1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự

115 2,7K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự
Trường học Học Viện Cảnh Sát Nhân Dân
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 328,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: một số vấn đề lý luận chung về đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự 6 1.1. Chứng minh trong tố tụng hình sự 6 1.2. Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự 19 1.3. Phạm vi - giới hạn chứng minh trong vụ án hình sự. Vấn đề xác định đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự cụ thể 47 Chương 2: luật tố tụng hình sự về đối tượng chứng minh ở việt nam và một số nước 56 2.1. Những quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượng chứng minh 56 2.2. Những quy định của luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về đối tượng chứng minh 65 2.3. So sánh những quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam với những quy định của luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về đối tượng chứng minh 75 Chương 3: thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đó 85 3.1. Thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh 85 3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh 100 KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc xác định đúng đối tợngchứng minh và chứng minh đầy đủ nó không những đảm bảo cho việc giảiquyết vụ án đợc đúng đắn mà còn rút ngắn đợc thời gian, giảm chi phí, gópphần nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên,thực tiễn cho thấy do không xác định đối tợng chứng minh của từng vụ án mộtcách chính xác nên dẫn đến việc Toà án hoặc Viện kiểm sát phải trả hồ sơ choCơ quan điều tra để điều tra bổ sung, điều tra lại hoặc dẫn đến việc giải quyết

vụ án sai sót, không phù hợp với quy định của pháp luật, làm oan ngời vô tội,

bỏ lọt tội phạm Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nh: quy địnhcủa pháp luật TTHS về đối tợng chứng minh còn có những điểm bất cập, trình

độ nhận thức cha cao, ý thức chấp hành pháp luật cha nghiêm của ngời tiếnTHTT nên việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thựctiễn về đối tợng chứng minh trong TTHS, đánh giá thực trạng quy định củaluật TTHS Việt Nam về đối tợng chứng minh và thực tiễn hoạt động của cáccơ quan THTT hình sự Việt Nam liên quan đến đối tợng chứng minh để từ đó

đề ra giải pháp hoàn thiện về mặt lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả ápdụng nó trong giải quyết vụ án hình sự là vấn đề có ý nghĩa quan trọng vàmang tính cấp thiết, góp phần nâng cao chất lợng giải quyết vụ án hình sự

Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài Đối t“Đối t ợng chứng minh trong tố tụng hình sự” cho luận văn tốt nghiệp.

Trang 2

đích của việc nghiên cứu không tập trung chính vào đối tợng chứng minh hayviệc đề cập đến đối tợng chứng minh mới chỉ dừng ở việc phục vụ cho học tậpcơ bản để hiểu về vấn đề nên việc nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ nhất

định, mang tính khái quát sơ bộ về vấn đề Chẳng hặn nh: trong Giáo trìnhluật TTHS Việt Nam của Trờng Đại học Luật Hà Nội năm 2000, ở Chơng III -Chứng cứ có đề cập đến: khái niệm đối tợng chứng minh và phân loại đối tợng

chứng minh Trong khoá luận tốt nghiệp Cử nhân luật học về đề tài: “Đối tChứng

minh trong tố tụng hình sự Việt Nam”của tác giả Phạm Thế Lực K41B

-Khoa Luật - Đại học QGHN, có đề cập đến: những vấn đề cần phải chứngminh trong TTHS Việt Nam Trong khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật học về

đề tài: “Đối tĐối tợng chứng minh và phơng tiện chứng minh trong vụ án giết

ng-ời”của tác giả Nguyễn Văn Hoan - K41C - Khoa luật - ĐHQG Hà Nội, có đề

cập đến: đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự - trong đó gồm các vấn đề:khái niệm, nội dung và phân loại đối tợng chứng minh - Nhng việc nghiên cứu

cha thật sâu sắc và toàn diện Trong luận án Tiến sỹ Luật học về đề tài “Đối tThu

thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đỗ Văn Đơng - bảo vệ năm 2000, có đề cập đến: đối t-

ợng chứng minh - nhng đây không phải là đối tợng nghiên cứu chính của luận

án, nên tác giả cũng chỉ giải quyết vấn đề một cách khái quát chung và làm rõmối quan hệ của nó với các vấn đề khác trong luận án để từ đó nhằm phục vụcho việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề chính của luận án Nh vậy, có thểnói rằng cha có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về

đối tợng chứng minh trong TTHS với quy mô là một đề tài độc lập, chuyênbiệt về vấn đề Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về đối tợng chứng minh trongTTHS là cần thiết

3 Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Mục đích, yêu cầu: Làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn

Trang 3

đề lý luận và thực tiễn về đối tợng chứng minh trong tố tụng hình sự.

Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật TTHS nớc ta về

đối tợng chứng minh có so sánh với quy định của luật TTHS một số nớc trênthế giới về vấn đề này, đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTThình sự ở Việt Nam liên quan đến đối tợng chứng minh, tìm ra những điểmcòn tồn tại, bất cập từ đó bớc đầu đề xuất một số giải pháp góp phần hoànthiện về mặt lập pháp có liên quan đến đối tợng chứng minh và nâng cao hiệuquả áp dụng nó trong thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao chất lợng giải quyết

vụ án hình sự

- Nhiệm vụ: Để đạt đợc mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu

luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:

 Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về đối tợng chứngminh trong TTHS;

 Nghiên cứu và so sánh những quy định của luật TTHS Việt Nam vàluật TTHS của một số nớc trên thế giới về đối tợng chứng minh;

 Đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT hình sự ởViệt Nam liên quan đến đối tợng chứng minh;

 Đa ra những giải pháp hoàn thiện quy định của luật TTHS ViệtNam về đối tợng chứng minh và giải pháp nâng cao hiệu quảthực tiễn áp dụng những quy định đó của các cơ quan THTThình sự ở Việt Nam

- Đối tợng: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về đối

t-ợng chứng minh trong TTHS Nghiên cứu, so sánh những quy định của luậtTTHS Việt Nam và luật TTHS một số nớc trên thế giới về đối tợng chứngminh Đánh giá thực trạng hoạt động của các cơ quan THTT hình sự ở ViệtNam liên quan đến đối tợng chứng minh

- Phạm vi: Luận văn nghiên cứu về đối tợng chứng minh trong TTHS

Trang 4

một cách tổng thể trong phạm vi chung của tất cả các giai đoạn tố tụng: điềutra, truy tố, xét xử vụ án hình sự ở Việt Nam từ năm 1998 đến nay, chủ yếutập trung trong phạm vi khoa học và thực tiễn luật TTHS Ngoài ra ở chừngmực nhất định có liên quan đến khoa học luật hình sự, tội phạm học và khoahọc điều tra hình sự Nghiên cứu quy định của BLTTHS Việt Nam, BLTTHSLiên bang Nga, BLTTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, BLTTHS Cộng hoàPháp về đối tợng chứng minh Đánh giá thực trạng hoạt động của các Cơ quanTHTT hình sự Việt Nam liên quan đến đối tợng chứng minh trong khoảng thờigian 5 năm trở lại đây.

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin,quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nóichung và về giải quyết vụ án hình sự nói riêng, những thành tựu của các khoahọc: triết học, luật hình sự, luật TTHS, lôgic học, tội phạm học, điều tra hình

sự và các học thuyết chính trị pháp lý

- Cơ sở sự thực tiễn của luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu luật TTHSthực định và hoạt động chứng minh, giải quyết vụ án hình sự của các cơ quanTHTT cũng nh các văn bản của 3 ngành Công an, Kiểm sát, Toà án hớng dẫn

về hoạt động, điều tra, xử lý vụ án hình sự

- Phơng pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp với một sốphơng pháp nghiên cứu cụ thể nh phơng pháp: hệ thống, lôgic, phân tích,tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinhnghiệm thực tiễn liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong tố tụnghình sự, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Bổ sung và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận chung về đối t ợngchứng minh trong TTHS

Trang 5

- Phát hiện những điểm còn bất cập trong luật TTHS Việt Nam về đốitợng chứng minh Những thiếu sót, hạn chế trong hoạt động của các cơ quanTHTT hình sự Việt Nam liên quan đến đối tợng chứng minh, tìm ra nhữngnguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế đó Đề xuất một số giải pháp hoànthiện những quy định của luật TTHS Việt Nam về đối tợng chứng minh vànâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của luật TTHS về đối tợng chứngminh.

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.

- Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của Luận văn có

thể đợc khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của các cơ quanTHTT hình sự và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng, sửa đổiBLTTHS và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến đối tợng chứngminh để hoàn thiện hơn

- Về mặt thực tiễn: Các cơ quan THTT có thể khai thác vận dụng

những kết quả nghiên cứu của Luận văn để nâng cao chất lợng, hiệu quả hoạt

động của mình trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự

7.Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu còn thamkhảo, Luận văn gồm 3 chơng với 8 mục

Trang 6

Chơng 1

Một số vấn đề lý luận chung về đối t ợng chứng

minh trong tố tụng hình sự

1.1- Chứng minh trong tố tụng hình sự

Chứng minh là một hoạt động nhận thức chân lý của con ngời Hoạt

động chứng minh của con ngời đợc tiến hành trong nhiều lĩnh vực của đờisống xã hội, trong mỗi lĩnh vực khác nhau, thì hoạt động chứng minh cónhững nét khác nhau Tuy nhiên, hoạt động chứng minh có đặc điểm chung làviệc chủ thể sử dụng những phơng tiện để làm sáng tỏ sự thật khách quan,khẳng định tính đúng đắn của một vấn đề nào đó để tìm ra chân lý

Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn nh: giai

đoạn khởi tố; giai đoạn điều tra và truy tố; giai đoạn xét xử ở mỗi giai đoạn

có nhiệm vụ và định hớng khác nhau nhng đều hớng tới mục đích giải quyết

vụ án khách quan, toàn diện đúng quy định của pháp luật và do các cơ quanTHTT thực hiện Quá trình này đợc bắt đầu từ việc cơ quan có thẩm quyềnnhận đợc tin báo, tố giác về các sự kiện phạm tội (hoặc sự kiện có dấu hiệucủa tội phạm) đã xảy ra trong đời sống xã hội, chính vì vậy, để giải quyết vụ

án hình sự thì vấn đề mang tính tất yếu và đợc pháp luật TTHS quy định là:các cơ quan THTT phải tiến hành chứng minh để làm rõ và khôi phục lại toàn

bộ sự thật khách quan của vụ án và làm sáng tỏ những vấn đề khác có liênquan đến vụ án

Quá trình chứng minh khôi phục lại sự thật khách quan của vụ ánchính là quá trình nhận thức chân lý khách quan về vụ án Cơ sở lý luận củahoạt động nhận thức này chính là lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin

Lý luận nhận thức Mác - Lênin khẳng định rằng: nhận thức là sự phản ánhbiện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triểnkhông ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tợng đếnbản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm đợc bản chất quy luật của

Trang 7

sự việc và hiện tợng Trong thế giới khách quan, không có cái gì là con ngờikhông thể nhận thức đợc, mà chỉ có những cái con ngời cha nhận thức đợc nh-

cụ thể đó

Nhng quá trình nhận thức sự thật khách quan của vụ án hình sự khôngphải là quá trình nhận thức trực tiếp mà là quá trình nhận thức gián tiếp về vụ án.Bởi vì, khi đó sự việc phạm tội không phải là đang xảy ra một cách hiện hữu đểchúng ta nhận thức, mà trên thực tế sự việc phạm tội đã xảy ra, vì vậy các cơquan THTT phải nhận thức khôi phục lại nó thông qua việc phát hiện thu thập và

đánh giá những dấu vết mà nó để lại trong hiện thực khách quan

Theo nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì: thế giới thốngnhất ở tính vật chất, thế giới vật chất luôn vận động và phát triển, mọi sự vậthiện tợng trong thế giới luôn có mối liên hệ, tác động với nhau, ràng buộc lẫnnhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau Phép biện chứng cũng chỉ ra rằngphản ánh là thuộc tính của chung của mọi đối tợng vật chất, V I -Lênin viết:

“Đối tHết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống nh cảmgiác, đặc tính phản ánh”[8, tr 104] Bởi vậy về nguyên tắc, hoạt động của con ngờinói chung và hành vi phạm tội nói riêng bao giờ cũng để lại dấu vết trong thếgiới khách quan Những dấu vết của hành vi phạm tội có thể đợc thể hiện dớidạng vật chất hoặc đợc phản ánh ghi nhận trong trí nhớ của con ngời Vì vậy,thông qua việc thu thập những dấu vết này một cách có hệ thống trong quá

Trang 8

trình THTT sẽ đa đến sự nhận thức đúng đắn bản chất của vụ án, dựng lại đợctoàn bộ diễn biến của sự việc phạm tội Quá trình thu thập những dấu vết củatội phạm và những thông tin có liên quan đến vụ án (thu thập chứng cứ) đểnhận thức khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án - chính là quá trìnhchứng minh trong TTHS

Hoạt động chứng minh trong TTHS do những chủ thể nhất định tiếnhành bằng việc phát hiện, thu thập chứng cứ từ các nguồn khác nhau và sửdụng chứng cứ từ những nguồn này làm phơng tiện chứng minh làm rõ cácvấn đề cần phải chứng minh trong vụ án Những vấn đề về chủ thể chứngminh, chứng cứ, các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, cũng

nh trình tự thủ tục trong quá trình chứng minh đều đợc pháp luật quy định.Tuy nhiên, trong lịch sử hoạt động t pháp, ở những giai đoạn lịch sử nhất địnhtuỳ thuộc vào trình tự tố tụng đợc tiến hành theo các kiểu khác nhau hoặc doquan điểm, cơ sở phơng pháp luận dựa trên cơ sở các học thuyết khác nhaunên pháp luật ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở các nớc khác nhau quy định

về chủ thể có nghĩa vụ chứng minh, chứng cứ, những vấn đề cần phải chứngminh trong vụ án hình sự có sự khác nhau

1.1.1 Chủ thể chứng minh trong tố tụng hình sự

Chứng minh là hoạt động nhận thức chân lý khách quan của con ngờinên ở phơng diện chung nhất con ngời là chủ thể của hoạt động chứng minh.Nhng hoạt động chứng minh đợc tiến hành trong nhiều lĩnh vực của đời sốngxã hội, mà trong từng lĩnh vực chứng minh khác nhau có một phạm vi nhữngcá nhân con ngời cụ thể nhất định tham gia vào hoạt động chứng minh đó -tức là hoạt động chứng minh trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì có những chủthể cụ thể khác nhau tiến hành hoạt động chứng minh đó

Hoạt động chứng minh trong TTHS là hoạt động có mục đích làmsáng tỏ nội dung của vụ án và những tình tiết có liên quan đến vụ án, nênnhững những ngời tham gia vào hoạt động này là những chủ thể chứng minh

Trang 9

trong TTHS Tuy nhiên tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ hoặc tuỳ thuộc vàoquyền và lợi ích v.v của các chủ thể có sự khác nhau nên mức độ tham giacũng nh giai đoạn tham gia vào hoạt động chứng minh của từng chủ thể có sựkhác nhau.

Thông thờng thì chủ thể chứng minh trong TTHS chủ yếu là các cơquan THTT và ngời THTT Theo luật TTHS Việt Nam thì đó là các cơ quanTHTT và ngời THTT nh: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; Thủ trởng,Phó Thủ trởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trởng, Phó viện trởngViện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phánnhóm chủ thể này giữ vai trò chính trong hoạt động chứng minh toàn bộ nộidung của vụ án và những tình tiết có liên quan đến nội dung của vụ án và kếtquả chứng minh của họ mang tính pháp lý cao Tuy nhiên do chức năng,nhiệm vụ của từng chủ thể có sự khác nhau nên giai đoạn tham gia chứngminh cũng nh phạm vi, mức độ chứng minh của họ cũng có sự khác nhau nhất

định

Theo luật TTHS Việt Nam thì các cơ quan Bộ đội Biên phòng, Hảiquan, Kiểm lâm, Lực lợng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công annhân dân, Quân đội nhân dân cũng đợc giao tiến hành một số hoạt động điềutra khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu TNHS tronglĩnh vực quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực l-ợng cảnh sát biển có thẩm quyền: đối với tội phạm ít nghiêm trọng trongnhững trờng hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch ngời phạm tội rõràng, thì ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra vụ án vàchuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn hai mơi ngày

kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án Đối với tội phạm nghiêm trọng, rấtnghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhng phứctạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu

và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày

kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án; trong Công an nhân dân, Quân đội

Trang 10

nhân dân, các cơ quan khác khi đợc giao tiến hành một số hoạt động điều tratrong khi làm nhiệm vụ của mình nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạmthì có quyền khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu vàchuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể

từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án Nh vậy những cơ quan này cũng là chủthể chứng minh trong TTHS, nhng phạm vi tham gia cũng nh mức độ tham giachứng minh của các cơ quan này chỉ ở một giới hạn và chừng mực nhất định

mà không giống nh các cơ quan THTT

Ngời bị bắt, ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng là những chủ thểchứng minh trong TTHS Mục đích tham gia chứng minh của họ là để bảo vệquyền lợi của mình nên phạm vi tham gia và mức độ chứng minh của họ chủyếu nhằm chứng minh họ không có tội hoặc chứng minh các tình tiết giảmnhẹ TNHS và giảm nhẹ mức bồi thờng thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

Ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, ngời có quyền lợi liên quan là chủ thểtham gia chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Sự tham gia của họthờng tập trung vào những việc họ bị tội phạm gây thiệt hại, mức độ thiệt hại

để từ đó đa ra yêu cầu bồi thờng

Bị đơn dân sự, ngời có nghĩa vụ liên quan cũng là chủ thể tham giachứng minh nhằm bác yêu cầu của nguyên đơn, ngời có quyền lợi liên quannhằm giảm trách nhiệm, nghĩa vụ của họ

Ngời bào chữa, ngời bảo vệ quyền lợi của đơng sự tham gia chứngminh những tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc liênquan đến việc bảo vệ quyền lợi cho đơng sự tức là chứng minh những tình tiết

có lợi cho bị can, bị cáo hoặc đơng sự

Tuy ngời bị bắt, ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời bị hại, nguyên

đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi và nghĩ vụ liên quan là nhữngchủ thể có quyền tham gia chứng minh nhng không phải là vụ án nào cũng cótất cả những ngời tham gia mà tuỳ theo từng vụ án cụ thể có thể chỉ có một số

Trang 11

ngời tham gia, cũng có thể có vụ án không có ngời nào trong số những ngờinày tham gia chứng minh vì đó là quyền của họ Mặt khác sự chứng minh của

họ đôi khi vì những lý do cá nhân mà không thể hiện tính khách quan cao.Theo luật TTHS thờng thì kết quả chứng minh của những ngời này cha có giátrị pháp lý chính thức mà vẫn phải thông qua sự đánh giá, kết luận của các cơquan THTT

Ngoài ra, trong TTHS còn có sự tham gia của ngời làm chứng, ngờiphiên dịch và đôi khi còn có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức xã hội, cánhân khác Sự tham gia của những ngời này nhằm cung cấp những tài liệu,chứng cứ phục vụ cho quá trình chứng minh Những ngời này không phải chủthể chứng minh bởi vì họ không có mục đích trực tiếp nhằm chứng minh nộidung vụ án và các tình tiết liên quan đến vụ án Họ cũng chỉ tham gia tố tụngkhi đợc các cơ quan THTT yêu cầu

1.1.2 Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự

Nh chúng ta đã biết có rất nhiều chủ thể chứng minh trong TTHS

Nh-ng troNh-ng số nhữNh-ng chủ thể đó, có nhữNh-ng chủ thể thì việc tham gia chứNh-ng minh

là quyền của họ nên họ có thể thực hiện quyền đó hoặc không thực hiện quyền

đó Ngợc lại có những chủ thể luật TTHS quy định họ có nghĩa vụ phải chứngminh - tức là họ bắt buộc phải tham gia vào hoạt động chứng minh Tuy nhiên,tuỳ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, tuỳ thuộc vào trình tự tố tụng đợc tiếnhành theo các kiểu khác nhau hoặc cơ sở, phơng pháp luận dựa trên các họcthuyết khác nhau nên luật TTHS ở các nớc khác nhau, ở các giai đoạn lịch sửkhác nhau quy định về chủ thể có nghĩa vụ chứng minh có sự khác nhau

Với hình thức tố tụng kiểu tố cáo, Luật La Mã quy định nghĩa vụchứng minh thuộc về ngời tố cáo Ngoài việc tố cáo, ngời tố cáo còn đa ranhững chứng cứ liên quan đến việc tố cáo ấy, vì vậy lời tố cáo của một ngờinào đó về tội phạm vừa là căn cứ xuất hiện trình tự để giải quyết vụ án, vừa làcăn cứ buộc tội đối với ngời bị tố cáo Khi hình thức tố tụng kiểu thấm vấn ra

Trang 12

đời thay thế hình thức tố tụng kiểu tố các thì Biện lý xuất hiện Biện lý là ngời

đại diện cho quyền lực nhà Vua có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ vàduy trì sự buộc tội trớc toà án Hình thức tố tụng kiểu thẩm vấn phát triểnmạnh ở Pháp vào thế kỷ XIV, ở Đức thế kỷ XVI Khoảng đầu thế kỷ XVIII ởnớc Nga xuất hiện Cơ quan công tố, cơ quan này chịu trách nhiệm chứngminh hầu hết các vụ án hình sự, chỉ trừ một phạm vi rất nhỏ những vụ án t tố

mà ở đó ngời bị hại có nghĩa vụ chứng minh tính có căn cứ của sự việc mà họ

tố cáo Ngày nay trong luật TTHS của các nớc t bản, nghĩa vụ chứng minh là

do Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố thực hiện, có nớc còn do Thẩm phánthực hiện nh ở Italia Tuy nhiên ở các nớc t bản Luật s cũng có quyền thu thậpchứng cứ, trách nhiệm của Luật s là tìm kiếm, thu thập những bằng chứngngoại phạm, những chứng cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can vàchuẩn bị thẩm tra nhân chứng trớc toà

Trong hệ thống pháp luật XHCN, luật TTHS quy định nghĩa vụ chứngminh thuộc về các cơ quan THTT, cụ thể, tại Điều 11 BLTTHS năm 1988 và

Điều 10 BLTTHS năm 2003 của nớc ta quy định: “Đối t Trách nhiệm chứngminh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT Bị can, bị cáo có quyền nhngkhông buộc phải chứng minh là mình vô tội” Việc quy định nghĩa vụ chứngminh thuộc về các cơ quan THTT, bởi lẽ: quan hệ pháp luật hình sự có nộidung là mối quan hệ giữa nhà nớc và ngời phạm tội, nhà nớc với t cách là chủthể của quan hệ pháp luật hình sự có quyền quy định hành vi nào là tội phạm,

đồng thời buộc ngời có hành vi phạm tội phải gánh chịu những hậu quả pháp

lý bất lợi bằng bản án, Quyết định của Toà án hoặc các Quyết định của cơquan có thẩm quyền Để truy cứu trách nhiệm hình sự một ngời, nhà nớc phải

có những chứng cứ chứng minh hành vi của họ là phạm tội, nếu không đủchứng cứ thì không thể buộc tội và truy cứu TNHS họ Vì vậy, để có chứng cứchứng minh hành vi của ngời nào đó là tội phạm, nhà nớc thành lập ra các cơquan chuyên trách làm nhiệm vụ chứng minh tội phạm ở nớc ta, các cơ quan

đó là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Bị can, bị cáo có quyền đa ra

Trang 13

những chứng cứ chứng minh mình vô tội hoặc có quyền đa ra các tình tiếtgiảm nhẹ TNHS đối với họ, nhng đây không phải là nghĩa vụ của họ.

Để làm sáng tỏ vụ án hình sự, ngoài nghĩa vụ chứng minh của các cơquan THTT, thì đòi hỏi có sự tham gia tích cực của những ngời tham gia tốtụng và các chủ thể khác Tuy nhiên sự tham gia của các chủ thể này khôngphải là họ có trách nhiệm chứng minh vụ án mà là họ có trách nhiệm cung cấpnhững tài liệu, thông tin liên quan đến vụ án và cơ quan THTT có thể sử dụngnhững tài liệu, thông tin này làm chứng cứ chứng minh trong vụ án hình sự

1.1.3 Đối tợng chứng minh trong tố tụng hình sự

ở phơng diện chung nhất thì toàn bộ thực tiễn khách quan là đối tợngcủa nhận thức nhằm tìm ra những quy luật của thế giới tự nhiên, xã hội và tduy Nhng ở giai đoạn lịch sử cụ thể thì đối tợng của nhận thức lại có phạm vinhất định Mặt khác, tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu của từng lĩnh vực hoạt

động nhận thức cụ thể mà trong mỗi lĩnh vực của hoạt động nhận thức lại có

đối tợng nhận thức riêng Hoạt động chứng minh trong TTHS chính là quátrình nhận thức làm sáng tỏ nội dung của vụ án và các tình tiết có liên quan

đến vụ án Suy cho cùng mục đích của hoạt động chứng minh trong TTHS là

để phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và phục vụ cho việc

đấu tranh phòng chống tội phạm Bởi vậy, đối tợng chứng minh trong TTHS làtổng hợp những vấn đề cha biết nhng các cơ quan THTT cần phải biết để giảiquyết đúng đắn vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm vànhững vấn đề này đợc luật TTHS quy định các cơ quan THTT phải chứngminh làm rõ

Do tính chất, mức độ và hoàn cảnh của các tội phạm không giốngnhau nên đối tợng chứng minh ở mỗi vụ án có những phạm vi và yêu cầu kháckhác nhau Tuy vậy, tội phạm đều có những đặc điểm, quy luật chung giốngnhau và đợc khái quát thành những vấn đề chung nhất mà những vấn đề này đ-

ơc luật TTHS quy định một cách trực tiếp cụ thể hoặc quy định một cách gián

Trang 14

tiếp và thờng phải chứng minh trong bất kỳ vụ án nào.Chẳng hạn luật TTHSViệt Nam quy định phải chứng minh: có hành vi phạm tội xảy ra hay không,thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hàng vi phạm tội; ai là ngờithực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có nănglực TNHS hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tiết tăng nặng, giảmnhẹ TNHS của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạmtội gây ra Tuy nhiên tuỳ thuộc vào tính chất, hoàn cảnh của từng vụ án cụ thể

mà có thể có những vấn đề không cần phải chứng minh vì nó rõ ràng là đãkhông xảy ra trong vụ án đó Ví dụ: trong vụ án mà ngời phạm tội mới cóhành vi chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêmtrọng thì bị phát hiện, xử lý Nh vậy, trong vụ án này rõ ràng là hậu quả củatội phạm cha xảy ra nên không phải chứng minh nó

Mặt khác, trong luật TTHS còn quy định phải chứng minh các tình tiếtkhác có liên quan đến vụ án, mà những tình tiết này có thể chỉ phải chứngminh trong vụ án cụ thể nào đó chứ không phải chứng ming trong bất kỳ vụ ánnào Hoặc có những tình tiết, vấn đề chỉ phải chứng minh khi phát sinh nhữnghoạt động tố tụng có liên quan Chẳng hạn nh: những tình tiết là căn cứ ápdụng biện pháp tạm giam chỉ phải chứng minh nó khi các cơ quan THTT ápdụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo

Đối tợng chứng minh trong TTHS - là nội dung chính của Luận vănnên những vấn đề liên quan đến nó sẽ tiếp tục đợc làm rõ ở một số mục tiếptheo của Luận văn

Trang 15

Phát hiện chứng cứ là tìm ra những sự vật, hiện tợng, tài liệu có mangdấu vết, thông tin liên quan đến vụ án hình sự Việc phát hiện chứng cứ đợctiến hành bằng nhiều biện pháp do luật TTHS quy định nh: Khám nghiệm hiệntrờng, xác minh sự việc

Thu thập chứng cứ là việc ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ củacác cơ quan THTT làm cho chứng cứ có đầy đủ giá trị chứng minh Việc thuthập chứng cứ do những chủ thể đợc luật TTHS quy định tiến hành bằngnhững biện pháp cũng do luật TTHS quy định

Kiểm tra chứng cứ là việc xem xét xác định tính xác thực, tính kháchquan, tính liên quan và tính hợp pháp của chứng cứ Chỉ những tài liệu đã đợckiểm tra và có các đặc điểm của chứng cứ thì mới đợc coi là chứng cứ để sửdụng chứng minh vụ án Việc tiến hành kiểm tra chứng cứ đợc tiến hành bằngcác biện pháp nh: phân tích từng thuộc tính của chứng cứ xem các thuộc tính

đó có phù hợp với thực tế khách quan hay không, có bảo đảm giá trị chứngminh hay không; so sánh giữa các chứng cứ đã thu thập đợc với nhau xem cóphù hợp không, nếu có mâu thuẫn thì do đâu, từ đó tìm các chứng cứ mới đểlàm sáng tỏ những chứng cứ đã thu thập đợc

Đánh giá chứng cứ là hoạt động phân tích nhằm xác định giá trị chứngminh của chứng cứ đối với những vấn đề cần làm rõ trong vụ án hình sự Khi

đánh giá chứng cứ cần phải dựa trên cơ sở pháp luật hình sự, pháp luật TTHS, ýthức pháp luật và niềm tin nội tâm của ngời đánh giá để xác định giá trị, ý nghĩacủa chứng cứ trong mối liên hệ với những vấn đề cần phải chứng minh, xemchứng cứ này có giá trị chứng minh vấn đề gì trong vụ án, và tổng hợp cácchứng cứ đã đủ cơ sở làm rõ và kết luận về vụ án cha, nếu cha đủ chứng cứ để kếtluận về vụ án thì cần phải tiếp tục thu thập thêm chứng cứ

Nh vậy: Chứng minh trong TTHS là quá trình các cơ quan THTT, ngời

THTT trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS tiến hành phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và sử dụng các chứng cứ này làm

Trang 16

phơng tiện, căn cứ để xác định, làm rõ tất cả những vấn đề liên quan đến vụ

án hình sự mà những vấn đề này luật quy định các cơ quan THTT cần phải biết khi giải quyết vụ án hình sự.

1.1.5 Chứng cứ trong tố tụng hình sự

Trong TTHS chứng cứ đợc dùng làm căn cứ chứng minh Bởi vậy, để

đảm bảo cho những vấn đề đợc chứng minh là đúng đắn phù hợp với sự thậtkhách quan thì đòi hỏi không những hoạt động chứng minh phải dựa trênnhững cở, phơng pháp luận khoa học mà còn đòi hỏi những quy định của phápluật về chứng cứ nh: chứng cứ là gì, cái gì đợc coi là chứng cứ cũng phảibảo đảm tính khoa học.Nhng nghiên cứu trong lịch sử pháp lý cho thấy đãtừng có các quan điểm khác nhau về chứng cứ trong TTHS nh:

Quan điểm thần học, tôn giáo xuất phát từ phơng pháp luận duy tâmcho rằng “Đối tĐấng tối cao”, “Đối tThần linh”, “Đối tChúa trời” đã tạo ra thế giới, tạo racon ngời, tạo ra tội phạm thì cũng là ngời phán xét tội phạm Theo quan điểmnày, ngời bị tình nghi phạm tội phải chịu những thử thách vô lý, dã man nh:Nhúng tay vào nớc sôi trong khoảng thời gian nhất định hoặc đập đầu vào

đá nếu tay họ không bị bỏng hoặc đầu không bị chảy máu thì họ đợc coi làvô tội, còn ngợc lại thì họ bị coi là thủ phạm Hoặc quan toà tổ chức cho ngời

bị tố cáo và ngời tố cáo quyết đấu, chiến thắng đợc coi là chứng cứ có giá trịnhất và ngời chiến thắng đợc Toà án tuyên không có tội hoặc lời xám hối củacác Con chiên về các hành vi tội lỗi của mình trớc bề trên đợc coi là chứng cứbuộc tội Từ những điều trên, cho thấy quan điểm duy tâm, tôn giáo vềchứng cứ là sự thể hiện t tởng thần quyền của các nhà nớc thời trung cổ,

nó không mang tính khoa học, trái với quy luật khách quan

Quan điểm về chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo coi lời tố cáocủa một ngời nào đó chính là chứng cứ buộc tội đối với ngời bị tố cáo Nếungời bị tố cáo không có chứng cứ hoặc không có khả năng bác bỏ lời tố cáothì họ sẽ bị coi là phạm tội Lời nhận tội của ngời bị tố cáo đợc coi là chứng

Trang 17

cứ có giá trị nhất, nên quan toà thờng áp dụng cực hình đối với ngời bị tố cáo

để họ nhận tội Vì vậy, chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo thể hiện sự

đơn giản hoá trong việc chứng minh vụ án hình sự, thờng dẫn đến sự đánh giásai lệch, không khách quan của quan toà khi giải quyết vụ án hình sự

Trong trình tự tố tụng kiểu thẩm vấn lại có quan điểm hình thức vềchứng cứ Theo đó, hệ thống chứng cứ là một loạt các quy tắc đợc quy định tr-

ớc trong luật, có tính chất bắt buộc đối với các cơ quan THTT khi giải quyết

vụ án hình sự Cụ thể, những gì là chứng cứ để chứng minh tội phạm và đốivới mỗi loại tội phạm thì cần chứng cứ gì, số lợng bao nhiêu đều đợc quy địnhsẵn trong luật Các cơ quan THTT chỉ cần tìm đủ số lợng và chủng loại chứng

cứ đợc quy định trong luật đối với loại tội phạm đó mà họ không cần phải tìmthêm chứng cứ nào khác khi kết luật tội phạm, ngợc lại khi không tìm đủ số l-ợng và chủng loại chứng cứ mà luật đã quy định thì không có căn cứ kết luậntội phạm Quan điểm hình thức về chứng cứ tuy hạn chế đợc sự tuỳ tiện củacác cơ quan tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự, nhng nó cũng buộc lộnhiều hạn chế nh: hạn chế khả năng thu thập, phân tích, đánh giá chứng cứcủa các cơ quan THTT, không bảo đảm đầy đủ tính khoa học, khách quantrong quá trình chứng minh vụ án hình sự dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làmoan ngời vô tội Quan điểm hình thức về chứng cứ phát triển và ảnh hởng đếnhầu hết các BLTTHS của các nớc châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII,ngày nay nó vẫn còn đợc biểu hiện trong Luật TTHS của một số nớc trong hệthống pháp luật Anh - Mỹ

Quan điểm nhân chủng học về chứng cứ cho rằng, quá trình thu thậpchứng cứ trong việc giải quyết vụ án hình sự là quá trình xác định cấu trúc,

đặc điểm cơ thể và tính cách con ngời Tuy quá trình này đợc dựa chủ yếubằng phơng pháp nhận dạng và giám định pháp y nên về hình thức dờng nh nó

có căn cứ khoa học Nhng trên thực tiễn cho thấy cấu trúc cơ thể con ngờikhông phải là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và do vậy không thể lấycấu trúc cơ thể con ngời thông qua giám định pháp y làm chứng cứ để chứng

Trang 18

minhh tội phạm, mà quá trình hình thành hành vi phạm tội cuả con ngời chịu

sự tác động của các hiện tợng, hoàn cảnh, môi trờng của xã hội

Đến giữa Thế kỷ XVIII quan điểm hình thức về chứng cứ bị phản bác,thay vào đó là quan điểm niềm tin nội tâm tự do của Thẩm phán về chứng cứ.Theo quan điểm này thì vai trò của Thẩm phán đợc đề cao trong hoạt độngchứng minh tội phạm, đợc toàn quyền quyết định về tội phạm một cách tuỳthuộc vào niềm tin nội tâm của mình, không phải đa ra bất kỳ căn cứ nào miễn

là khẳng định đợc sự tin tởng vào sự đúng đắn của các quyết định

Theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì: Con ngời có khảnăng nhận thức các quy luật, hiện tợng của thế giới khách quan, tìm ra chân

lý Quá trình nhận thức của con ngời từ trực quan sinh động đến t duy trừu ợng, từ cha biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tợng đến bản chất

t-Về nguyên tắc, không có sự vật, hiện tợng nào là không thể nhận thức đợc, màchỉ có sự vật, hiện tợng cha đợc nhận thức mà thôi Bởi vậy, mọi tội phạm xảy

ra trên thực tế con ngời đều có thể phát hiện chứng minh đợc Cũng theo lýluận duy vật biện chứng thì mọi sự vật đều có thuộc tính phản ánh Với thuộctính phản ánh của sự vật nên mọi hoạt động của con ngời trong đó các hành viphạm tội đều để lại dấu vết trong thế giới khách quan Dấu vết của hành viphạm tội có thể đợc thể hiện dới dạng vật chất nh: Dấu vết trên công cụ, phơngtiện phạm tội, dấu trên để lại trên hiện trờng hoặc đợc phản ánh, ghi nhậntrong trí nhớ của con ngời, có thể là nạn nhân hay nhân chứng Từ việc thu thập

đầy đủ, có hệ thống các dấu vết này con ngời có thể nhận thức đợc diễn biếncủa hành vi phạm tội đã xảy ra Chính từ việc dựa trên cơ sở lý luận nhận thứccủa chủ nghĩa Mác - Lê Nin, nên khoa học luật TTHS của các nớc đi theo con

đờng XHCN đã xác định chứng cứ là những tài liệu thực tế, là những gì có thật

để chứng minh tính chân lý của vụ án

Khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1988 cũng nh Khoản 1 Điều 64 BLTTHSnăm 2003 của nớc ta quy định: “Đối tChứng cứ là những gì có thật, đợc thu thập

Trang 19

theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát và Toà án dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội,ngời thực hiện hành vi phạm tội cũng nh những tình tiết khác cần thiết choviệc giải quyết đúng đắn vụ án”.

Theo quy định trên cho thấy chứng cứ có các đặc điểm sau:

1/ Tính khách quan: Tức là những tài liệu, sự vật, hiện tợng là chứng

cứ phải có thật tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con ngời

2/ Tính liên quan: Tức là những sự vật, hiện tợng có thật, tồn tại kháchquan chỉ đợc coi là chứng cứ khi có liên quan đến vụ án, khi nó chứng minhcho vấn đề cần biết nhng cha biết trong vụ án hình sự

3/ Tính hợp pháp: Tức là chứng cứ đợc chứa đựng ở những nguồn vàthu thập bằng biện pháp do luật TTHS quy định

Theo quy định của luật TTHS Việt Nam thì chứng cứ đợc phản ánh vàchứa đựng trong các nguồn sau: vật chứng; lời khai của ngời làm chứng, ngời

bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

đến vụ án, ngời bị bắt, ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biênbản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác

1.2 Đối tợng chứng minh trong vụ án Hình sự

1.2.1 Khái niệm

Trong giải quyết vụ án hình sự, để ra đợc các quyết định hoặc bản án

đúng đắn, khách quan phù hợp với quy định của pháp luật thì về nguyên tắc,

đòi hỏi các cơ quan THTT phải làm sáng tỏ bản chất của vụ án và những vấn

đề có liên quan đến vụ án - Tức là phải làm rõ các vấn đề nh: sự việc phạm tội,ngời thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình

sự đối với ngời phạm tội, nhân thân ngời phạm tội bởi lẽ, chính những vấn

đề này là cơ sở để xác định tội phạm, xác định trách nhiệm hình sự đối với

Trang 20

ng-ời phạm tội, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng nh xác định trách nhiệmbồi thờng thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra của ngời phạm tội Việc giảiquyết vụ án hình sự chỉ phát sinh sau khi có tội phạm xảy ra, vì vậy để xác định

đợc bản chất diễn biến của vụ án, các cơ quan THTT phải tiến hành thu thậpchứng cứ và sử dụng chứng cứ để chứng minh làm rõ các vấn đề trong vụ án,

mà các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự này đợc khoa học luậtTTHS gọi là đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự

Nhng trong vụ việc phạm tội có rất nhiều tình tiết, có tình tiết có ýnghĩa, giá trị làm cơ sở cho việc giải quyết, xử lý đúng đắn vụ án, có nhữngtình tiết lại hầu nh không có ý nghĩa gì trong việc giải quyết vụ án Chẳng hạn

nh trong một vụ trộm cắp tài sản - Ngời phạm tội là A đã dùng kìm bẻ gẫykhuy cửa nhà của gia đình hàng xóm rồi vào nhà lấy trộm chiếc tivi mang vềnhà mình cất giấu ở đây, các tình tiết nh việc A dùng kìm bẻ gẫy khuy cửa, Avào nhà hàng xóm lấy trộm ti vi là những tình tiết có ý nghĩa thể hiện hành viphạm tội trộm cắp tài sản của A Còn tình tiết A cầm kìm bẻ khuy cửa bằngtay phải hay tay trái, khi lấy ti vi A bê hay xách ti vi thì hầu nh không có ýnghĩa pháp lý gì đối với việc giải quyết vụ án cũng nh không ảnh hởng gì đếnviệc kết luận hành vi phạm tội của A và việc xử lý đối với A Bởi vậy, đối tợngchứng minh trong vụ án hình sự không phải là tất cả các tình tiết, các vấn đềcủa sự việc phạm tội xảy ra trên thực tế, cũng nh không phải tất cả các vấn đềliên quan đến vụ án mà chỉ cần chứng minh những vấn đề có ý nghĩa để làm

rõ nội dung, bản chất của vụ án Những vấn đề liên quan đến TNHS của ngờiphạm tội và các vấn đề cần thiết khác liên quan đến vụ án để trên cơ sở đó cáccơ quan THTT ra đợc các quyết định phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án

và đề ra biện pháp thích hợp để phòng ngừa tội phạm

Vụ việc phạm tội xảy ra trên thực tế rất đa dạng, chúng có thể khácnhau về tính chất, mức độ, hoàn cảnh Nhng mọi tội phạm đều có bản chấtchung và việc giải quyết vụ án cũng nh việc xử lý ngời phạm tội đều có những

Trang 21

nguyên tắc chung, nên chúng ta vẫn có thể rút ra đợc những vấn đề chung nhất

mà khi giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào cũng phải chứng minh đó là nhữngvấn đề thuộc về bản chất của vụ án và những vấn đề liên quan đến việc xác

định TNHS của ngời phạm tội và những vấn đề cần phải chứng minh này đợcquy định trong luật TTHS Ngoài ra luật TTHS còn quy định phải chứng minhnhững vấn đề liên quan khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ ánhình sự, tuy nhiên không phải vụ án hình sự nào cũng đòi hỏi phải chứng minh

đầy đủ các vấn đề này, mà tuỳ thuộc vào từng vụ án cụ thể sẽ đặt ra yêu cầuphải chứng minh những vấn đề cụ thể gì có liên quan và để giải quyết đúng

đắn vụ án đó, theo đúng quy định của luật hình sự và luật TTHS

ở đây, cũng cần lu ý rằng những vấn đề luật TTHS quy định bắt buộcphải chứng minh là giống nhau chung cho các vụ án hình sự, nhng các tìnhtiết trong vụ án cụ thể mà các tình tiết này cấu thành vấn đề chứng minh làkhác nhau Chẳng hạn luật TTHS quy định bắt buộc phải chứng minh: “Đối tCóhành vi phạm tội xảy ra hay không ”Nhng tình tiết trong hành vi phạm tội ởmỗi vụ án cụ thể là khác nhau

Trong TTHS, nhiệm vụ đặt ra cho các cơ quan THTT, ngời THTT làkhông những nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịpthời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ngời vô tội

mà còn nhằm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm Một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của luật TTHS Việt Nam là “Đối ttrong quá trình THTT hình sự,Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có nhiệm vụ tìm ra những nguyênnhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụngcác biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Các cơ quan, tổ chức hữu quan phảitrả lời về việc thực hiện yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà

án.” (Điều 27, BLTTHS Việt Nam năm 2003) Nh vậy, trong quá trình THTThình sự yêu cầu đặt ra cho các cơ quan THTT là phải tìm ra các nguyên nhân

và điều kiện phạm tội và đề ra các biện pháp, yêu cầu khắc phục Chính vì

Trang 22

vậy, các cơ quan THTT, ngời THTT phải chứng minh làm rõ nguyên nhân và

điều kiện phạm tội - và đây là những vấn đề chứng minh không chỉ góp phần

để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự mà còn phục vụ chủ yếu cho công tácphòng ngừa tội phạm Nên theo chúng tôi đối tợng chứng minh trong vụ ánhình sự còn bao gồm cả những vấn đề liên quan đến vụ án và phục vụ cho việc

đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm

Theo nguyên tắc pháp chế thì: mọi hoạt động TTHS của cơ quanTHTT, ngời THTT và ngời tham gia tố tụng cũng phải tuân thủ những quy

định của luật TTHS và đơng nhiên đối tợng chứng minh cũng phải đợc luậtTTHS quy định - tức là trong quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự cần phảichứng minh những vấn đề gì đều đợc luật TTHS quy định Song việc quy địnhnày có thể là trực tiếp, cụ thể hoặc có thể là quy định gián tiếp

Qua sự phân tích ở trên, có thể rút ra những đặc điểm của đối tợngchứng minh trong vụ án hình sự đó là:

- Tất cả các vấn đề của vụ án và liên quan đến vụ án nhng cha biết màcác cơ quan THTT cần phải biết

- Những vấn đề cha biết đó đều đợc luật TTHS quy định các cơ quanTHTT phải làm sáng tỏ trong quá trình giải quyết vụ án

- Những vấn đề luật TTHS quy định cần làm sáng tỏ đó là cơ sở để cáccơ quan THTT giải quyết đúng đắn vụ án và đề ra các biện pháp phòng ngừatội phạm

Theo chúng tôi một khái niệm đầy đủ về đối tợng chứng minh trong TTHSphải thể hiện đợc đầy đủ các đặc điểm trên Nhng qua nghiên cứu nội dung kháiniệm về đối tợng chứng minh trong sách và công trình nghiên cứu của một số tácgiả, chúng tôi thấy các khái niệm này cha đợc đầy đủ Chẳng hạn nh:

- “Đối tĐối tợng chứng minh là tổng hợp những vấn đề cần phải đợc xác

định làm rõ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.”[25, tr 87]

Trang 23

Phân tích khái niệm trên, chúng ta thấy về cơ bản khái niệm đã nêu

đ-ợc bản chất của đối tợng chứng minh đó là “Đối ttổng hợp các vấn đề cần phải đđ-ợcxác định làm rõ”và đã xác định đợc nội hàm chính, chủ yếu của khái niệm -

đó là tổng hợp những vấn đề “Đối tđể giải quyết đúng đắn vụ án hình sự” Tuynhiên, theo chúng tôi ở khái niệm trên nội hàm của nó cha bao hàm hết nhữngvấn đề phải chứng minh trong TTHS, mà cụ thể ở đây là cha bao hàm đối tợngchứng minh là những vấn đề liên quan đến vụ án và phục vụ cho việc đề ra cácbiện pháp phòng ngừa tội phạm Mặt khác, trong khái niệm cũng cha đề cập

đến khía cạnh pháp lý của đối tợng chứng minh - tức là đối tợng chứng minhphải là những vấn đề đợc luật TTHS quy định cần phải làm rõ Mà theo chúngtôi khía cạnh pháp lý của đối tợng chứng minh có ý nghĩa ở chỗ nó bảo đảmcho sự nhận thức thống nhất, đầy đủ về đối tợng chứng minh của các cơ quanTHTT, từ đó bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động TTHS Nếu nhnhững vấn đề cần chứng minh không đợc luật TTHS quy định thì không tạo đ-

ợc căn cứ pháp lý cho các cơ quan THTT xác định về đối tợng chứng minhmột cách thống nhất và chính xác, thậm chí có thể dẫn đến tranh cãi giữa cáccơ quan THTT trong việc xác định những vấn đề gì là cần cho việc giải quyết

đúng đắn vụ án

- “Đối tĐối tợng chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp tất cả những

tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và ngời phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự” [10]

Phân tích khái niệm trên cho thấy khái niệm mới chỉ mang tính liệt kênhững tình tiết là đối tợng chứng minh mà cha nêu đợc bản chất của đối tợngchứng minh- đó là “Đối tnhững vấn đề cha biết nhng cần phải biết” Nội hàm của kháiniệm cũng cha đầy đủ vì cha bao hàm những tình tiết phục vụ cho việc phòngngừa tội phạm Mặt khác khái niệm cũng cha đề cập đến khía canh pháp lý của đốitợng chứng minh tơng tự nh ở phần trên chúng tôi đã phân tích

Trang 24

Nh vậy, các khái niệm về đối tợng chứng minh ở trên còn có sự hạnchế nhất định Trên cơ sơ phân tích về đối tợng chứng minh và sự tiếp thunhững điểm hợp lý, khắc phục sự hạn chế trong khái niệm đối tợng chứngminh của một số tác giả, dới góc độ khoa học luật TTHS, chúng ta có thể rút

ra khái niệm đầy đủ về đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự nh sau: Đối

tợng chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp tất cả những vấn đề cha biết nhng cần phải biết mà những vấn đề này đợc luật TTHS quy định các cơ quan THTT phải làm rõ để xác định bản chất của vụ án và những nội dung khác có liên quan đến vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan THTT ra các quyết định phù hợp với quy định của luật hình sự, luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm

1.2.2 ý nghĩa của việc xác định đối tợng chứng minh

Việc xác định đúng và đầy đủ đối tợng chứng minh cả ở phơng diện lýluận và thực tiễn của vấn đề, có ý nghĩa quan trọng trong cả lĩnh vực xây dựngpháp luật và áp dụng pháp luật TTHS liên quan đến đối tợng chứng minh

1.2.2.1 Trong xây dựng pháp luật

Việc xác định đúng và đầy đủ đối tợng chứng minh có ý nghĩa tronglĩnh vực xây dựng pháp luật TTHS nh: nó là cơ sở để các nhà lập pháp đa vàoquy định trong luật TTHS một cách đầy đủ những vấn đề cần phải chứng minhtrong quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự từ đó tạo cơ sở pháp lý cho các cơquan THTT, ngời THTT nhận thức thống nhất và đầy đủ về đối tợng chứngminh góp phần nâng cao hiệu quả, chất lợng trong hoạt động của các cơ quanTHTT và bảo đảm pháp chế trong TTHS Bởi vì mọi hoạt động TTHS màtrong đó có cả hoạt động chứng minh đều phải tuân thủ những quy định củaluật TTHS vì vậy nếu luật TTHS quy định đầy đủ về những vấn đề cần phảichứng minh thì tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan THTT nhận thức thống nhất

đầy đủ về những vấn đề cần chứng minh và khi những vấn đề đó đã đợc chứng

Trang 25

minh lại là cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án Ngợc lại nếu luật TTHSquy định không đầy đủ về những vấn đề cần chứng minh sẽ dẫn đến việc bỏsót đối tợng chứng minh và việc giải quyết vụ án có thể sai sót, không kháchquan mà việc xác định đối tợng chứng minh đầy đủ, khoa học chính là cơ sở

để đa vào trong quy định của luật TTHS về đối tợng chứng minh một cách đầy

đủ

Nhng những vấn đề cần phải chứng minh bao gồm rất nhiều vấn đềnên trong phạm vi một hoặc vài điều luật không thể liệt kê hết những vấn đềcần phải chứng minh Mặt khác, có những vấn đề thuộc về bản chất của vụ án

mà trong bất kỳ vụ án hình sự nào cũng phải chứng minh nó, nhng có nhữngvấn đề chỉ phải chứng minh trong những vụ án nhất định tuỳ thuộc vào tínhchất hoàn cảnh của vụ án đó hoặc tuỳ thuộc vào hoạt động tố tụng phát sinhtrong vụ án đó nên về phơng diện lập pháp khó có thể gom tất cả những vấn

đề cần phải chứng minh đa vào quy định trong một vài điều luật trong mộtphần riêng biệt của BLTTHS mà phải quy định nó rải rác trong các điều luậtquy định về từng hoạt động tố tụng riêng biệt có liên quan đến nó Song chínhviệc xác định đúng vị trí, vai trò của những vấn đề cần chứng minh đối với vụ

án đã giúp cho hoạt động lập pháp ngời ta có thể tập hợp những tình tiết cốtyếu, quan trọng chung trong tất cả các vụ án nh những vấn đề thuộc về cácyếu tố cấu thành tội phạm hoặc các vấn đề ảnh hởng đến TNHS và hìnhphạt để quy định nó trong một điều luật cụ thể riêng biệt Và những vấn đềcần phải chứng minh quy định trong điều luật cụ thể riêng biệt này có tính bắtbuộc đối với các cơ quan THTT phải chứng minh nó trong bất kỳ vụ án nào

Ví dụ nh quy định của Điều 63 BLTTHS Việt Nam Việc có một điều luậtriêng quy định về những vấn đề cốt lõi, quan trọng của vụ án cần phải đợcchứng minh có ý nghĩa định hớng quan trọng cho các cơ quan THTT trongquá trình điều tra, chứng minh vụ án Mặt khác chính từ việc xác định đầy đủnhững vấn đề chứng minh cho thấy ngoài những vấn đề cốt lõi, quan trọng cầnchứng minh đợc quy định trong điều luật riêng này có thể cần phải chứng

Trang 26

minh những vấn đề khác có liên quan đến vụ án Chính vì vậy đòi hỏi trongquy định của điều luật riêng phải đảm bảo sự lôgíc với các điều luật khác cóquy định về vấn đề phải chứng minh để thể hiện sự thống nhất toàn diện củanhững vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự.

Nh vậy, việc xác định đối tợng chứng minh đúng có ý nghĩa quan trọng góp phần bảo đảm cho hoạt động xây dựng luật TTHS đợc hoàn thiện hơn nói chung và bảo đảm cho việc quy định về đối tợng chứng minh đợc đầy

đủ, có sự lôgíc, thể hiện sự thống nhất toàn diện của tất cả những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự nói riêng, tạo cơ sở pháp lý cho việc nhận thức thống nhất của các cơ quan THTT về đối tợng chứng minh.

1.2.2.2 Trong áp dụng luật tố tụng hình sự

Trong lĩnh vực áp dụng luật TTHS hay cụ thể hơn là trong quá trình tốtụng đối với vụ án hình sự thì việc xác định đầy đủ đối tợng chứng minh vàxác định đúng vai trò, vị trí của từng vấn đề cần chứng minh có ý nghĩa quantrọng trên những phơng diện sau đây:

Việc xác định đúng đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự giúp các cơ quan THTT có phơng hớng, kế hoạch điều tra phù hợp, góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, giảm chi phí điều tra, giải quyết vụ án Để

xác định đúng đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự cụ thể cần phải dựatrên cơ sở nắm đầy đủ những vấn đề cần chứng minh mà luật TTHS quy định

và dựa trên cơ sở đánh giá tính chất, hoàn cảnh cụ thể của vụ án cụ thể đó đểxác định xem trong vụ án đó cần phải chứng minh những vấn đề gì Chúng taphải dựa trên cơ sở những quy định của luật TTHS về những vấn đề cần chứngminh bởi vì Bộ luật TTHS ngoài việc quy định những vấn đề cần phải chứngminh trong giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào thì còn dự liệu và quy định tấtcả các vấn đề phải chứng minh khác trong hoạt động giải quyết vụ án hình sựcủa các cơ quan THTT ở các giai đoạn tố tụng Nh vậy, có thể nói luật TTHS

đã dự liệu và quy định toàn bộ những vấn đề cần phải chứng minh trong qúa

Trang 27

trình giải quyết vụ án hình sự, hay nói cách khác đối tợng chứng minh trongbất kỳ vụ án cụ thể nào cũng nằm trong số những vấn đề cần phải chứng minh

do luật TTHS quy định, tức là đối tợng chứng minh trong TTHS bao hàm đốitợng chứng minh trong vụ án cụ thể Chính vì vậy, các cơ quan THTT dựa trêncơ sở quy định của luật TTHS về đối tợng chứng minh và căn cứ vào các vụ ánhình sự cụ thể đang giải quyết để xác định đối tợng chứng minh trong vụ án

đó gồm những vấn đề gì Từ đó, vừa bảo đảm không bỏ sót đối tợng cầnchứng minh trong vụ án vừa bảo đảm không xác định đối tợng chứng minhmột cách tràn lan Trên cơ sở xác định đúng đối tợng chứng minh trong vụ ángiúp cho các cơ quan THTT có kế hoạch, phơng hớng điều tra phù hợp, không

bỏ sót chứng cứ, đồng thời không sa vào việc thu thập những chứng cứ khôngliên quan đến vụ án, từ đó góp phần vào việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời

vụ án hình sự, giảm chi phí cho điều tra, giải quyết vụ án

Xác định đúng đối tợng chứng minh là cơ sở để giải quyết đúng đắn

vụ án hình sự Nh đã phân tích ở trên từ quy định của luật TTHS về đối tợng

chứng minh giúp cho các cơ quan THTT xác định đợc đầy đủ đối tợng chứngminh trong vụ án cụ thể đang giải quyết và khi các vấn đề cần chứng minhtrong vụ án này đã đợc chứng minh đầy đủ chính là căn cứ để các cơ quanTHTT áp dụng chính xác các quy định của luật hình sự và luật TTHS, đảmbảo cho việc giải quyết vụ án hình sự đợc đúng đắn Ví dụ nh: Trong một vụ

án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khi cơ quan THTT chứng minh rõ ngời thựchiện tội phạm phạm tội trong trờng hợp: “Đối tChiếm đoạt tài sản có giá trị từ nămtrăm triệu đồng trở lên” thì tình tiết này chính là căn cứ định khung hình phạtthuộc Khoản 4, Điều 139 BLHS Việt Nam năm 1999, có mức hình phạt “Đối ttù từmời hai năm đến hai mơi năm, tù chung thân hoặc tử hình”và với mức hìnhphạt này thì theo quy định của BLTTHS Việt Nam vụ án thuộc thẩm quyềngiải quyết của cấp tỉnh

Ngợc lại, nếu không xác định đúng đối tợng chứng minh hoặc đối tợngchứng minh không đợc chứng minh đầy đủ sẽ dẫn đến việc giải quyết vụ ánhình sự thiếu khách quan không phù hợp với quy định của pháp luật, từ đó có

Trang 28

thể xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và những ngời cóliên quan khác thậm chí có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm, hoặc làm oan ngờivô tội Mặt khác khi đối tợng chứng minh cha đợc xác định và chứng minh

đầy đủ còn dẫn đến việc phải trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung việc giảiquyết vụ án bị kéo dài gây lãng phí sức ngời, sức của

1.2.3 Những vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự

Cũng nh bất kỳ hoạt động nào của con ngời, hoạt động giải quyết vụ

án hình sự có những mục đích và yêu cầu của nó Mục đích của giải quyết vụ

án hình sự nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng, kịp thời mọi hành vi phạmtội, xử lý công minh ngời phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ng-

ời vô tội, khắc phục những hậu quả do hànhh vi phạm tội gây ra và nhằm đấutranh phòng, chống tội phạm ở góc độ chung nhất, giải quyết vụ án hình sựphải bảo đảm yêu cầu tuân thủ triệt để các quy định của luật hình sự, luậtTTHS Để đảm bảo đạt đợc những mục đích và yêu cầu trong giải quyết vụ ánhình sự, luật TTHS quy định đầy đủ những vấn đề liên quan đến trình tự, thủtục giải quyết vụ án hình sự, mà trong số đó có quy định về những vấn đề phảichứng minh, làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Từ đó, những vấn

đề phải chứng minh trong vụ án hình sự đợc hiểu là tất cả những vấn đề cầnlàm rõ để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án hình sự đợc đúng đắn cả ở góc

độ luật nội dung (cơ sở cho việc áp dụng đúng đắn BLHS) và ở góc độ luậthình thức (cơ sở cho việc ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tố tụng)

Nh vậy, đối tợng chứng minhh trong vụ án hình sự có thể đợc hiểu theo nghĩarộng gồm: không chỉ là những vấn đề liên quan đến bản chất vụ án mà baogồm tất cả các vấn đề khác có liên quan đến vụ án và có ý nghĩa để giải quyết

đúng đắn vụ án theo quy định của luật hình sự và luật TTHS Theo nghĩa hẹpthì đối tợng chứng minh trong vụ án hình sự thờng đợc hiểu chỉ là những vấn

đề trong vụ án, đó là những vấn đề thuộc về bản chất của vụ án và những vấn

đề liên quan đến trách nhiệm hình sự (chẳng hạn nh quy định tại Điều 47,

Trang 29

Điều 272 BLTTHS Việt Nam năm 1988 hoặc Điều 63, Điều 302 BLTTHSViệt Nam năm 2003) Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu về đốitợng chứng minh trong vụ án hình sự theo nghĩa rộng, tức là tất cả những vấn

đề gì mà luật TTHS quy định phải chứng minh.Trong số những vấn đề cầnchứng minh thì có vấn đề luật TTHS quy định trực tiếp một cách rõ ràng, cóvấn đề luật TTHS quy định một cách gián tiếp mà phải qua nghiên cứu điềuluật này trong mối quan hệ tổng thể của luật TTHS chúng ta mới thấy đợc vấn

sự và luật TTHS - tức là quá trình đó phải dựa trên những căn cứ nhất định đợcquy định trong luật hình sự và luật TTHS Mà thực chất của quá trình đó làviệc các cơ quan THTT phải chứng minh làm rõ các tình tiết của vụ án vànhững tình tiết có liên quan đến vụ án xem nó phù hợp, thoả mãn với nhữngquy định nào của luật hình sự, luật TTHS Chẳng hạn để xác định có tội phạmxảy ra hay không các cơ quan THTT phải chứng minh, xác định xem vụ việcxảy ra có đủ các tình tiết thoả mãn các dấu hiệu trong khái niệm tội phạm đợcquy định trong BLHS hay không Hoặc khi xử lý ngời phạm tội phải chứngminh xem họ có đủ điều kiện đợc miễn TNHS hay không, nếu không đợcmiễn TNHS và phải áp dụng hình phạt đối với họ thì phải chứng minh các tìnhtiết là căn cứ quyết định hình phạt để từ đó xác định đúng loại và mức hìnhphạt cần áp dụng đối với ngời phạm tội Nh vậy, chúng ta có thể rút ra rằng:các căn cứ, cơ sở của việc xác định nội dung của đối tợng chứng minh chủ yếuchính là các khái niệm, các quy định của luật hình sự, luật TTHS Tuy nhiên,không phải là căn cứ vào tất cả các quy định của luật hình sự, luật TTHS để

Trang 30

xác định nội dung đối tợng chứng minh mà chỉ căn cứ vào những quy địnhnào có liên quan đến việc cần phải xác định xem trong vụ án có những tìnhtiết phù hợp, thoả mãn với những quy định đó không Đó là các quy định, cáckhái niệm nh: khái niệm về tội phạm, cơ sở của TNHS, miễn TNHS, các tìnhtiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, các giai đoạn thực hiện tội phạm,thời hiệu truy cứu TNHS ví dụ: quy định của luật hình sự về thời hiệu truycứu TNHS là căn cứ để xác định nội dung đối tợng chứng minh liên quan đếnthời hiệu truy cứu TNHS, đó là phải chứng minh các tình tiết nh: tội phạm đó

có đợc áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS không? thuộc loại tội phạm gì? đã xảy

ra bao lâu? ngời phạm tội có trốn tránh và bị truy nã không?

Tuy nhiên, không phải tất cả những nội dung của đối tợng chứng minh

đều đợc xác định dựa trên các căn cứ là các khái niệm, các quy định của luậthình sự, luật TTHS mà có những nội dung cần chứng minh đợc luật TTHS quy

định dựa trên cơ sở xuất phát từ mục đích, yêu cầu của hoạt động tố tụng Ví

dụ nh: để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đợc đúng đắn khách quan luậtTTHS quy định chứng minh một số vấn đề nh: mối quan hệ giữa ngời làmchứng với bị can, bị cáo hoặc với ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dânsự

Từ cách đặt vấn đề theo lôgic nh trên, dới đây chúng ta lần lợt làm rõnhững vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự:

- Trớc hết, để giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề cốt lõi, cơ bản là phảixác định xem có tội phạm xảy ra hay không, đó là tội phạm gì, đợc quy định ở

điều, khoản nào của BLHS để làm đợc việc đó các cơ quan THTT phảichứng minh làm rõ những tình tiết diễn biến trong vụ án để so sánh sự phùhợp của tình tiết diễn biến của vụ án đó với khái niệm tội phạm trong luật hình

sự, cũng nh với các quy định của luật hình sự về tội phạm cụ thể Trên thực tếmỗi tội phạm xảy ra thờng có những diễn biến khác nhau mà không có tộiphạm nào hoàn toàn giống tội phạm nào nhng những tội phạm cụ thể đều cónhững yếu tố pháp lý đặc trng đợc quy định trong luật hình sự- những yếu tố

Trang 31

pháp lý đặc trng này- đợc khoa học luật hình sự gọi là các yếu tố cấu thành tộiphạm Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ngời ta dựa vào các yếu tốcấu thành tội phạm để làm căn cứ pháp lý xác định tội phạm cụ thể Vì vậy,trong giải quyết vụ án hình sự việc xác định có tội phạm xảy ra hay không? đó

là tội phạm gì thuộc khung, điều luật nào? chính là việc xác định các yếu tốcấu thành tội phạm trong vụ án đó- hay nói cách khác là phải chứng minhtrong vụ án đó có các tình tiết tơng ứng với các yếu tố câú thành tội phạm haykhông- tức là chứng minh các yếu tố cấu thành tội phạm

Các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: khách thể của tội phạm; mặtkhách quan của tội phạm; chủ thể của tội phạm; mặt chủ quan của tội phạm

+ Chứng minh khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội đợc luật hình sự bảo

vệ, nhng bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe doạ trực tiếpgây thiệt hại ở một chừng mực nhất định [26, tr 81]

Chứng minh khách thể của tội phạm tức là phải xác định đợc quan hệxã hội nào đợc hình sự bảo vệ nhng bị tội phạm xâm hại Nếu không có quan

hệ xã hội bị xâm hại, hoặc tuy có quan hệ xã hội bị xâm hại nhng quan hệ xãhội đó không đợc luật hình sự bảo vệ thì sẽ không có tội phạm

Một hành vi phạm tội có thể xâm hại đến nhiều khách thể, mặt kháctrong một vụ án hình sự ngời phạm tội có thể thực hiện nhiều hành vi phạmtội Bởi vậy, trong những trờng hợp này cần phải chứng minh làm rõ tất cả cácquan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại

Thờng khách thể của tội phạm đợc xác định thông qua việc xác định

đối tợng của tội phạm Tuy nhiên, cùng một đối tợng tác động của tội phạmnhng những đối tợng này lại thuộc những khách thể của tội phạm khác nhau.Song trong một chừng mực nhất định, dựa vào khách thể của tội phạm có thểphân đợc các loại tội phạm này với tội phạm khác

Trang 32

Dựa vào khách thể của tội phạm mà xác định đợc tính chất, mức độnguy hiểm của hành vi phạm tội Khách thể càng quan trọng thì tính chất vàmức độ nguy hiểm càng lớn

Nh vậy, chứng minh khách thể của tội phạm là xác định quan hệ xãhội nào đợc luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại? Trong một vụ án có thểphải chứng minh nhiều khách thể bị xâm hại Nếu khách thể không bị xâm hạithì không có tội phạm và khi đó sẽ không đợc khởi tố vụ án hoặc nếu đã khởi

tố thì phải đình chỉ

+Chứng minh mặt khách quan của tội phạm:

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tộiphạm tác động vào quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ gây nên thiệt hại

đáng kể cho quan hệ xã hội đó [26, tr 91]

Khi chứng minh mặt khách quan của tội phạm phải chứng minh cácvấn đề sau: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mốiquan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; phơng pháp, phơng tiện, công cụ,thủ đoạn để thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; thời gian, địa điểm, hoàncảnh, nơi xảy ra tội phạm

Trong những vấn đề thuộc mặt khách quan của tội phạm nh trên, cónhững vấn đề là dấu hiệu bắt buộc mà có dấu hiệu đó mới cấu thành tội phạm,chẳng hạn dấu hiệu bắt buộc ở mọi cấu thànhh tội phạm nh: hành vi nguyhiểm cho xã hội Nếu khi chứng minh xác định đợc không có dấu hiệu này thìkhông cấu thành tội phạm và sẽ không có tội phạm xảy ra Tuy nhiên hành vinguy hiểm cho xã hội đợc coi là dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm nếuhành vi đó đợc ghi nhận trong luật hình sự

Chứng minh hậu quả nguy hiểm cho xã hội chính là chứng minh hậuquả của hành vi phạm tội - có ý nghĩa để làm căn cứ định tội, định khung hìnhphạt và quyết định hình phạt, chẳng hạn nh: nếu một ngời cha bị xử lý hànhchính về hành vi chiếm đoạt hoặc cha bị kết án về tội chiếm đoạt mà họ trộm

Trang 33

cắp tài sản thì họ chỉ phạm tội trộm cắp tài sản, khi tài sản bị trộm cắp có giátrị từ năm trăm nghìn đồng trở lên, nếu tài sản có giá trị từ năm mơi triệu đồng

đến đới hai trăm triệu đồng thì họ phạm tội thuộc Khoản 2 Điều 138 BLHSViệt Nam (khoản 2 là khung tăng nặng) Hậu quả của hành vi phạm tội còn làyếu tố quyết định hình phạt thể hiện ở Điều 45 BLHS Việt Nam quy định vềcăn cứ quyết định hình phạt: “Đối tKhi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vàoquy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội, nhân thân ngời phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặngTNHS” Điều 46 BLHS Việt Nam quy định về tình tiết giảm nhẹ TNHS:phạm tội nhng cha gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn

Tuy nhiên, hậu quả nguy hiểm cho xã hội ở đây phải là hậu quả dochính hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp gây nên Tức là phải chứng minhmối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quả nguyhiểm cho xã hội

Chứng minh những dấu hiệu khác của mặt khách quan của tội phạmnh: công cụ, phơng tiện, thủ đoạn, phơng pháp thực hiện hành vi phạm tội;thời gian, địa điểm, hoàn cảnh nơi xảy ra tội phạm; tình hình kinh tế, chính trị,xã hội khi xảy ra tội phạm là cần thiết và có ý nghĩa Bởi vì, trong số đó cónhững dấu hiệu trong những trờng hợp nhất định là dấu hiệu bắt buộc trongcấu thành tội phạm, chẳng hạn nh: địa điểm thực hiện tội phạm là dấu hiệu bắtbuộc trong tội hoạt động phỉ Trong một số trờng hợp, những dấu hiệu này lànhững dấu hiệu cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS cho ngờithực hiện hành vi phạm tội, chẳng hạn nh dấu hiệu: “Đối tDùng hung khí nguyhiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều ngời” là dấu hiệu địnhkhung tăng nặng trong tội cố ý gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻcuả ngời khác; có dấu hiệu còn có ý nghĩa để xác định thẩm quyền giải quyết

vụ án nh dấu hiệu địa điểm phạm tội; có dấu hiệu có ý nghĩa để xác địnhTNHS nh: dấu hiệu thời gian phạm tội để xác định thời hiệu truy cứu TNHS

Trang 34

Trong một vụ án hình sự, có thể phải chứng minh làm rõ nhiều hành vinguy hiểm cho xã hội và cùng với nó, phải chứng minh các dấu hiệu khácthuộc mặt khách quan của tội phạm liên quan đến từng hành vi Điều này xảy

ra khi ngời phạm tội thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tộighép hoặc thực hiện nhiều tội phạm

Nh vậy, chứng minh mặt khách quan của tội phạm bao gồm phảichứng minh nhiều dấu hiệu khác nhau, các dấu hiệu này đều có ý nghĩa đốivới việc giải quyết đúng đắn vụ án, tuy nhiên ý nghĩa của các dấu hiệu cókhác nhau Trong một vụ án, có thể phải chứng minh mặt khách quan của cáctội phạm khác nhau

+ Chứng minh chủ thể của tội phạm:

Tội phạm bao giờ cũng đợc thực hiện bởi con ngời cụ thể, bởi vậychứng minh chủ thể của tội phạm là chứng minh ai là ngời thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội trái pháp luật hình sự, tức là ai là ngời thực hiện hành viphạm tội - thực hiện tội phạm Ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

có năng lực TNHS không; có đủ khả năng nhận thức hành vi và khả năng điềukhiển hành vi của mình không? Họ đã đến tuổi chịu TNHS cha? ở đây cần luý: một ngời tuy có thể mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi

do bị say rợu hoặc dùng chất kích thích mạnh khác mà họ có lỗi đối với tìnhtrạng say của mình thì luật hình sự vẫn thừa nhận họ là ngời có đủ năng lựcTNHS

Trong một vụ án hình sự có thể còn phải chứng minh ngoài ngời thựchiện hành vi phạm tội còn có ai tham gia vào việc thực hiện tội phạm nữa.Năng lực TNHS và độ tuổi của những ngời cùng tham gia này nh thế nào Tức

là phải chứng minh những ngời đồng phạm trong vụ án hình sự

Trong luật hình sự còn có một số tội phạm khi cấu thànhh tội phạm,ngoài các dấu hiệu bắt buộc của chủ thể: Năng lực TNHS, độ tuổi thì còn cócác dấu hiệu khác mà khi cấu thành tội phạm đòi hỏi phải có Những chủ thể

Trang 35

đòi hỏi phải có thêm dấu hiệu đặc biệt gọi là chủ thể đặc biệt Trong những tộiphạm đòi hỏi chủ thể đặc biệt thì phải chứng minh thêm những dấu hiệu đặcbiệt của chủ thể đó nh: Chủ thể là ngời có chức vụ, quyền hạn trong tội tham ôtài sản, tội nhận hối lộ ; Chủ thể liên quan đến nghề nghiệp, tính chất côngviệc trong tội vi phạm các quy định về hàng không, tội vi phạm các quy định

về hằng hải ; Chủ thể liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện trong tội trốntránh nghĩa vụ quân sự ; Chủ thể liên quan đến giới tính trong tội hiếp dâm,tội cỡng dâm ; Chủ thể liên quan đến quan hệ gia đình, họ hàng trong tộiloạn luân

Hiện nay, trong BLHS Việt Nam năm 1999 có quy định các dấu hiệu

“Đối t đã bị xử lý hành chính hoặc đã bị kết án cha đợc xoá án tích”, “Đối tđã đợcgiáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đa vào cơ sở chữabệnh bắt buộc ” là dấu hiệu bắt buộc trong một số cấu thành tội phạm chẳnghạn nh, Khoản 1 Điều 138 BLHS Việt Nam quy định: “Đối tNgời nào trộm cắp tàisản của ngời khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dới năm mơi triêụ

đồng hoặc dới năm trăm nghìn đồng nhng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã

bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm

đoạt tài sản, cha đợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không

giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” Hoặc Khoản 1

Điều 199 BLHS Việt Nam quy định: “Đối tNgời nào sử dụng trái phép chất ma tuý

dới bất kỳ hình thức nào, đã đợc giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính

bằng biện pháp đa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái

phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm”

Về bản chất các dấu hiệu ở trên là các dấu hiệu thuộc nhân thân ngờiphạm tội Nhng đợc BLHS Việt Nam năm 1999 đa vào quy định là dấu hiệubắt buộc trong một số cấu thành tội phạm và những dấu hiệu này liên quantrực tiếp đến chủ thể Nên theo quan điểm của chúng tôi có thể coi những dấuhiệu này là dấu hiệu đặc biệt của chủ thể, bởi vì trong những trờng hợp luậtquy định nh trên thì một ngời thực hiện hành vi phạm tội chỉ có tội (trở thành

Trang 36

chủ thể của tội phạm) khi họ có dấu hiệu của chủ thể bình thờng còn phải cócác dấu hiệu nh đã bị xử lý hành chính đã bị kết án cha đợc xoá án tíchhoặc đã đợc giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đavào cơ sở chữa bệnh bắt buộc

+ Chứng minh mặt chủ quan của tội phạm:

Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến bên trong phản ánh trạng tháitâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành

có lỗi, thì lỗi đó là do cố ý hay vô ý, bởi vì, lỗi phần nào phản ánh mức độnguy hiểm của hành vi phạm tội nh: Hành vi đợc thực hiện bởi lỗi do cố ý baogiờ cũng nguy hiểm hơn hành vi đợc thực hiện bởi lỗi do vô ý; Thờng thì hìnhthức lỗi vô ý phải gây ra hậu quả nghiêm trọng ở mức độ nhất định mới bị coi

là tội phạm cho nên cấu thành tội phạm ở các tội phạm có lỗi vô ý thờng làcấu thành tội phạm vật chất, hơn nữa trong BLHS Việt Nam một số tội quy

Trang 37

định rõ hình thức lỗi là cố ý hoặc vô ý, chẳng hạn nh tội cố ý gây thơng tíchhoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngời khác (Điều 104) hoặc tội vô ý gây th-

ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngời khác (Điều 108)

Có trờng hợp lỗi mang tính hỗn hợp, tức là ngời phạm tội cố ý về hành

vi nhng vô ý về hậu quả thì đòi hỏi cũng phải đợc chứng minh làm rõ, nếukhông sẽ dẫn đến định tội sai, bởi vì nếu vô ý về hậu quả thì thờng là tình tiết

định khung tăng nặng trong cùng một tội, còn nếu cố ý cả với hậu quả thì sẽcấu thành một tội khác nặng hơn

Chứng minh động cơ phạm tội cũng là yêu cầu bắt buộc, vì động cơphạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong một số tội phạm, chẳng hạn nh Điều 281BLHS Việt Nam quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thihành công vụ: “Đối tNgời nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụngchức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nớc, củaxã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân thì bị phạt cải tạo không giamgiữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm” Một số tội khác

động cơ phạm tội phản ánh trong cấu thành tội phạm tăng nặng TNHS, chẳnghạn nh giết ngời, vì động cơ đê hèn - quy định tại Điểm 9 Khoản 1 Điều 93BLHS Việt Nam (là cấu thành tăng nặng) Tuy nhiên, động cơ phạm tội chỉ cótrong trờng hợp tội phạm đợc thực hiện do cố ý, còn trong những tội phạm đợcthực hiện do vô ý không có động cơ phạm tội mà chỉ có thể là động cơ ứng xửtrong cuộc sống

Tơng tự, việc chứng minh mục đích phạm tội cũng là yêu cầu bắt buộcvì trong một số tội mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc Chẳng hạn, cùngmột hành vi phạm tội trốn khỏi nơi giam, nhng nếu vì mục đích chống chínhquyền nhân dân thì phạm tội chống phá trại giam (quy định tại Điều 90 BLHSViệt Nam), nếu không có mục đích chống chính quyền nhân dân thì phạm tộitrốn khỏi nơi giam, giữ (quy định tại Điều 311 BLHS Việt Nam) Trong một

số trờng hợp mục đích phạm tội là yếu tố định khung hình phạt Tuy nhiên,mục đích phạm tội thờng chỉ có ở tội phạm đợc thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp

Trang 38

Qua nghiên cứu quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết vụ ánhình sự, chúng tôi thấy rằng, liên quan đến việc chứng minh các yếu tố cấuthành tội phạm thì trong một số trờng hợp các cơ quan THTT cần lu ý chứngminh các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi nh: Phòng vệ chính

Ngời phạm tội có đợc hởng thời hiệu truy cứu TNHS hay không? gồmcác tình tiết nh: tội phạm đó có đợc áp dụng thời hạn truy cứu TNHS không,thuộc loại tội phạm gì, đã xảy ra bao lâu; ngời phạm tội có trốn tránh và bịtruy nã không?

Nếu ngời phạm tội không thuộc trờng hợp đợc hởng thời hiệu truy cứuTNHS hoặc thời hiệu truy cứu TNHS cha hết thì phải chứng minh xem họ có

đợc miễn TNHS hay không, nh: do chuyển biến của tình hình hành vi phạmtội hoặc ngời phạm tội còn nguy hiểm cho xã hội không, có thuộc trờng hợp

tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không; ngời phạm tội có đợc đại xákhông?

Chứng minh các tình tiết dẫn đến việc có thể đợc miễn hình phạt nh:ngời phạm tội trong trờng hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đáng đợckhoan hồng đặc biệt, nhng cha đến mức đợc miễn TNHS

Nếu họ không đợc miễn TNHS và cũng không đợc miễn hình phạt thìtiếp tục phải chứng minh những vấn đề là căn cứ quyết định hình phạt nh:chứng minh tính chất và mức độ của hành vi phạm tội Cần lu ý rằng khi xác

định mức độ gây thiệt hại của hành vi phạm tội không chỉ có hậu quả trong mặtkhách quan của tội phạm mà còn bao gồm những hậu quả khác thể hiện tính

Trang 39

chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, chẳng hạn: kẻ phạm tội vào một gia đìnhgiết chết hai vợ chồng chủ nhà và cớp tài sản, hai cháu nhỏ con của đôi vợchồng bị giết không ai chăm sóc, nuôi dỡng sinh ra bệnh tật ốm yếu, xã hộiphải nuôi hai cháu nhỏ đến khi trởng thành ở đây hậu quả của tội phạm đợc coi

là dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm chỉ ở việc gây thiệt hại cho tínhmạng của đôi vợ chồng và tài sản của họ, còn việc hai cháu nhỏ không có ngờichăm sóc nên bệnh tật, ốm yếu chỉ là dấu hiệu đánh giá tính chất của tội phạmchứ không phải dấu hiệu trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm; Chứngminh các tình tiết tăng nặng TNHS và các tình tiết giảm nhẹ TNHS Thực tiễncho thấy, trong số những tình tiết này có thể có tình tiết đã đợc làm rõ khichứng minh các yếu tố cấu thành tội phạm hoặc khi chứng minh tính chất, mức

độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhng còn những tình tiết tăng nặng TNHShoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS khác cần phải chứng minh Cần lu ý rằng nhữngtình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không đợc coi làtình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS; Chứng minh những tình tiết

về nhân thân ngời phạm tội; Nếu tội phạm đợc thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp thìcần chứng minh tội phạm đợc thực hiện ở giai đoạn nào vì hình phạt áp dụng

đối với ngời chuẩn bị phạm tội và phạm tội cha đạt thấp hơn mức hình phạt ápdụng đối với ngời phạm tội ở giai đoạn tội phạm hoàn thành; Trong vụ án đồngphạm, còn phải chứng minh tính chất của đồng phạm, vai trò, tính chất và mức

độ tham gia thực hiện tội phạm của từng ngời đồng phạm để cá thể hoá TNHS

và hình phạt đối với họ

- Nh chúng ta đã biết trong giải quyết vụ án hình sự mục đích và yêucầu đặt ra không những đòi hỏi phải làm rõ bản chất của vụ án và xử lý ngiêmminh ngời phạm tội mà còn đòi hỏi toàn bộ quá trình giải quyết vụ án phảituân thủ đúng quy định của luật hình sự, luật TTHS, việc giải quyết vụ án phải

đảm bảo đúng đắn khách quan bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ngờitham gia tố tụng và ngời có liên quan đến vụ án, khắc phục hậu quả của tộiphạm, cũng nh đề ra đợc các biện pháp phòng ngừa tội phạm Chính vì vậy

Trang 40

ngoài việc chứng minh những vấn đề liên quan đến việc xác định tội phạm, xử

lý ngời phạm tội, còn phải chứng minh những vấn đề khác để đảm bảo choviệc giải quyết vụ án hình sự đợc đúng đắn và phục vụ cho việc đấu tranhphòng ngừa tội phạm, đó là bao gồm những vấn đề nh:

Các tình tiết để xác định việc bồi thờng thiệt hại hoặc để áp dụng cácbiện pháp t pháp nh: Mức độ thiệt hại gây ra, hoàn cảnh của nguyên đơn dân

Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo

Những tình tiết là căn cứ không đợc khởi tố vụ án hình sự, là căn cứxác định thẩm quyền điều tra, giải quyết vụ án; những tình tiết là căn cứ tạm

đình chỉ, đình chỉ vụ án

Hành vi phạm tội của ngời đó đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ

vụ án có hiệu lực pháp luật không?

Ngời bị hại có yêu cầu khởi tố không? (trong một số trờng hợp khởi tốtheo yêu cầu của ngời bị hại)

Những tình tiết làm căn cứ cho việc xử lý vật chứng hoặc làm căn cứcho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp t pháp và các biện pháp tốtụng khác nh: khi trả lại vật chứng cho chủ sở hữu phải chứng minh việc trả đókhông ảnh hởng đến việc xử lý vụ án hoặc khi áp dụng biện pháp ngăn chặnthì phải chứng minh bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,xét xử hoặc tiếp tục phạm tội cũng nh để bảo đảm thi hành án

Và những tình tiết có liên quan khác có ý nghĩa trong việc giải quyết

đúng đắn vụ án hình sự

Ngày đăng: 17/10/2013, 06:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Đỗ Văn Đơng (2000), “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ Luật học, TrờngĐại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Văn Đơng
Năm: 2000
[4] ĐHQG Hà Nội, khoa luật (2001), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật TTHS Việt Nam
Tác giả: ĐHQG Hà Nội, khoa luật
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia
Năm: 2001
[5] ĐHQGHN, Trờng Đại học KHXH và NV, khoa Luật (1999), giáo trình điều tra Hình sự, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình "điều tra Hình sự
Tác giả: ĐHQGHN, Trờng Đại học KHXH và NV, khoa Luật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
[6] Đuma Quốc gia Liên bang Nga (2001), BLTTHS Liên bang Nga, phụ trơng thông tin khoa học pháp lý, VKSND Tối cao, Hà nôi 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLTTHS Liên bang Nga
Tác giả: Đuma Quốc gia Liên bang Nga
Năm: 2001
[7] Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, khoa Triết học (1997), Triết học Mác - LêNin chơng trình cao cấp Tập II, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác - LêNin chơng trình cao cấp Tập II
Tác giả: Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, khoa Triết học
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[8] LêNin, V.I., Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M., 1981, t.29, tr 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
[9] Nghị viện Pháp (1957), BLTTHS của nớc Cộng hoà Pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLTTHS của nớc Cộng hoà Pháp
Tác giả: Nghị viện Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1957
[10] Nguyễn Văn Hoan (2000) “Đối tợng chứng minh và phơng tiện chứng minh trong vụ án hình sự về tội giết ngời”, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật học, ĐHQG Hà Nội, Khoa luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối tợng chứng minh và phơng tiện chứng minh trong vụ án hình sự về tội giết ngời
[12] Phạm Thế Lực (2000), “Chứng minh trong TTHS Việt Nam”, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học QGHN, Khoa luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng minh trong TTHS Việt Nam
Tác giả: Phạm Thế Lực
Năm: 2000
[13] Quốc hội nớc CHND Trung Hoa (1979), BLTTHS của nớc CHND Trung Hoa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLTTHS của nớc CHND Trung Hoa
Tác giả: Quốc hội nớc CHND Trung Hoa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1979
[14] Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam (1985), BLHS của nớc CHXHCN Việt Nam năm 1985, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLHS của nớc CHXHCN Việt Nam năm 1985
Tác giả: Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1985
[15] Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam (1988), BLTTHS của nớc CHXHCN Việt Nam năm 1988, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLTTHS của nớc CHXHCN Việt Nam năm 1988
Tác giả: Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1988
[16] Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam (1992), Hiến pháp nớc CHXHCN Việt Nam năm 1992, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nớc CHXHCN Việt Nam năm 1992
Tác giả: Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1992
[17] Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam (1999), BLTTHS của nớc CHXHCN Việt Nam năm 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLTTHS của nớc CHXHCN Việt Nam năm 1999
Tác giả: Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
[18] Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam (2001), Nghị quyết về việc sửa đổi, “ bổ sung một số điều của Hiến pháp nớc CHXHCN Việt Nam năm 1992”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về việc sửa đổi,"“"bổ sung một số điều của Hiến pháp nớc CHXHCN Việt Nam năm 1992
Tác giả: Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[19] Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam (2003), BLTTHS của nớc CHXHCN Việt Nam năm 2003, Nxb T pháp, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLTTHS của nớc CHXHCN Việt Nam năm 2003
Tác giả: Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb T pháp
Năm: 2003
[20] TANDTC (2000), Báo cáo tổng kết công tác ngànhToà án năm 1999 và phơng hớng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngànhToà án năm 1999 và phơng hớng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2000
Tác giả: TANDTC
Năm: 2000
[21] TANDTC (2001), Báo cáo công tác ngành Toà án năm 2000 và phơng h- ớng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác ngành Toà án năm 2000 và phơng h-ớng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2001
Tác giả: TANDTC
Năm: 2001
[22] TANDTC (2002), Báo cáo công tác ngành Toà án năm 2001 và phơng h- ớng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác ngành Toà án năm 2001 và phơng h-ớng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2002
Tác giả: TANDTC
Năm: 2002
[23] TANDTC (2003), Báo cáo công tác ngành Toà án năm 2003 và phơng h- ớng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác ngành Toà án năm 2003 và phơng h-ớng nhiệm vụ công tác Toà án năm 2004
Tác giả: TANDTC
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w