1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Lý luận và ứng dụng đông y trong các báo cáo khoa học

495 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 495
Dung lượng 24,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Guang Chen và cs (2019)5 khảo sát sự khác biệt về biểu hiện của các mRNA và các RNAkhông mã hóa khác trong huyết tương của các bệnh nhân mắc các bệnh YHHĐ khác nhaunhưng cùng được chẩn đoán bệnh cảnh khí huyết ứ trệ theo YHCT so với nhóm người khỏemạnh. Phân tích kết quả thấy rằng so với nhóm người khỏe mạnh, nhóm bệnh nhân khí trệhuyết ứ thể hiện sự khác biệt về biểu hiện các RNA liên quan đến con đường tín hiệusphingolipid, neurotrophin, AMOK và endocytosis. Kết quả này gợi ý rằng bệnh cảnh khítrệ huyết ứ không chỉ liên quan đến mất cân bằng trong chức năng thần kinh mà còn liênquan đến rối loạn trong chuyển hóa năng lượng. Sphingomyelin và các sản phẩm chuyểnhóa của chúng có chức năng là chất dẫn truyền tín hiệu thứ cấp trong nhiều con đường tínhiệu nội bào khác nhau. Ceramide và S1P, chất chuyển hóa của sphingomyelin, điều hòađáp ứng của tế bào với stress. Neureotrophin liên quan đến sự biệt hóa và tồn tại của tế bàothần kinh, và có vai trò trung tâm trong sự phát triển các bệnh lý như bệnh thần kinh tựđộng và hệ thống cảm giác. AMPK là một serin threonine kinase, hệ thống AMPK có vai trò kiểm soát tình trạng năng lượng của tế bào. Các chức năng trên bị rối loạn cũng phù hợpvới biểu hiện lâm sàng đau căng tức, tê, thay đổi về mặt cảm xúc như khó chịu, trầm cảmtrên bệnh nhân khí trệ huyết ứ.

Trang 1

MỤC LỤC

Table of Contents

Khí huyết trong y học cổ truyền 1

Hình thành và chuyển hóa khí huyết tinh tân dịch 1

Tương quan huyết YHCT và YHHĐ 22

Huyết ứ 22

Bổ huyết 26

Tinh trong y học cổ truyền 30

Học thuyết tinh khí 30

Quan niệm triết học 30

Quan điểm y học 35

Chức năng tinh trong y học 43

Di truyền học 43

Phát dục và Sinh sản 46

Lão hoá 52

Tinh sinh tuỷ dưỡng cốt 55

Tinh liên quan não tuỷ 57

Bệnh của tinh 59

Thận tinh bất túc 59

Các bệnh lý YHHĐ liên quan với Tinh theo YHCT 60

Giả thuyết mối liên quan thận tinh và biểu hiện gen [28] 65

Thuốc Đông y với vai trò là phương tiện của liệu pháp gene 66

Thuốc Đông y sử dụng trong liệu pháp gen 67

Thuốc Đông y làm tăng biểu hiện của gene chuyển đổi 68

Thuốc Đông y vai trò hiệp đồng với liệu pháp gene 69

Thuốc Đông y giảm tác dụng phụ của liệu pháp gene 70

Thời sinh học trong y học cổ truyền 72

Quan điểm YHCT về thích nghi theo thời gian 72

Dưỡng sinh theo mùa 72

Giữ gìn dương khí 73

Ý chí yên tĩnh 74

Hoạt động các cơ quan theo nhịp sinh học 74

Trang 2

Nhịp sinh học và sinh lý phổi 74

Nhịp sinh học và bệnh lý phổi 77

Nhịp sinh học và sinh lý Thận 78

Nhịp sinh học hệ miễn dịch 79

Nhịp sinh học theo mùa 80

Cơ sở khoa học thay đổi theo mùa 80

Thay đổi tâm trạng theo mùa[11] 81

Ảnh hưởng thức ngủ lên rối loạn tâm trạng 85

Kết luận 86

Mối quan hệ giữa phế và đại trường 88

Ứng dụng trên xem xét triệu chứng lâm sàng 88

Ứng dụng trong điều trị 89

Mối quan hệ phế đại trường dưới cái nhìn Tây y 90

Cấu trúc cơ thể 90

Sự đào thải khí ruột 90

Nội độc tố trong ruột 91

Hệ thống miễn dịch niêm mạc của đường ruột và đường hô hấp 91

Mối liên hệ thần kinh nội tiết 91

Vi sinh học 91

Giả thuyết mối liên kết giữa phổi và đại tràng trong IBD 91

Nghiên cứu thực nghiệm 93

Nghiên cứu kinh lạc 94

Tâm quý 96

Đại cương 96

Định nghĩa 96

Lược sử chứng trạng 96

Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh 97

Nguyên nhân 97

Cơ chế bệnh sinh 97

Chẩn đoán phân biệt 98

Chân tâm thống 98

Bôn đồn 99

Trang 3

Biện chứng 99

Biện hư thực 99

Biện kinh quý, chính xung 99

Biện sự biến hóa của mạch 99

Kết hợp biện bệnh và biện chứng 100

Bệnh cảnh thường gặp 100

Bệnh cảnh thành tố 100

Bệnh cảnh phối hợp 104

Biến chứng 107

Tâm thống 109

Đại cương 109

Định nghĩa 109

Lược sử chứng trạng 110

Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh 110

Nguyên nhân 110

Cơ chế bệnh sinh 111

Chẩn đoán phân biệt 112

Vị quản thống 112

Huyền ẩm 113

Biện chứng 113

Biện vị trí đau 113

Biện tính chất đau 113

Biện mức độ đau 114

Biện chứng mạch lưỡi 114

Biện chứng thuận nghịch 114

Bệnh cảnh thường gặp 114

Bệnh cảnh thành tố 114

Bệnh cảnh phối hợp 121

Bệnh cảnh không xác định 121

Biến chứng 122

Trúng phong 124

Đại cương 124

Trang 4

Định nghĩa 124

Lược sử chứng trạng 124

Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh 125

Nguyên nhân 125

Cơ chế bệnh sinh 126

Chẩn đoán phân biệt 127

Khẩu nhãn oa tà 127

Quyết bệnh 128

Kinh bệnh 128

Giản bệnh 128

Biện chứng 128

Biện cấp hoãn 128

Biện phong, hỏa, đàm, ứ, âm hư, khí hư 129

Biện chứng thuận nghịch 133

Biện chứng bế, chứng thoát 133

Bệnh cảnh thường gặp 134

Trúng kinh lạc 135

Trúng phong tạng phủ 138

Bệnh cảnh không xác định 139

Biến chứng 140

Huyễn vựng 142

Đại cương 142

Định nghĩa 142

Lược sử chứng trạng 142

Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh 144

Nguyên nhân 144

Cơ chế bệnh sinh 144

Chẩn đoán phân biệt 145

Trúng phong 145

Quyết chứng 146

Giản bệnh 146

Biện chứng 146

Trang 5

Biện hư thực 146

Biện tạng phủ 146

Biện tiêu bản 146

Bệnh cảnh thường gặp 146

Bệnh cảnh thành tố 147

Bệnh cảnh phối hợp 150

Biến chứng 151

Thất miên 152

Đại cương 152

Định nghĩa 152

Lược sử chứng trạng 152

Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh 153

Nguyên nhân 153

Cơ chế bệnh sinh 154

Chẩn đoán phân biệt 157

Biện chứng 158

Biện tạng phủ 158

Biện hư thực 158

Bệnh cảnh thường gặp 158

Bệnh cảnh thành tố 159

Bệnh cảnh phối hợp 162

Biến chứng 164

Kinh nghiệm lâm sàng 164

Bằng chứng lâm sàng 165

Kiện vong 173

Đại cương 173

Định nghĩa 173

Lược sử chứng trạng 173

Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh 174

Nguyên nhân 174

Cơ chế bệnh sinh 174

Chẩn đoán phân biệt 176

Trang 6

Si ngốc 176

Trúng phong 177

Điên bệnh 177

Biện chứng 177

Biện tạng phủ 177

Biện hư thực 177

Bệnh cảnh thường gặp 177

Bệnh cảnh thành tố 180

Bệnh cảnh phối hợp 181

Các bệnh cảnh thường gặp 182

Biến chứng 182

Đau mạn tính 184

Sinh lý đau theo YHHĐ 184

Lược sử quan điểm về đau 184

Các thụ thể đau và con đường hướng tâm 185

Phân bố dermatome của sợi cảm giác đau 186

Sừng sau 187

Các bó hướng tâm của cảm giác đau ở tuỷ sống 189

Sinh lý của đau 193

Nhận cảm đau 195

Cơ chế kiểm soát đau nội sinh 196

Lâm sàng và tâm lý của đau 200

Thuật ngữ 200

Đau da và đau sâu 200

Đau quy chiếu 201

Đau mạn tính 202

Phản ứng cảm xúc với đau 205

Sinh lý đau theo YHCT 205

Cơ chế rối loạn vận hành khí huyết 206

Giải thích về đau do rối loạn vận hành khí huyết 207

Biện chứng đau 208

Ứng dụng YHCT trong điều trị đau 213

Trang 7

Đau do thoát vị đĩa đệm 213

Điều trị 214

Mô hình tích hợp Đông Tây điều trị đau thắt lưng tại Hong Kong 215

Kết hợp đa liệu pháp YHCT 216

Đau mạn tính của thoái hoá khớp 217

Ứng dụng YHCT điều trị đau đầu Migraine 228

Đau do ung thư 235

Đầu thống 239

Đại cương 239

Tây y 239

Cấu trúc nhận cảm đau 239

Cơ chế đau 240

Các dấu hiệu cảnh báo 243

Đông y 244

Định nghĩa 244

Lược sử chứng trạng 244

Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh 245

Chẩn đoán phân biệt 246

Chân đầu thống 246

Lôi đầu phong 246

Biện chứng 246

Biện cường độ đau 246

Biện tính chất đau 247

Biện vị trí đau 247

Biện yếu tố ảnh hưởng 248

Nguyên tắc điều trị 248

Bệnh cảnh thường gặp 249

Ngoại cảm đầu thống 249

Nội thương đầu thống 252

Cảnh thống 258

Đại cương 258

Tây y 258

Trang 8

Giải phẫu 258

Cơ chế bệnh sinh 261

Nguồn gốc đau 264

Dấu hiệu báo động 266

Đông y 267

Định nghĩa 267

Lược sử chứng trạng 267

Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh 267

Chẩn đoán phân biệt 268

Biện chứng 268

Biện nội nhân, ngoại nhân 268

Biện tính chất đau 268

Nguyên tắc điều trị 269

Bệnh cảnh thường gặp 269

Ngoại cảm cảnh thống 269

Nội thương cảnh thống 272

Phục hồi sau đột quỵ 278

Phục hồi vận động 278

An cung ngưu hoàng hoàn: từ cơ chế đến lâm sàng 279

Phục hồi aphasia 287

Khuyến cáo từ AHA/ASA 2016 287

Kinh nghiệm lâm sàng YHCT 289

Lý thuyết nền tảng 295

Y học cổ truyền và biofeedback 305

Biofeedback 305

Định nghĩa 305

Phân loại 305

Ứng dụng biofeedback 306

Cơ chế thần kinh của biofeedback 307

Thái cực 308

Cơ chế tác động của Thái cực lên cấu trúc, chức năng thần kinh 308

Cơ chế tiềm năng của Thái cực 309

Trang 9

Khí công 311

Quản lý chuột rút theo y học cổ truyền 315

Cơ chế bệnh sinh 315

Nguồn gốc thần kinh của chuột rút 315

Sự hoạt hoá đơn vị vận động trong chuột rút 315

Chuột rút bệnh lý 317

Điều trị YHHĐ 318

Điều trị YHCT 318

Hệ miễn dịch và vai trò của yhct 320

Các thành phần của hệ miễn dịch 320

Chức năng của hệ thống miễn dịch 321

Đáp ứng với nhiễm vi sinh vật 321

Đáp ứng với khối u 322

Chính khí – tà khí 323

Vai trò của YHCT 324

Kích thích miễn dịch 324

Ức chế miễn dịch 325

Quan niệm y học cổ truyền về bệnh dị ứng và điều trị 326

Các yếu tố kháng bệnh tật trong YHCT 326

Chính khí 326

Vệ khí 326

Vệ khí và Tỳ 326

Vệ khí và Thận 327

Thận tinh 327

Bệnh dị ứng trong YHCT 328

Điều trị bệnh dị ứng 329

Hen phế quản 329

Viêm da dị ứng 329

Viêm mũi dị ứng 330

Kết luận 330

Y học cổ truyền chăm sóc và phòng bệnh trẻ em 331

Tình hình sử dụng YHCT trong Nhi khoa 331

Trang 10

Bệnh lý hô hấp 331

Bệnh dị ứng, miễn dịch 332

Rối loạn tâm thần kinh 333

Bệnh tiêu hoá 334

Vai trò y học cổ truyền trong nhồi máu cơ tim 336

Dịch tễ học 336

Giai đoạn cấp 336

Phòng ngừa thứ phát 340

Điều trị thống kinh nguyên phát theo y học cổ truyền 345

Định nghĩa 345

Cơ chế bệnh sinh 345

Điều trị YHHĐ 345

Điều trị YHCT 347

Bệnh thận mạn với y học cổ truyền 352

Vai trò y học cổ truyền trong ung thư 361

Đại cương 361

Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh 361

Điều trị 362

Nguyên tắc điều trị 362

Ung thư phổi 362

Ngăn ngừa và điều trị tác dụng phụ của điều trị ung thư 366

Ung thư đại tràng 373

Hiện đại hóa y học cổ truyền 375

Y học cá thể 375

Đông y với cuộc cách mạng 4.0 377

GERD 380

Cơ chế tác động của thuốc YHCT trong viêm loét dạ dày 390

Đại cương 390

Bệnh sinh 390

Thuốc điều trị 392

Các thảo dược có hoạt tính chống loét 392

Các thảo dược kháng H pylori 395

Trang 11

Hoạt tính kháng tiết acid 395

Các bài thuốc điều trị viêm dạ dày 396

IBS 400

Cập nhật chẩn đoán và điều trị viêm khớp dạng thấp kết hợp đông tây y 403

Y học hiện đại 403

Lâm sàng 403

Chẩn đoán 404

Điều trị 406

Y học cổ truyền 418

Phân bệnh cảnh YHCT 418

Không dùng thuốc 419

Hội chứng ống cổ tay 425

Đại cương 425

Yếu tố nguy cơ 425

Chẩn đoán 425

Điều trị 426

Không phẫu thuật 426

Phẫu thuật 429

Cập nhật điều trị viêm gan siêu vi B mạn 432

Các hạn chế trong điều trị VGSV B 432

Các bằng chứng hiệu quả điều trị YHCT 434

Nghiên cứu không can thiệp 434

Nghiên cứu can thiệp 437

Cơ sở lý luận của cá thể hóa điều trị theo YHCT 440

Khác biệt phân tử và sinh hóa giữa các thể bệnh YHCT 443

Khác biệt về sinh hóa 443

Khác biệt về gen và biểu hiện gen 448

Khác biệt về protein và biểu hiện protein 452

Khác biệt về chuyển hóa 454

Kết hợp YHCT và YHHĐ theo hướng cá thể hóa 456

So sánh tác dụng các nhóm thuốc y học cổ truyền 460

Tân ôn giải biểu 460

Trang 12

Phát hãn 460

Trừ thấp giải biểu 460

Tân lương giải biểu 461

Tả hạ 461

Thanh nhiệt tả hỏa 461

Thanh nhiệt lương huyết 462

Thanh nhiệt dưỡng âm 462

Thanh Phế nhiệt 462

Thanh Tâm nhiệt 463

Thanh Can nhiệt 463

Thanh Thận nhiệt 463

Thanh Vị nhiệt 464

Thanh nhiệt táo thấp 464

Thanh nhiệt Đại trường 464

Thanh nhiệt Tiểu trường 464

Khai khiếu tỉnh thần 465

Phương hương hóa thấp 465

Lợi thủy thẩm thấp 465

Kiện tỳ, lợi thủy, thẩm thấp 466

Lợi thủy, chỉ huyết 466

Lợi thủy, trừ thấp nhiệt, chỉ huyết, bài thạch 466

Trừ phong thấp kiêm hàn 467

Trừ phong thấp 467

Trừ hàn thấp 467

Trừ phong thấp, thông kinh 467

Trừ phong thấp, bổ can thận 468

Trừ phong thấp, chỉ thống 468

Ôn Thận dương, tán hàn 468

Ôn Tỳ Vị, tán hàn 468

Trọng trấn an thần 469

Dưỡng tâm an thần 469

Tiềm Can dương, an thần 469

Trang 13

Lý khí Tỳ Vị 470

Lý Can khí 470

Hoạt huyết chỉ thống (ôn dược) 470

Phá huyết khử ứ 471

Thông kinh hoạt lạc 471

Hoạt huyết bổ huyết (lương dược) 471

Chỉ khái 472

Giáng Phế khí, bình suyễn 472

Ôn hóa hàn đàm, chỉ khái 473

Thanh hóa đàm nhiệt, chỉ khái 473

Hóa đàm trọc 473

Hóa đàm nhuyễn kiên 473

Trừ phong đàm 474

Trừ đàm khai khiếu 474

Bổ Tỳ khí 474

Bổ Phế khí 475

Bổ dương kiêm bổ tinh 475

Bổ Thận cố Bàng quang 476

Bổ Thận an thai 476

Bổ huyết 476

Cố tinh, liễm can âm 476

Dưỡng Phế âm 477

Dưỡng Tâm âm 477

Dưỡng Can âm 477

Dưỡng Vị âm 478

Dưỡng Thận âm 478

Liễm Phế khí 478

Chỉ hãn 478

Sáp trường chỉ tả 479

Cố Bàng quang sáp niệu 479

Cố tinh 479

Tiêu thực (ngũ cốc, hoa quả) 480

Trang 14

Tiêu thực (ngũ cốc, rượu) 480Tiêu thực (thịt, dầu mỡ) 480

Trang 15

PHẦN I

LÝ LUẬN Y HỌC CỔ TRUYỀN

Trang 16

Khí huyết trong y học cổ truyền

Hình thành và chuyển hóa khí huyết tinh tân dịch

Figure 1 Sơ đồ vận hóa thủy cốc (Nguồn: chỉnh sửa và bổ sung theo bản của ThS.BS Lê Hoàng Sơn, Nguyên giảng viên Khoa YHCT, ĐHYD TP.HCM)

Các loại thức ăn, nước uống sau khi được nuốt vào đi qua hầu họng theo thực quản xuống phủ Vị Tại đây, Vị có chức năng nhào trộn, nghiền nát thức ăn, mục đích là để tạo thuận lợi cho quá trình vận hóa thức ăn thành chất tinh vi của Tỳ, cũng như sự truyền tống xuống phủ Tiểu trường sau khi được Tỳ vận hóa

Vị tính ghét táo và ưa nhuận (chỗ này một số sách cho là ưa thấp, nhưng thấp là nhân tố gây cản trở hoạt động của khí cơ, do đó Vị không thể ưa thấp mà chỉ có thể là ưa nhuận) Thức ăn, nước uống, thuốc, độc chất, bất kể có lợi hay có hại, nếu đi qua đường ăn uống đều được chứa tại phủ Vị Nên trước khi có tác dụng chữa bệnh, hay gây hại cho tạng phủ

Trang 17

nào trong cơ thể, thì đều gây hại cho phủ Vị trước tiên nếu thứ đó có tính táo, tính thấp vượt quá khả năng chịu đựng của phủ Vị Do đó, khi dùng các thuốc có tính táo, hoặc thấp quá nhiều thì cần thêm các thuốc để bảo vệ phủ Vị, như Cam thảo giảm tính táo các vị thuốc, hoặc như Sinh khương và Đại táo giúp bảo dưỡng Vị tránh tổn thương do táo, thấp

Túc dương minh Vị kinh đi qua tạng Tâm, nên các nguyên nhân làm rối loạn vận hành khí

cơ của phủ Vị, hoặc các bệnh lý của phủ Vị đều có thể quấy nhiễu Tâm thần, gây các triệu chứng như mất ngủ, đau ngực, hồi hộp,…

Thức ăn sau khi được Vị nghiền nát sẽ được hỏa của Tỳ dương nung nấu để chưng cất thành dạng tinh khí, tinh khí này được Tỳ khí vận hành đưa lên thượng tiêu đến tạng Phế Có thể hình dung phủ Vị như là nồi chứa thức ăn, Tỳ dương là lửa trong bếp, thức ăn được nấu trong nồi, tinh khí nhẹ trong được thăng bốc lên Phế Chất nặng đục còn lại sẽ được Vị truyền tống xuống Tiểu trường

Thức ăn có thành được tinh khí hay không là do Tỳ dương Nên khi Tỳ dương suy yếu, thức ăn không được chuyển hóa gây hậu quả: (1) Vị khó truyền tống thức ăn xuống Tiểu trường gây đầy bụng; (2) thức ăn không được chuyển hóa, thanh trọc lẫn lộn truyền xuống Đại trường gây cản trở Đại trường tế bí biệt trấp dẫn đến tiêu chảy, phân còn chứa thức ăn chưa được vận hóa; (3) thanh trọc lẫn lộn dồn xuống hạ tiêu làm Thận dương (chân hỏa) bị bức bách mà vượt lên trên gây ra chứng nhiệt Mặc dù dương hư theo lý sinh ra chứng hàn, tuy nhiên đối với chứng Tỳ dương hư hoặc Tỳ khí hư, do cơ chế trên mà còn có thể phát sinh chứng nhiệt Tuy nhiên, đối với chứng nhiệt này do Tỳ dương hư, Tỳ khí hư thì phải dùng pháp trị “cam ôn trừ đại nhiệt”, tức phải dùng vị ngọt, tính ấm bổ vào Tỳ dương, Tỳ khí để Tỳ thực hiện tốt chức năng vận hóa thủy cốc, khi Thận hỏa không còn bị bức bách, lập tức trở về chỗ cũ mà nhiệt lui Bài thuốc kinh diển chính là Bổ trung ích khi thang do

Lý Đông Viên sáng tạo

Figure 2 Minh họa quá trình Tỳ vận hóa thủy cốc

Trang 18

Tỳ ưa táo mà ghét thấp Do đó, bất cứ loại thức ăn nước uống nào có chứa nhiều thấp đều gây hại cho Tỳ, làm cản trở chức năng vận hóa thủy cốc của Tỳ, dẫn đến đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy Vì ghét thấp, nên Tỳ có chức năng vận hóa thủy thấp, tức khi có thấp (do ăn uống, thấp tà xâm nhập, hoặc thấp do quá trình hoạt động của các tạng phủ khác trong cơ thể) Tỳ chuyển hóa thấp trong cơ thể thành dạng có thể đào thải ra khỏi cơ thể và vận hành quá trình đào thải thấp Chính vì vậy, trong các bệnh lý có thấp, bất kể là nội thấp hay ngoại thấp, đều có thể thúc đẩy loại trừ thấp bằng cách kiện chức năng vận hóa thủy thấp của Tỳ Mặc dù vận hóa là chức năng của Tỳ dương, Tỳ khí, tuy nhiên để cho quá trình vận hóa xảy ra thì cũng cần có sự hỗ trợ từ Tỳ âm Do Tỳ âm được nuôi dưỡng là do tinh huyết được tạo thành từ tinh khí mà Tỳ dương vận hóa thủy cốc mà được, nên trừ khi có nguyên nhân làm tổn thương trực tiếp Tỳ âm, nếu không thì Tỳ âm chỉ hư khi mà Tỳ khí đã hư trước đó Chính vì vậy, trên lâm sàng ít khi gặp chứng Tỳ âm hư mà thường hay gặp Tỳ dương hoặc Tỳ khí hư

Vận hành của Vị khí chủ giáng, tức là truyền tống thức ăn sau khi nghiền nát và được Tỳ vận hóa xuống Tiểu trường, cho nên các nguyên nhân gây: (1) thức ăn không được nghiền nát; (2) Tỳ không vận hóa được thức ăn; (3) Tiểu trường không thể tiếp nhận thức ăn, sẽ dẫn đến thức ăn tích lại ở Vị, gây Vị khí nghịch dẫn đến nôn ói Vị giáng muốn giáng được thức ăn thì khâu quan trọng chính là Tỳ khí phải vận hóa thức ăn

Thức ăn trải qua quá trình nghiền nát của Vị và vận hóa của Tỳ, được truyền tống xuống Tiểu trường Mặc dù được Tỳ vận hóa lấy đi một phần tinh khí, tuy nhiên vẫn còn có những chất tinh vi tồn tại trong đó Nên khi xuống Tiểu trường, thức ăn lại một lần nữa được hỏa của Tiểu trường gạn lọc lấy tiếp những phần tinh khí còn trong thức ăn đó Phần tinh khí này cũng được Tỳ vận chuyển lên Phế

Khi dương khí của Tiểu trường suy yếu, không thể phân thanh giáng trọc, dẫn đến Đại trường không thể thực hiện chức năng tế bí biệt trấp mà gây tiêu chảy

Phần tinh vi của thủy cốc sau khi được Tỳ dương vận hóa và Tiểu trường dương phân thanh trọc sẽ được Tỳ khí thăng lên Phế Thuật ngữ “Cốc khí” thường dùng chỉ phần tinh vi này, tuy nhiên lại dễ gây nhầm lẫn, bởi lẽ không chỉ có phần thức ăn mà cả phần tinh thanh của nước (thủy khí) cũng được vận hóa lên Phế

Tỳ nếu không thể thăng thanh, thì thanh trọc dồn xuống hạ tiêu gây Thận hỏa chạy loạn gây nên chứng nhiệt (như đã bàn phía trên mục 2) Ngoài ra, Tỳ chủ thăng dương còn có chức năng giữ cho các tạng phủ trong cơ thể giữ được vị trí vốn có của chúng Nếu khí thanh dương không thể thăng, dẫn đến các tạng phủ theo trọng lực mà sa xuống dưới Thường gặp trong các chứng sa tử cung, sa bàng quang, sa trực tràng, trĩ

Trang 19

Túc có nghĩa là thanh túc, tức là làm trong sạch Phế chủ túc giáng có nghĩa là Phế có chức năng gạn lọc thiên khí (khí ở ngoài môi trường) sau khi được hít vào thành hai loại thanh khí và trọc khí Trọc khí được thải ra ngoài qua cử động thở ra Chính vì vậy có câu “Phế chủ hô” (thở ra)

Sau khi thanh khí được Phế gạn lọc, phải nhờ chức năng nạp khí của Thận thì thanh khí đó mới được hấp thu vào cơ thể Nếu Thận không nạp khí thì thanh khí và trọc khí đều được Phế thải ra ngoài qua cử động thở ra Khi đó, lượng khí thở ra bao gồm cả thanh khí và trọc khí, nên thời gian thở ra kéo dài Khí ở ngực còn nhiều do thanh khí không được hấp thu, nên Phế không thể hít vào nhiều hơn được, gây ra triệu chứng hít vào ngắn Chính vì vậy

có câu “Thận chủ hấp” (hít vào)

Cốc khí và thanh khí được Phế thu nhận và hợp nhất tạo thành tông khí Tông khí sau đó được Phế tuyên thông, tuyên phát đi khắp tất cả cơ quan, tạng phủ trong cơ thể Khi đến cơ quan tạng phủ nào thì cơ quan tạng phủ đó sẽ nhận phần khí này và tổng hợp thành khí đặc trưng riêng biệt cho cơ quan tạng phủ đó Ví dụ đến Can thì Can lấy khí này tổng hợp tạo thành Can khí, đến kinh lạc thì kinh lạc sẽ tổng hợp thành kinh lạc khí Điều này dẫn đến hai hệ quả Một là, khi Phế không tuyên thông tuyên phát được tông khí thì khí ứ trệ nên ngực gây ngực đầy trướng, căng tức Hai là, khi tông khí suy thì do mỗi cơ quan tạng phủ đều có khí riêng của chúng nên có thể có cơ quan tạng phủ nào đó khí suy nhưng cũng có

cơ quan tạng phủ mà khí không suy

Tông khí ở trong lồng ngực tạo thành Hung khí Ngực là nơi định vị của Tâm và Phế Do

đó, Phế và Tâm có mối liên hệ thông qua hung khí Khi Phế có bệnh, hung khí không yên

sẽ ảnh hưởng đến Tâm, ngược lại khi Tâm có bệnh, hung khí cũng không yên mà gây ảnh hưởng đến Phế

Tông khí được phân thành hai loại dựa trên đặc tính: (1) dinh khí tính di chuyển chậm hơn, kém linh hoạt hơn, di chuyển trong lòng kinh mạch, chịu trách nhiệm nuôi dưỡng cơ quan tạng phủ bên trong; (2) vệ khí tính di chuyển nhanh hơn, linh hoạt hơn, di chuyển bên ngoài lòng kinh mạch, chịu trách nhiệm nuôi dưỡng các cơ quan bên ngoài, và đi ra tấu lý bảo vệ

cơ thể chống lại sự xâm nhập của ngoại tà qua đường bì mao

Dinh khí di chuyển liên tục trong kinh mạch, theo kinh mạch mà đi khắp cơ thể Tuy nhiên không phải lúc nào dinh khí cũng tồn tại ở mọi cơ quan tạng phủ với lượng bằng nhau Tùy theo thời điểm sẽ có lúc dinh khí ở nơi này nhiều nơi khác ít và ngược lại Kinh điển dựa trên kinh nghiệm có hệ thống hóa được thời gian thịnh suy của dinh khí trong mỗi tạng theo

Trang 20

giờ giấc trong ngày (hình) Ý nghĩa của việc đánh giá thịnh suy của dinh khí theo giờ để ứng dụng vào chẩn đoán, điều trị và tiên lượng Ví dụ giờ dần thì dinh khí thịnh tại Phế, do

đó về chẩn đoán nếu các bệnh về Phế thực sẽ nặng lên, các bệnh về Phế hư sẽ nhẹ đi; về điều trị sẽ căn cứ vào giờ thịnh mà tiến hành châm cứu hoặc dùng thuốc để nghênh khí đến hoặc theo khí lui như trong Tý ngọ lưu chú; về tiên lượng thì các bệnh thực của Phế khi đến giờ dần trở nặng, nên bệnh nhân có nguy cơ tử vong trong giờ dần

Phế chủ khí, chủ tuyên phát, nên khí được Phế tuyên tán đi phân bố khắp cơ thể Mà nền tảng sự hoạt động của tạng phủ cơ quan chính là sự vận hành của khí cơ Do đó, thông qua

sự điều tiết thăng giáng xuất nhập của khí cơ, mà Phế chủ trị tiết, tức trị lý và điều tiết các hoạt động của toàn bộ cơ thể Trong quá trình phân tán khí đi khắp toàn thân, Phế đồng thời cũng tán dinh khí đến tạng Tâm

Dinh khí sau khi được Phế tán qua Tâm, Tâm dương đưa hỏa vào dinh khí, hóa dinh khí thành huyết dịch Bản chất của huyết dịch là từ dinh khí kết hợp với Tâm hỏa nên huyết có sắc đỏ, tính ấm, lại có tinh vi của thủy cốc nên có tác dụng nuôi dưỡng và ôn ấm toàn thân Nếu nơi nào thiếu huyết thì nơi đó khô héo, lạnh lẽo Cũng vì huyết có tính ấm, mà đồng khí tương cầu, nên đa phần các vị thuốc bổ huyết đều có tính ấm

Dinh khí cấu thành từ tinh khí của thức ăn, nước uống, thanh khí từ hô hấp, do đó bên trong huyết đã có một phần tân dịch, một phần tinh Nên có câu mất tân dịch là mất huyết, hay như câu “tinh huyết đồng nguyên”, “tân huyết đồng nguyên”

Tâm dương góp phần hóa huyết Nên bài Thập toàn đại bổ dùng Nhục quế để ôn Tâm dương

từ đó bổ huyết, Hoàng kỳ để bổ khí từ đó mà bổ huyết Đường Tông Hải trong Huyết chứng luận bàn rằng trong trời đất có âm dương, trong cơ thể cũng có âm dương chính là thủy hỏa, thủy thời hóa khí, hỏa thời hóa huyết chính là ý Tâm dương hóa huyết

Tâm huyết dưỡng Tâm thần Thần là hoạt động của Tâm dương Tâm dương lại hóa huyết Như vậy có mối quan hệ mật thiết giữa thần và huyết Khi Tâm huyết hư thì Tâm thần thất dưỡng gây các chứng tâm quý chính xung, thất miên, kiện vong

Tâm chủ huyết mạch gồm 3 chức năng: (1) Tâm dương hóa đỏ dinh thành huyết; (2) Tâm khí thúc đẩy huyết vận hành toàn thân; (3) Tâm âm nuôi dưỡng mạch lạc toàn thân Do đó, khi biện luận lâm sàng cần phân biệt rõ chức năng nào bị suy yếu để điều trị cho thích hợp Tâm khí thúc đẩy huyết vận hành trong lòng mạch một cách đều đặn và theo quy luật, dưới

sự hỗ trợ của Phế khí Vì khí thúc đẩy huyết hành, mà Phế chủ khí, chủ tuyên phát Tâm và Phế phối hợp đưa huyết dịch đi khắp toàn thân để nuôi dưỡng và ôn ấm các cơ quan tạng phủ trong cơ thể Khi Tâm khí suy, huyết hành vô lực dẫn đến huyết ứ trệ trong kinh mạch gây bệnh lý

Trang 21

Tâm chủ hành huyết, Tâm tàng thần, huyết dưỡng thần, huyết là nơi trú ngụ của thần Do

đó, có mối quan hệ mật thiết giữa huyết và thần Khi có bất kỳ sự rối loạn nào trong sự vận hành của huyết đều được phản ánh đến Tâm thần Ứng dụng trong điều trị các chứng đau

do huyết ứ cần chú ý đến việc điều lý phần Tâm thần

Tâm âm nuôi dưỡng mạch lạc, làm cho mạch lạc được trơn tru, mềm mại, dẻo dai Khi Tâm

âm suy không nuôi dưỡng được mạch, làm mạch xơ cứng, giòn dễ vỡ gây xuất huyết Tâm khí thúc đẩy huyết vận hành theo một quy luật nhất định, gọi là Tâm luật Tâm khí bình hòa thì Tâm luật ổn định Tâm khí biến động dẫn đến Tâm luật cũng bị biến động theo, như khi Tâm có nhiệt, nhiệt thúc khí hành, nên Tâm luật nhanh hơn bình thường, hoặc khi Tâm khí loạn dẫn đến Tâm luật rối loạn

Huyết dịch vận hành trong mạch bình thường cần 3 điều kiện: (1) mạch phải thông suốt; (2) huyết dịch phải đầy đủ; (3) Tâm khí phải sung mãn Điều kiện thứ hai ít được chú ý nhất, nên nhớ rằng huyết hư cũng sinh ra huyết ứ Hải Thượng Lãn Ông cho rằng huyết trong mạch như nước ở sông ngòi, nước đầy đủ thì chảy lưu thông, nước cạn thì chảy khó khăn

Chức năng Tâm hành huyết có thể nhận định qua quan sát: (1) sắc mặt, sắc lưỡi; (2) mạch tượng; (3) cảm giác ở ngực Khi Tâm hành huyết bình thường thì sắc mặt hồng nhuận, lưỡi hồng nhuận sáng, mạch hòa hoãn hữu lực, ngực khoan khoái, thư sướng

Phế khí tuyên tán, phối hợp với Tâm chủ huyết mạch, đưa huyết dịch đi khắp toàn thân theo

hệ thống kinh mạch Sau đó, huyết dịch cũng theo hệ thống kinh mạch mà trở về Phế, để từ đây Phế lại tuyên tán ra khắp nơi, tạo thành vòng tuần hoàn của huyết dịch Chức năng trên của Phế gọi là triều bách mạch

Huyết dịch chứa tinh, tân dịch, lại là nơi trú ngụ của thần, khí lại cùng huyết đi tuần hành trong mạch Phế triều bách mạch Do đó, tất cả các thông tin về khí huyết của các cơ quan tạng phủ trong toàn bộ cơ thể đều được chuyển về Phế, từ đó Phế mới có thể điều lý trị tiết toàn bộ cơ thể Ứng dụng điều này, Nạn kinh đề ra phương pháp mạch chẩn dựa vào mạch

ở kinh thủ thái âm phế Ban đầu mạch chẩn theo tam bộ cửu hậu, tức cơ thể được chia thành

3 bộ là thượng, trung, hạ, mỗi bộ có 3 vị trí xem mạch, như vậy tổng cộng có 9 hậu (9 lần xem xét) Đến Nạn kinh dựa vào lý luận Phế triều bách mạch, chỉ cần xem mạch ở thốn khẩu thuộc kinh thu thái âm Phế Tuy nhiên, vẫn gọi là tam bộ cửu hậu, nhưng là 3 bộ thốn quan xích, và mỗi bộ xem xét 3 mức khinh án, trung án, trọng án, vậy tổng cũng là 9 hậu

Trang 22

Figure 3 Tam bộ cửu hậu theo Nội kinh (Nguồn: Hoàng Duy Tân (2008), Mạch học tổng hợp, NXB Đồng Nai)

Huyết được Tâm và Phế tuyên tán đi khắp toàn thân thông qua hệ thống kinh lạc Bản chất của huyết là từ dinh khí được Tâm dương hóa đỏ mà thành, cho nên khi đến cơ quan tạng phủ nào thì sẽ được cơ quan tạng phủ đó sử dụng để tổng hợp thành dạng tinh riêng đặc trưng của nó Tinh này được gọi chung là tinh hậu thiên, nguồn gốc vốn chủ yếu là do Tỳ vận hóa thủy cốc thành tinh khí, tinh khí lên Phế hợp với thanh khí thành dinh khí, cho nên gọi Tỳ chủ tinh hậu thiên là ý này

Tinh đặc trưng cho từng cơ quan tạng phủ được lưu trữ tại chính cơ quan tạng phủ đó và được sử dụng như một chất dự trữ Từ tinh này có thể hóa thành khí của cơ quan tạng phủ, cũng có thể hóa thành huyết của cơ quan tạng phủ đó Tinh, khí, huyết này chỉ được sử

Trang 23

dụng cho riêng cơ quan tạng phủ đó mà thôi Chính vì vậy mà trong chứng huyết hư, tinh bất túc, khí hư thì không phải tất cả mọi cơ quan tạng phủ đều hư, mà chỉ có một vài cơ quan tạng phủ bị ảnh hưởng tùy theo cơ chế bệnh sinh Ví dụ, huyết đến Can, được Can tổng hợp thành Can tinh, Can tinh tàng trữ tại tạng Can, khi cần sẽ chuyển thành Can khí

để thực hiện các chức năng như sơ tiết, tàng hồn, hoặc chuyển thành Can huyết để từ đây theo kinh mạch đi nuôi dưỡng hệ cân trong cơ thể

Tinh của các cơ quan tạng phủ sau khi được tổng hợp và tàng trữ tại chính cơ quan tạng phủ đó, nếu dư thừa sẽ theo huyết đi trong hệ thống kinh lạc toàn thân mà tập trung về tàng trữ tại tạng Thận Ngoài ra, tại Thận đã có tàng trữ sẵn tinh tiên thiên, vốn được tạo thành

do tinh cha phối hợp với tinh mẹ từ thời kỳ bào thai

Tinh tiên thiên là cái ban đầu hình thành nên sự sống Từ tinh tiên thiên hình thành nên nguyên thần, nguyên thủy, nguyên hỏa, nguyên khí Nguyên thần và nguyên hỏa sau khi hình thành sẽ tiếp tục được nuôi dưỡng và phát triển trong quá trình phát triển của bào thai,

và đến thời điểm nhất định sẽ sinh ra Tâm hỏa (quân hỏa) và Tâm thần Khi Tâm hỏa và Tâm thần sinh ra sẽ nắm vị trí cai quản (quân chủ), còn nguyên hỏa và nguyên thần trở thành tướng

Tinh tiên thiên là nguồn sinh phát để tạo thành tinh hậu thiên Tinh hậu thiên sau khi được tạo thành sẽ liên tục bổ sung cho tinh tiên thiên để duy trì sự sống Tuy nhiên, tinh tiên thiên vẫn có sự suy giảm theo thời gian do sự lão hóa của cơ thể, cho nên đến thời điểm tinh tiên thiên cạn kiệt thì người sẽ chết

Thận tàng tinh vừa là nơi dự trữ tinh cho toàn cơ thể, vừa giữ vai trò điều phối sự phân bố của tinh theo nhu cầu của từng cơ quan tạng phủ Khi cơ quan tạng phủ nào thiếu tinh hoặc

có nhu cầu cần nhiều tinh thì Thận sẽ phân phối tinh đến để cung cấp cho cơ quan tạng phủ

đó nhiều hơn

Tiểu trường nhận thức ăn sau khi được Tỳ vận hóa từ Vị truyền tống xuống Tiểu trường phân biệt thanh trọc lần hai (như đã bàn trên mục 4) thành ba phần: (1) phần tinh thanh được Tỳ vận chuyển lên Phế; (2) phần thủy thanh theo Tam tiêu xuống Bàng quang; (3) phần trọc xuống Đại trường

Tiểu trường truyền tống phần thủy cốc sau khi phân biệt thanh trọc tại Tiểu trường xuống Đại trường Điều kiện để truyền tống xuống Đại trường cần phải: (1) Tiểu trường phải phân biệt thanh trọc hoàn thành; (2) Tiểu trường khí phải sung mãn để truyền tống; (3) Đại trường còn khả nhân tiếp nhận Nếu một trong các điều kiện này không thể đáp ứng sẽ gây ra hậu quả: (1) thủy cốc tích tụ lại Tiểu trường gây triệu chứng đầy bụng, trướng bụng; (2) thanh

Trang 24

trọc lẫn lộn dồn xuống Đại trường dẫn đến Đại trường bị rối loạn công năng tế bí biệt trấp

và truyền tống gây tiêu chảy

Đại trường khi tiếp nhận thủy cốc do Tiểu trường truyền tống xuống sẽ tiến hành gạn lọc thủy thanh trong phần thủy cốc này để chuyển sang Bàng quang gọi là tế bí biệt trấp Chức năng tế bí biệt trấp này của Đại trường phụ thuộc vào: (1) tình trạng tân dịch của cơ thể; (2) tình trạng tân dịch của Đại trường

Nếu tân dịch của cơ thể hoặc của Đại trường giảm, thì Đại trường tăng cường tế bí biệt trấp

để tăng cường hấp thu và giữ lại tân dịch cho cơ thể Ngược lại, nếu tân dịch của cơ thể hoặc của Đại trường dư thừa, Đại trường giảm tế bí biệt trấp, để thải bớt tân dịch, khi đó tân dịch trong phân sẽ tăng lên dẫn đến tiêu chảy

Ứng dụng vào lâm sàng, khi cần loại bỏ tân dịch khỏi cơ thể trong trường hợp thừa tân dịch như thủy thũng, cổ trướng, thì sử dụng các thuốc tả hạ gây tiêu chảy để gây mất tân dịch theo đường Đại trường

Tân dịch của Phế và Đại trường có quan hệ mật thiết với nhau Khi Tân dịch của Phế bị giảm thì tân dịch của Đại trường giảm theo, ngược lại khi tân dịch của Đại trường giảm thì kéo theo tân dịch của Phế cũng giảm Trên lâm sàng, khi muốn nhuận trường có thể thêm thuốc nhuận Phế, hoặc ngược lại khi muốn nhuận Phế có thể thêm thuốc nhuận trường

Đại trường sau khi tế bí biệt trấp, phần còn lại sẽ thành phân và trữ lại Đại trường, sau đó Đại trường truyền tống phân ra khỏi cơ thể Điều kiện để Đại trường truyền tống bình thường: (1) khí lực của Đại trường sung mãn; (2) sự điều hòa đóng mở tiền âm, hậu âm của Thận khí phải hoàn thành

Nếu khí lực của Đại trường nếu quá vượng thì phân được truyền tống nhanh, dẫn đến không

đủ thời gian tế bí biệt trấp gây tiêu chảy, ngược lại khí lực của Đại trường kém thì truyền tống chậm, phân lưu tại Đại trường lâu dẫn đến tế bí biệt trấp nhiều hơn, phân khô hơn và gây táo bón

Thận khí chủ đóng mở tiền âm hậu âm Khi Thận khí suy yếu không làm chủ được sự đóng

mở hậu âm, dẫn đến bệnh nhân đi tiêu không kiểm soát

Thủy dịch do Tiểu trường phân thanh trọc, Đại trường tế bí biệt trấp và Phế thông điều thủy đạo sẽ được đưa đến Bàng quang Bàng quang chịu trách nhiệm chứa đựng lượng thủy dịch này chờ được Thận khí hóa Có thể hình dung Bàng quang như ấm nước, Thận khí như bếp lửa, lửa nung nấu thủy dịch trong Bàng quang thành hai phần: (1) phần khí thanh có nguồn gốc từ thủy gọi là khí trong thủy (đây là ý thủy thời hóa khí mà Đường Tông Hải nhắc đến); (2) phần thủy trọc

Trang 25

Thận khí hóa Bàng quang nếu rối loạn có hai trường hợp xảy ra: (1) Thận khí hóa Bàng quang quá nhiều, dẫn đến phần khí trong thủy được hấp thu trở lại cơ thể nhiều hơn, lượng thủy trọc ít đi, cô đặc lại dẫn đến nước tiểu vàng, ít; (2) Thận khí Bàng quang không hoàn thành, thủy dịch trữ lại tại Bàng quang quá nhiều sẽ gây tăng lượng nước tiểu, và nước tiểu nhạt màu do không được cô đặc, hoặc thủy dịch tích trữ tại Bàng quang quá nhiều sẽ tràn

ra ngoài bì phu gây thủy thũng, lúc đó lượng nước tiểu cũng sẽ ít đi

Thận khí hóa Bàng quang và Thận chủ thủy phối hợp với nhau để giữ cân bằng lượng thủy dịch trong cơ thể Thận khí hóa Bàng quang điều chỉnh tăng hoặc giảm quá trình thải trừ thủy dịch Thận chủ thủy, thủy tức là thủy dịch toàn thân, chủ ở đây có nghĩa là điều tiết lượng thủy dịch trong cơ thể Khi thủy dịch trong cơ thể dư thừa, Thận chủ thủy sẽ gia tăng

ức chế lên quá trình Thận khí hóa Bàng quang, làm cho Thận khí giảm khí hóa Bàng quang dẫn đến tăng lượng thủy dịch để Bàng quang tống xuất ra ngoài Khi cơ thể thiếu tân dịch, Thận chủ thủy giảm ức chế lên quá trình Thận khí hóa Bàng quang, làm cho Thận khí tăng khí hóa Bàng quang, khí trong thủy sẽ được tạo ra nhiều hơn (khí này từ đó mà lên Phế, biến thành tân dịch) từ đó mà tân dịch được giữ lại cơ thể nhiều hơn, nước tiểu sẽ cô đặc hơn, vàng hơn, lượng nước tiểu ít đi

Thủy trọc sau khi được Thận khí hóa hoàn thành sẽ được trữ tại Bàng quang, khi đầy sẽ được Bàng quang truyền tống ra ngoài cơ thể, chính là nước tiểu Quá trình truyền tống nước tiểu cần điều kiện: (1) khí lực của Bàng quang sung mãn; (2) chức năng Thận chủ tiền

âm hậu âm bình thường Bàng quang bị cản trở chức năng truyền tống gây triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu lắt nhắt, tiểu gấp Nếu Thận không làm chủ đóng mở tiền âm dẫn đến đi tiểu không tự chủ

Khí trong thủy sau khi được Thận khí hóa Bàng quang hình thành sẽ thực hiện nhiều chức năng: (1) góp phần hình thành vệ khí; (2) vận lên Phế để thành tân dịch; (3) vận lên Tâm

để thanh Tâm hỏa

Trong chức năng hình thành vệ khí, khí trong thủy theo Túc thái dương Bàng quang kinh lên Phế, từ đây hợp với phần của Tông khí hình thành nên vệ khí Do đó, Phế chủ biểu, Thái dương kinh cũng chủ biểu, ngoại tà khi tấn công vào cơ thể trước hết phải qua được Thái dương kinh, đấu tranh với vệ khí nơi bì mao tấu lý rồi mới vào đến các cơ quan tạng phủ khác

Vệ khí sau khi được hình thành, vì bản tính nhanh mạnh, sẽ chạy bên ngoài lòng kinh mạch, phát tán ra ngoài đến tấu lý rồi bì mao Chức năng của vệ khí: (1) bảo vệ cơ thể kháng lại

sự xâm nhập của ngoại tà; (2) nuôi dưỡng, đảm bảo sự toàn vẹn chức năng của lớp bì mao

Trang 26

tấu lý; (3) điều hòa việc đóng mở bì khổng (lỗ chân lông) qua đó điều hòa bài tiết mồ hôi; (4) thông qua điều hòa bài tiết mồ hôi điều hòa thân nhiệt và tân dịch của cơ thể

Vệ khí được hình thành với sự tham gia của 3 tạng: (1) Tỳ vận hóa thủy cốc thành tinh khí; (2) Phế hình thành tông khí; (3) Thận khí hóa Bàng quang Do đó nếu một trong ba chức năng trên có trở ngại thì vệ khí sẽ suy yếu

Hậu quả của việc vệ khí suy yếu bao gồm: (1) ngoại tà dễ xâm nhập gây bệnh, lâm sàng gặp người dễ mắc ngoại cảm khi thay đổi thời tiết; (2) da lông không được tươi, nhuận, sáng bóng; (3) vệ khí hư không đóng mở lỗ chân lông điều hòa gây rối loạn sự bài tiết mồ hôi như tự hãn, đạo hãn, vô hãn; (4) thân nhiệt của cơ thể không được duy trì ổn định Không giống như vòng tuần hoàn của dinh khí, vệ khí tuần hành trong cơ thể theo con đường riêng độc lập với dinh khí Con đường vận hành của vệ khí phức tạp hơn, nhưng tóm lại có thể xem như ban ngày vệ khí vượng ở phần biểu gọi là “xuất dương”, ban đêm vệ khí vượng ở phần lý gọi là “nhập âm” Do đó, vào ban đêm, khi ngủ cần phải giữ cơ thể tránh ngoại tà vì lúc này vệ khí đi phần âm nhiều, phần dương ít nên khả năng bảo vệ cơ thể của

vệ khí giảm xuống

Xuất dương nhập âm của vệ khí là phù hợp với điều kiện sinh lý của cơ thể Ban ngày, khi

tứ chi thân thể hoạt động nhiều thì vệ khí đi ra ngoài để tạo thành hoạt động, ban đêm vệ khí phải thu về âm, phải được tiềm giữ, lúc đó thần mới yên và con người mới có thể ngủ

Vệ là dương, dinh là âm, nên khi dương không nhập âm, thì không ngủ được, ý nói rằng vệ khí còn hoạt động bên ngoài thì thần không được yên mà không ngủ được

Vệ khí là khí hung hãn có tác dụng đấu tranh tà khí bảo vệ cơ thể Trong ôn bệnh, khi tà đã vào phần âm (dinh, huyết), do ban ngày vệ khí đi ở phần dương không gặp được tà khí nên không phát sốt, đến đêm khi dương nhập âm, vệ khí mới gặp đấu tranh với tà khí, chính tà giao tranh gây phát nhiệt, đến lúc sáng thì vệ khí lại xuất dương, nên sốt lui Đây là cơ chế của chứng ôn bệnh thời kỳ dinh huyết, ban đêm sốt, đến sáng thì sốt lui

Trong chứng âm hư, do ban ngày vệ khí đi ở phần dương, giữ gìn đóng mở bì khổng Đến đêm, vệ khí nhập âm, nếu phần âm đầy đủ thì sẽ tiềm tàng được vệ khí, khiến vệ khí yên tĩnh, nếu âm hư không đủ sức tiềm tàng vệ khí, lúc đó vệ khí đi ra ngoài gây phát sốt, kèm theo vệ khí thoát ra ngoài kéo theo tân dịch ra ngoài thành mồ hôi Gọi là “âm hư sinh đạo hãn”

Một trong các chức năng của khí trong thủy là hình thành tân dịch Bản chất của khí trong thủy là từ thủy dịch được Thận khí hóa Bàng quang mà thành, nên khi khí này ngưng tụ lại

sẽ thành tân dịch

Thận chủ thủy chịu trách nhiệm điều tiết để giữ cân bằng lượng tân dịch trong cơ thể vừa

đủ, không thừa và không thiếu thông qua tác động làm ức chế hay kích thích quá trình Thận khí hóa Bàng quang Ngoài ra, Thận chủ thủy còn giữ nhiệm vụ phân bố lượng tân dịch trong cơ thể đến đúng nơi mà cơ thể cần, cũng như tham gia xúc tiến hình thành một số dạng tân dịch trong cơ thể như nước miếng (tiết ra lúc bình thường không ăn uống, giúp

Trang 27

cho miệng luôn được nhuận, tiết qua hai huyệt Kim tân và Ngọc dịch), hoặc như là phần tân dịch trong tinh dịch của người nam cũng là từ tân dịch của Thận hóa sinh

Vì hai nhiệm vụ điều tiết và phân phối tân dịch này mà Thận được xem là chủ cả năm loại chất dịch trong cơ thể: Tâm chủ mồ hôi, Tỳ chủ nước bọt (tiết ra lúc ăn uống), Phế chủ nước mũi, Can chủ nước mắt, Thận chủ nước miếng Do đó, khi tân dịch trong cơ thể bất thường, ngoài việc xét đến tạng phủ chịu trách nhiệm về loại dịch đó còn phải xem xét đến Thận chủ thủy có vấn đề gì hay không Trong điều trị, ngoài việc sử dụng các thuốc sinh tân, nếu không hiệu quả thì chú ý thêm các thuốc bổ Thận âm giúp hình thành tân dịch

Khí trong thủy do là khí, tính khinh thanh (nhẹ và trong) nên theo xu hướng sẽ thăng lên trên thượng tiêu Ở thượng tiêu, tạng cao nhất chính là Phế Phế như chiếc lộng che phủ toàn bộ thượng tiêu nên khí lên đến đây thì dừng (xem hình) Khí này nguồn gốc từ thủy, khi thăng lên Phế thì được Phế ngưng tụ lại thành thủy thanh

Figure 4 Sơ đồ tạng phủ trong cơ thể

Vì là tạng cao nhất của cơ thể, khi khí ngưng tụ thành thủy thanh, Phế chịu trách nhiệm phân tán lượng thủy thanh này đi khắp toàn bộ cơ thể để nhuận dưỡng toàn thân Thủy này theo khí mà hành, đi theo con đường của Tam tiêu Do đó nếu: (1) Phế khí không thể thông điều thủy đạo; hoặc (2) Tam tiêu tắc trở đều gây cản trở vận hành thủy dịch dẫn đế thủy thũng Phế ở thượng tiêu, nên nếu Phế không phân được thủy dịch đi toàn thân thì người bệnh sẽ phù, mà trước tiên là ở mặt

Thủy sau khi đi khắp cơ thể được các cơ quan tạng phủ sử dụng, sản phẩm tạo thành là thủy trọc sẽ được chuyển đến Bàng quang theo con đường Tam tiêu Như vậy, chu trình tuần hoàn của thủy dịch trong cơ thể được tóm tắt trong sơ đồ dưới đây

Trang 28

Figure 5 Tuần hoàn thủy dịch trong cơ thể (Nguồn: Trần Quốc Bảo (2011), Lý luận cơ bản y học cổ truyền, NXB Y Học)

Tân dịch gồm nhiều loại dịch trong cơ thể, cả bên trong lẫn tiết ra bên ngoài như tân dịch của tạng phủ, nước mắt, nước bọt, dịch khớp,…Tân dịch làm nhiệm vụ nuôi dưỡng và tư nhuận các cơ quan tạng phủ Sự vận hành của tân dịch phụ thuộc vào sự vận hành của khí Tân dịch đi chung với huyết, và là một thành phần của huyết, vận chuyển trong lòng mạch Ngoài ra tân dịch có thể đi theo con đường của Tam tiêu thấm suốt toàn thân Tân dịch theo khí mà di chuyển, nên cũng theo khí mà thoát

Thận chủ thủy giúp duy trì và điều tiết trao đổi thủy dịch trong cơ thể Trong quá trình hấp thu và chuyển hóa tân dịch tại các tạng phủ như Tỳ vận hóa thủy thấp, Tiểu trường phân biệt thanh trọc, Đại trường tế bí biệt trấp, Phế thông điều thủy đạo, cho đến trao đổi bài tiết

ở từng cơ quan tạng phủ đều chịu sự chi phối từ tạng Thận Trong đó, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Thận khí hóa Bàng quang và Thận chủ thủy Thận khí hóa Bàng quang làm sản sinh và trao đổi tân dịch nhanh lên, ngược lại Thận chủ thủy làm sản sinh và phân bố tân dịch chậm lại Khi hai chức năng này cân bằng, thì tân dịch trong cơ thể được giữ cân bằng

Tân dịch là thủy dịch, nhưng được phân thành hai loại dựa vào bản chất: (1) dịch là chất đặc hơn, di chuyển chậm hơn, chủ yếu ở khớp xương, tạng phủ; (2) tân là chất loãng hơn, chảy nhanh hơn, chủ yếu phân bố ở bì phu, cơ nhục, các khiếu, thấm qua huyết mạch

Tân dịch có tác dụng tư nhuận và nhu dưỡng Trong đó tân chủ yếu tư nhuận, dịch chủ yếu nhu dưỡng Tại khớp làm cho khớp co duỗi dễ dàng, tại cốt tủy thì làm cho cốt tủy sung mãn

Trang 29

Tân dịch được đào thải ra ngoài sẽ mang theo một phần nhiệt và một số sản phẩm chuyển hóa không cần thiết của cơ thể Các hình thức đào thải tân dịch như qua đường đại tiện, tiểu tiện, mồ hôi Do đó, một khi các con đường này gặp rối loạn, các chất độc sẽ tích tụ lại trong cơ thể mà gây bệnh

Tân và dịch tuy là hai loại, nhưng trong quá trình vận hành có thể chuyển hóa bổ sung cho nhau, trong bệnh lý cũng ảnh hưởng qua lại với nhau, nên thường biện luận tân dịch chung với nhau Tuy nhiên, trong trường hợp bệnh lý “thương tân”, “thoát dịch”, khi biện chứng cần phải phân biệt

Ngoài ra, còn phân biệt ở quá trình hình thành, trong đó Tiểu trường chủ dịch, ý nói là chất thủy dịch do Tiểu trường gạn lọc để đưa qua Bàng quang chủ yếu là tạo thành dịch, có công năng nuôi dưỡng; còn Đại trường chủ tân, tức là chất thủy dịch do Đại trường tế bí biệt trấp

để đưa qua Bàng quang chủ yếu là tạo thành tân

Tinh dịch của người nam được hình thành từ tinh sinh dục do Thận tổng hợp và phần tân trong tân dịch Do đó, khi mất cân bằng giữa tinh sinh dục và tân sẽ gây ra các rối loạn trong tinh dịch như: tinh loãng, thiểu tinh Mặc dù tinh sinh dục là yếu tố quyết định chính

đế chất lượng của tinh dịch, tuy nhiên khi phần tân suy kém thì khả năng thụ thai cũng giảm

đi Nên trong trường hợp Nhiệt thương tinh thất, nhiệt làm tổn phần tinh sinh dục lẫn phần tân, điều trị ngoài thanh nhiệt, sinh tinh cần phải thêm dưỡng âm sinh tân

Tinh hậu thiên theo huyết đến Thận, được Thận dùng tinh tiên thiên làm động lực chuyển hóa thành dạng tinh đặc trưng của Thận và được dự trữ tại tạng Thận Tinh này là nguồn vật chất tinh vi của cơ thể, dạng vật chất tích trữ, và được dùng cho nhiều hoạt động sống của cơ thể: (1) tinh vừa là vật chất vừa là động lực thúc đẩy cơ thể phát triển; (2) tinh tạo

ra sự phát dục của cơ thể gọi là thiên quý; (3) tinh đảm bảo khả năng sinh sản của cá thể; (4) tinh sinh tủy hóa huyết; (5) tinh sinh tủy dưỡng cốt; (6) tinh sinh tủy hình thành và nuôi dưỡng não

(1) Tinh vừa là vật chất vừa là động lực thúc đẩy cơ thể phát triển Như đã bàn ở trên, tinh của mỗi cơ quan tạng phủ được chúng tổng hợp từ huyết và dự trữ để sử dụng cho chính chúng Tinh này có thể hóa thành huyết, có thể hóa thành khí Tinh có nguồn gốc từ huyết, nên có khả năng nuôi dưỡng, cơ muốn phát triển to ra, lớn lên thì phải có tinh, xương muốn dài ra, chắc hơn thì cũng cần tinh, tương tự với tất cả

cơ quan trong cơ thể Tinh có thể hóa khí, ví tinh như củi, khí như lửa, củi cháy thì thành lửa Do đó, có thể xem tinh là nguồn năng lượng dự trữ cho mỗi cơ quan tạng phủ Tinh hóa khí sẽ làm cho cơ quan tạng phủ có năng lượng để thực hiện nhiệm

vụ của chúng, như Tỳ có khí thì mới vận hóa được thủy cốc, Thận có khí thì mới khí

Trang 30

hóa được Bàng quang Khi cơ quan tạng phủ có khí thì sẽ thực hiện được việc khí hóa của chúng, kết quả là chúng mới tổng hợp ra tinh, huyết của chính chúng và làm cho chúng phát triển lớn lên, vì vậy mới nói rằng tinh là động lực thúc đẩy cơ thể phát triển Nên câu tinh khí cùng một chất, tinh huyết đồng nguyên là như vậy Khi

cơ thể thiếu tinh, thì gầy ốm, hoặc nếu đang béo thì sẽ sụt cân

(2) Tinh tạo ra sự phát dục của cơ thể Tinh tiên thiên được hình thành từ khi tinh cha kết hợp với tinh mẹ, sau khi hình thành tinh tiên thiên luôn được bổ sung bằng tinh hậu thiên Theo thời gian, tinh của cơ thể phát triển lớn mạnh dần, đến thời điểm nhất định, khi tinh phát triển đủ mạnh thì sẽ tạo ra sự phát dục của cơ thể, tức là cơ thể có khả năng sinh sản như: cơ quan sinh dục phát triển, nữ thì có kinh nguyệt, nam thì có tinh dịch Và cũng theo thời gian, tinh sẽ giảm dần, đến lúc tinh suy kiệt thì khả năng sinh sản cũng mất đi Như vậy có thể xem Thiên quý là chỉ dạng tinh được tạo ra khi Thận tinh phát triển ở mức độ nhất định và thiên quý có chức năng duy trì khả năng sinh sản Cần làm rõ, thiên ở đây trong chữ thiên can (tức là mười thiên can gồm có giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý), quý ở đây chính là chữ quý trong mười thiên can, quý thuộc hành thủy, là âm thủy (nhâm là dương thủy), như vậy thiên quý là chỉ tạng âm thủy trong cơ thể, chính là tạng thận (3) Tinh tạo thành tinh sinh dục Tinh sinh dục ở nam hình thành nên tinh dịch, ở nữ hình thành nên kinh nguyệt Nam tinh dịch sung mãn, ở nữ kinh nguyệt còn thì mới

(6) Tinh sinh tủy, não là bể của tủy, não có sung mãn hay không là do tủy có đầy đủ mà nên Não là phủ của nguyên thần, ý nói thần trú ngụ tại não, khi não không được nuôi dưỡng thì thần cũng suy yếu Đầu là nơi chứa não, não thông với tai mắt, nên khi tinh bất túc thì đầu cảm giác nhẹ lâng lâng, tai không nghe rõ, mắt không nhìn

rõ Não là cơ quan trọng yếu do là nơi chứa thần, nên các trường hợp chấn thương vùng đầu gây nguy hiểm tính mạng, hoặc giả có thể gây yếu liệt do tổn thương thần, làm thần không chỉ huy được hoạt động của tứ chi mà gây yếu liệt Cũng cần nhắc rằng, Tâm tàng thần, não là phủ của nguyên thần, ý nghĩa ở đây là Tâm là tạng cai quản thần minh của cơ thể, là tạng chịu trách nhiệm nuôi dưỡng và làm cho thần hoạt động, còn não chỉ là nơi thần trú ngụ Có thể hình dung Tâm như là người điều khiển phần mềm, não là CPU, thần là phần mềm Không có người điều khiển thì phần mềm không tự làm việc được, CPU mà bị hư thì cũng không làm việc được, khi CPU hư thì phần mềm trong nó cũng hư theo

Trang 31

Figure 6 Minh họa quá trình chuyển từ tinh thành khí

Khí trong thủy do Thận khí hóa Bàng quang hình thành, khi theo con đường Tam tiêu thượng thăng lên Tâm Phế, thì có tác dụng thanh tâm hỏa, vì bản chất của khí này từ thủy, nên mang một phần tính hàn của thủy Tâm là quân hỏa, như lửa của mặt trời, một mình ngự ở thượng tiêu, Thận chủ thủy, lại ở hạ tiêu, cho nên để điều hòa và duy trì ổn định nhiệt

độ cơ thể toàn thân thì cần có sự giao thông giữa Tâm và Thận Trong đó, Thận thủy sẽ thông qua chức năng Thận khí hóa Bàng quang là thanh tâm hỏa, Tâm hỏa sẽ theo đường kinh lạc đến để ôn Thận dương Con đường kinh lạc từ Tâm đến Thận nhờ sự thông nối từ Tâm với Tiểu trường, Tiểu trường đến Bàng quang, Bàng quang qua Thận

Theo Hải Thượng Lãn Ông, Thận tượng trưng là quẻ Khảm, hành thủy; Tâm tượng trưng

là quẻ Ly, hành hỏa; hỏa ở dưới, thủy ở trên, như bếp lò, có thể nấu chín cơm nước; ngược lại hỏa ở trên, thủy ở dưới thì thủy đi đường thủy, hỏa đi đường hỏa không giao thông được với nhau gọi là hỏa thủy vị tế, tức không tương trợ được cho nhau Điều này cũng phù hợp với quy luật âm ở dưới thì thăng, dương ở trên thì giáng mà tạo ra sự giao hòa âm dương, phát sinh sự sống

Figure 7 Quẻ Thủy hỏa ký tế

Hình dung quan hệ ký tế giữa Tâm và Thận bằng mô hình tuần hoàn của nước trong tự nhiên: Tâm như mặt trời, ở trên, tỏa sức nóng rất mãnh liệt; sức nóng này được Thận ở dưới như là đất sẽ hấp thu sức nóng từ mặt trời; đất nóng lên sẽ làm nước bốc hơi và bay lên trời tạo thành mây; Phế là tạng cao nhất, vai trò như bầu trời; mây tích tụ đủ sẽ thành mưa rơi

Trang 32

xuống mặt đất như Phế thông điều thủy đạo; mây và mưa làm giảm sức nóng của mặt trời làm cho vạn vật sinh sôi phát triển thuận lợi

Khi Tâm và Thận không thể giao thông phát sinh chứng Tâm thận bất giao Tuy nhiên chứng này có nhiều nguyên nhân và cơ chế chứ không chỉ là một Các nguyên nhân bao gồm: (1) Thận âm hư trước, do Thận chủ thủy toàn thân, Thận âm hư, thủy dịch suy kiệt, Tâm âm không được Thận thủy tư nhuận nên Tâm âm hư, Tâm âm hư không tiềm được Tâm dương dẫn đến Tâm hỏa vượng thịnh, điều trị cần bổ Thận âm, bổ Tâm âm, và thanh Tâm hỏa, dùng các bài thuốc như Thiên vương bổ tâm đơn, Hoàng liên a giao thang, tuy nhiên cần chú ý bổ Thận âm; (2) Tâm âm hư trước, dẫn đến Tâm hỏa vượng thịnh, hỏa thiêu đốt thủy dịch làm Thận âm suy kiệt, chứng này điều trị như trên, nhưng chú trọng thanh Tâm hỏa, bổ Tâm âm; (3) Thận dương hư, không thể khí hóa Bàng quang, nên khí trong thủy không được hình thành để lên thượng tiêu thanh Tâm hỏa, lúc này Tâm hỏa vượng thịnh, Tâm âm có thể hư hoặc không, điều trị cần bổ Thận dương là chủ yếu, thứ là thanh Tâm hỏa, sử dụng bài Giao thái hoàn (gồm Nhục quế bổ Thận dương, Hoàng liên thanh Tâm hỏa)

Figure 8 Tuần hoàn nước trong tự nhiên

Con đường dẫn hỏa từ Tâm xuống Thận đi qua Tiểu trường và Bàng quang, trên lâm sàng dùng lý giải triệu chứng khi Tâm có nhiệt thì Tiểu trường có nhiệt, gây nên triệu chứng tiểu

đỏ, do Tiểu trường đưa hỏa nhiệt qua Bàng quang Kinh Bàng quang và Tiểu trường nối với nhau, nên khí trong thủy từ kinh Thái dương Bàng quang truyền qua kinh Thái dương Tiểu trường, tạo thành mạng lưới Thái dương kinh chủ biểu, kháng lại ngoại tà xâm nhập

Trang 33

Thận chủ hỏa, Thận lại ở hạ tiêu, nên Thận có tác dụng ôn ấm hạ tiêu Khi Thận hỏa suy thì thắt lưng và gối lạnh đau Thận hỏa còn tác dụng khí hóa Bàng quang và ôn Tỳ dương

Tỳ dương vận hóa thủy cốc ăn vào, để cung cấp hỏa cho Tỳ dương thực hiện chức năng này, Thận dương cần liên tục bổ sung hỏa cho Tỳ dương Do đó, nếu Thận dương suy kém thì Tỳ dương suy kém không thể vận hóa thủy cốc, gây triệu chứng điển hình là ngũ canh

tả, tức đi tiêu chảy vào canh năm (giờ Dần, khoảng 3 giờ sáng đến 5 giờ sáng) Giờ Dần là giờ thịnh của Phế, Phế chủ tuyên phát túc giáng, lại chủ thông điều thủy đạo, Thận dương

hư, thủy đình đọng, nay gặp Phế giáng thủy xuống, thủy tràn gây triệu chứng tiêu chảy Tới giờ Mão, Đại trường khí vượng, tế bí biệt trấp làm giảm bớt thủy dịch tràn lan mà triệu chứng đi tả giảm Cũng vì Thận dương không ôn Tỳ dương nên thủy thấp tràn lan gây ngũ canh tả, nếu muốn trừ chứng này không chỉ ôn Thận dương mà còn phải ôn Tỳ dương, tức

là lấy thổ chế thủy, theo Định Ninh Lê Đức Thiếp trong Đông y số điển thì nên kết hợp Nhị trần thang với Tứ thần hoàn

Thận là thủy tạng, chủ thủy, lại chủ hỏa nên hỏa của Thận được gọi là Long hỏa Long hỏa tính nhiệt ở hạ tiêu, ở chung với thủy tính hàn cũng ở hạ tiêu Bình thường có sự cân bằng giữa Thận âm Thận dương, nên có sự cân bằng giữa hàn và nhiệt, giúp hạ tiêu ổn định nhiệt

độ Nếu Thận dương suy yếu, sẽ bị Thận âm mang tính hàn lấn át, do đó Thận dương (Long hỏa) do tránh khí hàn thủy sẽ thượng thăng lên thượng tiêu, nơi có Tâm hỏa cư ngụ, sẽ giúp

ôn Long hỏa Khi đó, thượng tiêu vừa có Quân hỏa vừa có Long hỏa, nên thượng tiêu phát nhiệt gây triệu chứng như khát nước, lở miệng, huyễn vựng, mắt đỏ, mặt đỏ…trong khi hạ tiêu chỉ còn hàn thủy chủ quản nên gây triệu chứng hàn chứng như hai chân lạnh, phù thũng, nước tiểu trong lượng nhiều Chứng này gọi là Chân dương nhiễu loạn, cần phân biệt với chứng thượng nhiệt hạ hàn do Tâm thận bất giao

Can tàng huyết có nghĩa là Can lưu trữ và điều tiết lượng huyết trong toàn bộ cơ thể Can chủ trì việc phân phối huyết đến nơi nào cần nhiều, nơi nào cần ít theo nhu cầu và theo thời gian Ví dụ, ban ngày, mắt cần quan sát, tay chân cần hoạt động thì Can điều tiết huyết đến mắt đến tay chân để thực hiện chức năng này Ban đêm, mắt không cần quan sát, tay chân không cần hoạt động, nên Cam thu huyết về để phân phối cho các cơ quan tạng phủ khác Nếu ban đêm mà Can không điều tiết huyết đến mắt giảm lại thì mắt vẫn nhìn mà không ngủ được, tay chân vẫn hoạt động mà không ngủ được, huyết không tàng thì thần không tàng, nên không đi vào giấc ngủ

Can tàng huyết còn để cân bằng giữa Can âm và Can dương, khi Can huyết kém thì Can

âm không thể tiềm Can dương gây chứng Can dương vượng

Can tàng huyết, huyết này nuôi dưỡng mạch Xung, Nhâm từ đó đến nuôi dưỡng Bào cung, tạo thành kinh nguyệt lúc bình thường ở nữ, hoặc nuôi dưỡng bào thai trong lúc mang thai Nếu Can huyết kém thì Xung Nhâm thất dưỡng dẫn đến kinh nguyệt rối loạn, hoặc khó thụ thai ở nữ

Can tàng huyết phối hợp với Can chủ sơ tiết còn để ngăn ngừa xuất huyết Khi Can khí không thể sơ tiết, làm khí nghịch, huyết theo khí nghịch mà xuất ra ngoài, như trong chứng

Trang 34

Can khí thượng nghịch gây ho ra máu Vì mối liên hệ huyết theo khí nghịch, mà Đường Tông Hải trong Huyết chứng luận đề xuất trị huyết chứng cần Chỉ huyết sau đó Ninh huyết

kế đến Khử ứ sau đó mới Bổ huyết Người bệnh đang xuất huyết, trước tiên phải làm ngừng xuất huyết (chỉ huyết), sau khi chỉ huyết để cho không xuất huyết trở lại thì phải làm cho huyết được yên (ninh huyết), huyết được yên rồi thì khử ứ, do huyết đã xuất ra ngoài là huyết chết sẽ tạo thành huyết ứ, phải khử huyết ứ đi để kinh lạc thông thoáng thì tân huyết mới có thể sinh ra, nên bổ huyết phải để sau cùng

Can muốn tàng được huyết thì ngoài việc Can khí sung mãn thì phải có đủ huyết cho Can tàng Do đó, nếu Can thiếu huyết thì chức năng Can tàng huyết cũng không thể thực hiện được Do đó, Can âm hư hoặc Can huyết hư thì khó vào giấc ngủ do Can thiếu huyết thì không thể tàng huyết

Can nhận huyết dịch và từ đây tổng hợp thành Can tinh Tinh này được Can gạn lọc thành dạng tinh trấp Tinh trấp này dồn xuống phủ Đởm Khi đến Đởm thì gọi là Đởm trấp Đởm trấp được tàng trữ tại phủ Đởm để phục vụ cho công năng của nó

Đởm vừa là phủ vừa là phủ kỳ hằng Phủ có chức năng truyền tống, nhưng Đởm phủ lại tàng trữ đởm trấp nên gọi là phủ kỳ hằng Chức năng tàng trữ này gọi là “trung tinh chi phủ”, tinh ở đây chỉ tinh trấp Đởm còn có chức năng “trung chính chi quan”, tức Đởm có chức năng giữ cho các tạng phủ khác làm việc một cách ngay thẳng, đúng đắn “Quyết đoán xuất yên” tức Đởm giúp cho Thần đưa ra quyết định một cách sáng suốt, dứt khoát, mạnh dạn Do đó, khi Đởm khí hư thì khả năng quyết đoán giảm, Thần không được Đởm hỗ trợ, nên hay khiếp sợ Gặp trong chứng Tâm đởm khí hư

Đởm trấp có màu vàng, vị đắng, nên khi Đởm mất khả năng tàng trữ đởm trấp thì đởm trấp tràn ra ngoài gây hoàng đản, miệng đắng Các nguyên nhân gây Đởm không tàng được đởm trấp bao gồm: (1) Can không sơ tiết cho Đởm; (2) thấp, nhiệt, có thể là ngoại tà hay nội tà đều có thể quấy rối Đởm; (3) Đởm khí hư không thể tàng trữ đởm trấp

Can chủ sơ tiết, Đởm tàng trữ tinh trấp của Can chính là thừa hưởng tính sơ tiết của Can Đởm có chức năng sơ tiết cho hoạt động nghiền nát và giáng thức ăn của Vị, vận hóa của

Tỳ, phân biệt thanh trọc của Tiểu trường, tế bí biệt trấp của Đại trường Do đó, khi Đởm mất khả năng sơ tiết thì các chức năng trên bị rối loạn như Vị không thể giáng gây nôn ói,

Tỳ không vận hóa gây đầy bụng khó tiêu tiêu chảy, Tiểu trường không phân biệt thanh trọc gây tiêu chảy, hoặc Đại trường không tế bí biệt trấp mà gây tiêu chảy

Can huyết nuôi dưỡng cân, làm cho cân mềm mại, co duỗi dễ dàng, nếu Can huyết kém thì can thiếu nuôi dưỡng dẫn đến cân teo, co rút, khớp xương cứng co duỗi khó khăn Cân nối

Trang 35

liền trăm cốt, là cơ sở cho sự vận động Can khí giúp cho cân vận động, nếu Can khí hư thì gây yếu liệt, Can khí vượng thì gây co giật, run lắc, còn gọi phong động

Thường gặp câu “trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự diệt” Câu này chỉ trường hợp Phong tà gây hao khí, làm vận hành khí huyết bị ứ trệ, tuy nhiên phong tà đã bị tán ra ngoài, chỉ còn lại hậu quả là khí huyết ứ trệ, nên lúc đó không cần khu phong, chỉ cần hành khí hoạt huyết Còn nếu ngoại phong vẫn còn thì tất phải khu phong Câu này cũng không thể áp dụng trong trường hợp Can phong nội động, tức Can âm hư dẫn đến Can dương vượng phát sinh phong động, điều trị cần phải bình can, tiềm dương, tức phong, thanh nhiệt, dưỡng can âm Nếu lạm dụng dùng các thuốc hoạt huyết có tính nóng táo sẽ càng làm hao huyết, tổn âm, Can âm hư, Can phong nội động càng nặng thêm Ngoài ra, trường hợp sốt cao trong ôn bệnh, làm phần Can âm huyết hư suy, không dưỡng được cân, gây triệu chứng

co rút, co giật, lúc đó điều trị cũng cần chú ý phần huyết nhưng là bổ Can huyết và thanh nhiệt

Sơ tiết có nghĩa là làm cho thư thái, điều đạt, khoan thai Can chủ sơ tiết là Can khí làm cho các tạng phủ trong cơ thể hoạt động một cách thư thái, trơn tru Can không chỉ sơ tiết cho

hệ thống vị trường mà còn sơ tiết cho tất cả các hoạt động của cơ thể từ chức năng tàng thần của Tâm, đến chức năng truyền tống của Đại trường

Nếu Can mất sơ tiết thì Tâm tàng thần rối loạn dẫn đến dễ tức giận cáu gắt, Phế không tuyên phát được khí gây Phế khí nghịch thành ho, Tỳ không vận hóa được thủy cốc nên đầy bụng, khó tiêu, Vị không giáng được gây nôn ói, Bàng quang không truyền tống được nước tiểu thuận lợi gây lâm chứng, Đại trường không truyền tống được phân thư sướng nên gây chứng tiết tả, táo bón Can còn sơ tiết cho hoạt động tình dục, Can chủ cân, nên khi Can khí

có vấn đề thì cương dương và xuất tinh đều bị rối loạn

Can không thể sơ tiết sinh chứng khí uất, khí uất thì huyết ứ

Can tàng hồn, hồn là đáp ứng cảm xúc của con người với tác động của môi trường và xã hội bên ngoài Do đó, Can khí không sơ tiết cho hồn, thì gây dễ tức giận, nếu Can khí hư thì hồn suy dẫn đến giảm đáp ứng cảm xúc với bên ngoài, gây ra thờ ơ, trầm cảm

Can huyết dưỡng hồn, huyết hư thì hồn không yên sinh ra giấc ngủ nhiều mộng mị

Huyết hành trong mạch do Tâm khí thúc đẩy, Phế khí vận hành, Tỳ khí giữ chạy đúng hướng, Can khí giữ cho yên tĩnh Nếu Tỳ khí suy kém không thể làm cho huyết chạy đúng hướng thì huyết chạy ra ngoài mạch gây nên xuất huyết Tất cả các hiện tượng xuất huyết như: khái huyết, thổ huyết, tiện huyết, nục huyết, sang huyết, cường kinh, băng huyết,…đều phải xem xét chức năng của Tỳ thống nhiếp huyết có bình thường hay không

Các nguyên nhân gây xuất huyết bao gồm: (1) khí hư (Can, Tỳ) làm huyết không được giữ yên trong lòng mạch; (2) huyết ứ làm cản trở lưu thông của huyết trong mạch, dẫn đến

Trang 36

huyết xuất ra ngoài; (3) nhiệt bức huyết vọng hành; (4) Tâm âm không nuôi dưỡng được mạch, làm mạch dễ vỡ gây xuất huyết; (5) chấn thương, sang thương, vết thương hở gây tổn thương mạch gây xuất huyết; (6) nhiệt làm tổn thương huyết lạc gây xuất huyết; (7) huyết theo khí nghịch

Tỳ vận hóa thủy cốc thành tinh vi, Phế túc giáng thiên khí thành thanh khí, Thận khí hóa Bàng quang thành khí trong thủy, tất cả được chuyển đến Phế để tổng hợp thành Tông khí, cho nên gọi Phế chủ tất cả các loại khí trong cơ thể

Khí này được Phế tuyên tán khi khắp toàn thân, như trên đã bàn, khí này khi đến cơ quan tạng phủ nào thì sẽ được cơ quan tạng phủ đó thu nhận và tổng hợp thành khí riêng của chúng Ví như, khí đến kinh lạc thành kinh lạc khí, khí đến Tỳ thành Tỳ khí

Ngoài ra, Phế chức năng chủ âm (thanh), Phế khí trong ngực, được truyền tống qua thanh quản tạo thành âm thanh, giọng nói Điều kiện để âm thanh giọng nói bình thường: (1) Tâm tàng thần, thần minh phải sáng suốt; (2) Phế khí phải sung mãn; (3) thanh quản phải thông suốt và toàn vẹn Khi Phế khí suy thì tiếng nói nhỏ yếu, vô lực; khi thanh quản không thông suốt thì giọng nói khàn, thay đổi, biến dạng; khi thần không sáng suốt, không thể điều khiển

sự vận hành của Phế khí và vận động của vùng thanh quản và lưỡi thì tiếng nói không thể phát ra, hoặc bị biến dạng Ví như trong chứng trúng phong, não lạc bị tổn thương, thần theo đó mà bị tổn thương, nên bệnh nhân xuất hiện chứng khó nói, do đó trong điều trị dùng thuốc phải khai khiếu tỉnh thần, châm cứu nên kết hợp thêm huyệt trên kinh Tâm và Tâm bào

Chính khí (đối với tà khí) là cách gọi tổng thể về hoạt động công năng bình thường của cơ thể, tức là khả năng tự bản thân điều tiết, khả năng thích ứng với hoàn cảnh, khả năng phòng bệnh chống lại tà khí và khả năng tự khỏi bệnh Phương thức tác dụng của chính khí gồm:

1 Tự mình điều tiết để thích ứng với sự thay đổi của nội và ngoại cảnh để duy trì cân bằng

âm – dương, giữ gìn cơ thể khỏe mạnh

2 Kháng lại tà khí để phòng bệnh hoặc khi cơ thể mắc bệnh thì khu tà và đưa ra ngoài

3 Khả năng cơ thể tự phục hồi sau khi bệnh hoặc khi cơ thể bị hư nhược thì tự mình thay đổi và hồi phục sức khỏe

Tà khí còn gọi là bệnh tà (đối với chính khí) là chỉ các loại nguyên nhân gây bệnh, bao gồm các nhân tố tồn tại ở môi trường bên ngoài và các yếu tố mà cơ thể sản sinh có tác dụng gây bệnh hoặc tổn thương chính khí, ví dụ như lục dâm, thất tình, ngoại thương, đàm ẩm, huyết

ứ, v.v

Phát sinh bất cứ một bệnh nào đều không ngoài rối loạn trạng thái cơ năng của cơ thể, khả năng kháng bệnh suy giảm (chính khí suy); tác động của các nguyên nhân gây bệnh (tà khí thịnh) Khi chính khí cơ thể không đủ sức kháng lại tà khí, hoặc thế lực tà khí vượt quá khả

Trang 37

năng phòng ngự của chính khí thì cơ thể mới phát sinh bệnh tật, gây các rối loạn của tạng phủ, âm dương, khí huyết, tân dịch của cơ thể

Trong trường hợp của ngoại tà xâm nhập cơ thể qua đường bì mao Đầu tiên ngoại tà phải đấu tranh với vệ khí, sau khi thắng vệ khí, vượt qua lớp bì phu và tấu tý thì mới gây bệnh Chính khí của cơ thể được huy động ra biểu để đấu tranh chống chọi lại sự tiến sâu của ngoại tà, vì dồn ra ngoài nên bắt thấy mạch Phù Quá trình đấu tranh sẽ phát sinh ra nhiệt, nên biểu hiện phát sốt, sốt đây chỉ ở ngoài da thịt, khác với sốt của âm hư nội nhiệt từ trong

lý phát ra Tùy vào sự tương quan lực lượng giữa chính khí và tà khí mà xảy ra nhiều tình huống khác nhau, như: (1) chính thắng tà thoái; (2) tà trục chính suy; (3) tà thịnh chính hư; (4) tà chính cầm cự; (5) chính hư tà lưu

Figure 9 Quá trình xâm nhập của tà khí theo đường bì mao (Nguồn: ThS.BS Trần Hoàng, Giảng viên BM Nội khoa Đông Y, Khoa YHCT, ĐHYD TP.HCM)

Tương quan huyết YHCT và YHHĐ

Huyết ứ

Jiangquan Liao và cs (2016)[26] điều tra biểu hiện của mRNA và miRNA trên bệnh nhân nhồi máu não cấp và đau thắt ngực không ổn định có bệnh cảnh huyết ứ và so sánh với người khỏe mạnh Nghiên cứu tìm ra 2 miRNA (miR-146b-5p, miR-199a-5p) và 23 mRNA đích đặc trưng cho bệnh cảnh huyết ứ trên bệnh nhân nhồi máu não cấp và đau thắt ngực không ổn định so với người khỏe mạnh miR-146a-5p có nhiệm vụ điều hòa điều hòa âm tính trên hệ miễn dịch và đáp ứng viêm qua trung gian thụ thể Toll-like 4 (TLR4) và tính

đa hình (miRSNPs) miR-146b-5p có thể làm giảm biểu hiện của TNFα qua con đường IRAK/NF-kB Ngoài ra, miR-146b-5p có liên quan đến sự điều hòa các gen apoptosis và anti-apoptosis miR-199a-5p liên quan đến bệnh cơ tim phì đại

Trang 38

Figure 10 Biểu hiện miR-146b-5p và miR-199a-5p trên bệnh nhân huyết ứ so với người khỏe

mạnh

Linlin Zhao và cs (2014)[46] điều tra sự khác biệt và các chất chuyển hóa trong huyết thanh của bệnh nhân có bệnh mạch vành mạn so sánh bệnh cảnh đàm thấp (n=20) và bệnh cảnh huyết ứ (n=20), sử dụng nhóm đối chứng là người khỏe mạnh (n=16) Kết quả phân tích huyết thanh bằng sắc ký lỏng kết nối khối phổ bằng phương pháp đo thời gian bay (liquid chromatography/quadrupole time-of-flight mass spectrometry, LC-Q-TOF/MS), nhóm nghiên cứu tìm ra 18 marker chuyển hóa khác nhau để giúp phân biệt hai bệnh cảnh đàm thấp và huyết ứ trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn Các marker này liên quan chủ yếu đến chuyển hóa purine, pyrimidine, amino acid Nồng độ các amino acid (trừ phenylalanine) thấp hơn ở bệnh cảnh đàm thấp so với bệnh cảnh huyết ứ Điều này cho thấy rằng có sự khác biệt về rối loạn chuyển hóa amino acid khác nhau ở hai bệnh cảnh trên Ngoài ra ở bệnh cảnh huyết ứ còn tăng tỷ lệ phenylalanine/tyrosine (Phe/Tyr) cao hơn bệnh cảnh đàm thấp, cho thấy sự hoạt hóa hệ miễn dịch ở bệnh cảnh huyết ứ cao hơn đàm thấp Uridine, uric acid, và dUMP tăng cao hơn ở bệnh cảnh huyết ứ so với đàm thấp, trong khi uridine và uric acid là các chất chuyển hóa chính của nucleotide trong thiếu máu cơ tim, và nồng độ uric acid trong huyết thanh liên quan mật thiết với nguy cơ tử vong do bệnh tim

do xơ vữa và bệnh mạch vành Uric acid còn liên quan đến các tổn thương do stress oxi hóa, dUMP cũng liên quan đến stress oxi hóa và uridine liên quan đến chuyển hóa năng lượng Tóm lại, các khác biệt về quá trình viêm, tổn thương oxi hóa, và chuyển hóa năng lượng phản ánh sự khác nhau giữa hai bệnh cảnh đàm thấp và huyết ứ trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn, và có thể đây chính là sự khác nhau về giai đoạn trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn

Trang 39

Figure 11 Phân bố các con đường chuyến hóa Ghi chú: Màu xanh lá là các marker giảm, màu đỏ là marker tăng (so sánh giữa người bệnh mạch vành/người khỏe mạnh); màu vàng là tăng cao, màu xanh dương là giảm thấp (so sánh giữa bệnh cảnh đàm thấp/huyết ứ)

Công trình nghiên cứu dựa trên Dược lý học mạng lưới của nhóm tác giả Shi-JunYue và cs (2017)[45] điều tra tác dụng hoạt huyết của cặp vị thuốc Đào nhân – Hồng hoa cho thấy cặp đôi này có tác động lên các đích liên quan chủ yếu đến 20 con đường tín hiệu, trong đó

có con đường tín hiệu cAMP, con đường tín hiệu calcium, con đường NF-kB và con đường sphingolipid Con đường NF-kB liên quan chính đến tổn thương thiếu máu não và tổn thương viêm Con đường sphingolipid liên quan đến tình trạng thiếu máu và sinh bệnh của đột quỵ Các con đường tín hiệu HIF-1, estrogen và neurotrophin có liên quan mật thiết với

hệ thống thần kinh trung ương và đáp ứng viêm Con đường TNF đóng vai trò quan trọng trong đột quỵ và tổn thương mạch máu Con đường HIF-1 liên quan đến cơ chế bảo vệ thần kinh và kháng apoptosis của tế bào cơ tâm thất Ngoài ra các con đường chuyển hóa khác như phenylalanine, arachidonic acid, arginine và proline cũng chịu tác động của cặp Đào nhân – Hồng hoa này

Trang 40

Figure 12 Các con đường tín hiệu chịu tác động của Đào nhân – Hồng hoa

Ghi chú: Màu xanh là các đích tác động, màu tím là các con đường tín hiệu chịu tác động

Guang Chen và cs (2019)[5] khảo sát sự khác biệt về biểu hiện của các mRNA và các RNA không mã hóa khác trong huyết tương của các bệnh nhân mắc các bệnh YHHĐ khác nhau nhưng cùng được chẩn đoán bệnh cảnh khí huyết ứ trệ theo YHCT so với nhóm người khỏe mạnh Phân tích kết quả thấy rằng so với nhóm người khỏe mạnh, nhóm bệnh nhân khí trệ huyết ứ thể hiện sự khác biệt về biểu hiện các RNA liên quan đến con đường tín hiệu sphingolipid, neurotrophin, AMOK và endocytosis Kết quả này gợi ý rằng bệnh cảnh khí trệ huyết ứ không chỉ liên quan đến mất cân bằng trong chức năng thần kinh mà còn liên quan đến rối loạn trong chuyển hóa năng lượng Sphingomyelin và các sản phẩm chuyển hóa của chúng có chức năng là chất dẫn truyền tín hiệu thứ cấp trong nhiều con đường tín hiệu nội bào khác nhau Ceramide và S1P, chất chuyển hóa của sphingomyelin, điều hòa đáp ứng của tế bào với stress Neureotrophin liên quan đến sự biệt hóa và tồn tại của tế bào thần kinh, và có vai trò trung tâm trong sự phát triển các bệnh lý như bệnh thần kinh tự động và hệ thống cảm giác AMPK là một serin threonine kinase, hệ thống AMPK có vai

Ngày đăng: 22/08/2020, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w