Lý do chọn chuyên đề: Hiện nay thực trạng học sinh trong nhà trường học bài còn rất thụ động, học bài theo kiểu học thuộc lòng, học vẹt, quên kiến thức rất nhanh chóng, không đọng lại được gì. Nhiều học sinh nhớ kiến thức một cách mơ hồ, đọc tủ một vấn đề nào đó từ đầu đến cuối, nhưng yêu cầu trình bày một đoạn nhỏ trong vấn đề đó thì tỏ ra lúng túng vì các em quen đọc vẹt, đọc liền mạch mà không nhớ được bao quát của vấn đề. Vì vậy, việc giúp các em nhớ được kiến thức nhanh và lâu là một việc làm quan trọng. Sử dụng sơ đồ hóa kiến thức trong bộ môn là một việt làm cần thiết. Sơ đồ hóa kiến thức sẽ giúp học sinh hình dung bao quát được bài học hoặc một vấn đề. Học sinh nhớ được kiến thức một cách nhanh chóng và lâu bền hơn, sẽ góp phần làm cho bài giảng một cách nhẹ nhàng và hiệu quả. 1. Cơ sở thực tiễn: Do đặc thù bộ môn Ngữ văn, do cấu trúc chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn có ít bài sử dụng sơ đồ ( Chủ yếu tập trung ở tiết ôn tập ) nên trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên rất ngại sử dụng sơ đồ. Việc sử dụng sơ đồ khái quát kiến thức của học sinh còn hạn chế, khả năng tư duy logic, hệ thống kiến thức của học sinh chưa tốt. Một số giáo viên còn lúng túng khi sử dụng sơ đồ trong giảng dạy bộ môn. 2. Cơ sở lí luận: Sơ đồ hóa là thao tác mã hóa kiến thức cơ bản của bài học, giúp người học ghi nhớ kiến thức một cách lôgíc, biết nhận diện, lý giải mối quan hệ nội tại của vấn đề, vận dụng các kỹ năng phân tích đối chiếu, tổng hợp kiến thức để thực hành giải quyết các vấn đề thực tiễn. Có nhiều loại sơ đồ thường được dùng: + Hình tròn đồng tâm. + Hình vuông thứ bậc + Bảng biểu + Kết hợp hình vuông với hình tròn... + Sơ đồ tư duy Tuy nhiên giáo viên thường rất ít khi sử dụng chính vì vậy mà khả năng đạt hiệu quả cao trong 1 tiết giảng dạy là rất thấp. Việc nghiên cứu lí luận chuyên đề và thử nghiệm để đi đến ứng dụng trong dạy học bộ môn Ngữ văn có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất lớn giúp cho học sinh hình thành kĩ năng, phương pháp học tập tốt hơn thông qua sơ đồ.
Trang 1“XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY-HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN”
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
I Lý do chọn chuyên đề:
Hiện nay thực trạng học sinh trong nhà trường học bài còn rất thụ động, học bài theo kiểu học thuộc lòng, học vẹt, quên kiến thức rất nhanh chóng, không đọng lại được gì Nhiều học sinh nhớ kiến thức một cách mơ hồ, đọc tủ một vấn đề nào đó từ đầu đến cuối, nhưng yêu cầu trình bày một đoạn nhỏ trong vấn đề đó thì tỏ ra lúng túng vì các em quen đọc vẹt, đọc liền mạch mà không nhớ được bao quát của vấn đề
Vì vậy, việc giúp các em nhớ được kiến thức nhanh và lâu là một việc làm quan trọng
Sử dụng sơ đồ hóa kiến thức trong bộ môn là một việt làm cần thiết Sơ đồ hóa kiến thức sẽ giúp học sinh hình dung bao quát được bài học hoặc một vấn đề Học sinh nhớ được kiến thức một cách nhanh chóng và lâu bền hơn, sẽ góp phần làm cho bài giảng một cách nhẹ nhàng và hiệu quả
1 Cơ sở thực tiễn:
Do đặc thù bộ môn Ngữ văn, do cấu trúc chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn có ít bài sử dụng sơ đồ ( Chủ yếu tập trung ở tiết ôn tập ) nên trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên rất ngại sử dụng sơ đồ
Việc sử dụng sơ đồ khái quát kiến thức của học sinh còn hạn chế, khả năng tư duy logic, hệ thống kiến thức của học sinh chưa tốt
Một số giáo viên còn lúng túng khi sử dụng sơ đồ trong giảng dạy bộ môn
2 Cơ sở lí luận:
Sơ đồ hóa là thao tác mã hóa kiến thức cơ bản của bài học, giúp người học ghi nhớ kiến thức một cách lôgíc, biết nhận diện, lý giải mối quan hệ nội tại của vấn đề, vận dụng các kỹ năng phân tích đối chiếu, tổng hợp kiến thức để thực hành giải quyết các vấn đề thực tiễn
Có nhiều loại sơ đồ thường được dùng:
+ Hình tròn đồng tâm
+ Hình vuông thứ bậc + Bảng biểu
+ Kết hợp hình vuông với hình tròn
+ Sơ đồ tư duy Tuy nhiên giáo viên thường rất ít khi sử dụng chính vì vậy mà khả năng đạt hiệu quả cao trong 1 tiết giảng dạy là rất thấp
Việc nghiên cứu lí luận chuyên đề và thử nghiệm để đi đến ứng dụng trong dạy học bộ môn Ngữ văn có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất lớn giúp cho học sinh hình thành kĩ năng, phương pháp học tập tốt hơn thông qua sơ đồ
II Mục đích thực hiện chuyên đề:
1 Kiến thức:
Giúp học sinh có khả năng nhận thức kiến thức và nắm vững kiến thức trong
và sau bài học ở cả ba phân môn văn bản, tiếng việt và tập làm văn
Trang 2- Hiểu, cảm nhận được nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một số truyện dân gian Việt Nam, truyện trung đại Việt Nam, truyện ngắn hiện đại Việt Nam 1900 -1930: hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến xấu xa, tàn bạo; nghệ thuật tự sự hiện đại, cách sử dụng từ ngữ mới mẻ, sinh động Truyện ngắn hiện đại Việt Nam sau cách mạng tháng Tám
- Hiểu, cảm nhận được nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một số bài (hoặc trích đoạn) tùy bút hiện đại Việt Nam: tình yêu thiên nhiên đất nước; nghệ thuật biểu cảm, ngôn ngữ tinh tế
- Hiểu, cảm nhận được nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một số bài thơ trung đại VN, thơ Đường, thơ hiện đại Việt Nam
- Nhận biết mối quan hệ giữa tình và cảnh; một vài đặc điểm thể loại của các bài thơ trữ tình trung đại
- Nhận biết những cách bộc lộ tình cảm, cảm xúc đan xen với kể, tả trong các bài tùy bút
- Hiểu khái niệm, đặc điểm, tác dụng các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, chơi chữ, liệt kê….Nắm được cấu tạo của từ, các loại từ, các lớp
từ, nghĩa của từ, cụm từ… Nhận biết và bước đầu phân tích được giá trị của việc dùng từ, cụm từ, biện pháp tu từ….trong văn bản
- Hiểu giá trị, cách sử dụng từ tượng thanh, tượng hình, các phương châm hội thoại, các cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ Biết sửa lỗi dùng từ
- Hiểu, nắm được đặc điểm, bố cục, cách xây dựng đoạn văn, bài văn: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh
2 Kĩ năng:
Chuyên đề tập trung rèn cho học sinh các kĩ năng cơ bản theo đặc trưng bộ môn: kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; kĩ năng tư duy tổng hợp, khái quát kiến thức; kĩ năng xây dựng, vẽ sơ đồ, bảng biểu; kĩ năng diễn đạt
3 Thái độ
- HS có thái độ học tập tự giác, nghiêm túc, chăm chỉ
- HS có thái độ hợp tác, trao đổi, cầu tiến, tích cực với bạn bè, thầy cô trong học tập
4 Định hướng phát triển năng lực:
- Phát triển các thao tác tư duy cơ bản ( phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa….) và khả năng hình thành năng lực tự học cho học sinh
- Học sinh sử dụng ngôn ngữ, sơ đồ để diễn đạt nội dung SGK và tài liệu học được
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG
I Một số lí luận chung về sơ đồ hóa kiến thức.
Phương pháp dạy học theo mô hình, sơ đồ thuộc nhóm phương pháp dạy học trực quan Sử dụng phương pháp này phối hợp với phương pháp thuyết trình hoặc vấn đáp sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức một cách có hiệu quả.
Thực tiễn hiện nay đã đặt ra vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm Học sinh phải chủ động tham gia vào quá trình lĩnh hội kiến thức mới Kết quả dạy học sẽ cao hơn nữa nếu giảng viên cho phép học viên tiếp cận tài liệu, kiến thức dưới dạng sơ đồ, mô hình Ngược lại, việc học tập sẽ gặp khó khăn khi giáo viên chỉ đơn thuần thuyết trình chứ không kết hợp giảng dạy với tài liệu, mô hình, biểu đồ hoặc tranh ảnh
1 Sơ đồ hóa kiến thức là gì?
Dạy học nhằm phát huy tính chủ động của người học liên quan tới quan điểm
"dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm" Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm là một quá trình phức tạp, đa dạng, mang tính tổng thể cao Đòi hỏi phải sử dụng, kết hợp một cách có hiệu quả, hợp lý các phương pháp dạy học Trong hệ thống các phương pháp có nhóm phương pháp dạy học trực quan Phương pháp dạy học trực quan sử dụng phối hợp với phương pháp thuyết trình hoặc vấn đáp sẽ giúp người học hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức một cách có hiệu quả Ưu điểm của nhóm phương pháp dạy học trực quan: giúp cho người học có thể huy động sự tham gia của nhiều giác quan vào quá trình nhận thức; Tạo điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu; Làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, óc tò mò khoa học
Phương pháp sử dụng sơ đồ trong dạy học là một trong những phương pháp thuộc nhóm phương pháp dạy học trực quan Để sử dụng được Phương pháp sử dụng
sơ đồ trong dạy học, trước tiên các kiến thức cơ bản cần được sắp xếp dưới dạng mô
hình, sơ đồ Sơ đồ hóa kiến thức là một trong những hình thức trực quan của quá trình dạy học Sơ đồ, mô hình là những hình ảnh có tính biểu tượng được xây dựng trên các sự vật, các yếu tố trong cấu trúc sự vật và mối liên hệ giữa các yếu tố đó dưới dạng trực quan cảm tính ( quan sát được, cảm nhận được) Sơ đồ tạo thành một
tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc và logic bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và trực quan cụ thể Nhằm giúp cho người học nắm vững một cách trực tiếp, khái quát những nội dung cơ bản, đồng thời qua đó phát triển năng lực nhận thức cho người học.
2 Đặc điểm của sơ đồ hóa kiến thức
Một là, khối lượng kiến thức quyết định nội dung khách quan của sơ đồ Hình thức chủ quan của sơ đồ phụ thuộc người lập sơ đồ Vì vậy, cùng một khối lượng kiến thức nhưng có thể có nhiều cách sáng tạo, thiết kế sơ đồ khác nhau
Hai là, sơ đồ là những biểu tượng trực quan phản ánh một cách trừu tượng, khái quát các khái niệm, phạm trù, quy luật Vì vậy, đòi hỏi sơ đồ phải phản ánh trung thành với khối lượng kiến thức mà nó mô tả
Ba là, sơ đồ nhằm giúp người học lĩnh hội kiến thức dễ dàng hơn Vì vậy, phải
có tính thẩm mỹ, không rập khuôn, khuyến khích người học tự thiết kế sơ đồ trên cơ
sở kiến thức đã lĩnh hội
Trang 4Bốn là, sơ đồ hình thành trên cơ sở xác định các yếu tố nội dung trong các chương, các mục, mối liên hệ biện chứng giữa các đơn vị kiến thức…Khi giảng dạy cần vận dụng các thao tác so sánh, phân tích tổng hợp, trừu tượng, khái quát… So sánh với những quan điểm đối lập, bổ sung mở rộng vấn đề, phát triển tư duy logic
3 Phương pháp dạy học theo sơ đồ là gì?
Với ý nghĩa chung nhất phương pháp được hiểu là cách thức đề cập tới hiện thực, cách thức nghiên cứu các hiện tượng của tự nhiên và xã hội Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể được nhận thức
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học
Phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của người dạy và người học nhằm giúp người học hiểu được bản chất của các sự vật, hiện tượng liên quan đến nội dung, nhiệm vụ dạy học dựa vào mô hình, sơ đồ của chúng
4 Ưu điểm của phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức
- Dễ phát huy tính tích cực của người học Huy động tối đa các giác quan của học sinh tham gia vào quá trình nhận thức, lĩnh hội kiến thức
- Kiến thức được biểu diễn dưới dạng sơ đồ, ngắn gọn dễ nhớ Học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi lĩnh hội và xây dựng kiến thức mới Dùng sơ đồ minh họa tạo hiệu quả: trong một thời gian rất ngắn có thể khái quát được một khối lượng kiến thức lớn, vừa làm rõ bài giảng, vừa xâu chuỗi kiến thức và các mối liên hệ giữa chúng
- Tác động vào "kênh hình" của người học Sẽ tạo ra sự hứng thú trong giờ học, bài giảng, tiết học trở nên sôi động Phát triển óc quan sát, kích thích tư duy của người học, củng cố kiến thức bài giảng, hào hứng tìm tòi, đón nhận tri thức mới, có lòng yêu thích môn học
- Người học khám phá tri thức mới theo trình tự logic, giúp người học hiểu được bản chất quy luật Thuận lợi cho quá tình tái hiện tri thức khi cần thiết
II Các dạng thức sơ đồ hoá:
Sơ đồ là công cụ giúp học sinh nhận diện cấu trúc văn bản, nhìn nhận vấn đề sâu sắc, có hệ thống, dựa trên sơ đồ thực hiện các thao tác nhận diện, phân tích tổng hợp, đánh giá và vận dụng giải quyết vấn đề đặt ra
Giáo viên dựa trên kỹ năng nhận diện, phát hiện tạo lập sơ đồ đó của học sinh
để đánh giá năng lực, tình cảm thái độ và phân loại trình độ học sinh, từ đó thúc đẩy hữu hiệu đổi mới phương pháp dạy học
1 Dạng 1: Sơ đồ hình tròn đồng tâm: Dùng nhiều hình tròn xoay quanh nội dung
cơ bản
Trang 52 Dạng 2: Sơ đồ hình vuông thứ bậc:
3 Dạng 3: Sơ đồ hình vuông theo chiều ngang:
Trang 64 Dạng 4: Kết hợp giữa hình tròn và hình vuông:
5 Dạng 5: Bảng biểu:
III Các bước xây dựng và sử dụng một sơ đồ hóa kiến thức:
1 Yêu cầu của việc xây dựng và sử dụng sơ đồ.
* Yêu cầu của việc xây dựng sơ đồ:
- Tính khoa học: nội dung sơ đồ phải bám sát nội dung của bài học, các mối
quan hệ phải là bản chất, khách quan chứ không phải do người xây dựng sắp đặt
- Tính sư phạm, tư tưởng: sơ đồ phải có tính khái quát hóa cao, qua sơ đồ học
sinh có thể nhận thấy ngay các mối quan hệ khách quan, biện chứng
Trang 7- Tính mĩ thuật: bố cục của sơ đồ phải hợp lí, cân đối, nổi bật trọng tâm và
các nhóm kiến thức
* Yêu cầu khi sử dụng phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức:
- Giáo viên cần có trình độ chuyên môn vững vàng
- Người học cần có tài liệu đầy đủ
- Thích hợp với người học có tư duy sáng tạo, nhanh nhạy và tính cách hướng ngoại
- Nên tách các phần kiến thức, nội dung, các chủ đề bằng một vấn đề quan
trọng nào đó Sau đó liên hệ các kiến thức đó với nhau bằng nhiều mô hình sơ đồ
- Không nên quá cực đoan cho rằng BĐTD có thể giúp người học tất cả Trên
cơ sở những kiến thức được hệ thống hoá, sơ đồ hoá, người học còn phải biết thực hành ngôn ngữ băng việc đọc, nói và viết
- Đối với văn bản nghị luận, việc sử dụng BĐTD hỗ trợ đọc hiểu các văn bản
sẽ là thuận lợi Nhưng với văn bản nghệ thuật, muốn dùng BĐTD để biểu hiện một văn bản, người học phải tìm ra mạch của văn đó (xét đơn thuần về mặt ý)
- BĐTD không tái hiện được cảm xúc, không chuyển tải hết sự tinh tuý trong cách dùng từ, đặt câu, trong nghệ thuật cấu trúc tác phẩm Vì vậy, sử dụng BĐTD trong dạy học là cần thiết, nhưng phải tránh được sự suy diễn khô khan đẫn đến xã hội hoá dung tục tác phẩm
2 Các bước xây dựng sơ đồ.
- BƯỚC 1: Tổ chức các đỉnh của sơ đồ ( chọn kiến thức cơ bản, vừa đủ, mã
hoá một cách ngắn gọn, cô đọng, súc tích, bố trí các đỉnh trên một mặt phẳng )
- BƯỚC 2: Thiết lập các cạnh ( các cạnh nối những nội dung ở các đỉnh có
liên quan )
- BƯỚC 3: Hoàn thiện ( kiểm tra lại tấc cả để điều chỉnh sơ đồ phù hợp với
nội dung dạy học và logic nội dung, đảm bảo tính thẩm mĩ và dể hiểu hơn)
* Cách xây dựng một sơ đồ:
Giáo viên nghiên cứu nội dung chương trình giảng dạy, lựa chọn ra những bài, những phần có khả năng áp dụng phương pháp sơ đồ có hiệu quả nhất
Tiếp theo giáo viên phân tích nội dung bài dạy, tìm ra những khái niệm cơ bản, khái niệm gốc cần truyền đạt, hình thành
IV Một số cách sử dụng phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức:
- Giáo viên dựa vào chính sơ đồ để soạn ra các tình huống dạy học cũng như các thao tác, phương pháp dạy; lúc này sơ đồ chính là mục đích-phương tiện truyền đạt của giáo viên và lĩnh hội kiến thức của học sinh
- Trong khi sử dụng giáo viên phải hình thành rõ mạch chính, mạch nhánh của
sơ đồ, mối quan hệ nhân qủa, mối quan hệ tác động hoặc sự liên kết các đơn vị kiến thức trên sơ đồ
1 Sử dụng sơ đồ trong việc kiểm tra kiến thức cũ của học sinh vào đầu giờ học:
* Cách tiến hành:
- Giáo viên có thể yêu cầu học sinh khái quát nội dung kiến thức đã học theo sơ đồ Hoặc giáo viên yêu cầu học sinh trình bày, lý giải phần tạo lập sơ đồ đã chuẩn bị ở bài tập đã cho ở nhà
- Học sinh lên bảng vẽ sơ đồ hệ thống kiến thức theo yêu cầu hoặc điền vào sơ đồ câm để hoàn thành nội dung kiến thức mà giáo viên yêu cầu
Trang 8- Học sinh khác nhận xét, bổ sung GV uốn nắn, nhận xét, cho điểm.
* Ví dụ:
Để kiểm tra kiến thức cũ văn bản “Đồng chí” (Ngữ văn 9), Giáo viên có thể sử dụng sơ đồ và kèm theo câu hỏi: Hãy điền vào sơ đồ sau, các cơ sở hình thành tình đồng chí của người lính
2 Sử dụng sơ đồ trong việc định hướng nhận thức của học sinh, dùng vào lúc
mở đầu bài học:
3 Sử dung sơ đồ trong việc giảng bài mới:
Các tiết ôn tập Tiếng Việt, Tập làm văn, ôn tập văn bản rất thích hợp cho việc
sử dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ
* Cách tiến hành:
- Trước mỗi chủ đề, giáo viên có thể yêu cầu học sinh hệ thống kiến thức bằng sơ đồ
- Giáo viên vừa hướng dẫn học sinh khám phá các mối quan hệ song song với việc hoàn thành sơ đồ ( vừa dạy vừa vẽ ) -> đây là cách dạy học có sự tham gia tích cực của học sinh
* Ví dụ : Khi dạy tiết Ôn tập truyện dân gian (Ngữ văn 6), Giáo viên có thể sử
dụng sơ đồ dạng bảng biểu để học sinh hoàn thành đơn vị kiến thức cần ôn tập:
? Liệt kê các thể loại truyện dân gian đã học?
? Kể tên các văn bản truyện dân gian tương ứng với mỗi thể loại?
Cơ sở hình thành tình đồng chí của người lính
Trang 94 Sử dụng sơ đồ để thể hiện toàn bộ kiến thức học sinh đã lĩnh hội
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá các kiến thức cần nắm trong tiết học hoặc trong một đơn vị kiến thức, giáo viên thể hiện các kiến thức cần thiết bằng
sơ đồ cho học sinh tiện theo dõi và hệ thống, dễ ghi nhớ
Ví dụ: Khi dạy tiết 53 Tổng kết về từ vựng (Ngữ văn 9), phần II, Các phép tu từ từ
vựng, GV có thể sử dụng sơ đồ hóa để hệ thống nội dung kiến thức:
5 Sử dụng sơ đồ trong việc củng cố-đánh giá cuối bài:
* Cách tiến hành: Giáo viên để một số ô trống, để trống một số cạnh, yếu cầu học
sinh tìm các kiến thức điền vào ô trống hoặc vẽ và điền tiếp các cạnh
* Ví dụ 1: Sau khi học xong văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Ngữ văn
9), giáo viên sử dụng sơ đồ sau:
-Sơ đồ: Bài thơ
về tiểu
đội xe
không
kính
Hình ảnh những chiếc xe
không kính
Trang 10* Ví dụ 2: Sơ đồ củng cố kiến thức bài học Liên kết câu, liên kết đoạn văn (Ngữ
văn 9)
6 Sử dụng sơ đồ để ra bài tập về nhà hay hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài sau:
* Cách tiến hành:
- Giáo viên nên để sơ đồ trống (sơ đồ câm), hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài sau theo
hệ thống sơ đồ
- HS chuẩn bị bài ở nhà theo hướng dẫn của giáo viên
* Ví dụ: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị tiết Tiếng Việt (Ngữ văn 6), bài Câu trần thuật đơn.
GV yêu cầu học sinh tìm hiểu về các kiểu câu trần thuật đơn theo định hướng của sơ đồ
Hình ảnh người lính lái xe
Tư thế Tâm hồn
Tinh thần, thái độ Tình đồng chí
Ý chí chiến đấu