Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: khái quát chung về di chúc 6 1.1. Vài nét về thừa kế và quyền thừa kế 6 1.2. Di chúc và đặc điểm của di chúc 7 1.3. Tiến trình phát triển của những quy định pháp luật về thừa kế nói chung và các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng ở Việt Nam 12 Chương 2: các điều kiện có hiệu lực của di chúc 29 2.1. Người lập di choc 29 2.2. ý chí của người lập di chúc 35 2.3. Về nội dung của di choc 53 2.4. Về hình thức của di choc 62 Chương 3: thực trạng giải quyết những tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc và hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về tính hợp pháp của di chúc 84 3.1. Thực trạng giải quyết những tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc tại Tòa án nhân dân 84 3.2. Một số loại tranh chấp về thừa kế theo di chúc cụ thể 88 3.3. Hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di choc 105 KẾT LUẬN 110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội Tronggiai đoạn hiện nay, khi số lợng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng đa dạng,phong phú thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp Bộluật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 quy định các
điều kiện có hiệu lực của di chúc, nhng việc hiểu và áp dụng những quy định đótrong việc giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc trên thực tế cònnhiều bất cập Những khó khăn thờng đợc thể hiện trong việc xác định phải cónhững điều kiện gì thì di chúc mới đợc coi là hợp pháp, điều kiện của ngời lập
di chúc, ý chí của ngời lập di chúc, nội dung của di chúc và hình thức của dichúc Trong thực tiễn thì các quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệulực của di chúc còn có những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định vàquyết định không giống nhau của một số bản án giải quyết cùng một vụ ántranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc Do vậy, việc nghiên cứunhằm làm rõ những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của dichúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 là
đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của lý luận và thực tiễn Qua nghiên cứu đề tài,tác giả cũng muốn xác định ý nghĩa của chế định về quyền thừa kế nói chung vàthừa kế theo di chúc nói riêng Với việc nghiên cứu đề tài, tác giả muốn hoànthiện hơn nữa những quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của dichúc, nhằm mục đích nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh của những quy
định này trong Bộ luật dân sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cũng nh thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc nói chung và các
điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng đã đợc hầu hết các luật gia, các nhà
Trang 2lập pháp của các nớc trên thế giới nghiên cứu Có thể dễ dàng nhận thấy rằng,
Bộ luật dân sự của các nớc đều quy định về quyền định đoạt bằng di chúc củachủ sở hữu tài sản nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho ngời khác Quyền
định đoạt bằng di chúc là quyền dân sự đợc Nhà nớc bảo hộ, đợc ghi nhận trongHiến pháp của Nhà nớc ta và của các nớc khác trên thế giới
ở nớc ta, việc nghiên cứu về thừa kế theo di chúc nói chung và nghiên cứu
về các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng đã có từ xa xa Chúng ta cóthể kể đến nhiều bộ luật nh: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, Dân luật Bắc
1995 đợc ban hành thì vấn đề các điều kiện có hiệu lực của di chúc mới đợc quy
định rõ ràng hơn Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Bộ luật này, cũng cònnhiều vấn đề cần phải trao đổi
Về kết quả nghiên cứu của các luật gia: Tính đến thời điểm hiện naycũng đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thừa kế, nhng chỉ có một
số ít công trình nghiên cứu về thừa kế theo di chúc Đáng chú ý trong các côngtrình nghiên cứu này, phải kể đến đề tài: "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay" của tiến sĩ Phùng Trung Tập; đề tài:
"Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam" của tiến sĩ
Phạm Văn Tuyết; cuốn sách: "Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam" của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện Tuy nhiên, những công trình trên
không nghiên cứu riêng và có tính hệ thống về các điều kiện có hiệu lực của
Trang 3Nhận thức đợc vấn đề này, tác giả luận văn đã nghiên cứu trong mộtdiện hẹp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc để nhằm làm sáng tỏ việc xác
định các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự
năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 Với kết quả nghiên cứu của đề tài: "Các
điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự" sẽ giúp
các cơ quan lập pháp ban hành các văn bản dới luật để hoàn thiện những quy
định về điều kiện có hiệu lực của di chúc, đồng thời giúp các cơ quan áp dụngpháp luật trong việc nhận thức đúng đắn và toàn diện khi giải quyết những tranhchấp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nội dung của luận văn không nghiên cứu toàn diện những quy định củapháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, mà chỉ tậptrung nghiên cứu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc đợc quy định trong
Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 và có sự đốichiếu với những quy định tơng ứng trong Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam năm 2005 (có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2006) Qua đó, tácgiả so sánh, đối chiếu với những quy định pháp luật trớc khi Bộ luật dân sự đợcban hành để làm nổi bật tính hiện đại của những quy định về các điều kiện cóhiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm
2005 Mặt khác, đề tài cũng có sự so sánh (ở diện hẹp) về các điều kiện có hiệulực của di chúc ở các nớc nh Nhật Bản, Cộng hòa Pháp với Việt Nam để làm nổibật những nét đặc thù và tính hiện đại của pháp luật Việt Nam quy định về các
điều kiện có hiệu lực của di chúc
Trong quá trình nghiên cứu, một số các quy định của pháp luật có liênquan đến nội dung của đề tài cũng đợc tìm hiểu nh: Năng lực pháp luật dân sự,năng lực hành vi dân sự, giao dịch dân sự theo pháp luật dân sự Việt Nam để
có sự so sánh, đối chiếu, với mục đích làm nổi bật những quy định của phápluật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Trang 44 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về các điều kiện có hiệulực của di chúc theo quy định của pháp luật ở Việt Nam
- Luận văn tập trung nghiên cứu có hệ thống và toàn diện từng điều kiện
có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luậtdân sự năm 2005, hiệu quả điều chỉnh của những quy định pháp luật về các điềukiện đó Luận văn tìm ra những điểm phù hợp với đời sống xã hội và những
điểm cần phải bổ sung các quy định về các điều kiện có hiệu lực của di chúctheo quy định của Bộ luật dân sự
- Qua nghiên cứu, tác giả luận văn có những kiến nghị nhằm hoàn thiệnmột bớc những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc,giúp các nhà lập pháp bổ sung những quy định còn thiếu về các điều kiện cóhiệu lực của di chúc để đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của xã hội trong quan hệthừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng
5 Phơng pháp nghiên cứu
Dựa trên phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ ChíMinh về Nhà nớc và pháp luật, luận văn sử dụng phơng pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, những phơngpháp khoa học khác nh: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê cũng đợc sửdụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra
Một số vụ án giải quyết tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của dichúc cũng đợc sử dụng có chọn lọc để bình luận và các số liệu thống kê củangành Tòa án nhân dân cũng đợc tham khảo để việc nghiên cứu đợc toàn diện
và sâu sắc hơn
6 Kết quả đạt đợc và những điểm mới của luận văn
- Luận văn phân tích có hệ thống những quy định pháp luật về các điều
Trang 5phù hợp với quan hệ thừa kế theo di chúc và những điểm còn bất cập về các
điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 1995, những điểmcần hớng dẫn thực hiện theo Bộ luật dân sự năm 2005
- Kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả đã có những điểm mới sau đây:+ Đây là đề tài khoa học đợc nghiên cứu lần đầu tiên ở nớc ta ở cấp thạc
sĩ luật học
+ Luận văn hệ thống hóa đợc những quy định pháp luật về điều kiện cóhiệu lực của di chúc ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, làm cơ sở để nghiên cứutoàn diện và hệ thống những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lựccủa di chúc đợc quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm2005
+ Luận văn chỉ ra những hạn chế, những vấn đề còn thiếu của nhữngquy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sựnăm 1995, phân tích những quy định về các điều kiện có hiệu lực của di chúctheo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, qua đó có những kiến nghị khoahọc nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của
di chúc trong Bộ luật dân sự năm 2005
+ Luận văn chỉ ra đợc những bất cập trong việc hiểu không đúng cácquy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong việc áp dụngpháp luật, đồng thời có những kiến nghị để các cơ quan nhà nớc có thẩm quyềnban hành những văn bản hớng dẫn cần thiết
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chơng, 10 mục
Trang 6Chơng 1
Khái quát chung về di chúc
1.1 Vài nét về thừa kế và quyền thừa kế
Ngay từ khi nhà nớc và pháp luật cha ra đời thì quan hệ thừa kế đã tồntại nh một yếu tố khách quan Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế cómầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài ngời Thừa
kế và để lại thừa kế mặc dù cha đợc điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật,nhng nó vẫn tồn tại một cách khách quan trong xã hội ở thời kỳ này, quan hệthừa kế dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục tập quán riêng củatừng bộ lạc, thị tộc quyết định
Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật xuất hiện đồng thời với quan
hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngời Khi có t hữu,nhà nớc ra đời, quyền thừa kế đợc pháp luật quy định, bảo vệ Mỗi nhà nớc khácnhau có hệ thống những quy phạm pháp luật về thừa kế khác nhau Pháp luậtthừa kế thể hiện rõ bản chất giai cấp Quyền thừa kế với t cách là một chế địnhpháp luật, luôn gắn liền với một nhà nớc nhất định
Trong chế độ phong kiến và t bản, giai cấp bóc lột chiếm hữu hầu hết tliệu sản xuất chủ yếu của xã hội Các quy định của pháp luật thừa kế phongkiến và t bản đảm bảo sự chuyển dịch tài sản từ ngời bóc lột này sang ngời bóclột khác Qua việc chuyển dịch tài sản bằng hình thức thừa kế, giai cấp t sản,giai cấp phong kiến duy trì sự thống trị cả về chính trị và kinh tế Bằng công cụpháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng, giai cấp bóc lột duy trì sựthống trị xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác qua việc nắm giữ các t liệu sảnxuất, để từ đó nắm giữ thành quả lao động của xã hội Có thể nhận thấy rằng,bản thân thừa kế không tạo ra quyền thống trị cho giai cấp bóc lột mà nó chỉ
Trang 7Dới chế độ xã hội chủ nghĩa, t liệu sản xuất thuộc về nhân dân lao động.Vì vậy, pháp luật thừa kế trớc hết đảm bảo cho công dân yên tâm lao động, sảnxuất, hởng thành quả lao động của mình và có quyền để lại thành quả lao động
đó cho ngời khác theo di chúc hoặc theo pháp luật khi ngời đó chết Pháp luật
về thừa kế trong chế độ xã hội chủ nghĩa đã động viên, khuyến khích đợc nhândân trong việc tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội
1.2 Di chúc và đặc điểm của di chúc
1.2.1 Di chúc
Theo quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều 646 Bộluật dân sự năm 2005: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyểntài sản của mình cho ngời khác sau khi chết" Di chúc chính là phơng tiện đểphản ánh ý chí của ngời có tài sản trong việc định đoạt tài sản của họ cho ngờikhác hởng sau khi ngời lập di chúc chết Một ngời có thể có nhiều bản di chúc
định đoạt một loại tài sản và những di chúc này đều thể hiện ý chí tự nguyệncủa họ, phù hợp với những quy định của pháp luật nhng không phải tất cả các dichúc trên đều phát sinh hiệu lực mà di chúc có hiệu lực pháp luật là di chúc thểhiện ý chí sau cùng của ngời lập di chúc
Di chúc thờng đợc thể hiện thông qua một hình thức nhất định Theoquy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 649 Bộ luật dân sự năm2005), di chúc đợc thể hiện dới hai hình thức: Di chúc bằng văn bản và di chúcmiệng Pháp luật chỉ cho phép ngời lập di chúc miệng trong những trờng hợp
đặc biệt theo quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 651 Bộ luậtdân sự năm 2005) Về chữ viết trong di chúc cũng đợc pháp luật quy định: Đốivới ngời dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói củadân tộc mình
Với những quy định trên, pháp luật dân sự nớc ta đã có những quy định
cụ thể về di chúc Cùng chung sống trên đất nớc ta gồm có nhiều dân tộc, nênpháp luật dân sự cũng đã tính đến yếu tố lịch sử, nhận thức… tạo điều kiện cho
Trang 8mọi cá nhân thực hiện quyền lập di chúc, nếu cá nhân đó có năng lực lập dichúc theo luật định.
Đối với di chúc bằng văn bản, pháp luật quy định có 4 loại di chúc bằngvăn bản: Di chúc bằng văn bản không có ngời làm chứng, di chúc bằng văn bản
- Chỉ định ngời thừa kế; truất quyền hởng di sản của ngời thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng ngời thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho ngời thừa kế trong phạm vi di sản;
- Chỉ định ngời giữ di chúc, ngời quản lý di sản, ngời phân chia di sản Trong thực tế thì không phải bất cứ ngời lập di chúc nào cũng thực hiện
đúng các quyền đợc ghi nhận trên, hoặc là sử dụng một phần, hoặc lại sử dụng quácả phần quyền đợc pháp luật quy định Về thực hiện quyền phân định di sản thìngời lập di chúc cũng có sự phân định di sản khác nhau: Có di chúc chỉ phân địnhmột phần di sản cho ngời thừa kế, còn một phần di sản di chúc không nhắc đến.Trên thực tế cũng có những di chúc định đoạt cả phần tài sản của ngời khác (thờng
là định đoạt toàn bộ tài sản chung vợ chồng) Trong trờng hợp này, di chúc chỉ cóhiệu lực một phần tơng ứng với di sản của ngời lập di chúc
Theo quy định của Bộ luật dân sự Pháp thì di chúc có nhiều điểm tơng
tự nh pháp luật dân sự nớc ta, đợc thể hiện:
Điều 895 quy định: "Di chúc là một chứng th theo đó ngời để lại di chúc
định đoạt sau khi chết, một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình, ngời đó có thể
Trang 9Điều 967 quy định: "Mọi ngời đều có thể định đoạt bằng di chúc để lậpthừa kế hoặc để di tặng hoặc đợc gọi bằng bất cứ tên nào khác để thể hiện ý chícủa mình" [5].
Điều 969 quy định: "Di chúc có thể viết tay, lập công chứng th hoặc dichúc bí mật" [5]
Còn Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định di chúc tuy có những đặc trngriêng, nhng về cơ bản các quy định cũng tơng tự nh Bộ luật dân sự của Cộnghòa Pháp
Pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp và pháp luật dân sự Nhật Bản còn
có quy định hình thức của di chúc bí mật Bản chất của di chúc bí mật tơng tự
nh di chúc đợc lập tại công chứng nhà nớc ở nớc ta, nhng có thủ tục chặt chẽhơn (chúng tôi xin phân tích kỹ hơn ở phần hình thức của di chúc)
1.2.2 Đặc điểm của di chúc
Di chúc có những đặc điểm riêng biệt so với các giao dịch dân sự khác ởnhững điểm sau:
Trớc hết, di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phơng của ngời lập di
chúc ý chí đơn phơng này đợc thể hiện qua việc ngời lập di chúc toàn quyền
định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho ngời khác sau khi chết Ngờilập di chúc không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định đoạt tài sản thuộcquyền sở hữu của mình (trờng hợp lập di chúc chung vợ chồng thực chất thì vẫn
là phần tài sản của ai thì ngời đó có quyền định đoạt) Ngời lập di chúc không
có nghĩa vụ phải trao đổi với những ngời thừa kế về nội dung di chúc Ngời lập
di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cỡng ép trong việc lập di chúc Dichúc thể hiện ý chí của ngời lập di chúc, không bị sự chi phối nào của ngờikhác Bằng việc lập di chúc, ngời để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân sự
về thừa kế theo di chúc
ý chí đơn phơng của ngời lập di chúc còn đợc thể hiện việc ngời lập dichúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có
Trang 10quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản thuộc quyền sở hữu của mình màkhông phụ thuộc vào việc ngời đợc hởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyếtthống, nuôi dỡng hay thân thích với ngời lập di chúc Ngời lập di chúc có thểcho ngời này nhiều, ngời kia ít, hoặc không cho ngời nào đó trong số những ng-
ời thuộc diện thừa kế theo pháp luật
Nh vậy, nếu nh trong tất cả các loại hợp đồng dân sự đều phải thể hiện ýchí của các bên tham gia hợp đồng và các bên đều phải tự nguyện thỏa thuận,bàn bạc, trao đổi , thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc Hợp đồngdân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồng thống nhất đợcnhững điều khoản ghi nhận trong hợp đồng và cùng nhau ký kết hợp đồng, còntrong di chúc thì không có sự thống nhất giữa ngời lập di chúc và ngời đợc thừa
kế theo di chúc Thực tế đã có nhiều trờng hợp ngời đợc hởng thừa kế theo dichúc không thể biết mình có quyền đợc hởng di sản theo di chúc vì di chúc cha
ý chí đơn phơng này là đặc điểm khác biệt của di chúc với các loại giaodịch dân sự khác Đây không phải chỉ riêng di chúc theo pháp luật dân sự ViệtNam mà pháp luật dân sự của hầu hết các nớc thì vấn đề này cũng đợc quy định
rõ nh: Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp, Đức…
Đặc điểm thứ hai: Di chúc thể hiện sự định đoạt tài sản của ngời lập di
chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho ngời khác, sau khi ngời lập di chúc chết
Nếu nh các loại hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận của cácchủ thể nhằm chuyển dịch tài sản từ ngời này sang ngời khác thì di chúc lại
Trang 11nhằm chuyển dịch tài sản của ngời đã chết sang cho ngời còn sống Ngời thừa
kế theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Thực tế cho thấy không phải bất cứ ai trớc khi chết cũng lập di chúc, mà
có ngời trớc khi chết họ chỉ để lại những lời dặn dò, ví dụ: Dặn dò các con phảithơng yêu nhau, phải cố gắng học tập, tránh xa các thói h, tật xấu
Với khái niệm về di chúc tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 646
Bộ luật dân sự năm 2005) thì di chúc phải thể hiện việc chuyển dịch tài sản củangời lập di chúc cho ngời khác sau khi ngời lập di chúc chết Vì vậy, nếu nhmột tài liệu nào đó của ngời chết để lại mà không hàm chứa nội dung chuyển tàisản cho ngời khác, thì không thể đợc coi là di chúc Pháp luật cho phép côngdân có quyền định đoạt tài sản, trong đó có việc để lại di sản thừa kế theo dichúc, nhng pháp luật cũng chỉ công nhận khi di chúc của công dân đó thỏa mãnnhững điều kiện nhất định Trong thực tiễn đã có không ít những di chúc khôngtuân theo những quy định của pháp luật về hình thức và nội dung, dẫn tới dichúc không đợc công nhận hoặc chỉ đợc công nhận một phần
Đặc điểm thứ ba: Di chúc là một loại giao dịch dân sự đặc biệt, chỉ có
hiệu lực khi ngời lập di chúc chết
Khoản 1 Điều 670 Bộ luật dân sự năm 1995 (khoản 1 Điều 667 Bộ luậtdân sự năm 2005) quy định: "Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mởthừa kế" [6], [7]
Về thời điểm mở thừa kế, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sựnăm 2005 quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm ngời có tài sản chết.Trong trờng hợp Tòa án tuyên bố một ngời là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế
là ngày đợc xác định theo quy định của pháp luật
Đây là một đặc điểm thể hiện rõ nét sự khác biệt giữa di chúc với cácloại giao dịch dân sự khác, ví dụ nh hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểmgiao kết trừ trờng hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác,còn thời điểm có hiệu lực của di chúc lại phụ thuộc vào thời điểm mà ngời lập di
Trang 12chúc chết hoặc thời điểm mà quyết định của Tòa án tuyên bố ngời lập di chúc chết
có hiệu lực pháp luật Vì vậy, việc xác định đúng thời điểm mở thừa kế (thời điểmngời lập di chúc chết) có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của dichúc Mặt khác, xác định đúng thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định di chúc nào là di chúc có hiệu lực trong trờng hợp một ngời có nhiều
di chúc Di chúc thể hiện ý chí đơn phơng của ngời lập di chúc và ngời lập di chúc
có quyền thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung di chúc hay hủy bỏ di chúc
Sự thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể đợc thể hiện dới hình thức ngời đó lập dichúc mới ghi nhận về việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc, nhng cũng có thể bằng dichúc mới (mặc dù không nói rằng thay đổi hay hủy bỏ di chúc) ngời lập di chúc
định đoạt tài sản mà nội dung định đoạt khác với di chúc đã viết trớc đó Việc
đánh giá hiệu lực của di chúc nh vậy dựa theo quy định tại khoản 5 Điều 670 Bộluật dân sự năm 1995: "Khi một ngời để lại nhiều bản di chúc đối với một tàisản, thì chỉ có bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật" [6]
Tóm lại, khi ngời lập di chúc còn sống thì di chúc dù có phù hợp vớicác quy định của pháp luật về hình thức và nội dung, thì di chúc cũng cha phátsinh hiệu lực Do di chúc cha phát sinh hiệu lực (khi ngời lập di chúc cha chết)nên những ngời thừa kế theo di chúc cha có bất kỳ một quyền nào đối với tàisản mà họ sẽ đợc hởng Quyền đối với tài sản vẫn thuộc về ngời lập di chúc cho
đến khi ngời lập di chúc chết
1.3 Tiến trình phát triển của những quy định pháp luật
về thừa kế nói chung và các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng ở Việt Nam
1.3.1 Giai đoạn trớc năm 1945
Dới chế độ phong kiến, đời sống của nhân dân ta vô cùng khổ cực vì chế độ
su cao, thuế nặng Ngời nông dân chiếm đại đa số trong xã hội, nhng bị tróibuộc bởi ruộng đất của địa chủ, phong kiến Giai cấp địa chủ chiếm số ít trongxã hội nhng lại nắm đa số các t liệu sản xuất chủ yếu Nhà nớc phong kiến dùng
Trang 13pháp luật trong đó có pháp luật về thừa kế để duy trì và củng cố quyền sở hữu củagiai cấp địa chủ đối với ruộng đất từ đời này sang đời khác
Chế độ phong kiến đã tồn tại ở nớc ta qua nhiều thế kỷ Trải qua nhiềutriều đại, mỗi Nhà nớc phong kiến đều ban hành các văn bản pháp luật để củng
cố quyền lực và phục vụ việc quản lý đất nớc Từ xa xa, các bộ cổ luật của cáctriều đại phong kiến đã có nhiều quy định cụ thể về thừa kế Đáng chú ý củathời kỳ phong kiến là: Bộ luật Hồng Đức (năm 1943), Bộ luật Gia Long (năm1815), Bộ Dân luật Bắc kỳ (năm 1931), Bộ Dân luật Trung kỳ (năm 1936).Ngoài các bộ luật, các nhà nớc phong kiến còn ban hành nhiều văn bản nhchiếu, chỉ, dụ, lệnh của vua…
Trong Bộ luật Hồng Đức hay còn gọi là Quốc triều hình luật hoặc Luậthình triều Lê có quy định tôn trọng ý muốn và quyền quyết định của ngời có tàisản
Điều 388 Bộ luật Hồng Đức quy định:
Cha mẹ mất cả, có ruộng đất, cha kịp để lại chúc th, mà anh
em chị em tự chia nhau, thì lấy một phần 20 số ruộng đất làm hơnghỏa, giao cho ngời con trai trởng giữ, còn thì chia nhau Phần con của
vợ lẽ, nàng hầu, thì phải kém Nếu đã có lệnh của cha mẹ và chúc th,thì phải theo đúng, trái thì mất phần mình
Điều 390 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Ngời làm cha mẹ phải liệu tuổigià mà lập sẵn chúc th…" [11]
Nh vậy, Bộ luật Hồng Đức đã quy định quyền lập chúc th để lại di sản,
đặc biệt là những ngời tuổi cao
Di chúc đợc lập dới dạng văn bản gọi là chúc th Bộ luật Hồng Đứccũng quy định về hình thức lập di chúc tại Điều 366: "Những ngời làm chúc th,văn khế mà không nhờ quan trởng trong làng viết thay và chứng kiến, thì phải
Trang 14phạt 80 trợng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Chúc th văn khế ấy không có giá trị.Nếu biết chữ mà viết lấy thì đợc" [11].
Nh vậy, ngời có tài sản có thể tự mình viết chúc th Nếu ngời để lại disản không biết chữ thì chỉ đợc phép nhờ quan trởng viết thay, không đợc nhờngời khác Nếu nhờ ngời khác viết hộ di chúc mà không nhờ quan trởng thìngoài việc bị phạt, di chúc không có giá trị, di sản đợc chia theo pháp luật Vấn
đề hình thức lập di chúc trong thời kỳ này đã đợc coi trọng
Bộ luật Gia Long (hay còn gọi là Hoàng Việt luật lệ) là phiên bản của
Bộ luật Mãn Thanh (Trung Quốc) Bộ luật không thừa nhận quyền thừa kế củacon gái mà chú trọng đến quyền lợi của con trai, thể hiện rõ việc trọng namkhinh nữ Bộ luật cũng công nhận vai trò của việc thừa kế theo di chúc, thể hiệntại Điều 388 Bộ luật này quy định: "Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ, phải theo
đúng Vi phạm điều này sẽ mất phần" [9]
Bộ Dân luật Bắc kỳ đợc ban hành bằng một Nghị định của Thống sứBắc kỳ ngày 30-3-1931 Bộ luật bao gồm 1.464 điều, đợc chia làm 4 quyển.Quyển thứ nhất bao gồm 12 thiên quy định về gia đình, chế độ hôn sản và thừa
kế, trong đó có 17 điều luật quy định về thừa kế theo di chúc Nội dung của bộluật phản ánh đợc những phong tục, tập quán của ngời Việt Nam nh: Việc thờcúng tổ tiên là tín ngỡng truyền thống và đặc trng của ngời Việt Nam…
Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định ngời lập di chúc có quyền dành một phần
di sản để thờ cúng Việc chăm sóc nuôi dỡng nhau giữa những ngời trong cùngmột gia đình đợc coi là bổn phận của đạo đức Bộ luật quy định con cháu không
đợc phân chia khối tài sản của gia đình khi cha mẹ còn sống nếu không đợc sự
đồng ý của họ Con cháu của ngời chết buộc phải nhận di sản của ngời đó vàthay họ thực hiện các nghĩa vụ về tài sản mà họ để lại Bộ luật còn quy địnhcha mẹ phải có trách nhiệm nuôi dỡng con cái, phải đảm bảo cho cuộc sống lâudài của con cái nên họ phải để lại tài sản của mình cho những ngời ở thế hệ sau
Trang 15di chúc để định đoạt tài sản riêng của mình nếu không đợc ngời chồng đồng ý.Ngời cha có thể lập chúc th để định đoạt tài sản của mình tùy theo ý mình, nhngphải giữ quyền lợi cho ngời vợ chính Ngời lập chúc th có thể truất quyền thừa
kế của một hay nhiều ngời trong những ngời đợc thừa kế Việc truất quyền thừa
kế phải lập thành văn bản do viên quản lý văn khế lập hoặc do lý trởng nơi c trúcủa ngời lập chúc th Chúc th phải làm thành văn bản hoặc do viên quản lý vănkhế làm ra hoặc có công chứng thị thực Chúc th không có viên chức thị thựcphải do ngời lập chúc th viết lấy và ký tên Nếu ngời lập chúc th đọc để ngời khácviết thay thì phải có ít nhất hai ngời đã thành niên làm chứng Ngời làm chứng th-ờng là lý trởng tại nơi trú quán của ngời lập chúc th, nếu ở xa không về nơi trúquán đợc thì chúc th ấy phải có sự chứng kiến của lý trởng nơi hiện ở của ngời lậpchúc th (Điều 326 Dân luật Bắc kỳ) Chúc th phải ghi rõ ngày, tháng năm lập chúcth; tên, họ, tuổi, nơi trú quán của ngời làm chứng Chúc th khi đã làm xong thì lýtrởng đọc to cho mọi ngời cùng nghe rồi lý trởng, ngời lập chúc th, ngời viết hộ(nếu có) và những ngời làm chứng cùng ký tên vào văn bản Có bao nhiêu ngời
đợc thừa kế thì chúc th đợc làm thành bấy nhiêu bản gốc để gửi cho mỗi ngờithừa kế một bản
Khi ngời lập chúc th muốn thay đổi một phần hay toàn bộ chúc th, thìbản chúc th sau phải tiến hành đúng những thủ tục trên và phải nêu rõ việc ngờilập chúc th thay đổi một phần hay toàn bộ bản chúc th, nếu không nói rõ thì chỉnhững điều khoản nào không hợp hoặc có trái với bản chúc th sau mới bị bỏ màthôi
Điều 113 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: Khi ngời vợ chết trớc, ngờichồng trở thành chủ sở hữu duy nhất tất cả của cải chung trong đó có cả phầncủa vợ (tức là tài sản riêng của vợ) Còn nếu chồng chết thì ngời vợ chỉ cóquyền hởng dụng tài sản riêng của chồng khi không còn ngời thừa kế nào bênnội, bên ngoại của chồng (Điều 346) Nếu ngời vợ góa tái giá thì tài sản riêng
Trang 16của chồng phải trả lại nhà chồng, tài sản riêng của vợ đợc mang theo đi, còn tàisản của vợ chồng thì để lại cho con (Điều 360) [14].
Bộ luật Trung kỳ hay còn gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật gồm
1709 điều, đợc chia làm 5 quyển Có thể nói, Bộ luật này hầu nh sao chép lạinhiều điều khoản trong Bộ luật Bắc kỳ, ví dụ: Điều 341 Bộ luật Trung kỳ giống
Điều 346 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 359 Bộ Dân luật Trung kỳ giống Điều 360
Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 111 Bộ Dân luật Trung kỳ giống Điều 113 Bộ Dânluật Bắc kỳ; Điều 313 Bộ Dân luật Trung kỳ giống Điều 321 Bộ Dân luật Bắckỳ [15]
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990
Với thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Tám, Nhà nớc Việt Nam dânchủ cộng hòa ra đời, đánh dấu một trang sử mới của cách mạng nớc ta Ngaysau khi thành lập, nhà nớc non trẻ đã phải đối phó với rất nhiều những khó khăncả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội… Để giữ vững thành quả cáchmạng, Nhà nớc ta đã có những chính sách vừa mềm dẻo, vừa cơng quyết để tậptrung quyền lực về tay Nhà nớc Trong thời kỳ này, những vấn đề lớn đều đợc
điều chỉnh bằng các Sắc lệnh, còn những vấn đề thuộc về dân sự thì Nhà nớcvẫn cho phép áp dụng các văn bản cũ, nếu nó không trái nguyên tắc vi phạm
đến độc lập của Nhà nớc Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa (Sắc lệnh số90/SL ngày 10-9-1945) Trong quan hệ về thừa kế, Nhà nớc ta vẫn cho phép ápdụng các quy định trong các Bộ Dân luật Bắc kỳ, Bộ Dân luật Trung Kỳ
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội thì những điều khoản củacác Bộ dân luật trở nên lạc hậu Để xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ,nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký Sắc lệnh số 97/SL ngày 22-5-1950 Điều 5 của Sắc lệnh quy định: "Chồng
và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình" Về thừa kế cũng đợc Sắc lệnh quy
định: Con cháu hoặc vợ chồng của ngời chết cũng không bắt buộc phải nhận thừa kếcủa ngời ấy Khi nhận thừa kế thì các chủ nợ của ngời chết cũng không có quyền
Trang 17đòi nợ quá số di sản để lại (Điều 10) Trong lúc còn sinh thời ngời chồng góa hay
vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữucủa ngời chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung (Điều 11) [38]
Với những quy định này, tuy còn ở mức độ nhất định nhng nó đã thểhiện sự tiến bộ vợt bậc của pháp luật nói chung và về thừa kế nói riêng so với
Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ dân luật Trung kỳ
Sự ra đời của Hiến pháp năm 1959 đã đánh dấu bớc trởng thành lớn củacông tác lập pháp nớc ta Quyền thừa kế đợc Hiến pháp ghi nhận tại Điều 19:
"Nhà nớc chiểu theo pháp luật để bảo hộ quyền thừa kế về tài sản của công dân"
[24] Đây là một nguyên tắc Hiến định, là cơ sở để các cơ quan nhà nớc có thẩmquyền bảo vệ quyền thừa kế cho công dân
Ngày 29-12-1959 Chủ tịch nớc đã ký lệnh công bố Luật Hôn nhân vàgia đình, có hiệu lực thi hành từ 13-1-1960 (gọi là Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1959) Với Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên này đã phá bỏ chế độ gia
đình phụ quyền của chế độ cũ, đảm bảo chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ,một vợ, một chồng Vợ chồng có quyền bình đẳng trong mọi quyền lợi, trong
đó có quyền thừa kế tài sản của nhau; con cái trong và ngoài giá thú cũng đợc
đối xử bình đẳng [31]
Để thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Tòa án nhân dân tốicao đã thờng xuyên tổng kết công tác xét xử, ban hành nhiều thông t, hớng dẫncho Tòa án các địa phơng trong việc áp dụng thống nhất pháp luật
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 1964 của ngành Tòa án, Tòa ánnhân dân tối cao đã hớng dẫn việc xét xử của Tòa án cấp dới trong việc xét xửcác vụ án tranh chấp di sản thừa kế Theo tổng kết này thì có ba hàng thừa kếsau:
- Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ góa hay chồng góa; các con đẻ và con nuôi
của ngời chết; bố mẹ mất sức lao động đợc ngời để lại di sản nuôi dỡng
Trang 18- Hàng thừa kế thứ hai: Bố mẹ còn sức lao động.
- Hàng thừa kế thứ ba: Anh chị em ruột và anh chị em nuôi.
Ngày 27-8-1968, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông t số594/NCPL hớng dẫn đờng lối xét xử các việc tranh chấp thừa kế Thông t đãnêu rõ các đặc điểm cơ bản (thực chất là các nguyên tắc) của chế độ thừa kế củanhà nớc ta: Nam nữ bình đẳng về quyền thừa kế, ngời thừa kế đợc hởng cácquyền tài sản của ngời chết để lại và phải chịu trách nhiệm thi hành các nghĩa
vụ tài sản do ngời chết để lại trong phạm vi giá trị tài sản nhận đợc, tôn trọngquyền định đoạt bằng di chúc của ngời có di sản, đồng thời bảo vệ thích đángquyền lợi của một số ngời thừa kế theo luật Thông t nói rõ: Di sản thừa kế baogồm không những quyền sở hữu cá nhân về những tài sản mà ngời chết để lại
mà còn gồm cả những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản phát sinh do quan hệhợp đồng hoặc do việc gây thiệt hại mà ngời chết để lại Về thừa kế theo phápluật, Thông t đa ra khái niệm diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật, thứ tựhởng di sản căn cứ vào hàng thừa kế Diện những ngời thừa kế theo pháp luậtgồm: Vợ góa (vợ cả góa và vợ lẽ góa) hoặc chồng góa, con đẻ và con nuôi, bố
mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột
Nh vậy, trong diện những ngời thừa kế theo pháp luật có thêm ông nội, bà nội,
ông ngoại, bà ngoại Những ngời trong diện thừa kế đợc xếp làm hai hàng thừakế:
Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ góa (vợ cả góa và vợ lẽ góa) hoặc chồng góa,các con đẻ và con nuôi, bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi
Hàng thừa kế thứ hai: Anh chị em ruột và anh chị em nuôi, ông nội, bànội, ông ngoại, bà ngoại
Thông t đã ghi nhận: Anh chị em cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác
mẹ có quan hệ huyết thống với nhau không hoàn toàn nhng trong nhiều gia đình
họ đối xử với nhau thân mật không khác gì anh chị em cùng cha, cùng mẹ Do
đó, cần xác định họ có quyền thừa kế di sản của nhau
Trang 19Về thừa kế theo di chúc: Thông t 594 xác nhận quyền tự do định đoạttheo di chúc nhng không đợc trái với chính sách và pháp luật hiện hành, khôngtrái với tinh thần đoàn kết, tơng trợ trong gia đình và phải bảo đảm đời sống cho
vợ hoặc chồng, con vị thành niên hoặc con đã thành niên nhng mất sức lao động
và cha mẹ già yếu, túng thiếu Do đó, ngời lập di chúc khi định đoạt tài sản củamình phải giữ một phần tài sản cho những ngời nói trên Phần di sản bắt buộcphải dành lại cho những ngời này nên tính tùy theo tình hình di sản và số ngờithừa kế cần đợc bảo vệ quyền lợi, nó không nên quá thấp so với phần di sản mà
họ đáng lẽ đợc hởng nếu không có di chúc Trờng hợp di chúc không dành phầnbắt buộc thích đáng cho những ngời nói trên thì cần phải điều chỉnh lại Phần disản d ra sau khi đã dành những phần bắt buộc, Tòa án vẫn chiếu theo di chúc đểchia cho ngời thừa kế đợc chỉ định trong di chúc
Thông t số 594 ngày 27-8-1968 của Tòa án nhân dân tối cao đã xóa bỏquan điểm của Dân luật cũ thời Pháp thuộc (Điều 321 Dân luật Bắc kỳ, Điều
313 Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật) về quyền tự do tuyệt đối khi lập di chúc Đây
là vấn đề mới từ thực tiễn xét xử nên ở thời điểm đó Tòa án nhân dân tối cao chathể ấn định cụ thể phần di sản bắt buộc này là bao nhiêu [41]
Với thắng lợi to lớn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nớc ta đãhoàn toàn thống nhất năm 1975 Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử tự do trongcả nớc tháng 7-1976, Nhà nớc ta lấy tên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Ngày 25-3-1977 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 76/CPquy định về việc thực hiện thống nhất pháp luật trên cả nớc Kể từ thời điểm này, pháp luật đã đợc áp dụng thống nhất trong toàn quốc Tuy nhiên,
ở giai đoạn này vẫn cha có một văn bản pháp luật nào quy định riêng về thừakế
Trớc sự thay đổi lớn của đất nớc, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đãthông qua bản Hiến pháp (gọi là Hiến pháp 1980) - Hiến pháp đầu tiên trongthời kỳ thống nhất đất nớc - là cơ sở nền tảng cho việc phát triển của pháp luật
Trang 20Việt Nam nói chung và pháp luật về thừa kế theo di chúc nói riêng Hiến phápnăm 1980 là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản của Nhà nớc Hiến pháp đã quy định
về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bảncủa công dân… tạo tiền đề, cơ sở pháp lý cho việc ban hành các văn bản phápluật về thừa kế sau này
Điều 27 Hiến pháp năm 1980 quy định: "Nhà nớc bảo hộ quyền sở hữu
của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, t liệu sinh hoạt,những công cụ sản xuất dùng trong những trờng hợp đợc phép lao động riêng lẻ.Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân" Hiến pháp năm 1980 cũngquy định mọi công dân đều bình đẳng trớc pháp luật, sự bình đẳng giữa nam và nữ,Nhà nớc và xã hội không thừa nhận sự phân biệt, đối xử giữa các con
Hiến pháp năm 1980 đã quy định đất đai thuộc sở hữu nhà nớc Nhà nớcthống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai đợc sửdụng hợp lý và tiết kiệm Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai đợctiếp tục sử dụng và hởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật[25]
Để đảm bảo thống nhất đờng lối xét xử, trên cơ sở tổng kết công tác xét
xử, đồng thời bổ sung một số vấn đề cho phù hợp với các quy định của Hiến phápnăm 1980, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông t số 81-TANDTC ngày 24-7-1981 hớng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế Ngay từ Phần nguyên tắcchung (Phần I), Thông t đã quy định về quyền lập di chúc của công dân để định
đoạt tài sản của mình sau khi chết Nếu không có di chúc thì mới chia thừa kếtheo pháp luật, tôn trọng quyền định đoạt bằng di chúc của ngời có di sản, đồngthời bảo hộ thích đáng quyền lợi của một số ngời thừa kế theo luật (ngời thừa kếbắt buộc không phụ thuộc vào nội dung di chúc), phụ nữ và nam giới bình đẳng
về quyền lập di chúc, ngời thừa kế có quyền nhận hay không nhận di sản thừa
kế, ngời nhận thừa kế đợc hởng các tài sản và các quyền về tài sản của ngời chết
Trang 21chết để lại trong phạm vi giá trị tài sản đã nhận đợc Thông t số 81 đã hớng dẫn
về việc xác định di sản thừa kế, diện và hàng thừa kế, việc phân chia di sản thừakế Đặc biệt, Thông t đã dành chơng IV để hớng dẫn về thừa kế theo di chúc,trong đó quy định rõ về hình thức của di chúc, quyền định đoạt tài sản của ngờilập di chúc, nghĩa vụ phải dành lại một phần tài sản cho những ngời thừa kế bắtbuộc của ngời lập di chúc (hạn chế quyền của ngời lập di chúc)… Những ngờithừa kế bắt buộc gồm: Vợ góa hoặc chồng góa, con cha thành niên hoặc tuy đãthành niên nhng không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu và túng thiếu.Phần di sản phải dành cho mỗi ngời thừa kế bắt buộc ít nhất là 2/3 suất của thừa
kế theo pháp luật [44]
Ngày 29-12-1986 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đợc ban hành
và có hiệu lực thi hành từ 3-1-1987 đã đánh dấu một bớc phát triển của phápluật hôn nhân gia đình nớc ta, thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959 Luật hôn nhân và gia đình 1986 có những điều khoản quan trọng đối vớinhững quy định của pháp luật thừa kế Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 xác định nghĩa vụ nuôi dỡng giữa các thành viên trong gia đình là cơ sởcho pháp luật thừa kế xác định ai là ngời thừa kế đợc hởng di sản không phụthuộc vào nội dung di chúc [32]
Thắng lợi của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã tạo bớcngoặt mới trong sự phát triển kinh tế của đất nớc Cơ chế kinh tế tập trung quanliêu bao cấp đã bị xóa bỏ, nền kinh tế nhiều thành phần (trong đó có kinh tế tnhân) đã đợc pháp luật thừa nhận và khuyến khích phát triển
Ngày 29-12-1987 Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật Đất đai (gọi là Luật Đất đai năm 1987) Luật Đất đai đã quy
định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và đất đai do Nhà nớc thống nhấtquản lý Nhà nớc giao đất cho ngời sử dụng đất để sử dụng ổn định, lâu dài hoặctạm thời, có thời hạn Điều 5 của Luật Đất đai năm 1987 quy định: "Nghiêmcấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dới mọi hình thức, nhận
Trang 22đất đợc giao mà không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, tự tiện sửdụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoại đất đai".Nhà nớc bảo đảm cho ngời sử dụng đất đợc hởng những quyền lợi hợp pháp trên
đất đợc giao, kể cả quyền chuyển, nhợng, bán thành quả lao động, kết quả đầu
t trên đất đợc giao khi không còn sử dụng đất và đất đó đợc giao cho ngời khác
sử dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định [28]
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến 1 tháng 7 năm 1996
Để đáp ứng với sự biến động, phát triển không ngừng của xã hội, ngày30-8-1990 Hội đồng Nhà nớc nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãthông qua Pháp lệnh Thừa kế, có hiệu lực từ ngày 10-9-1990 Đây là văn bảnpháp luật có hệ thống và ở tầm văn bản pháp lý cao nhất về thừa kế nói chung
và thừa kế theo di chúc nói riêng kể từ ngày thành lập nớc Pháp lệnh Thừa kếgồm 38 điều, đợc chia làm 6 chơng, trong đó đã xác định đợc những nguyên tắccơ bản về thừa kế, về quyền bình đẳng về thừa kế của công dân Pháp lệnh Thừa
kế đa ra những khái niệm về: Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế, disản, ngời thừa kế… Thừa kế theo di chúc đợc Pháp lệnh quy định tại chơng II từ
Điều 10 đến Điều 23 Pháp lệnh đã quy định về quyền của ngời lập di chúc.Theo quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh thì công dân có quyền lập di chúc đểchuyển quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho một hoặcnhiều ngời trong hoặc ngoài các hàng thừa kế theo pháp luật, cũng nh cho Nhànớc, cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế Ngời lập di chúc cóquyền chỉ định ngời thừa kế, phân định tài sản cho ngời thừa kế, giao nghĩa vụcho ngời thừa kế, truất quyền hởng di sản của một hoặc nhiều ngời thừa kế theopháp luật mà không nhất thiết phải nêu lý do Ngời lập di chúc có quyền sửa
đổi, bổ sung di chúc đã lập, thay thế di chúc đã lập bằng di chúc khác, hủy bỏ
di chúc
Trang 23Pháp lệnh Thừa kế cũng quy định về di chúc hợp pháp là di chúc do
ng-ời từ đủ mng-ời tám tuổi trở lên tự nguyện lập trong khi minh mẫn, không bị lừadối và không trái với quy định của pháp luật Di chúc cũng đợc coi là hợp phápnếu do ngời từ đủ mời sáu tuổi trở lên nhng cha đủ mời tám tuổi tự nguyện lậptrong khi minh mẫn và phải đợc sự đồng ý của cha mẹ hoặc ngời đỡ đầu, không
bị lừa dối và không trái với quy định của pháp luật Di chúc do công dân ViệtNam lập ở nớc ngoài theo pháp luật của nớc ngoài, nếu có nội dung không tráivới pháp luật Việt Nam cũng đợc coi là di chúc hợp pháp
Về nội dung của di chúc đợc Pháp lệnh quy định tại Điều 13: Trong bản
di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc, họ, tên và nơi thờng trú củangời lập di chúc, họ, tên ngời đợc hởng di sản, tên cơ quan tổ chức đợc hởng disản… Đặc biệt, Pháp lệnh quy định rõ về việc phải có chữ ký hoặc điểm chỉ củangời lập di chúc
Pháp lệnh quy định về hiệu lực của di chúc viết đợc cơ quan công chứnghoặc ủy ban nhân dân chứng thực, di chúc viết đợc cơ quan đại diện ngoại giaohoặc lãnh sự của Việt Nam ở nớc ngoài chứng thực, di chúc viết không cóchứng thực, xác nhận và di chúc miệng…
Pháp lệnh Thừa kế đã quy định cụ thể về những ngời đợc hởng di sảnkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại Điều 20 Theo quy định này thìtrong trờng hợp không đợc ngời lập di chúc cho hởng di sản hoặc chỉ cho hởngphần di sản ít hơn hai phần ba suất của một ngời thừa kế theo pháp luật, nếu nh
di sản đợc chia theo pháp luật, thì con cha thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con
đã thành niên không đủ khả năng lao động và túng thiếu của ngời lập di chúcvẫn đợc hởng phần di sản bằng ít nhất là hai phần ba suất đó, trừ trờng hợp họ làngời không có quyền hởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Pháplệnh Đây là sự kế thừa và pháp điển hóa so với quy định về ngời thừa kế bắtbuộc tại Thông t số 81-TANDTC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân dân tối cao
Trang 24Pháp lệnh cũng quy định về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc, hiệulực của di chúc, di sản dùng vào việc thờ cúng [35].
Để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới do sự đổi mới toàndiện của đất nớc kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng, Quốc hội nớc ta đã sửa đổiHiến pháp năm 1980 Hồi 11 giờ 45 phút ngày 15-4-1992 Quốc hội nớc Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 11 đã nhất trí thông quaHiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định về việc tiếp tục đa đấtnớc ta đi theo con đờng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xãhội chủ nghĩa Với t tởng chủ đạo này, trong chơng II về chế độ kinh tế, Hiếnpháp đã quy định việc đảm bảo tính thống nhất của sự phát triển kinh tế sao chonền kinh tế đợc phát triển theo cơ chế thị trờng với nhiều thành phần kinh tếkhác nhau theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Hiến pháp năm 1992 đã quy định về quyền bình đẳng của công dân trớcpháp luật, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, Nhà nớc và xã hội không thừa nhậnviệc phân biệt, đối xử giữa các con Điều 58 Hiến pháp năm 1992 quy định:
"Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, t liệu
sinh hoạt, t liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các
tổ chức kinh tế khác Nhà nớc bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kếcủa công dân"
Hiến pháp năm 1992 quy định về việc Nhà nớc bảo hộ quyền lợi chính
đáng của ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài, tạo điều kiện cho ngời Việt Nam
định c ở nớc ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hơng, góp phần xâydựng quê hơng đất nớc
Để thi hành Hiến pháp năm 1992, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội nớc Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX đã thông qua Luật Đất đai năm 1993,
có hiệu lực kể từ 15-10-1993 Kể từ đây, việc "đợc chuyển quyền sử dụng đất
Trang 25đ-định tại Điều 18 Hiến pháp năm 1992 đã đợc thể chế hóa Khoản 2 Điều 3 Luật
Đất đai năm 1993 quy định:
Hộ gia đình, cá nhân đợc Nhà nớc giao đất có quyền chuyển
đổi, chuyển nhợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất
Các quyền nói trên chỉ đợc thực hiện trong thời hạn giao đất
và đúng mục đích sử dụng của đất đợc giao theo quy định của Luậtnày và các quy định khác của pháp luật
Điều 76 Luật Đất đai năm 1993 quy định:
1 Cá nhân đợc Nhà nớc giao đất nông nghiệp để trồng câyhàng năm, nuôi trồng thủy sản, sau khi chết thì quyền sử dụng đấtcủa họ đợc để lại cho những ngời thừa kế theo quy định của pháp luậtthừa kế
2 Hộ gia đình đợc Nhà nớc giao đất nông nghiệp để trồngcây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu trong hộ có thành viên chếtthì các thành viên khác trong hộ đợc quyền tiếp tục sử dụng diện tích
đất mà Nhà nớc đã giao cho hộ Trờng hợp trong hộ gia đình khôngcòn thành viên nào thì Nhà nớc thu hồi đất
3 Cá nhân, thành viên của hộ gia đình đợc giao đất nôngnghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, saukhi chết, quyền sử dụng đất của họ đợc để lại cho những ngời thừa kếtheo quy định của pháp luật thừa kế [29]
Với những quy định trên, quyền sử dụng đất đã đợc coi là di sản thừa kế
1.3.4 Giai đoạn từ 1-7-1996 đến nay
Với đờng lối chính trị, kinh tế đúng đắn đợc Đảng và Nhà nớc ta thểhiện trong Hiến pháp năm 1992, tất cả mọi mặt trong đời sống xã hội từ kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội đều thay đổi trên mọi bình diện Vì vậy, trong đời
Trang 26sống dân sự cũng phát sinh nhiều vấn đề mà pháp luật cha kịp điều chỉnh hoặc
điều chỉnh cha đầy đủ Các văn bản pháp luật dới nhiều hình thức nh: Nghị
định, Pháp lệnh, Thông t, Nghị quyết cha đủ bao quát để điều chỉnh một cáchrộng khắp các quan hệ dân sự nói chung và vấn đề các điều kiện có hiệu lực của
di chúc nói riêng
Chính từ thực tiễn đòi hỏi, ngày 28-10-1995, Quốc hội khóa IX, kỳ họpthứ 8 đã thông qua Bộ luật dân sự đầu tiên của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam (gọi là Bộ luật dân sự năm 1995)
Bộ luật dân sự năm 1995 tơng đối đồ sộ với 7 phần, 838 điều Trongmỗi phần đợc chia làm nhiều chơng, mục Bộ luật có hiệu lực kể từ ngày 1-7-1996 (riêng những quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 về chuyển quyền
sử dụng đất có hiệu lực áp dụng kể từ ngày Luật Đất đai 1993 có hiệu lực 10-1993)
15-Bộ luật dân sự năm 1995 là công cụ pháp lý thúc đẩy giao lu dân sự, tạomôi trờng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc Bộ luật gópphần bảo đảm cuộc sống cộng đồng ổn định, lành mạnh, giữ gìn và phát huytruyền thống đoàn kết, tơng thân, tơng ái trong nhân dân
Bộ luật đã dành hẳn Phần thứ t và Chơng VI Phần thứ năm để quy định
về thừa kế với tổng số 63 điều luật (nếu tính cả 9 điều thuộc chơng những quy
định chung về chuyển quyền sử dụng đất mà thừa kế quyền sử dụng đất phải ápdụng thì tổng số lên đến 72 điều)
Bộ luật đã đa ra những khái niệm về thời điểm, địa điểm mở thừa kế,ngời thừa kế, ngời quản lý di sản, di chúc… Đặc biệt, Bộ luật có quy định cụ thể
về quyền, nghĩa vụ của ngời quản lý di sản, ngời thừa kế, việc từ chối nhận disản, về những ngời không đợc hởng di sản…
Do sự phát triển đất nớc, các tranh chấp dân sự diễn ra ngày càng phức
Trang 27thứ 7, Quốc hội khóa XI, từ ngày 5-5-2005 đến ngày 14-6-2005 Quốc hội nớc ta
đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2005 Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực thihành từ ngày 1-1-2006
Với 7 phần, 777 điều, Bộ luật dân sự năm 2005 không "đồ sộ" đợc nh
Bộ luật dân sự năm 1995, nhng những quy định về thừa kế có nhiều tiến bộhơn Bộ luật dân sự năm 1995, đặc biệt về thừa kế quyền sử dụng đất Về các
điều kiện có hiệu lực của di chúc thì những quy định của Bộ luật dân sự năm
1995 về cơ bản vẫn đợc Bộ luật dân sự năm 2005 giữ lại và có sự phát triển
Kết luận chơng 1
Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế đợc pháp luậtquy định Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển di sản của một ngời đã chếtcho ngời khác theo sự định đoạt ý chí của ngời để lại di sản khi còn sống Trongnhững trờng hợp cụ thể, quyền định đoạt của ngời lập di chúc đợc pháp luậtthừa nhận toàn bộ, nhng trong một số trờng hợp khác thì quyền tự định đoạt củangời lập di chúc lại bị hạn chế Di chúc là giao dịch dân sự một bên, do vậy dichúc cũng cần phải thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Theo tiến trình phát triển của pháp luật thừa kế, các điều kiện có hiệulực của di chúc trong mỗi thời kỳ cũng đợc quy định khác nhau Nhng nhìnchung, pháp luật của Nhà nớc ta luôn nhằm bảo vệ những quyền dân sự hợppháp của cá nhân, trong đó có quyền lập di chúc và quyền này ngày càng đợcpháp luật quy định cụ thể hơn
Với sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 1995, các quy định pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng và pháp luật về thừa kế nói chung đã
đợc quy định một cách hệ thống Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Bộ luậtdân sự năm 1995 đã phát sinh những hạn chế nhất định, đòi hỏi phải có sự khắcphục kịp thời Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI, từ ngày 5-5-2005 đến ngày14-6-2005, Quốc hội nớc ta đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2005 Bộ luật dân
Trang 28sự năm 2005 đã có những tiến bộ hơn so với Bộ luật dân sự năm 1995 trong việcquy định về thừa kế nói chung và các điều kiện có hiệu lực của di chúc nóiriêng.
Trang 29có hiệu lực Ngời lập di chúc phải đảm bảo đợc những điều kiện sau đây:
Điều 650 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005)quy định về ngời lập di chúc:
1- Ngời đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trờng hợp
ng-ời đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhậnthức và làm chủ đợc hành vi của mình
2- Ngời từ đủ mời lăm tuổi đến cha đủ mời tám tuổi có thểlập di chúc, nếu đợc cha, mẹ hoặc ngời giám hộ đồng ý
Nh vậy, pháp luật dân sự đã quy định cụ thể về ngời đợc lập di chúc Theo quy định tại các điều luật trên có thể nhận thấy hai yêu cầu về ng-
ời lập di chúc, đó là:
- Yêu cầu về độ tuổi của ngời lập di chúc
- Yêu cầu về nhận thức của ngời lập di chúc
2.1.1 Yêu cầu về độ tuổi của ngời lập di chúc
Pháp luật dân sự quy định chỉ ngời thành niên mới có quyền lập di chúc,còn ngời từ đủ mời lăm tuổi đến cha đủ mời tám tuổi muốn lập di chúc phải đợc
sự đồng ý của cha, mẹ hoặc ngời giám hộ của ngời đó
Có quy định trên bởi vì chỉ khi đạt đến một độ tuổi nhất định thì con
ng-ời mới có đủ nhận thức để điều chỉnh hành vi của mình
Trang 30Đối với những ngời đã thành niên, nhng bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắccác bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ đợc hành vi của mình thìnhững ngời đó không có quyền lập di chúc Trong trờng hợp những ngời này lập
di chúc, thì di chúc đó không phát sinh hiệu lực pháp luật
Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về ngời thành niên: Ngời từ đủ mờitám tuổi trở lên là ngời thành niên (Điều 20) Ngời thành niên có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ, trừ trờng hợp ngời thành niên đó bị mất năng lực hành vi dân
Pháp luật dân sự của Nhà nớc ta cũng quy định ngời từ đủ mời lăm tuổi
đến cha đủ mời tám tuổi có thể lập di chúc, nếu đợc cha, mẹ hoặc ngời giám hộ
- Cha, mẹ hoặc ngời giám hộ đồng ý là đồng ý về việc cho phép ngời từ
đủ mời lăm tuổi đến cha đủ mời tám tuổi lập di chúc hay là đồng ý về nội dung
di chúc?
- Sự đồng ý của cha hoặc mẹ hay là cả cha và mẹ Trờng hợp nào thì cần
đến sự đồng ý của ngời giám hộ?
Trang 31Về vấn đề thứ nhất, chúng tôi cho rằng chỉ là việc đồng ý cho phép
ng-ời từ đủ mng-ời lăm tuổi đến cha đủ mng-ời tám tuổi lập di chúc vì nếu hiểu là đồng ývới nội dung di chúc thì vô hình chung pháp luật đã can thiệp đến quyền tự định
đoạt, đến ý chí tự nguyện của ngời lập di chúc, trong khi ý chí tự nguyện là mộttrong những điều kiện để di chúc đợc coi là hợp pháp Với t cách là ngời thừa kếhàng thứ nhất theo pháp luật của ngời con, ngời cha, ngời mẹ có thể can thiệpvào nội dung của di chúc, can thiệp vào sự định đoạt của ngời con nếu đợc hiểutheo cách việc lập di chúc của ngời từ đủ mời lăm tuổi đến cha đủ mời tám tuổiphải đợc sự đồng ý của cha, mẹ về nội dung di chúc Và một điều đơng nhiên,nếu hiểu cha mẹ phải đồng ý về nội dung di chúc thì đã bao hàm cả việc đồng ýcho lập di chúc
Về vấn đề thứ hai, căn cứ vào cách hành văn của điều luật thì chỉ cầnmột trong hai ngời là cha hoặc mẹ đồng ý là đủ, mà không cần thiết phải đợc sự
đồng ý của hai ngời Pháp luật dân sự cũng đã quy định rõ ràng về việc giám hộtại Mục 5 Chơng II, Phần thứ nhất Bộ luật dân sự năm 1995 Giám hộ là việc cánhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nớc (gọi là ngời giám hộ) đợc pháp luật quy
định hoặc đợc cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa ngời cha thành niên, ngời bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác màkhông thể nhận thức, làm chủ đợc hành vi của mình (gọi là ngời đợc giám hộ).Trong quan hệ pháp luật thừa kế theo di chúc, thì ngời từ đủ mời lăm tuổi đếncha đủ mời tám tuổi chỉ có quyền lập di chúc khi đợc sự đồng ý của ngời giám
hộ trong trờng hợp ngời cha thành niên này không còn cha, mẹ hoặc không xác
định đợc cha, mẹ hoặc cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc còn cha, mẹnhng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục ngời cha thành niên đó vànếu cha, mẹ có yêu cầu
Một vấn đề cần đặt ra khi nghiên cứu về sự đồng ý của cha, mẹ hoặc
ng-ời giám hộ đối với hành vi lập di chúc của ngng-ời từ đủ mng-ời lăm tuổi đến cha đủmời tám tuổi, đó là: Sự đồng ý này phải đợc thể hiện dới hình thức nh thế nào?
Trang 32Có bắt buộc việc đồng ý phải đợc thể hiện bằng văn bản riêng hay chỉ cần xácnhận vào di chúc, hay chỉ cần bằng miệng? Sự đồng ý đó có cần phải đợc cơquan nhà nớc có thẩm quyền công nhận hay không? Sự đồng ý đợc thể hiện trớchay sau khi ngời cha thành niên lập di chúc?
Đây là một câu hỏi vì vấn đề này cha đợc sự hớng dẫn, giải đáp của cơquan nhà nớc có thẩm quyền
2.1.2 Yêu cầu về nhận thức
Kết quả nghiên cứu về y học cho thấy độ tuổi và nhận thức có quan hệmật thiết với nhau Con ngời chỉ khi đạt đến một độ tuổi nhất định thì mới có đủnhận thức để điều chỉnh đợc hành vi dân sự của mình (trong đó có hành vi lập dichúc), trừ trờng hợp ngời đó bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thểnhận thức và làm chủ đợc hành vi của mình Pháp luật dân sự nớc ta quy địnhngời từ đủ mời tám tuổi trở lên là ngời thành niên Ngời thành niên có năng lựchành vi dân sự đầy đủ, trừ trờng hợp họ mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạnchế năng lực hành vi dân sự Vì vậy, độ tuổi và khả năng nhận thức là hai tiêu chí
để xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Tại khoản 1 Điều 655 Bộ luật dân sự năm 1995 và điểm a, khoản 1 Điều
652 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định nh nhau về nhận thức của ngời lập dichúc: "Ngời lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc…"
Tuy nhiên, ngời lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt đến mức độ nào?Ngời lập di chúc có phải giám định sức khỏe trớc khi lập di chúc hay không?Nếu ngời lập di chúc phải giám định sức khỏe trớc khi lập di chúc thì cơ quannào có thẩm quyền giám định? Có cần hay không cần kết quả giám định sứckhỏe thì cơ quan nhà nớc có thẩm quyền mới đợc chứng thực vào di chúc ?
Hiện nay, pháp luật dân sự của nớc ta cha có quy định nào về việc ngờilập di chúc phải giám định sức khỏe trớc khi lập di chúc Vì vậy, ngời lập dichúc có thể khám sức khỏe hoặc không khám sức khỏe trớc khi lập di chúc Có
Trang 33một số trờng hợp khám sức khỏe thì cơ quan khám sức khỏe cũng không thốngnhất: Có trờng hợp khám tại trung tâm y tế cấp huyện, tỉnh; nhng cũng có trờnghợp lại đi khám ở các bệnh viện về tâm thần
Trên thực tế ngời lập di chúc ít khi đi giám định sức khỏe, khám sứckhỏe trớc khi lập di chúc Vì vậy, tình trạng sức khỏe của ngời lập di chúc tạithời điểm lập di chúc không đợc thể hiện Khi có tranh chấp xảy ra, bên đơng sựnào cho rằng ngời lập di chúc không đủ sức khỏe, ảnh hởng đến sự minh mẫncủa ngời lập di chúc trong khi lập di chúc thì họ phải có nghĩa vụ chứng minh.Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân cho thấy tình trạngnày diễn ra tơng đối phổ biến Bên yêu cầu chia thừa kế theo di chúc có nghĩa
vụ xuất trình trớc Tòa án các chứng cứ liên quan đến việc ngời lập di chúc hoàntoàn minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc Ngợc lại, bên yêu cầu chia thừa kếtheo pháp luật có nghĩa vụ xuất trình các chứng cứ để chứng minh ngời lập dichúc không minh mẫn, sáng suốt để bác bỏ yêu cầu chia thừa kế theo di chúc
Về nguyên tắc, tất cả các di chúc đều đợc coi là do ngời để lại di sản lậptrong lúc minh mẫn, sáng suốt Vì vậy, đơng sự nào cho rằng khi lập di chúcngời lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt phải có nghĩa vụ chứng minh trớcTòa án có thẩm quyền Chỉ khi có đầy đủ cơ sở khẳng định ngời lập di chúckhông minh mẫn, sáng suốt nh: Kết luận của cơ quan y tế, bản án có hiệu lựcpháp luật của Tòa án… thì Tòa án có thẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu.Thông thờng, những di chúc đợc chứng nhận, chứng thực của cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền ít khi xảy ra tranh chấp về việc ngời lập di chúc có minh mẫn,sáng suốt hay không Tranh chấp về việc minh mẫn, sáng suốt của ngời lập dichúc lại thờng xảy ra đối với những di chúc không có chứng nhận, chứng thực.Vì vậy, để hạn chế tranh chấp thì việc lập di chúc có chứng thực, chứng nhậncần đợc khuyến khích
Trang 34Quy định về vấn đề này, pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp chỉ yêu cầungời lập di chúc có tinh thần minh mẫn (Điều 901 Bộ luật dân sự Cộng hòaPháp) Còn Điều 963 Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định: "Ngời lập di chúc tạithời điểm lập di chúc phải có đủ năng lực để làm việc này" [5]
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chính là khả năng của cá nhânbằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Nếu nhnăng lực pháp luật của cá nhân phát sinh ngay từ khi cá nhân đợc sinh ra thìnăng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ phát sinh đầy đủ khi ngời đó đạt đến độtuổi nhất định (đủ 18 tuổi); nếu nh năng lực pháp luật của cá nhân chỉ chấm dứtkhi ngời đó chết thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân chấm dứt khi ngời đó
bị mất năng lực hành vi dân sự
Nh vậy, một ngời đợc coi là có năng lực hành vi dân sự (trong đó cónăng lực hành vi viết di chúc), khi ngời đó bằng khả năng của mình thực hiệnhành vi, mà bằng hành vi đó, ngời đó đã xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Trongquan hệ pháp luật thừa kế, ngời lập di chúc bằng hành vi định đoạt tài sản thuộc sởhữu của mình thông qua việc lập di chúc, ngời lập di chúc đã xác lập quyền hởng
di sản cho ngời đợc thừa kế theo di chúc Cũng đồng thời với việc xác lập quyền ởng di sản cho ngời thừa kế theo di chúc, ngời lập di chúc đơng nhiên đã xác lậpnghĩa vụ cho ngời quản lý di sản Bằng hành vi lập di chúc, ngời lập di chúc đãthực hiện quyền định đoạt đối với những tài sản của mình cho ngời thừa kế đợcchỉ định trong di chúc Việc thực hiện quyền của ngời lập di chúc thể hiện ởchỗ: Ngời lập di chúc có quyền định đoạt cho ai, cho ai cho bao nhiêu, chỉ cho
h-sử dụng tài sản hay cho sở hữu tài sản…
Pháp luật dân sự không quy định về việc ngời bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự bị mất quyền lập di chúc Chỉ trong những trờng hợp nhất định: Mộtngời bị nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn tới phá tán tàisản của gia đình thì theo yêu cầu của ngời có quyền, lợi ích liên quan, cơ quanhoặc tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là ngời bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự Đồng thời với quyết định tuyên bố một ngời hạn chế
Trang 35năng lực hành vi dân sự, Tòa án quyết định ngời đại diện theo pháp luật của
ng-ời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện Nh vậy, ngng-ời bị hạnchế năng lực hành vi dân sự không phải là ngời bị bệnh tâm thần hoặc mắc cácbệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ đợc hành vi của mình theo quy
định của Điều 650 Bộ luật dân sự năm 1995 nên họ vẫn có quyền lập di chúc
mà không phải đợc sự đồng ý của ngời đại diện
Đối với những ngời đã thành niên nhng bị bệnh tâm thần hoặc mắc cácbệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ đợc hành vi của mình thì không cóquyền lập di chúc Nếu họ lập di chúc, thì di chúc đó không đợc công nhận
2.2 ý chí của ngời lập di chúc
2.2.1 Ngời lập di chúc hoàn toàn tự nguyện
Nguyên tắc tự nguyện trong việc tham gia các giao dịch dân sự là mộtnguyên tắc cơ bản đợc ghi nhận tại Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sựnăm 2005 Trong giao lu dân sự, các bên đều phải hoàn toàn tự nguyện, khôngbên nào đợc áp đặt, cấm đoán, cỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào
Lập di chúc là giao dịch dân sự, là hành vi pháp lý đơn phơng của ngờilập di chúc Vì vậy, cũng nh các giao dịch dân sự khác, việc lập di chúc cũngphải thể hiện ý chí tự nguyện của ngời lập di chúc Tự nguyện đợc hiểu theonghĩa khái quát chính là việc thực hiện một việc gì đó hoàn toàn theo ý mình,
do mình nghĩ ra và thực hiện Về mặt bản chất, tự nguyện là sự thống nhất giữa
ý chí và bày tỏ ý chí Vì vậy, khi đánh giá ý chí của một ngời về một vấn đề nào
đó có phải tự nguyện hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứnggiữa hai phạm trù: ý chí và sự bày tỏ ý chí
ý chí là cái bên trong, là cái mà ngời khác khó có thể nhận biết đợc,nếu ý chí đó cha đợc thể hiện ra ngoài bằng hành động thực tiễn Để ngời khácnhận biết đợc mong muốn của mình, con ngời phải thể hiện ý chí bằng những
Trang 36hành vi cụ thể ý chí và sự bày tỏ ý chí là hai mặt của một vấn đề, có quan hệmật thiết, gắn bó khăng khít với nhau
Trong việc lập di chúc, ngời lập di chúc thể hiện ý chí của mình thôngqua hành vi lập di chúc Thông qua việc cho ngời này nhiều, ngời kia ít… ngờilập di chúc thể hiện tâm t, tình cảm… với ngời thừa kế Vì vậy, muốn xác địnhmột di chúc có phải là ý chí tự nguyện của ngời lập di chúc hay không, cần phảidựa vào sự thống nhất giữa ý chí của ngời lập di chúc và sự thể hiện ý chí đótrong nội dung của di chúc Chỉ khi nào di chúc phản ánh một cách trung thực,khách quan những mong muốn của ngời lập di chúc thì sự định đoạt đó mới đợccoi là tự nguyện
Thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp về thừa kế theo di chúc cho thấy,việc xác định di chúc có đợc lập một cách tự nguyện hay không là một vấn đềgây nhiều khó khăn cho Toà án Một bên đơng sự xuất trình di chúc và yêu cầu
đợc chia thừa kế theo di chúc và họ cho rằng di chúc hoàn toàn do ngời để lại disản tự nguyện lập Đơng sự phía bên kia thì lại cho rằng, nguyên nhân của sựphân chia di sản không công bằng (đa số các di chúc đều có sự phân chia di sảnkhác nhau, dẫn đến tình trạng ngời đợc nhiều, ngời đợc ít) là do ngời lập di chúckhông tự nguyện Để giải quyết các vụ án này, trớc tiên ngời Thẩm phán buộcphải yêu cầu cả hai bên đơng sự xuất trình những chứng cứ để chứng minh chonhững lời khai của mình Bên cạnh đó, việc lấy lời khai nhân chứng, xác minhchính quyền địa phơng, đối chất… cũng là những biện pháp cần thiết để tìm ra
sự thật của vụ án: Ngời lập di chúc có tự nguyện lập di chúc hay không?
2.2.2 Ngời lập di chúc không bị đe dọa
Đe dọa trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên làm cho bênkia sợ hãi mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng,sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những ngờithân thích
Trang 37Cũng nh các loại giao dịch dân sự khác, đe dọa trong việc lập di chúc
tr-ớc hết phải đợc thực hiện bằng hành vi cố ý Hành vi cố ý này phải có sự toantính từ phía ngời đe dọa về việc đe dọa ngời lập di chúc nh thế nào, hình thức,
địa điểm đe dọa, phơng tiện để thực hiện việc đe dọa… Hậu quả của việc thựchiện hành vi đe dọa là ngời lập di chúc phải sợ hãi đến mức phải lập di chúctheo ý muốn của ngời đe dọa Việc phải lập di chúc đó có thể không gây thiệthại cho ngời lập di chúc về tính mạng, sức khỏe, tài sản vì việc đe dọa mới ởmức độ nhẹ Thực tế cho thấy, ngời lập di chúc không bao giờ bị thiệt hại về tàisản cả, vì khi chết, họ không thể mang theo đợc tài sản mà họ đang có và chỉkhi ngời để lại di sản chết thì di chúc mới phát sinh hiệu lực Vì vậy, đối với đedọa trong việc lập di chúc thì ngời lập di chúc luôn luôn không bị thiệt hại về tàisản Ngời bị thiệt hại về tài sản sẽ là những ngời thân thích của ngời lập di chúcvì khối tài sản của ngời lập di chúc có hạn, nên cho ngời này hởng rồi thì đơngnhiên những ngời khác không còn để hởng Tuy nhiên, do bị đe dọa nên ngờilập di chúc phải viết di chúc theo ý kiến của ngời đe dọa, nên sẽ có ảnh hởng
đến danh dự, uy tín của ngời lập di chúc Ví dụ: Ngời lập di chúc tên là NguyễnVăn A, có 4 con là Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn D, NguyễnVăn E Ông A đợc C chăm sóc, nuôi dỡng…, còn B, D, E đối xử ngợc đãi với
ông A Vì vậy, ông A tuyên bố với mọi ngời là sau này sẽ để lại toàn bộ tài sảncho C và ông A đã lập di chúc cho C đợc hởng toàn bộ tài sản của mình Biết đ-
ợc sự việc trên, B, D và E đã bàn bạc với nhau đe dọa buộc ông A phải lập dichúc khác có nội dung cho B, D, E cùng đợc hởng di sản của ông A Nh vậy,việc ông A phải lập di chúc sau đã ảnh hởng đến quyền lợi về tài sản của C, nh-
ng lại ảnh hởng đến uy tín, danh dự của ngời lập di chúc là ông A
Nh đã phân tích, khi bị đe dọa thì ngời lập di chúc không thể hiện đợc ýchí tự nguyện, mà lại thể hiện ý chí của ngời đe dọa Vì vậy, trong trờng hợpngời lập di chúc bị đe dọa thì di chúc đó bị vô hiệu, không phát sinh hiệu lựcpháp luật
Trang 38Trong thực tế đã xảy ra không ít những trờng hợp mà các đơng sự khai
là ngời lập di chúc bị đe dọa Cơ quan nhà nớc có thẩm quyền phải xác minh,lấy lời khai nhân chứng, thậm chí kiểm tra cả những vật chứng (nếu có) Tuynhiên, việc xác định ngời khác đã can thiệp vào việc lập di chúc đến mức độnào có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét hiệu lực pháp luật của di chúc.Vấn đề đặt ra là sự can thiệp đó đã đến mức làm cho ngời lập di chúc sợ hãi vàphải lập di chúc theo ý muốn của ngời can thiệp hay cha? Còn khi đã lập dichúc theo ý chí của ngời khác thì đơng nhiên đã gây thiệt hại cho ngời lập dichúc nh đã phân tích ở phần trên Để xem xét về việc ngời lập di chúc đã đếnmức sợ hãi hay cha là một vấn đề rất khó, đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc kỹ lỡngtoàn bộ các chứng cứ của vụ án Trờng hợp ngời can thiệp đã bị bản án của Tòa
án xử lý về hành vi đe dọa rồi thì sẽ có nhiều thuận lợi cho việc xem xét Ví dụ:Một ngời có hành vi đe dọa ngời lập di chúc để buộc ngời lập di chúc phải viết
di chúc không đúng với ý chí của ngời lập di chúc Để thực hiện hành vi đe dọacủa mình, anh ta đã dùng vũ lực và gây ra thơng tích nặng cho ngời lập di chúc
đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự Bằng bản án hình sự, Tòa án đã xác
định có hành vi đe dọa trong việc lập di chúc và có hành vi cố ý gây thơng tích,
đồng thời Tòa án đã xử lý về mặt hình sự đối với hành vi cố ý gây thơng tích.Sau đó do ngời lập di chúc chết, ngời đợc thừa kế theo di chúc khởi kiện yêucầu đợc thừa kế theo di chúc Trong trờng hợp này, Tòa án dễ dàng trong việctuyên bố về việc di chúc trên không có hiệu lực pháp luật do ngời lập di chúc bị
đe dọa
Đối với trờng hợp các bên có ý kiến khác nhau về việc ngời lập di chúc
có bị đe dọa trong khi lập di chúc hay không, thì cả hai bên đơng sự đều phải cónghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2005) Bên đơng sự cho rằng, ngời lập di chúc bị
đe dọa trong khi lập di chúc phải có nghĩa vụ đa ra chứng cứ để chứng minh.Nếu các chứng cứ do bên khai rằng có việc đe dọa không đủ hoặc không có cơ
Trang 39Đã có không ít những trờng hợp xảy ra trong thực tế, mặc dù có sự canthiệp của ngời khác, nhng cha đến mức làm cho ngời lập di chúc sợ hãi phải viết
di chúc trái với ý muốn của mình Ngời lập di chúc vẫn lập di chúc một cách tựnguyện, thể hiện ý chí của mình Do vậy, di chúc vẫn có hiệu lực
2.2.3 Ngời lập di chúc không bị lừa dối
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làmcho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tợng hoặc nội dung củagiao dịch nên đã xác lập giao dịch đó (Điều 142 Bộ luật dân sự năm 1995) Lừadối là thủ đoạn có tính toán trớc của ngời này (ngời lừa dối) đối với ngời khác(ngời bị lừa dối) nhằm làm cho ngời bị lừa dối hiểu sai vấn đề, dẫn đến quyết
định một việc gì đó theo mục đích đã định sẵn của ngời lừa dối Thủ đoạn củangời lừa dối có thể bằng lời nói, có thể bằng hành động Mục đích của ngời lừadối là làm cho ngời bị lừa dối hiểu sai vấn đề, dẫn đến những quyết định không
đúng, có lợi cho ngời lừa dối
Trong việc lập di chúc, ngời lừa dối làm cho ngời lập di chúc hiểu sailệch về những ngời thừa kế, dẫn đến quyết định phân chia di sản theo ý muốncủa ngời lừa dối
Di chúc là giao dịch dân sự đơn phơng, nó chỉ thể hiện ý chí của ngờilập di chúc ý chí của ngời lập di chúc phải hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự định
đoạt trong khi minh mẫn và sáng suốt Mọi hành vi lừa dối, đe dọa, cỡng ép…ngời lập di chúc đều bị coi là trái pháp luật
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc, hầu nhkhông có việc các đơng sự tranh chấp về di chúc có bị lừa dối hay không Trờnghợp nếu có tranh chấp, thì việc giải quyết của cơ quan nhà nớc có thẩm quyềncũng là vấn đề khó vì việc chứng minh rằng ngời lập di chúc bị lừa dối là việckhông đơn giản
Trang 402.2.4 Chỉ định ngời thừa kế, truất quyền hởng di sản của ngời thừa
kế, phân định di sản cho từng ngời thừa kế
Đây là quyền của ngời lập di chúc đợc quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộluật dân sự năm 1995 (khoản 1 Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2005) [6], [7]
Chỉ định ngời thừa kế là hành vi của ngời lập di chúc cho phép ngời nào
đó đợc hởng phần tài sản thuộc sở hữu của mình, thông qua việc lập di chúc.Một nội dung không thể thiếu đợc của di chúc đó là: Ai là ngời đợc hởng di sản
và đợc hởng những tài sản nào, số lợng, đặc điểm, chủng loại tài sản Ngời lập
di chúc có quyền chỉ định ngời thừa kế là ngời bất kỳ, mà không bó buộc trong
số những ngời thừa kế theo pháp luật của ngời lập di chúc Ngời lập di chúccũng có quyền chia cho ngời này nhiều hơn ngời kia, chia cho ngời này độngsản, ngời kia bất động sản, ngời khác quyền tài sản mà không buộc phải chia
đều cho những ngời đã đợc chỉ định Việc chỉ định ngời thừa kế và phân định disản cho ngời thừa kế là một nội dung không thể thiếu của di chúc
Ngời bị truất quyền hởng di sản phải là ngời đợc thừa kế theo pháp luậtcủa ngời lập di chúc Ngời lập di chúc có thể chỉ rõ trong di chúc những ngờithừa kế theo pháp luật nào của ngời lập di chúc bị truất quyền hởng thừa kế.Tuy nhiên, có nhiều di chúc, ngời lập di chúc chỉ chỉ định ngời đợc hởng thừa
kế theo di chúc, vậy những ngời thừa kế theo pháp luật của ngời lập di chúc có
bị coi là ngời bị truất quyền quyền hởng di sản hay không Bàn về vấn đề này,hiện nay trong khoa học pháp lý còn có hai quan điểm khác nhau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi ngời lập di chúc có di chúc chỉ địnhmột số ngời thừa kế theo pháp luật hoặc những ngời khác đợc hởng thừa kế theo
di chúc, thì những ngời thừa kế theo pháp luật còn lại là ngời bị truất quyền ởng di sản Những ngời theo quan điểm này cho rằng, đây là hình thức truấtquyền hởng di sản gián tiếp Nếu nh ngời để lại di sản không có di chúc thì đ-
h-ơng nhiên những ngời thừa kế theo pháp luật đợc hởng di sản, cho nên nếu nh dichúc đã định đoạt toàn bộ tài sản thì đơng nhiên những ngời thừa kế theo pháp