộc lĩnh vực hành nghề mà tổ chức đã đăng ký hoạt động

Tính đối nhân của DVPL còn được thể hiện bởi yếu tố người thực hiện DVPL.Nhà đầu tư thành lập các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL đồng thời là người thựchiện DVPL (trách nhiệm cao hơn người lao động bình thường) Các công việc thuộclĩnh vực đã đăng ký hành nghề của tổ chức hành nghề phải do chính nhà đầu tư hoặcthành viên của tổ chức hành nghề thực hiện và họ không được giao lại công việc chongười khác thực hiện nếu không được sự đồng ý của khách hàng Bởi lẽ, DVPL đượcthực hiện bằng lao động trí tuệ, người thực hiện khác nhau thì hàm lượng chất xám, kỹnăng hành nghề, sự nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp… khác nhau, khách hàng tintưởng, tín nhiệm ai sẽ chỉ muốn chính người đó thực hiện DVPL

Thứ hai: Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính rủi ro cao

- Các bên chủ thể của HĐDVPL có sự bất cân xứng về kiến thức pháp luậtHĐDVPL: Xuất phát từ đặc điểm của DVPL là gắn liền với pháp luật và bên cung ứngphải là tổ chức hành nghề cung ứng DVPL, tất yếu dẫn đến việc có sự bất cân xứng về

ý thức pháp luật giữa các bên đặc biệt là kiến thức pháp luật về HĐDVPL

Thực tế, HĐDVPL là một loại hợp đồng mẫu do bên cung ứng DVPL soạn thảosẵn với những điều khoản có nội dung rất chung chung, có lợi nhất cho bên cung ứngDVPL Với lợi thế chuyên môn nghề luật, bên cung ứng DVPL luôn là bên nắm giữthông tin, với sự thúc đẩy của thù lao và lợi nhuận, luôn che dấu thông tin và hành độngnhằm đạt lợi nhuận ở mức cao nhất có thể Bên sử dụng DVPL luôn trong tư thế thụđộng, ít có sự bàn bạc, thảo luận trước khi đồng ý về những nội dung của HĐDVPLcũng như ít có sự hiểu biết thấu đáo và toàn diện về những nội dung đó Vì thế, bên sửdụng DVPL luôn đứng trước nguy cơ rất cao có thể gánh chịu những thiệt hại nặng nềnhưng rất khó có cơ hội khắc phục và khó có được các căn cứ để khiếu, kiện

- Do tính khó xác định của chất lượng DVPL: Xuất phát từ bản chất vô hình củasản phẩm DVPL dẫn đến tính khó xác định chất lượng của DVPL Điều này gây rấtnhiều khó khăn, lúng túng cho các chủ thể hợp đồng, đặc biệt là cho bên sử dụng

Trang 16

DVPL Bên sử dụng DVPL trong nhiều trường hợp thường là thiếu hiểu biết pháp luậtnên mới cần đến sự giúp đỡ của bên kia, nhưng khi thỏa thuận về điều khoản chấtlượng thì chính bên sử dụng DVPL cũng không hiểu rõ DVPL được yêu cầu cungứng phải đạt chất lượng như thế nào để đáp ứng được mục đích sử dụng và điềukhoản chất lượng phải thỏa thuận như thế nào thì mới đạt được sự rõ ràng, chính xác

và hợp pháp Việc khó xác định chất lượng DVPL làm cho chủ thể HĐDVPL không

có cơ sở pháp lý để thỏa thuận chất lượng công việc Mặt khác, là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng mà chủ yếu là từ phía cung ứngDVPL nhưng bên sử dụng DVPL không có căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền lợi hợppháp của mình

1.1.2.4 Quá trình giao kết và thực hiện hầu hết các HĐDVPL bị phụ thuộc vào bên thứ ba

Do tính gắn liền với pháp luật nên quá trình giao kết và thực hiện một sốHĐDVPL gắn liền và do đó bị phụ thuộc vào hoạt động của cơ quan nhà nước, tổchức, cá nhân có thẩm quyền, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng (gọi tắt là bênthứ ba) Trong những trường hợp này, hoạt động của bên thứ ba là cơ sở để các bêntham gia quan hệ HĐDVPL thỏa thuận nội dung HĐDVPL, đồng thời cũng thông quahoạt động của bên thứ ba HĐDVPL mới có khả năng thực hiện được trên thực tế Mỗi bên thứ ba có chức năng, nhiệm vụ và hoạt động theo một trình tự, thủ tụcnhất định do pháp luật quy định Do vậy, HĐDVPL thuộc loại nào, liên quan đến hoạtđộng của bên thứ ba nào sẽ bị phụ thuộc bởi hoạt động cụ thể của bên thứ ba đó Cóthể kể đến một số yếu tố chủ yếu bị phụ thuộc vào bên thứ ba như: thời gian, địa điểm

và phương thức thực hiện HĐDVPL Nhiều trường hợp, việc thực hiện HĐDVPLkhông diễn ra độc lập và theo các phương thức thông thường mà trở thành một hoạtđộng không thể tách rời trong hoạt động của bên thứ ba Ví dụ Hoạt động tham gia tốtụng của luật sư trong các vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng(gọi tắt là luật sư tham gia án chỉ định) trong trường hợp theo quy định của pháp luậtphải có người bào chữa Trong trường hợp này, nếu hoạt động của các cơ quan tố tụngkhông có sự tham gia của người bào chữa sẽ bị xác định là vi phạm nghiêm trọng thủtục tố tụng và hồ sơ vụ án có thể bị tuyên bố là không có giá trị pháp lý, bị hủy toàn bộkết quả hoạt động tố tụng và tiến hành lại từ đầu

Trang 17

HĐDVPL có thể chia thành 5 loại: HĐDVPL của tổ chức hành nghề luật sư;HĐDVPL của tổ chức hành nghề công chứng; HĐDVPL của tổ chức hành nghề Thừaphát lại; HĐDVPL của Trung tâm tư vấn pháp luật và HĐDVPL của các tổ chức khác.

- Căn cứ vào nội dung của HĐDVPL

HĐDVPL có thể chia thành 8 loại: hợp đồng dịch vụ tranh tụng; hợp đồng dịch

vụ tư vấn pháp luật; hợp đồng dịch vụ công chứng; hợp đồng dịch vụ lập vi bằng; hợpđồng dịch vụ tống đạt giấy tờ của tòa án và cơ quan thi hành án; hợp đồng xác minhđiều kiện thi hành án; hợp đồng thi hành án và HĐDVPL khác

- Căn cứ vào loại chuyên gia thực hiện HĐDVPL

HĐDVPL có thể chia thành 4 loại: HĐDVPL của luật sư; HĐDVPL của côngchứng viên; HĐDVPL của thừa phát lại; HĐDVPL của tư vấn viên pháp luật vàHĐDVPL của chuyên gia pháp lý khác

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý

Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với các hoạt động DVPL xuất phát từđường lối quản lý kinh tế bằng pháp luật và từ nhu cầu của đời sống kinh tế thị trườngđang phát triển nhanh chóng ở nước ta Những bất cập và thách thức từ tiến trình hộinhập nền kinh tế quốc tế đang đòi hỏi phải cụ thể hoá về mặt pháp luật, tạo khuôn khổcho các quan hệ kinh tế phát triển, trong đó có pháp luật về DVPL được coi là dịch vụthương mại theo các tiêu chuẩn của WTO Mặt khác, định hướng và quy mô phát triểncủa DVPL trong nền kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ những yêu cầu và đòi hỏi rấtcao về tiêu chuẩn, năng lực hành nghề với sự phân công, chuyên môn hoá rõ rệt, làmnảy sinh nhu cầu phải có pháp luật điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của các tổ chứchành nghề dịch vụ pháp lý một cách thích hợp

Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với HĐDVPL trong nền kinh tế thị trườngcòn xuất phát từ sự phát triển nhanh chóng của hoạt động DVPL đang từng bướcchiếm một tỷ trọng không nhỏ trong các ngành thương mại-dịch vụ Điều đó chứng tỏngười dân đang ngày càng quan tâm đến việc sử dụng DVPL để được bảo đảm cácquyền và lợi ích pháp lý của mình không bị xâm hại

Hiện nay, các quy định của pháp luật Việt Nam về HĐDVPL còn chưa hoàn chỉnh

và được quy định rải rác tại nhiều văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau như:

- Bộ luật dân sự năm 2015

BLDS 2015 điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa tất cả các loại chủ thể với nhautrong các lĩnh vực của đời sống xã hội BLDS đặt ra các chuẩn mực chung về giao kết hợpđồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, giải thích hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa

Trang 18

đổi, chấm dứt hợp đồng, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng…trên cơ sở nhữngquy định này, có các văn bản pháp luật riêng trong từng lĩnh vực cụ thể cùng điều chỉnhvấn đề hợp đồng

- LTM 2005, đặc biệt là chế định về cung ứng dịch vụ

LTM 2005 điều chỉnh quan hệ hợp đồng phát sinh giữa các thương nhân hoặcmột bên là thương nhân trong hoạt động thương mại Trong quan hệ với BLDS, với tưcách là luật chuyên ngành chung, LTM chỉ điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong hoạtđộng thương mại và quy định về một số loại hợp đồng thương mại thông dụng nhưhợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ

- Các luật chuyên ngành về DVPL điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh

trong từng lĩnh vực DVPL.

Gồm: LLS 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), điều chỉnh hoạt động DVPL củaluật sư; Nghị định số 87/2003/NĐ – CP ngày 22/7/2003 điều chỉnh hoạt động hànhnghề của tổ chức luật sư nước ngoài và luật sư nước ngoài tại Việt Nam; Thông tư số06/2003/TT – BTP của Bộ Tư Pháp ngày 29/10/2003 quy định về dịch vụ pháp luậtnước ngoài tại Việt Nam; LCC 2006 điều chỉnh hoạt động DVPL của CCV; NĐ61/2009/NĐ-CP, điều chỉnh hoạt động DVPL của TPL; Quyết định số 510/QĐ-TTgngày 25/3/2013 về “Tiếp tục thực hiện thí điểm hoạt động TPL”; Nghị định số 77/NĐ-

CP ngày 16/7/2007 về tư vấn pháp luật;… Bước đầu đặt cơ sở pháp lý cho hoạt độngDVPL của các nhà cung cấp DVPL ở Việt Nam đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụngDVPL ngày càng tăng của các tổ chức, cá nhân

1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý

1.2.2.1 Giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý

Về chủ thể giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:

Theo quy định tại các luật chuyên ngành về DVPL thì nhà đầu tư muốn thành lậpcác tổ chức cung ứng DVPL tại Việt Nam, ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện về tưcách pháp lý của người thành lập và quản lý doanh nghiệp quy định tại Luật doanhnghiệp 2014 và Luật đầu tư 2014, còn phải đáp ứng điều kiện về chuyên môn và kỹnăng hành nghề luật Nhà đầu tư không đáp ứng tiêu chuẩn này nếu muốn thành lập tổchức kinh doanh và thuê người lao động để kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận thìkhông được thành lập các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL

Xuất phát từ các quy định về điều kiện đối với nhà đầu tư thành lập hoặc tham giathành lập các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL tại Việt Nam phải là người có chứng chỉhành nghề Vì thế, tại các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL nhà đầu tư đồng thời là ngườithực hiện các công việc thuộc lĩnh vực hành nghề của tổ chức hành nghề (nhà đầu tư đồngthời là người lao động) Nhà đầu tư muốn hành nghề cung cấp DVPL phải đáp ứng đủ các

Trang 19

điều kiện do pháp luật quy định và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phéphành nghề qua việc cấp chứng chỉ hành nghề để hành nghề tại các tổ chức cung ứngDVPL hoặc hành nghề với tư cách cá nhân Người có chứng chỉ hành nghề chỉ được hànhnghề cung ứng một loại hình DVPL nhất định và các cá nhân phải đáp ứng nhiều điềukiện khác nhau để được cấp chứng chỉ hành nghề Ví dụ như chứng chỉ hành nghề luật sư,chứng chỉ hành nghề công chứng, chứng chỉ hành nghề Thừa phát lại,

Đối với bên sử dụng DVPL, nếu là cá nhân thì phải đủ từ 18 tuổi trở lên để bằnghành vi của mình xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự, nếu là pháp nhân phải là người đạidiện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền để thực hiện việc giao kết

Về hình thức giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:

Điều 119 BLDS 2015 quy định hình thức của giao dịch dân sự có thể tồn tại dướicác hình thức như sau: i) bằng lời nói; ii) bằng hành vi cụ thể; iii) bằng văn bản; iv)bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký; v) thông qua phương tiệnđiện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật

Về nội dung giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý;

Nội dung HĐDVPL là toàn bộ những điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận, thểhiện quyền và nghĩa vụ của các bên Hiện nay, BLDS đã quy định quyền và nghĩa vụcủa các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ, LTM quy định quyền và nghĩa vụ củacác bên trong HĐDV và các luật chuyên ngành về DVPL đã quy định khá đầy đủ vàchi tiết về quyền và nghĩa vụ của nhà cung cấp DVPL Vì thế, tác giả chỉ tập trung làm

rõ quy định của pháp luật về một số điều khoản cơ bản, đặc thù của HĐDVPL

Gồm có: Đối tượng của hợp đồng dịch vụ pháp lý, quyền lợi và nghĩa vụ của chủthể hợp đồng dịch vụ pháp lý, chất lượng dịch vụ pháp lý, thù lao dịch vụ pháp lý

Về trình tự giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:

Đề nghị giao kết hợp đồng là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất trongquá trình giao kết hợp đồng Để xác lập một HĐDVPL thì các bên tham gia phải tiếnhành giao kết hợp đồng Chỉ khi đã được giao kết thì HĐDVPL mới là căn cứ phátsinh hiệu lực giữa các bên Điều 386 BLDS năm 2015 quy định: “Đề nghị giao kết hợpđồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị nàycủa bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng”

Sau đó là chấp nhận giao kết hợp đồng Điều 393 BLDS 2015 quy định: “Chấpnhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhậntoàn bộ nội dung của đề nghị”

Về thời gian và địa điểm giao kết:

Được quy định tại Điều 399 và Điều 400 BLDS 2015, trong đó về thời gian vàđịa điểm giao kết ưu tiên trường hợp do các bên thỏa thuận

Trang 20

Việc thực hiện HĐDVPL phải tuân theo những nguyên tắc được quy định tạiĐiều 410, Điều 415 và Điều 416 BLDS 2015 Ngoài ra, khi thực hiện hợp đồng cácchủ thể còn phải tuân thủ theo những quy tắc đặc thù nhất định như: Nguyên tắc hànhnghề luật sư tại Điều 5 LLS 2006; Nguyên tắc hành nghề công chứng tại khoản 4,Điều 2 Thông tư số 11/2012/TT-BTP,

Ngoài ra, trong việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý còn có thể kể đếnphương thức thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý Phương thức thực hiện HĐDVPL làphương thức mà các bên thực hiện và tiếp nhận sự thực hiện hợp đồng, bao gồm:phương thức thực hiện, phương thức giao nhận, phương thức nghiệm thu, phương thứcthanh toán (trả tiền)

1.2.2.3 Sửa đổi và chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý

- Sửa đổi HĐDVPL là việc các bên đã tham gia giao kết hợp đồng bằng ý chí tựnguyện của mình cùng thỏa thuận với nhau để điều chỉnh một phần nội dung hợp đồng

đã giao kết Như vậy, “Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng” (Khoản 1, Điều

421 BLDS năm 2015) Sau khi HĐDVPL đã được sửa đổi, các bên thực hiện hợp đồngtheo những phần không bị sửa đổi và những phần đã được sửa đổi, đồng thời phảicùng nhau chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh từ việc sửa đổi hợp đồng

- Chấm dứt HĐDVPL: Hợp đồng dịch vụ pháp lý chấm dứt theo ý chí của cácbên ký kết hoặc do pháp luật quy định

Hiện nay, Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về Chấm dứt hợp đồng nhưsau:

“Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1 Hợp đồng đã được hoàn thành;

2 Theo thỏa thuận của các bên;

Trang 21

3 Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;

4 Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;

5 Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn;

6 Hợp đồng chấm dứt theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này;

7 Trường hợp khác do luật quy định.”

1.2.2.4 Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng dịch vụ pháp lý

Tranh chấp hợp đồng được hiểu là mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia quan hệhợp đồng về việc thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không thực hiện các quyền

và nghĩa vụ theo hợp đồng đã được ký kết Tranh chấp hợp đồng cũng được hiểu là ýkiến bất đồng của các bên về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc là cách thức giảiquyết hậu quả từ vi phạm đó

Hiện nay, trong thực tế, các tranh chấp hợp đồng thường được giải quyết thôngqua bốn phương thức chính sau:

- Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua thương lượng: Hai bên trong hợpđồng tự đàm phán để đưa ra phương án xử lý tranh chấp mà không cần đến sự trợ giúpcủa bên thứ ba

- Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua hòa giải: Có thêm sự tham gia củabên thứ ba Hòa giải viên với vai trò trung gian sẽ giúp các bên đưa ra cách giải quyếtmâu thuẫn, quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào hai bên tranh chấp

- Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua trọng tài: Các bên đưa mâu thuẫn,bất đồng nhờ bên thứ ba là các trọng tài viên hoặc các trung tâm trọng tài giải quyết.Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chỉ được áp dụng khi hai bên tranhchấp có thỏa thuận trọng tài

- Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua tòa án: Tòa án là cơ quan nhân danhquyền lực nhà nước Khi có tranh chấp, một bên có quyền khởi kiện bên kia ra tòa án

có thẩm quyền Đây là phương thức giải quyết tranh chấp thường được các doanhnghiệp Việt Nam sử dụng

1.3 Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ pháp lý

Việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của các bên nhằm thoả mãn những nhu cầu vềvật chất, văn hoá tinh thần của mỗi bên và phải hướng tới lợi ích chung của toàn xãhội Ngoài ra các bên còn phải thể hiện việc chấp hành pháp luật, thể hiện tinh thần tôntrọng truyền thống đạo đức xã hội trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự.Khi giao kết HĐDVPL, các bên có liên quan phải tuân theo những nguyên tắc cơ bảnkhi giao kết hợp đồng dân sự và những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại

Trang 22

Thứ nhất là tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội:

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng Theo nguyên tắcnày thì các bên đủ tư cách chủ thể có quyền tự do quyết định việc giao kết hợp đồngtheo ý muốn chủ quan và vì lợi ích của chính họ Các bên chủ thể có quyền tự do lựachọn việc giao kết với ai, với nội dung như thế nào, hình thức ra sao Mọi cam kết thoảthuận hợp pháp đều được nhà nước bảo hộ và khi không có sự tự nguyện của các bên

có thể bị tuyên bố vô hiệu Tuy nhiên, sự tự do đó không được trái với pháp luật vàđạo đức xã hội Khi đó thì hợp đồng giao kết mới được pháp luật thừa nhận và bảo vệ

Thứ hai là nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng:

Theo nguyên tắc này các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng vàbảo đảm nội dung của quan hệ đó Hợp đồng phải thể hiện được sự tương ứng vềquyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các bên Các bên khi giao kết không được đedọa, cưỡng ép bên kia giao kết hợp đồng với mình mà không theo ý chí của họ Nếuphát hiện hợp đồng được giao kết mà bị đe dọa, cưỡng ép, lừa dối để giao kết thì hợpđồng đó sẽ bị vô hiệu

Bên cạnh đó, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên phải thểhiện rõ thái độ trung thực và ngay thẳng Trung thực và ngay thẳng có nghĩa là cácphải nói rõ cho nhau biết về tình trạng và đặc tính của đối tượng, không được lừa dốinhau, nếu che dấu khuyết tật của đối tượng hợp đồng nhằm mục đích tư lợi mà gâythiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường

Ngoài ra, các bên phải có tinh thần hợp tác lẫn nhau Trong quá trình thực hiệnhợp đồng, các bên tương trợ, giúp đỡ và thông tin cho nhau để đáp ứng nhu cầu và bảođảm lợi ích cho các bên Theo nguyên tắc này, các bên phải luôn quan tâm đến nhau,tạo điều kiện giúp nhau khắc phục khó khăn trong quá trình thực hiện nghĩa vụ hợpđồng Hơn nữa, nguyên tắc này đòi hỏi cả hai bên phải cùng nhau tìm và thực hiện mọibiện pháp cần thiết để ngăn chặn, hạn chế khi có thiệt hại xảy ra Nếu bên nào có điềukiện mà không thực hiện các biện pháp ngăn chặn sẽ bị coi là có lỗi và phải gánh chịuthiệt hại

Trang 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI VĂN PHÒNG LUẬT

SƯ VẠN XUÂN

2.1 Tổng quan về văn phòng Luật sư Vạn Xuân và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng

2.1.1 Tổng quan về văn phòng luật sư Vạn Xuân

Trước nhu cầu cần được trợ giúp pháp lý của nhiều tổ chức, cá nhân và doanhnghiệp, Văn phòng Luật sư Vạn Xuân được thành lập bởi một đội ngũ luật sư có nhiềunăm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, tư vấn đầu tư, thương mại, sở hữu trítuệ, giải quyết tranh chấp đất đai, tài chính, ngân hàng, tham gia tố tụng trong các vụ

án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình …

Văn phòng luật sự Vạn Xuân được thành lập theo sự cấp phép của Sở tư phápThành phố Hà Nội Với những thông tin như sau:

Địa chỉ: Số 99 phố Xốm, phường Phú Lãm, quận Hà Đông, thành phố Hà NộiTrưởng văn phòng luật sư: TS Luật sư Phạm Ngọc Toàn

Ngày hoạt động: Ngày 12 tháng 09 năm 2002

Mã số thuế 0101418964 được cấp vào ngày 17/11/2003

Cơ quan Thuế đang quản lý: Chi cục Thuế Quận Hà Đông

Điện thoại: 0375587886

Email: luatsuvanxuan@gmail.com

Văn phòng luật sư Vạn Xuân được cấp giấy phép hoạt động từ ngày 12 tháng 9năm 2002 đến nay và đã đi vào hoạt động hơn 17 năm Với những ngày tháng hoạtđộng cần cù và tâm huyết, cùng với trách nhiệm của những người làm luật, đội ngũcán bộ ở văn phòng đã gây dựng được thương hiệu, uy tín và niềm tin cho khách hàngkhắp mọi miền đất nước, đặc biệt là người dân thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch

vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Vạn Xuân

* Nhân tố khách quan

- Nhân tố kinh tế: Đất nước ta sau nhiều năm đổi mới từ nền kinh tế bao cấp sangnền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã có nhiều thành tựuđáng kể Nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt buộc các doanh nghiệp luôn phải

nỗ lực không ngừng để tồn tại và đứng vững Đặc biệt, sự kiện Việt Nam gia nhậpWTO đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức mới Nhiều doanh nghiệp đã bắt kịp được

xu thế, vạch ra các chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả, đã khẳng định được vịtrí của mình trên thương trường Tuy nhiên cũng có nhiều doanh nghiệp không thích

Trang 24

ứng được với xu thế này, sản xuất kinh doanh thua lỗ và dẫn đến bị giải thể, phá sản.Trong điều kiện nền kinh tế thị trường chuyển biến không ngừng, giao lưu kinh tế mởrộng, các quan hệ kinh tế trở nên đa dạng và phức tạp, cùng với mua bán hàng hóa, cácquan hệ cung ứng dịch vụ cũng không nằm ngoài xu thế đó Việc hoàn thiện các vănbản pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ pháp lý nói riêng vẫn đangrất cần được quan tâm

- Nhân tố chính trị: Sau thắng lợi của của kháng chiến chống Mỹ năm 1975, ViệtNam bắt tay vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước ở cả hai miền Nam- Bắc

So với các nước trong khu vực và trên thế giới thì Việt Nam là nước có nền chính trị

ổn định, tạo điều kiện thuận lợi để nước ta hội nhập với các quốc gia trên thế giới.Kinh tế và sự giao lưu quốc tế ngày càng phát triển kéo theo sự phát triển của các quan

hệ xã hội, các quan hệ dân sự và thương mại Kinh doanh hoạt động cung ứng dịch vụpháp lý ngày càng phát triển do đời sống vật chất và tinh thần của con người ngàycàng tăng, mọi người càng có nhu cầu được hiểu rõ pháp luật để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình

- Nhân tố pháp luật: Qua nhiều năm đổi mới, hệ thống pháp luật của nước ta đãđược xây dựng tương đối đồng bộ Việc tăng cường vai trò của pháp luật, tạo môitrường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức đã trở thành mộttrong những yêu cầu cấp thiết đối với nước ta hiện nay Người dân đã tích cực hơntrong việc đưa pháp luât vào đời sống, hình thành và phát triển ý thức pháp luật Và

đã biết tìm đến những sự trợ giúp pháp lý để được bảo vệ quyền và lợi ích chínhđáng của bản thân

* Nhân tố chủ quan

- Về chất lượng đội ngũ nhân viên trong Văn phòng luật sư Vạn Xuân:

Theo chiến lược phát triển nghề luật sư, đến năm 2020, nước ta sẽ có khoảng18.000-20.000 luật sư Tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh sẽ có hàngnghìn công ty luật và văn phòng luật sư Đối mặt với sự cạnh tranh của thị trường pháp

lý khốc liệt, đội ngũ luật sư trong Văn phòng luật sư Vạn Xuân cần trang bị cho mìnhnhững kiến thức cần thiết, nâng cao năng lực chuyên môn, tác phóng xử lí công việcthành thạo, nhanh nhẹn để phát triển hoạt động kinh doanh của mình

-Nhân tố khách hàng: Các khách hàng tìm đến Luật sư thường xuyên hơn, thay vì

tự mình giải quyết các vấn đề pháp lý mà họ gặp phải trong cuộc sống hằng ngày Ví

dụ như từ vấn đề về thủ tục hành chính, những thỏa thuận hay Hợp đồng kinh tế được

ký kết với sự tư vấn của Luật sư đến những vấn đề phát sinh trong đời sống dân sự như

ly hôn, tranh chấp tài sản,

Trang 25

2.2 Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý

2.2.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý

Về chủ thể giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:

Thứ nhất là chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý:

Để được thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề cung ứng DVPL vàsau đó trở thành người thực hiện DVPL, người muốn hành nghề cung cấp DVPL phảiđáp ứng tiêu chuẩn chung là có chứng chỉ hành nghề tương ứng với một loại hình DVPLnhất định Để được cấp chứng chỉ hành nghề họ cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện cơbản là: có bằng đại học luật; đã tốt nghiệp lớp đào tạo nghề; đã qua thời gian tập sự hànhnghề Ngoài ra, tùy từng loại hình DVPL pháp luật quy định những điều kiện đặc thùhơn nữa nhằm đảm bảo chất lượng DVPL

Các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL tại Việt Nam hiện nay đều do những cánhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm hành nghề luật thành lập; là tổ chứchành nghề hợp pháp; đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạtđộng cung ứng DVPL; có tài sản; có trụ sở giao dịch ổn định; mục đích cung ứngDVPL để thu thù lao Hiện nay, ngoại trừ loại hình DVPL của luật sư, pháp luật chưa

có quy định cho phép người nước ngoài được hành nghề thừa phát lại, tư vấn viênpháp luật và công chứng tại Việt Nam Điều này thể hiện sự chưa tương thích củapháp luật Việt Nam so với WTO về loại hình DVPL và cam kết mở cửa thị trườngDVPL trong nước

Ngoài ra, để được tham gia vào quan hệ HĐDVPL với tư cách là bên cung cấpDVPL, tổ chức hành nghề cung ứng DVPL phải có năng lực chủ thể bao gồm năng lựcpháp luật và năng lực hành vi Theo quy định tại Điều 86 Bộ luật dân sự 2015 vềNLHVDS của pháp nhân và các luật chuyên ngành về DVPL thì năng lực chủ thể của tổchức cung ứng DVPL phát sinh cùng một thời điểm đó là ngày tổ chức hành nghề đượcthành lập hợp pháp

- Là chủ thể HĐDVPL nhưng không trực tiếp sử dụng DVPL

Trong trường hợp này các chủ thể trực tiếp bàn bạc, thoả thuận ký kết và thựchiện HĐDVPL còn người thứ ba được hưởng lợi ích từ kết quả của hoạt động DVPL(ký kết HĐDVPL để phục vụ lợi ích của người thứ ba)

Trang 26

- Là chủ thể HĐDVPL, sử dụng kết quả DVPL để cung cấp cho người thứ ba

Ví dụ Thân nhân, bạn bè của người thứ ba ký kết hợp đồng dịch vụ tư vấn phápluật với luật sư để luật sư tư vấn trực tiếp cho họ nghe, hiểu về một vấn đề nhất định,sau đó, đối tượng này về tư vấn, giải thích lại cho người thân của mình

Tóm lại, chủ thể của HĐDVPL gồm hai bên hoặc nhiều bên Bên cung ứngDVPL bắt buộc phải là các tổ chức hành nghề được thành lập hợp pháp hoặc ngườicung ứng DVPL hành nghề với tư cách cá nhân Bên sử dụng DVPL là tổ chức, cánhân bất kỳ có nhu cầu sử dụng DVPL và có năng lực chủ thể HĐDVPL Mục đíchgiao kết HĐDVPL của bên cung ứng DVPL là để nhận thù lao còn mục đích của bên

sử dụng DVPL là nhằm thỏa mãn nhu cầu về DVPL

áp dụng pháp luật thì hình thức của HĐDVPL sẽ tuân theo quy định của BLDS Tức

là, trừ HĐDVPL của luật sư và của tư vấn viên pháp luật thì các loại HĐDVPL còn lại

có thể tồn tại dưới một trong các hình thức theo Điều 119 BLDS theo sự thỏa thuậncủa các bên Tuy nhiên, theo tác giả thì các HĐDVPL mang các đặc điểm sau đều cầnđược thể hiện dưới hình thức văn bản: i) Công việc là đối tượng HĐDVPL phức tạpvà/hoặc có yếu tố nước ngoài; ii) Công việc chia thành nhiều công việc nhỏ, được thựchiện trong những thời gian khác nhau và/hoặc kéo dài, theo những yêu cầu riêng hoặcviệc thực hiện phải phụ thuộc vào hoạt động của bên thứ ba; iii) HĐDVPL giữa cácbên là thương nhân có giá trị kinh tế lớn

Đối với những HĐDVPL có giá trị nhỏ, công việc đơn giản, ký kết và thực hiệnngay tại chỗ (tư vấn pháp luật vụ việc đơn giản, công chứng việc đơn giản…) hoặcnhững HĐDVPL mà các chủ thể quen biết, tin cậy nhau thì không cần thiết phải lậpthành văn bản Vì vậy, LLS quy định HĐDVPL của luật sư phải được làm thànhvăn bản tỏ ra không hoàn toàn phù hợp với thực tế hoạt động DVPL của luật sư

Ngoài ra, việc LLS quy định: “Luật sư thực hiện HĐDVPL theo HĐDVPL, trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng…”

là không đúng với thực tế hiện nay vì luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơquan tiến hành tố tụng đều thông qua HĐDVPL bằng văn bản với cơ quan tiến hành

tố tụng

Trang 27

Về nội dung giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:

a Đối tượng của hợp đồng dịch vụ pháp lý:

Các loại DVPL chính là đối tượng của các loại HĐDVPL tương ứng Cụ thể như sau:

- Dịch vụ tư vấn pháp luật: Hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo

các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của khách hàng

- Dịch vụ tranh tụng: Luật sư, chuyên gia của tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi

ích hợp pháp của khách hàng với tư cách: (i) người bào chữa cho người bị buộc tội, bịcan, bị cáo; (ii) người bảo vệ quyền lợi của đương sự (người bị hại, nguyên đơn dân

sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trong vụ án hình sự; (iii)người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự (nguyênđơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan)trong các vụ việc về dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,hành chính, các vụ việc khác

- Dịch vụ đại diện: Luật sư có thể đại diện cho khách hàng để giải quyết các

công việc có liên quan đến việc đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợpđồng dịch vụ pháp lý

- Dịch vụ công chứng: dịch vụ công chứng là việc công chứng viên chứng nhận

tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản cho khách hàng

- Dịch vụ Thừa phát lại: Điều 3 Nghị định 61/NĐ-CP, quy định công việc Thừa

phát lại được làm gồm: i) Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơquan thi hành án dân sự; ii) Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức;iii) Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; iv) Trực tiếp tổ chứcthi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Thừa phátlại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quanthi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án

- Dịch vụ pháp lý khác: Luật sư có quyền cung ứng các DVPL khác cho khách

hàng Như: giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính;giúp đỡ về mặt pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại; dịch thuật, xác nhậngiấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác như hợp pháphóa giấy tờ chứng nhận lãnh sự, hoàn thiện hồ sơ, tài liệu, giấy tờ, mẫu biểu…

b Quyền lợi và nghĩa vụ của chủ thể hợp đồng dịch vụ pháp lý:

Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ:

- Bên cung ứng dịch vụ sau khi giao kết hợp đồng phải có nghĩa vụ cung ứng cácdịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy đủ phù hợp nhữngthỏa thuận cũng như thực hiện công việc đúng số lượng, chất lượng, thời hạn, địa điểm

và các thỏa thuận khác

Trang 28

- Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không có sựđồng ý của bên thuê dịch vụ Sau khi hoàn thành công việc, bên cung ứng dịch vụ phảibảo quản và giao lại cho khách hàng những tài liệu và phương tiện được giao để thựchiện dịch vụ Nếu những thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm

để hoàn thành công việc thì phải thông báo ngay cho bên thuê dịch vụ

- Trong thỏa thuận có yêu cầu cần giữ bí mật về thông tin mà mình biết thì trongquá trình cung ứng dịch vụ phải giữ bí mật theo đúng thỏa thuận Trường hợp mất mát,

hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin thì phải bồithường thiệt hại

- Để thực hiện tốt công việc của mình, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầukhách hàng cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện có liên quan Hoặc được thay đổiđiều kiện dịch vụ vì lợi ích của khách hàng mà không nhất thiết phải chờ ý kiến củakhách hàng, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho khách hàng, nhưng phải báo ngaycho khách hàng

- Theo điều 82, LTM 2005 quy định về thời hạn hoàn thành dịch vụ Cụ thể: Bêncung ứng dịch vụ phải hoàn thành đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng.Trường hợp không có thỏa thuân về thời hạn hoàn thành dịch vụ thì bên cung ứng dịch

vụ phải hoàn thành dịch vụ trong một thời hạn hợp lý trên cơ sở tính đến tất cả cácđiều kiện và hoàn cảnh mà bên cung ứng dịch vụ biết được vào thời điểm giao kết hợpđồng, bao gồm bất kỳ nhu cầu cụ thể nào của khách hàng có liên quan đến thời gianhoàn thành dịch vụ Trường hợp một dịch vụ chỉ có thể được hoàn thành khi kháchhàng hoặc bên cung ứng dịch vụ khác đáp ứng các điều kiện nhất định thì bên cungứng dịch vụ đó không có nghĩa vụ hoàn thành dịch vụ của mình cho đến khi các điềukiện đó được đáp ứng

- Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưahoàn thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tụccung ứng dịch vụ theo nội dung đã thỏa thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ (khách hàng):

- Khách hàng phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền cung ứng dịch vụ như đãthỏa thuận trong hợp đồng Nếu có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết choviệc thực hiện thì phải cung cấp kịp thời Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cungứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng

có nghĩa vụ điều phối hoạt động của bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đếncông việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào và phải trả tiền dịch vụ cho bên cungứng dịch vụ theo như thỏa thuận trong hợp đồng

Trang 29

- Theo tinh thần điều 86, LTM 2005 và khoản 2 Điều 519 BLDS 2015 thì trườnghợp không có thỏa thuận về giá dịch vụ, không có thỏa thuận về phương pháp tính giádịch vụ và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ đượcxác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thứccung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điềukiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ.

- Khách hàng phải trả tiền dịch vụ tại thời điểm hoàn thành dịch vụ, nếu không

có thỏa thuận khác Trường hợp dịch vụ được cung ứng không đạt được như thỏathuận hoặc công việc không được hoàn thành đúng thời hạn thì khách hàng có quyềngiảm tiền dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại

c Về chất lượng dịch vụ pháp lý

Chất lượng DVPL là điều khoản chủ yếu của HĐDVPL Điều khoản chất lượngdịch vụ là căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của bên cónghĩa vụ đồng thời là căn cứ để nghiệm thu công việc và để thỏa thuận phí Đối vớiHĐDVPL, bên cung ứng DVPL thực hiện nghĩa vụ có mức độ rủi ro cao và thôngthường không dự liệu được kết quả do đó chủ thể HĐDVPL cần xác định rõ một nghĩa

vụ là nghĩa vụ kết quả (hoàn thành đúng thời hạn; tuân theo các tiêu chuẩn, trình tự,thủ tục cần thiết; ) hay nghĩa vụ phương tiện (chỉ cam kết cố gắng hoàn thành côngviệc tại thời hạn nhất định hoặc với chất lượng tốt nhất có thể; hứa làm tất cả những gìmột người bình thường trong cùng hoàn cảnh phải làm ), trong một số trường hợp cầnkết hợp hai loại kết quả này với nhau để xác định chất lượng DVPL

Luật Luật sư không có điều luật nào quy định chất lượng DVPL của luật sư màvấn đề này chỉ được đề cập tại Khoản 4 Điều 5 về nguyên tắc hành nghề luật sư, theo

đó luật sư phải: “Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng”

d Về thù lao dịch vụ pháp lý

Điều khoản về thù lao là một trong những điều khoản quan trọng trong HĐDVPL

và sau khi đã được thỏa thuận trong hợp đồng, không bên nào được tự ý thay đổi trừtrường hợp nội dung công việc có tăng hoặc giảm và được bên sử dụng DVPL xácnhận hoặc nhà nước có thay đổi khung giá đối với DVPL đó Thù lao DVPL hiện nayđược quy định tại nhiều văn bản khác nhau với các tên gọi khác nhau nhưng đều cóbản chất là giá của DVPL

Điều 55 LLS quy định căn cứ và phương thức tính thù lao luật sư Theo đó thù laoluật sư có thể tính theo các phương thức: giờ làm việc; vụ, việc với mức thù lao trọn gói;

vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợpđồng, giá trị dự án; hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định

Trang 30

Trong trường hợp cần thiết, các bên cần thỏa thuận rõ tổng mức phí DVPL là sốlượng tiền cụ thể Việc thoả thuận rõ tổng số phí dịch vụ sẽ là căn cứ quan trọng bảo

vệ quyền lợi của các bên, đặc biệt là bên sử dụng DVPL nhằm phòng ngừa việc trongquá trình thực hiện hợp đồng, bên cung cấp nại ra những khoản chi phí phát sinhkhông hợp lý, đẩy phí dịch vụ lên quá lớn mà bên sử dụng không có khả năng để kiểmsoát dẫn đến tranh chấp

Tóm lại, HĐDVPL là loại hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của pháp luậtdân sự, do đó việc quy định trao quyền cho các bên thỏa thuận thù lao và chi phí làhợp lý Tuy nhiên, các quy định pháp luật về thù lao và chi phí DVPL lại chưa thể hiệnđược điều này Thực tế, phí DVPL hiện nay rất bất hợp lý, có trường hợp cao hơn rấtnhiều so với giá trị DVPL và so với giá ghi trên HĐDVPL Ngược lại, có nhiều trườnghợp lại quá thấp so với giá trị DVPL, đó là các trường hợp nhà nước là bên sử dụngDVPL và đồng thời là bên quy định mức trần thù lao đối với loại DVPL đó

Về trình tự giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:

- Đề nghị giao kết hợp đồng:

+ Nguyên tắc giao kết HĐDVPL: Hợp đồng là một sự thỏa thuận, thống nhất ýchí của các bên tham gia giao kết với nguyên tắc tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận,không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiệnđối với các bên và được tôn trọng

+ Phương thức đề nghị giao kết hợp đồng: Để xác lập quan hệ hợp đồng, các bêngiao kết có thể lựa chọn một phương thức giao dịch nhất định, có thể là đề nghị trựctiếp hoặc gián tiếp

Phương thức trực tiếp: Là việc các bên trực tiếp gặp gỡ, bàn bạc để đi đến thốngnhất các nội dung của hợp đồng được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản Phươngthức đề nghị giao kết này khá đơn giản, hợp đồng hình thành nhanh chóng, độ an toànpháp lý cao nhưng các bên ở xa nhau thì sẽ là không thuận lợi Do vậy, việc áp dụngcông nghệ thông tin để đề nghị trực tiếp cũng được áp dụng

Phương thức đề nghị giao kết gián tiếp: Là phương thức mà các bên không trựctiếp gặp nhau để đàm phán về nội dung của hợp đồng mà chỉ trao đổi thông tin trong

đó chứa đựng các nội dung cần thỏa thuận thông qua các phương tiện thông tin, liênlạc như thư tín, fax, mạng internet

Ngày đăng: 22/08/2020, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Ngọc Toàn (2006), “Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, tạp chí nghiên cứu luật pháp số 02/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế
Tác giả: Bùi Ngọc Toàn
Năm: 2006
2. TS. Phan Trung Hoài, “Từng bước xây dụng quan niệm về dịch vụ pháp lý phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 02/ 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từng bước xây dụng quan niệm về dịch vụ pháp lý phùhợp tiến trình hội nhập quốc tế
1. Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017 Khác
2. Luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI thông qua ngày 14/06/2005 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 Khác
3. Luật luật sư được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 20/11/2012 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2013 Khác
4. Bộ luật tố tụng Dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2016II. Giáo trình và sách tham khảo Khác
1. Ts. Nguyễn Ngọc Điện (chủ biên) - Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 1) – Đại học luật Hà Nội – NXB Công an nhân dân Khác
2. Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn, Phạm Công Lạc (chủ biên) - Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2) – Đại học luật Hà Nội – NXB Công an nhân dân Khác
3. Nguyễn Viết Tý (chủ biên) – Giáo trình luật thương mại Việt Nam – Đại học luật Hà Nội – NXB Công an nhân dânIII. Báo và tạp chí Khác
3. Nguyễn Văn Tuân,” Dịch vụ pháp lý và nhu cầu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2005 Khác
4. Nguyễn Văn Tuấn (2011), Khái niệm, phạm vi dịch vụ pháp lý và hành nghề luật sư, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Chuyên đề về luật sư Khác
5. Bùi Ngọc Cường (2007), Tổng quan pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ và cam kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập WTO, Tạp chí Luật học số 1.IV. Một số tài liệu tham khảo khác Khác
1. Bộ Tư pháp - Chương trình đối tác tư pháp (2013), Tài liệu Hội thảo về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư Khác
2. Liên đoàn Luật sư Việt Nam - Chương trình đối tác tư pháp (2011), Tài liệu khoá bồi dưỡng Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, Trọng tài thương mại và kỹ năng tham gia vụ án hình sự Khác
3. Đặng Vũ Huân (2009), Dịch vụ pháp lý tại Việt Nam - Thực trạng, nhu cầu và định hướng phát triển, Đề tài khoa học cấp Bộ Khác
4. Hoàng Thị Vịnh (2014), HĐDVPL ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Mai Anh (2015), Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia, Hà Nội Khác
6. Đinh Thái Hoàng (2018), Giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w