nhân dân đồng tình, đồng thời có tác dụng đề cao sự cần thiết phải áp dụng hình phạt này trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.Tuy nhiên, thực tiễn thi hành hình phạt tử hình cũng đã đặt
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nớc ta chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ kinh tế
đối ngoại với nhiều nớc trên thế giới Sự vận hành của nền kinh tế thị trờng theo
định hớng xã hội chủ nghĩa đã và đang đem lại sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đợc bạn bè quốc tế đánh giá cao
Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu ở trên, nền kinh tế thị trờng cũng
đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp Các vụ án giết ngời, cớp tài sản, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tham nhũng, buôn lậu, các tội phạm về ma túy xảy ra nhiều, với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng Tình hình trên không những xâm hại tính mạng, sức khỏe của ngời dân, lợi ích hợp pháp của Nhà n-
ớc, tổ chức, làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nớc, mà còn thực sự đe dọa phá vỡ chính sách kinh tế - xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nớc, gây ra những hậu quả nặng nề về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Thậm chí tình hình tội phạm còn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tình báo nớc ngoài lợi dụng tiến hành các hoạt
động mua chuộc, thu thập tình báo, phá hoại sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nớc
Trớc tình hình trên, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã áp dụng các biện pháp có hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi phạm tội và ngời phạm tội Tòa án các cấp đã xử phạt tử hình nhiều ngời phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm, phục vụ yêu cầu chính trị chung Việc thi hành hình phạt tử hình đã đợc các cơ quan chức năng tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, đợc d luận
Trang 2nhân dân đồng tình, đồng thời có tác dụng đề cao sự cần thiết phải áp dụng hình phạt này trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành hình phạt tử hình cũng đã đặt ra nhiều vấn
đề vớng mắc đòi hỏi khoa học luật tố tụng hình sự phải nghiên cứu giải quyết
nh khái niệm thi hành hình phạt tử hình, các hình thức thi hành hình phạt tử hình, việc ngời bị kết án tử hình xin hiến xác cho khoa học, gia đình ngời bị kết
án xin xác về mai táng theo phong tục, tập quán, sự phân công trách nhiệm giữa các cơ quan chức năng với chính quyền địa phơng nơi có pháp trờng trong việc quản lý khu vực chôn cất ngời bị thi hành hình phạt tử hình Trong khi đó, xét
về mặt lý luận, chế định thi hành hình phạt tử hình cha đợc quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng, và xung quanh chế định này, còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Chế định thi hành hình phạt tử hình
trong luật tố tụng hình sự Việt Nam", mang tính cấp thiết, không những về lý
luận, mà còn là đòi hỏi thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Thi hành hình phạt tử hình là vấn đề quan trọng và nhạy cảm, đã đợc một số nhà luật học ở trong và ngoài nớc quan tâm nghiên cứu TS Giang Sơn - Văn phòng Chủ tịch nớc đã có công trình "Một số vấn đề về thi hành án tử
hình" (Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật, số 9 năm 1996); Tòa án nhân dân tối cao
có công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ: "áp dụng và thi hành hình phạt tử
hình - những vấn đề lý luận và thực tiễn" (Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội,
2002); ThS Vũ Trọng Hách - Học viện Hành chính Quốc gia có công trình:
"Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về thi hành án hình sự ở nớc ta hiện nay" (Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật, số 5 năm 2002);…
Trang 3Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về thi hành hình phạt tử hình, nhng cha có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về chế định hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự, cũng nh thực tiễn thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay.
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình, phân tích, đánh giá đúng thực trạng những quy định về thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình
sự hiện hành, thực tiễn thi hành hình phạt tử hình, xác định những vớng mắc trong thực tiễn thi hành hình phạt tử hình, để trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt đợc mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ khái niệm thi hành hình phạt tử hình, các hình thức thi hành hình phạt tử hình
- Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam
- Nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tử hình của một số nớc trên thế giới
- Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình ở nớc ta
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình
Trang 4Đối tợng nghiên cứu của luận văn
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thi hành hình phạt tử hình và thực tiễn thi hành hình phạt này ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu đề tài này dới góc độ luật tố tụng hình sự
Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình từ năm 1993 đến năm 2002
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân, về chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, về thi hành hình phạt tử hình nói riêng
Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của
Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nớc về đấu tranh phòng, chống tội phạm Cơ sở thực tiễn của luận văn là các báo cáo chuyên đề thi hành hình phạt tử hình của cơ quan Công an, các báo cáo tổng kết, số liệu của Tòa án nhân dân tối cao về thi hành hình phạt tử hình
Cơ sở phơng pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phơng pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, thống kê, so sánh pháp luật, xã hội học để hoàn thành các nhiệm vụ mà tác giả luận văn đã đặt ra
5 Những đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
Trang 5thống về chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới của luận văn:
1 Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình
2 Phân tích làm rõ thực trạng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thi hành hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng ở nớc ta
3 Nghiên cứu, so sánh những quy định của pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam về thi hành hình phạt tử hình với những quy định tơng ứng trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nớc trên thế giới để rút ra những giá trị hợp
lý về hoạt động lập pháp tố tụng hình sự
4 Đề xuất phơng hớng nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng Thông qua kết quả nghiên cứu và các đề xuất, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của kho tàng
lý luận luật tố tụng hình sự và tổng kết, nghiên cứu thực tiễn thi hành hình phạt
tử hình ở Việt Nam Với việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc đổi mới
tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ các cơ quan có trách nhiệm trong việc thi hành hình phạt tử hình, góp phần vào công cuộc cải cách t pháp ở nớc ta hiện nay
Vì vậy, luận văn này có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học kỹ thuật hình sự, tội phạm học nói riêng, cũng nh trong
Trang 6đào tạo, bồi dỡng cán bộ chuyên ngành về thi hành hình phạt tử hình thuộc các ngành Tòa án, Viện Kiểm sát, Công an
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chơng, 8 mục
Trang 7Chơng 1
Một số vấn đề lý luận chung
về Thi hành hình phạt tử hình
1.1 Khái niệm, các hình thức thi hành hình phạt tử hình
và ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình Trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm thi hành hình phạt tử hình
Để có thể đa ra khái niệm thi hành hình phạt tử hình, trớc hết cần làm sáng tỏ khái niệm hình phạt tử hình
Trong hệ thống hình phạt đợc quy định trong luật hình sự Việt Nam, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện mức độ trừng trị cao nhất của Nhà nớc đối với ngời phạm tội, bởi lẽ nó tớc đi quyền sống của ngời bị kết án, loại
bỏ sự tồn tại của ngời phạm tội khỏi đời sống cộng đồng Hiện nay, trên thế giới, có hai loại quan điểm trái ngợc nhau về hình phạt tử hình:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, để bảo đảm an ninh xã hội, công bằng và
công lý, cần thiết phải duy trì hình phạt tử hình đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; đối với những kẻ khủng bố quốc tế, giết ngời hàng loạt, thì không thể có biện pháp giáo dục nào có tác dụng, ngoài việc tớc đi sự tồn tại của chúng [48, tr 54]
Quan điểm thứ hai cho rằng, cần phải bỏ hình phạt tử hình, vì sự sống
của con ngời là thiêng liêng nhất mà tạo hóa đã dành cho họ; việc áp dụng hình phạt này là tàn khốc, vô nhân tính, không thể chấp nhận đợc trong xã hội văn minh Mặt khác, các cơ quan tố tụng có thể sai lầm khi áp dụng hình phạt này
và khi phát hiện ra sai lầm, thì lại không thể khắc phục đợc, bởi lẽ ngời đã chết, thì không thể có biện pháp nào có thể khắc phục để họ sống trở lại [48, tr 54]
Trang 8Thể hiện hai quan điểm trên, theo số liệu chính thức của ủy ban về quyền con ngời của Liên hợp quốc, hiện có 71 quốc gia vẫn duy trì hình phạt tử hình, 15 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình đối với các tội thông thờng, nhng vẫn duy trì hình phạt tử hình đối với tội giết ngời; 77 quốc gia hoàn toàn xóa bỏ hình phạt tử hình, 33 quốc gia tuy còn quy định hình phạt tử hình, nhng không thi hành hình phạt tử hình trên thực tế Nh vậy, 110 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình hoặc không thi hành hình phạt tử hình trên thực tế, chỉ còn 86 quốc gia vẫn duy trì loại hình phạt này Đáng chú ý, một số quốc gia lớn và đông dân
nh Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa ấn Độ, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vơng quốc Nhật Bản, Cộng hòa Inđônêxia vẫn còn duy trì hình phạt này
Việt Nam là quốc gia vẫn duy trì hình phạt tử hình Cơ sở lý luận của việc duy trì hình phạt này là: do tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm đã
đợc thực hiện và những đặc điểm về nhân thân ngời phạm tội, Nhà nớc ta xét thấy không còn khả năng giáo dục, cải tạo họ Vì vậy, hình phạt tử hình không
đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo đối với ngời bị kết án Việc tớc bỏ mạng sống của ngời bị kết án là nhằm loại bỏ hoàn toàn khả năng thực hiện tội phạm ở họ,
đồng thời răn đe mạnh mẽ những ngời không vững vàng, dễ bớc vào con đờng phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội, góp phần nâng cao khí thế đấu tranh phòng, chống tội phạm của ngời dân Cơ sở thực tiễn của việc duy trì hình phạt tử hình này là thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nớc ta cho thấy, địa phơng nào hữu khuynh, không áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất đối với những kẻ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng với nhiều tình tiết tăng nặng, thì ở đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp cả về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và phong trào quần chúng tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm không mạnh Vì vậy, hình phạt tử hình cần đợc áp dụng đối với những ngời phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hởng xấu đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội,
bị d luận kịch liệt lên án
Trang 9Do những đặc điểm tâm lý, thể chất của ngời cha thành niên, phụ nữ có thai và xuất phát từ quan điểm nhân đạo, luật hình sự Việt Nam quy định không
áp dụng hình phạt tử hình đối với ngời cha thành niên phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dới 36 tháng tuổi
Từ sự phân tích ở trên, có thể đa ra khái niệm hình phạt tử hình nh sau:
Tử hình là hình phạt đặc biệt, tớc bỏ quyền sống của ngời bị kết án phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng.
Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm thi hành án hình sự "Thi hành" theo Hán Việt Từ điển của tác giả Đào Duy Anh là "đem cái việc đã định sẵn mà làm cho có hiệu quả" [1, tr 398]; theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, "thi hành" là "làm cho thành, có hiệu lực điều đã đợc chính thức quyết định" [55, tr 936]; còn theo Đại từ điển tiếng Việt thì "thi hành" đợc hiểu là "thực hiện điều đã chính thức quyết định" [59, tr 1559] Thi hành bản án
và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (Thi hành án) có thể đợc hiểu theo một cách chung nhất là "việc các cơ quan nhà nớc,
tổ chức xã hội và các cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật nhằm đa bản án, quyết định đó ra thi hành làm cho nó phát huy hiệu lực trên thực tế" [17,
Nghiên cứu khái niệm thi hành án hình sự nói trên, có thể rút ra những
đặc điểm của nó nh sau:
Một là, thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng
hình sự, phản ánh kết quả của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình
sự
Trang 10Hai là, mục đích của hình phạt chỉ có thể đợc thực hiện thông qua thi
hành án hình sự Điều đó có nghĩa, thi hành án hình sự chính là quá trình thực tiễn hóa mục đích của hình phạt Ngoài ra, thi hành án hình sự còn có mục đích:
đa vào cuộc sống một cách đúng đắn và đầy đủ mọi nội dung của hình phạt đã
đợc Tòa án phán quyết trong bản án, quyết định hình sự, khắc phục hậu quả do chính tội phạm đó gây ra cho xã hội, làm mất khả năng phạm tội của kẻ phạm tội, giáo dục, cải tạo kẻ phạm tội thành ngời lơng thiện và tái hòa nhập cộng
đồng ngời đó thành ngời có ích cho gia đình và xã hội
Ba là, thi hành án hình sự trớc hết đợc điều chỉnh bằng các quy phạm
pháp luật tố tụng hình sự và do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành nhằm bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và công bằng xã hội Ngoài ra, do thi hành án hình sự thờng diễn ra trong thời gian dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực, cho nên, ngoài các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, cho nên thi hành án hình sự còn đợc điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật khác nh hành chính, dân sự, lao động
Thi hành hình phạt tử hình là một bộ phận của thi hành án thi hành án hình sự Từ khái niệm thi hành án hình sự nói trên, có thể đa ra khái niệm thi hành hình phạt tử hình nh sau: Thi hành hình phạt tử hình là hoạt động của cơ
quan nhà nớc, cá nhân có thẩm quyền đa bản án tử hình của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thực hiện trên thực tế theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định
Thi hành hình phạt tử hình cũng mang đầy đủ các đặc điểm của thi hành
án hình sự, ngoài ra còn có những đặc điểm riêng sau:
Đặc điểm thứ nhất của thi hành hình phạt tử hình là sự thực hiện trên
thực tế việc tớc đi quyền sống của ngời phạm tội, do đó cơ quan thi hành án hình sự phải tuân theo những thủ tục hết sức nghiêm ngặt, chặt chẽ Đây là đặc
điểm chủ yếu nhất để có thể phân biệt việc thi hành hình phạt tử hình với thi hành các loại hình phạt, biện pháp t pháp khác Ví dụ: trong Bộ luật tố tụng
Trang 11hình sự năm 1988, cũng nh trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, đều đã quy
định thủ tục xem xét bản án tử hình trớc khi đa ra thi hành, trong đó quy định rất cụ thể về trình tự, thủ tục gửi hồ sơ vụ án lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, gửi bản án cho Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, thời hạn quy
định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; thủ tục xin ân giảm trình lên Chủ tịch nớc Đây là những thủ tục mà đối với việc thi hành các hình phạt, biện pháp t pháp khác, pháp luật
tố tụng hình sự không quy định
Đặc điểm thứ hai, khác với việc thi hành các hình phạt, biện pháp t
pháp khác, nếu việc thi hành hình phạt tử hình có sai lầm, thì không thể khắc phục đợc hậu quả Đặc điểm này bắt nguồn từ bản chất của hình phạt tử hình là tớc đi quyền sống của ngời bị kết án, vì vậy, nếu nh thi hành hình phạt tử hình không đúng đối tợng bị kết án, thì sai lầm này không thể khắc phục đợc
Đặc điểm thứ ba, việc thi hành hình phạt tử hình không những tớc đi sự
sống của ngời bị kết án, mà còn gây ra nỗi đau thơng, mất mát lâu dài cho ngời thân của họ, đồng thời có những tác động tâm lý tiêu cực nhất định lên những cá nhân trực tiếp thực hiện việc thi hành hình phạt tử hình Đây là đặc điểm chúng ta cần lu ý khi thực hiện công tác chính trị, t tởng đối với ngời thân của ngời bị kết án, cũng nh đối với số cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ tớc đi mạng sống của ngời bị kết án
1.1.2 Các hình thức thi hành hình phạt tử hình
Hình thức thi hành hình phạt tử hình là cách thức tớc bỏ sự sống của ngời bị kết án tử hình do cơ quan nhà nớc, cá nhân có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, loài ngời đã áp dụng rất nhiều hình thức thi hành hình phạt tử hình Việc lựa chọn hình thức thi hành hình phạt tử
Trang 12hình nào cho phù hợp, phụ thuộc vào các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, cũng nh chính sách hình sự của mỗi quốc gia GS.TS ngời Nga A.Ph Kixthiacốpxki đã dày công nghiên cứu về những hình thức thi hành hình phạt tử hình trong lịch sử và đa ra 21 hình thức thi hành hình phạt tử hình chủ yếu đã đ-
ợc loài ngời áp dụng nh sau: 1) treo cổ; 2) chặt đầu; 3) đun ngời bị kết án trong vạc dầu, nớc sôi; 4) dùng bánh xe cán chết; 5) xé xác ngời bị kết án ra thành các mảnh nhỏ; 6) thiêu chết; 7) chôn sống; 8) bóp cổ hoặc làm cho chết ngạt trong bao tải; 9) lột da ngời bị kết án cho đến chết; 10) mổ bụng, moi ruột; 11) cho ngồi lên cọc nhọn hoặc dùng cọc nhọn đâm thủng ngời; 12) đốt cổ họng bằng chì đun sôi; 13) đẩy ngời bị kết án từ đỉnh núi xuống vực; 14) thắt cổ; 15) voi dày, ngựa xéo; 16) quăng ngời bị kết án cho hổ, báo ăn thịt; 17) dùng đá ném
đến chết; 18) cho ngời bị kết án chết đói, chết khát; 19) đầu độc chết; 20) dùng gậy đánh chết; 21) xử bắn
Từ sự thống kê này, GS.TS A.Ph Kixthiacốpxki đã chia các hình thức thi hành hình phạt tử hình thành hai loại: loại hình thức thi hành hình phạt tử hình bình thờng (treo cổ, xử bắn ) và loại hình thức thi hành hình phạt tử hình
đặc biệt ngoài việc tớc sự sống của ngời bị kết án, còn có mục đích làm đau đớn một cách thảm khốc cho họ nh đun ngời bị kết án trong vạc dầu, nớc sôi, lột da,
đó dùng súng ngắn, bắn vào đầu ngời bị kết án ở cự ly ngắn, làm ngời đó chết ngay Trờng hợp việc xử bắn do một nhóm ngời thi hành (đội thi hành án), thì
Trang 13cự ly bắn đợc thực hiện xa hơn Trong cả hai trờng hợp, ngời bị kết án có thể
đ-ợc bố trí đối diện ngời thi hành án; riêng ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngời
bị kết án đợc bố trí quay lng về phía đội thi hành án, vì theo phong tục của nớc này, ngời bị kết án không đợc nhìn về phía ngời bắn để hồn ma không thể về trả thù đợc
Hình thức thứ hai: treo cổ.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình bị ủy ban Ân xá quốc tế cho là dã man và cần phải bãi bỏ Tuy nhiên, vẫn còn có 70 nớc trên thế giới áp dụng hình thức này nh: Cộng hòa Singpore, Cộng hòa ấn Độ, Nhật Bản ở Nhật Bản, việc thi hành hình phạt tử hình đợc giữ bí mật tuyệt đối, ngời bị kết
án bị tròng vào cổ chiếc dây đợc xát xà phòng trơn, đầu bị trùm một tấm vải kín
và đợc đứng trên một chiếc ghế đẩu Khi đợc lệnh, ngời thi hành án hất đổ chiếc ghế và việc thi hành án đợc coi nh đã hoàn tất
Hình thức thứ ba: chém đầu.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình đợc 6 quốc gia trên thế giới
áp dụng Cách thức chém đầu có hai cách: dùng máy chém hoặc dùng kiếm Hiện nay, Vơng quốc ảrập Xêút (Saudi Arabia) là quốc gia thờng áp dụng hình thức này
Hình thức thứ t: ném đá đến chết.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình vô nhân đạo nhất hiện nay, trong đó ngời bị kết án bị chôn, chỉ để hở đầu lên khỏi mặt đất, sau đó bị ném
đá cho đến chết Điều 119 Bộ luật hình sự hồi giáo nớc Cộng hòa Iran còn quy
định rõ: "Các viên đá không đợc có kích thớc lớn, để ngời bị kết án không bị chết ngay sau khi ném một, hai viên; đồng thời chúng cũng không đợc có kích thớc nhỏ quá" [60, tr 142] Hình thức thi hành hình phạt tử hình này còn đợc áp dụng ở Cộng hòa Xu Đăng và ở một số nớc khu vực Trung Cận Đông
Trang 142500 vôn đợc đóng Việc cắm điện làm ngời bị kết án ngất ngay lập tức, nhng cái chết chỉ xuất hiện sau một thời gian nhất định, trong một số trờng hợp, phải sau từ 10 đến 15 phút, ngời bị kết án mới chết (có trờng hợp phải 5 lần cắm
điện, ngời bị kết án mới chết) ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ xảy ra một trờng hợp, cho ngời bị kết án ngồi ghế điện, nhng không chết, dẫn đến việc Tòa án tối cao phải ra phán quyết rằng, việc thi hành hình phạt tử hình lần thứ hai là không
vi phạm Hiến pháp và ngời bị kết án bị hành quyết lần thứ hai sau một năm [60,
Trang 15Hình thức thứ bảy: tiêm thuốc độc.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình, trong đó ngời bị kết án bị buộc chặt vào một cái cáng, đợc đa vào một phòng kín, rồi bị tiêm thuốc độc vào bắp thịt Hình thức thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên đợc áp dụng tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vào năm 1977 Khi bị tiêm thuốc độc mạnh vào mạch máu, thì ngời bị kết án sẽ bị chết trong khoảng thời gian từ 32 giây đến 1 phút Tuy nhiên, cũng đã xảy ra một số trờng hợp ngời bị kết án không chết ngay do dụng cụ truyền chất độc trợt khỏi mạch máu hoặc thuốc độc không đủ mạnh khi pha chế
Hình thức thi hành hình phạt tử hình này đợc d luận coi là "nhân đạo", tiết kiệm hơn cả, đợc 34 bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và nhiều nớc khác trên thế giới áp dụng Ngày 30-01-2001, Chính phủ Vơng quốc Thái Lan đã phê chuẩn đề nghị thi hành hình phạt tử hình bằng tiêm thuốc độc thay vì xử bắn
1.1.3 ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên đợc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nớc ta, có
ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn Nó đánh dấu sự trởng thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nớc ta
Trong chế định thi hành hình phạt tử hình, khái niệm thi hành hình phạt
tử hình là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát, để từ đó xác định các quy phạm khác của chế định thi hành hình phạt tử hình nh hình thức thi hành hình phạt tử hình, trình tự, thủ tục xem xét bản án tử hình trớc khi đa ra thi hành, trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình, thủ tục hoãn thi hành án Việc nhận thức và áp dụng đúng đắn chế định thi hành hình phạt tử hình trong thực tiễn là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 16trong lĩnh vực thi hành án hình sự, nhằm thi hành hình phạt tử hình đúng ngời, không để xảy ra oan, sai trong lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm này.
Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả đạt đợc của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự Vì vậy, việc quy định chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn, vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân Tuy nhiên, việc áp dụng chế định thi hành hình phạt tử hình một cách tùy tiện, không đúng pháp luật, bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bởi nó xâm phạm quyền đợc sống là một trong những quyền con ngời cơ bản, xâm phạm đến tình cảm thiêng liêng của những ngời thân thích của họ Những hành vi vi phạm pháp luật về thi hành hình phạt tử hình không những xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xâm hại quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, mà còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nớc Do vậy, việc quy định một cách chặt chẽ chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật
tố tụng hình sự thể hiện sự tôn trọng quyền con ngời của Nhà nớc ta, bảo đảm
sự giám sát của nhân dân, xã hội trong hoạt động thi hành án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng
Việc quy định trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp tố tụng hình sự, còn có ý nghĩa nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng về sự cần thiết phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật
tố tụng hình sự trong lĩnh vực thi hành hình phạt tử hình Mặt khác, việc quy
định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật nắm vững nội dung, bản chất pháp lý, từ đó áp dụng đúng
Trang 17đắn chế định này, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, động viên quần chúng nhân dân tham gia tích vào cuộc đấu tranh này.
Ngoài ra, chế định thi hành hình phạt tử hình, còn có ý nghĩa là cơ sở pháp lý cho một số ngành khoa học pháp lý có liên quan chặt chẽ với khoa học luật tố tụng hình sự nh tội phạm học, tâm lý học t pháp, khoa học kỹ thuật hình sự Đối với tội phạm học, chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu về nhân thân ngời bị kết án tử hình, từ đó tìm ra quy luật phạm tội của những ngời này Đối với tâm lý học t pháp, chế định thi hành hình phạt tử hình có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý của ngời bị kết án tử hình ở giai đoạn xem xét bản
án tử hình trớc khi đa ra thi hành, cũng nh ở giai đoạn thi hành hình phạt tử hình, nhất là ở thời điểm trớc khi thi hành án Kết quả nghiên cứu đặc điểm tâm
lý của những ngời bị kết án tử hình trong hoạt động thi hành hình phạt tử hình,
sẽ là tài liệu quan trọng phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử những
ng-ời phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Đối với khoa học kỹ thuật hình sự, việc quy định trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu, đề xuất các hình thức thi hành hình phạt tử hình tiết kiệm, dễ áp dụng,
"nhân đạo" nhất cho phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nớc
1.2 sự hình thành và phát triển của các quy định về thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trớc khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
1.2.1 Những quy định về thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945
Năm 938, sau khi Ngô Quyền lên ngôi, cùng với những hình phạt mang nặng tính chuyên chính bạo lực, Nhà nớc phong kiến sử dụng hình phạt tử hình
Trang 18với những cách thức khủng khiếp nh là công cụ bảo vệ sự thống trị của giai cấp cầm quyền cũng nh nền độc lập của quốc gia
Dới thời nhà Đinh, nhà tiền Lê, việc quy định tội phạm và hình phạt đều tùy thuộc vào ý chí của nhà Vua Đinh Bộ Lĩnh đặt vạc dầu lớn ở sân triều, nuôi
hổ giữ trong chuồng và quy định: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn" [18, tr 305]
Đến thời nhà tiền Lê, hình phạt tử hình còn đợc thi hành bằng những cách thức tàn bạo hơn Theo Đại Việt sử ký toàn th:
Vua tính hiếu sát, phàm ngời bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào ngời mà đốt, để cho lửa cháy chết, hoặc sai kép hát ngời nớc Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn, dao cùn xẻo từng mảnh, để cho không đợc chết chóng Đi đánh dẹp bắt đợc tù thì giải
đến bờ sông, khi nớc triều rút, sai ngời làm lao dới nớc, dồn cả vào trong ấy, đến khi nớc triều lên, ngập nớc mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, ngời rơi xuống chết [18, tr 349]
Dới thời nhà Lý, Lý Thái Tông cho soạn ra Hình th, đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nớc ta nhng hiện nay không còn nên chúng ta không biết rõ nội dung các điều luật
Dới thời nhà Trần, hình phạt tử hình đối với những ngời bị ghép tội phản nghịch đợc thi hành bằng cách: cho voi dầy, lăng trì (cắt từng miếng thịt cho đến chết), chôn sống, bêu đầu (sau khi chém ngời phạm tội bị chôn xuống
đất, chỉ để lộ ra cái đầu, rồi buộc đầu vào một cây tre uốn cong xuống đất để bên cạnh Khi xử tử, ngời ta lấy dao sắc chém đầu, đầu ngời tử tội sẽ bị treo trên cành tre) Việc áp dụng các hình thức thi hành hình phạt tử hình nh trên là nhằm bảo vệ chế độ phong kiến khỏi sự xâm hại của những kẻ phản nghịch
Trang 19Dới thời nhà Lê (1428 – 1788), Quốc triều hình luật (Bộ Luật Hồng
Đức) - Bộ luật chính thống và quan trọng nhất, đã đề cập đến thi hành hình phạt
tử hình tại mục 5 Điều 1 chơng danh lệ:
Tử hình có ba bậc: từ tội thắt cổ (giảo), chém, đến tội lăng trì, chia làm ba bậc thắt cổ, chém là một bậc, chém bêu đầu (khiêu) là một bậc, lăng trì là một bậc, tùy theo tội mà tăng giảm
1 Thắt cổ, chém
2 Chém bêu đầu
3 Lăng trì [36, tr 219]
Điều 680 chơng đoán ngục quy định:
Đàn bà phải tội tử hình trở xuống, nếu đang có thai, thì phải
để sinh đẻ sau 100 ngày, mới đem hành hình, nếu cha sinh mà đem hành hình, thì ngục quan bị xử biếm hai t, ngục lại bị tội đồ làm bản cục đinh Dù đã sinh rồi nhng cha đủ một trăm ngày mà hành hình, thì ngục quan và ngục lại đều bị tội nhẹ hơn tội trên hai bậc Nếu đã
đủ một trăm ngày mà không đem hành hình, thì ngục quan và ngục lại bị tội biếm hoặc tội phạt [36, tr 231-232]
Việc quy định thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ nh trên thể hiện tính nhân văn sâu sắc của cha ông chúng ta
Dới thời nhà Nguyễn, Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) đợc khắc in lần đầu năm 1982 Mặc dù chịu ảnh hởng của luật Thanh Triều khá nặng nề, nhng nhiều điều luật, trong đó có các điều luật về thi hành hình phạt tử hình vẫn tiếp thu các giá trị lập pháp trong Bộ luật Hồng Đức với một số quy định có tính nhân văn cao hơn Trong Bộ luật này, tại chơng Giải thích ghi rõ: "Các cực hình trong luật nhà Thanh nh chu di tam tộc, lăng trì hoàn toàn bị bãi bỏ Việc thi hành hình phạt tử hình đợc quy định dới hai hình thức treo cổ và chém, chém thì thân và đầu mỗi nơi cách biệt, còn treo cổ thì chấm dứt sự sống thân thể còn vẹn toàn" [31, tr 55]
Trang 20Dới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp chia đất nớc ta ra làm ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ để dễ bề cai trị Mỗi kỳ chịu sự cai trị bằng các hệ thống pháp luật khác nhau Điều 12 Bộ luật hình canh cải có hiệu lực ở Nam kỳ, quy
định:
Ngời nào bị xử tử thì phải bị chém đầu Thủ phạm bị xử tử về tội giết cha mẹ sẽ bị dẫn đến pháp trờng, cho mặc áo vắn, đi chơn không, đầu cho đội khăn chế trắng
Để nó lên đài xử trong lúc ấy trởng tòa đọc án xử nó cho nhơn dân nghe, rồi lập tức thi hành cho nó chết Nếu bà con ngời bị chém xin xác lại, thì cho nó đem về chôn mà không đặng chôn tử tế [25, tr 3]
Tại Điều 5, 6, 7, 8 Luật hình An Nam thi hành ở Bắc kỳ quy định:
Tử hình sẽ bị chém ở chỗ công chúng đều biết, chỗ ấy thì do trong án chỉ ra, nếu trong án cha có chỉ ra, thì sẽ do quan trởng lý kiêm chức nam án thủ hiến định
Tử hình nếu không do quan toàn quyền xét ý kiến quan trởng
lý mà phê chuẩn, thì không đợc thi hành
Phàm đàn bà con gái bị xử tử hình, mà tự xng rằng có thai hễ xét ra quả thật thì đợi đến khi sinh đẻ rồi mới thụ hình Ngời nào vì tội giết cha mẹ mà bị tử hình, thì chỉ cho mặc một cái áo lót mình, đi chơn không, đầu bịt vải trắng, rồi giải đến chỗ hình trờng
Đem ngời phạm để chỗ hình trờng rồi ngời thừa phát lại đem
án ra đọc trớc công chúng Khi đọc xong, thi hành ngay
Cái xác ngời bị tử hình, nếu có ngời thân tộc đứng xin, sẽ cho nhận lấy mà mai táng, nhng mà không cho phô trơng
Phàm gặp ngày kỷ niệm nớc đại Pháp và những ngày lễ mà luật đại Pháp đã nhận, ngày chủ nhật, và theo nh lịch An Nam, đầu năm từ mồng một đến mồng bảy, rằm tháng bảy, rằm tháng tám, ba
Trang 21ngày cuối cùng tháng chạp ngày vạn thọ nớc Nam thì không đợc hành hình [32, tr 5].
Trong Hoàng Việt hình luật đợc ban hành năm 1933, có hiệu lực ở Trung kỳ, Điều 6, 7, 8 chơng 2 - Những tội danh đại hình, quy định:
Ngời bị tử hình sẽ bị bắn hoặc chém ở trớc công chúng Còn chỗ hành hình nếu hội đồng thợng thơ không chỉ định, thời quan tỉnh
sở tại sẽ định một chỗ ở trong tỉnh mà tội nhân đã phạm pháp Nếu
đàn bà bị tử hình xng rằng có thai, mà xét ra quả thiệt, thời sau khi sanh đẻ rồi một trăm ngày mới phải thụ hình
Tội tử hình không đem ra hành hình trong những ngày quốc khánh (đại Pháp) và những ngày lễ mà luật nớc đại Pháp Việt Nam đã công nhận, ngày chủ nhựt (cùng ngày lễ vạn thọ, ba ngày trớc và ba ngày sau lễ nam giao), tám ngày đầu tháng giêng Việt Nam, ngày mồng
2, mồng 5 tháng 5, ngày rằm, tháng giêng, tháng bảy, tháng tám và tháng mời, ngày mồng một và năm ngày cuối cùng tháng chạp
Nếu thân nhơn ngời bị xử tử có xin nhận xác về chôn thời cũng cho, nhng không đợc làm đám phô trơng và có công chúng dự lễ
Nghiên cứu quy định trên cho thấy, việc thi hành hình phạt tử hình mặc
dù mang bản chất của giai cấp thực dân thống trị sâu sắc, nhng đã đợc quy định rất chi tiết, cụ thể, dễ áp dụng Có thể nói, đây là một trong những giá trị lập pháp mà chúng ta cần quan tâm xem xét
1.2.2 Những quy định về thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ từ khi Cách mạng tháng Tám thành công cho đến trớc khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan chế độ thực dân phong kiến và các thiết chế pháp luật, đồng thời thiết lập nên Nhà nớc Việt
Trang 22Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nớc công nông đầu tiên của Đông Nam á, cùng với hệ thống pháp luật mới bao gồm: Hiến pháp, các đạo luật, sắc lệnh, nghị
định, thông t Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công ít ngày, thực dân Pháp quay lại xâm lợc nớc ta một lần nữa Vì vậy, trong suốt thời kỳ từ khi bắt đầu cuộc xâm lợc của thực dân Pháp cho đến năm 1954 là thời điểm ký Hiệp định Giơnevơ, Quốc hội ta là Quốc hội kháng chiến, Chính phủ ta là Chính phủ kháng chiến, pháp luật của ta cũng là pháp luật kháng chiến
Trong thời kỳ này, Nhà nớc ta cũng đã quan tâm đến sự điều chỉnh pháp luật việc thi hành hình phạt tử hình Ngày 31-6-1946, Bộ T pháp đã ban hành thông t số 498, trong đó quy định: "Thi hành hình phạt tử hình từ nay dùng súng thay máy chém" [38, tr 211] Quy định về hình thức tử hình này thể hiện bản chất nhân đạo của chế độ mới, khác về chất so với hình thức tử hình dã man dùng máy chém của chế độ thực dân phong kiến Trong Quy tắc trại giam đợc ban hành ngày 12-6-1951, đã quy định vấn đề chuẩn bị và kết thúc việc thi hành án
tử hình tại Điều 6: "Mỗi khi đa phạm nhân ra chịu án tử hình, Ban Giám thị phải xét kỹ căn cớc để đề phòng nhầm lẫn" và tại Điều 21 quy định: "Khi thi hành xong một án tử hình, Tòa án phải báo cho ủy ban hành chính sở tại để đăng ký việc tử" [38, tr 211] Vấn đề xét ân giảm án tử hình cũng đã đợc quy định trong Thông t số 335/TTg ngày 6-7-1954 của Thủ tớng phủ:
Sau khi Tòa án nhân dân đã lên án tử hình, phạm nhân vẫn có quyền đệ đơn lên Chủ tịch nớc xin ân giảm
Đơn xin ân xá, ân giảm do ủy ban kháng chiến hành chính liên khu chuyển lên Bộ T pháp Bộ T pháp làm tờ trình lên Chủ tịch nớc quyết định [38, tr 213]
Nghiên cứu các văn bản pháp luật quy định việc thi hành hình phạt tử hình trong thời kỳ này, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét nh sau:
Thứ nhất, pháp luật trong giai đoạn này mang tính chất thời chiến, nhng
cũng đã kịp thời quy định một số vấn đề cơ bản của việc thi hành hình phạt tử
Trang 23hình Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thi hành hình phạt tử hình, góp phần vào cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và tay sai.
Thứ hai, việc thi hành hình phạt tử hình đợc quy định trong nhiều văn
bản pháp luật dẫn tới khó khăn trong việc thống nhất áp dụng pháp luật Mặt khác, các văn bản quy định về việc thi hành hình phạt tử hình đều là những văn bản dới luật do cơ quan hành pháp ban hành, hiệu lực pháp lý không cao
Thứ ba, nhiều vấn đề về thi hành hình phạt tử hình cha đợc pháp luật
điều chỉnh nh cơ quan chịu trách nhiệm thi hành hình phạt tử hình, trình tự, thủ tục xử bắn tại pháp trờng Đây là những nhợc điểm cần đợc khắc phục trong thời gian tới
Từ năm 1954 đến năm 1974, việc thi hành án tử hình do các khu, sở, ty Công an phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân ở địa phơng thi hành Ngày 13- 2-1974, Bộ Công an ra Chỉ thị số 138-KC1 quy định cụ thể về công việc chuẩn bị, thủ tục và trình tự những việc làm từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc cuộc thi hành án, những trờng hợp cần tạm hoãn thi hành án Về
địa điểm pháp trờng, thời gian thi hành án, Chỉ thị quy định:
Tùy trờng hợp, pháp trờng có thể bố trí gần trại giam, hoặc ở nơi xảy ra vụ án, nhng nguyên tắc là phải bảo đảm tuyệt đối an toàn cho nhân dân (xa nhà ở của dân, không để dân qua lại khu vực pháp trờng)
Ngày giờ thi hành án, nếu không phải trờng hợp cấp bách, thì không nên định vào ngày kỷ niệm, ngày tết và các ngày lễ chính của các tôn giáo, dân tộc [45, tr 255]
Quy định này hoàn toàn phù hợp với phong tục, tập quán của dân tộc và bảo đảm sự an toàn của nhân dân trong quá trình thi hành hình phạt tử hình
Về công tác chuẩn bị thi hành án tử hình, Chỉ thị quy định:
Lãnh đạo Khu, Sở, Ty Công an phải thành lập Hội đồng thi hành án tử hình, lập kế hoạch và định ngày, giờ, địa điểm, pháp tr-
Trang 24ờng, bố trí lực lợng vũ trang Thành phần Hội đồng thi hành án tử hình bao gồm:
- Một đại diện của cơ quan Công an (Chánh hoặc Phó giám
- Một đại diện của trại giam (Chánh hoặc Phó giám thị)
Ngời chứng kiến việc thi hành án là một đại diện của ủy ban hành chính cơ sở nơi bố trí pháp trờng Ngời này có nhiệm vụ lập giấy khai tử cho kẻ bị áp dụng hình phạt tử hình sau khi bắn
Trớc khi đa phạm nhân ra pháp trờng, cán bộ căn cớc của Sở,
Ty Công an phải đến trại giam, lập danh chỉ bản mới, đem đối chiếu với danh chỉ bản cũ và các tài liệu khác đầy đủ, chính xác và xác định phạm nhân đó đúng là phạm nhân bị kết án tử hình và đúng là kẻ sắp
bị thi hành án trong kế hoạch đã định [45, tr 256]
Về trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình, Chỉ thị quy định:
4 Sau khi trói tay phạm nhân vào cọc đã trông sẵn, thì đại diện Tòa án nhân dân công bố tóm tắt tội trạng của phạm nhân và đọc phần kết luận trong bản quyết định duyệt án tử hình hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm của phạm nhân
5 Bịt mắt phạm nhân bằng một vải băng đen
6 Hội đồng thi hành án ra lệnh thì cán bộ chỉ huy lực lợng thi hành án hô đội viên (5 đội viên bắn giỏi đợc lựa chọn) bắn một loạt
Trang 25súng trờng nhằm thẳng vào tim phạm nhân Để kết thúc việc thi hành
án tử hình, cán bộ chỉ huy bắn thêm một phát súng ngắn vào thái
d-ơng của phạm nhân
7 Bác sĩ pháp y khám nghiệm, xác định là phạm nhân đã chết hẳn
8 Chôn phạm nhân ngay tại gần nơi thi hành án (không cho phép thân nhân xin xác đem về chôn); tại mả có cắm một biển gỗ nhỏ ghi rõ họ, tên tuổi và nguyên quán phạm nhân [45, tr 257]
Việc không cho phép thân nhân ngời bị kết án xin xác về chôn trong Chỉ thị số 138-KC1 là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh chiến tranh lúc đó
Đặc biệt, trong Chỉ thị này quy định rất rõ các trờng hợp tạm hoãn thi hành hình phạt tử hình Đây là những quy định, mặc dù không có trong Bộ luật
tố tụng hình sự hiện hành, nhng hiện nay vẫn đợc áp dụng:
- Phạm nhân tự thú những tội phạm nghiêm trọng khác của y
mà xét thấy những việc ấy cần điều tra, xác minh thêm để kết luận
- Phạm nhân tố giác tội phạm của ngời khác mà xét thấy việc
ấy có tính chất nghiêm trọng và việc điều tra, kết luận nhất thiết phải
từ ngày 1-1-1989 đã đợc sửa đổi, bổ sung ba lần vào các năm: 1990, 1992,
2000, (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988), việc thi hành hình phạt tử hình đợc quy định tại chơng XXV
Thủ tục xem xét bản án tử hình trớc khi đa ra thi hành đợc quy định cụ thể tại Điều 228 với những nội dung cụ thể nh sau:
Trang 26Thứ nhất, về việc kiểm tra lại bản án tử hình.
Khoản 1 Điều 228 Bộ luật quy định:
Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải
đợc gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản sao bản án
đợc gửi ngay lên Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Trong thời gian hai tháng kể từ ngày nhận đợc hồ sơ vụ án và bản sao bản án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
So sánh với các văn bản quy định về thi hành hình phạt tử hình trớc đây, quy định trên đã bãi bỏ chế độ duyệt án tử hình đợc quy định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và bổ sung quy định về trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và của Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Thứ hai, về thủ tục gửi đơn xin ân giảm.
Khoản 1 Điều 228 Bộ luật quy định: "Trong thời hạn bảy ngày kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngời bị kết án đợc gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nớc" So sánh với quy định về thủ tục gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nớc
đợc quy định tại Thông t số 335/TTg ngày 6-7-1954 của Thủ tớng phủ, thì thời hạn đợc quy định rõ ràng, cụ thể hơn
Thứ ba, về điều kiện thi hành bản án tử hình.
Khoản 2 Điều 228 Bộ luật quy định: "Bản án tử hình đợc thi hành, nếu không có kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc của Viện tr-ởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Trong trờng hợp ngời bị kết án xin ân giảm án tử hình thì bản án tử hình đợc thi hành sau khi Chủ tịch nớc bác đơn xin ân giảm"
Trang 27Thủ tục thi hành hình phạt tử hình đợc quy định tại Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 với những nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, về việc ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi
hành án tử hình
Khoản 1 Điều 229 Bộ luật quy định:
Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành án
Hội đồng thi hành án gồm đại diện Tòa án, Viện Kiểm sát và Công an Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cớc của ngời bị kết
1985 Đây có thể nói là bớc tiến bộ về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự, thể hiện truyền thống nhân đạo, nhân văn và tôn trọng quyền con ngời, tôn trọng phụ nữ của dân tộc ta
Thứ hai, về thủ tục trớc khi thi hành án.
Khoản 2 Điều 229 Bộ luật quy định: "Trớc khi thi hành án, phải giao cho ngời bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và nếu ngời bị kết án đã có đơn xin ân giảm án tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Chủ tịch nớc bác đơn xin ân giảm" So với quy định t-
ơng ứng trong các văn bản trớc đây, quy định là một bớc tiến về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự theo hớng bảo đảm dân chủ và chặt chẽ hơn Việc tống đạt
Trang 28cho phạm nhân (đọc cho phạm nhân) quyết định của Hội đồng toàn thể thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao duyệt án tử hình và quyết định bác đơn xin ân giảm của ủy ban Thờng vụ Quốc hội đã đợc thay thế bằng việc giao cho phạm nhân tự đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị và bản sao quyết định của Chủ tịch nớc bác đơn xin ân giảm.
Thứ ba, về hình thức thi hành hình phạt tử hình
Tơng tự nh quy định tại Thông t số 498 ngày 31-6-1946 của Bộ T pháp, khoản 3 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định: "Hình phạt tử hình đợc thi hành bằng xử bắn"
Thứ t, về các trờng hợp hoãn thi hành án tử hình.
Khoản 5 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định: "Trong trờng hợp có tình tiết đặc biệt, Hội đồng thi hành án hoãn thi hành và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao" Tuy nhiên, Bộ luật đã không đa ra khái niệm thế nào là trờng hợp
có tình tiết đặc biệt và trên thực tế, các cơ quan có trách nhiệm thi hành án tử hình vẫn áp dụng ba trờng hợp đợc hoãn thi hành án tử hình đợc quy định tại Chỉ thị số 138-KC1 ngày 13-2-1974 của Bộ Công an
1.3 Những quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự một số nớc trên thế giới
Tử hình là một trong những hình phạt lâu đời nhất trong lịch sử tồn tại
và phát triển của loài ngời, cho nên các nớc trên thế giới còn duy trì hình phạt tử hình, đều quy định rất cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành hình phạt này Nghiên cứu những quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình
sự của Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Vơng quốc Nhật Bản cho thấy, các nớc quy định rất khác nhau về vấn đề này
Về hình thức thi hành hình phạt tử hình, pháp luật tố tụng hình sự nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho phép lựa chọn các hình thức khác nhau, nh-
Trang 29ng phổ biến là hình thức xử bắn và tiêm thuốc độc Điều 344 Giải thích của Tòa
án nhân dân tối cao về một số vấn đề chấp hành luật tố tụng hình sự nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 8-9-1998 quy định:
Việc tử hình đợc thi hành bằng cách xử bắn hoặc tiêm thuốc.Nếu chọn phơng pháp tiêm thuốc để thi hành án tử hình, thì phải thi hành tại nơi chỉ định hoặc trong trại giam Trình tự cụ thể, phải dựa theo các quy định của pháp luật
Nếu chọn các phơng pháp khác, ngoài xử bắn, tiêm thuốc ra,
để thi hành án tử hình thì trớc đó phải báo cáo xin Tòa án nhân dân tối cao phê chuẩn [54, tr 142]
Khác với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ở Vơng quốc Nhật Bản, hình thức thi hành hình phạt tử hình đợc quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự:
1 Hình phạt tử hình đợc thi hành bằng cách treo cổ ngời bị kết án tại nhà tù;
2 Ngời bị kết án tử hình đợc giam giữ ở nhà tù cho đến khi hình phạt đợc thi hành [8, tr 5-6]
Tơng tự nh Vơng quốc Nhật Bản, ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, hình thức thi hành hình phạt tử hình cũng đợc quy định tại Bộ luật hình sự Điều
30 Bộ luật quy định: "Tử hình đợc thực hiện bằng cách bắn" [6, tr 9]
Nếu nh các nớc nói trên không quy định việc thi hành hình phạt tử hình
đợc tiến hành công khai hay không, thì Điều 186 Bộ luật thi hành án hình sự Liên bang Nga quy định cụ thể: "Tử hình đợc thi hành bằng cách xử bắn không công khai" [61, tr 640]
Về trình tự gửi đơn xin ân giảm và xét đơn xin ân giảm, giống nh pháp luật
tố tụng hình sự nớc ta, pháp luật thi hành án hình sự Liên bang Nga không quy
định thời hạn xét đơn xin ân giảm của Tổng thống Khoản 2 Điều 184 Bộ luật thi hành án hình sự Liên bang Nga quy định: "Trờng hợp ngời bị kết án tử hình
Trang 30gửi đơn xin ân giảm, bản án tử hình phải hoãn thi hành cho đến khi có quyết
định của Tổng thống Liên bang Nga" [61, tr 640]
Về việc ra quyết định thi hành hình phạt tử hình, khác với quy định của pháp luật tố tụng hình sự nớc ta, Điều 475 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy
định:
1 Hình phạt tử hình đợc thi hành theo lệnh của Bộ trởng Bộ
T pháp
2 Lệnh nói tại khoản 1 trên đây đợc ban hành trong sáu tháng
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Tuy vậy, trong trờng hợp có yêu cầu phục hồi quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hoặc yêu cầu tái thẩm hoặc giám đốc thẩm hoặc có đơn hay đề nghị xin ân xá, thì thời hạn để kết thúc thủ tục đó và thời hạn bản án đợc tuyên đối với các bị cáo sẽ không đợc tính vào thời hạn nói trên [13, tr 77].Trong Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, việc ra quyết định thi hành hình phạt tử hình đợc quy định tại Điều 153: "Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao ký lệnh thi hành ngay những bản án tử hình do Tòa án nhân dân tối cao xét xử và phê chuẩn" [10, tr 55]
Về cơ quan đợc giao nhiệm vụ thi hành hình phạt tử hình, Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: "Tòa án nhân dân cấp dới phải thi hành án tử hình nội trong bảy ngày kể từ khi nhận đợc lệnh của Tòa án nhân dân tối cao" [10, tr 56]; Điều 155 quy định: "Trớc khi thi hành án
tử hình, Tòa án nhân dân phải báo để Viện Kiểm sát nhân dân ngang cấp cử nhân viên đến giám sát việc thi hành" [10, tr 57] Khác với quy định này, trong
Bộ luật tố tụng hình sự Vơng quốc Nhật Bản, việc thi hành hình phạt tử hình
đ-ợc giao cho Viện Công tố Điều 472 Bộ luật này quy định: "Việc thi hành án do công tố viên của Viện Công tố tơng ứng với Tòa án đã ra bản án đó chỉ đạo" [13, tr 76]; "Hình phạt tử hình sẽ đợc thi hành với sự có mặt của công tố viên,
sĩ quan trợ lý công tố viên, giám thị trại giam hoặc đại diện của giám thị" [13,
Trang 31tr 77] Tơng tự nh quy định này, Điều 186 Bộ luật thi hành án hình sự Liên bang Nga quy định: "Hình phạt tử hình đợc thi hành với sự có mặt của công tố viên, đại diện trại giam nơi thi hành hình phạt tử hình và bác sĩ" [61, tr 640].
Về thủ tục lập biên bản việc thi hành hình phạt tử hình, Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định:
Sau khi thi hành xong án tử hình, th ký phải ghi thành biên bản ngay tại pháp trờng, Tòa án nhân dân có thẩm quyền thi hành án
tử hình phải báo cáo tình hình thi hành án lên Tòa án nhân dân tối cao
Sau khi thi hành xong án tử hình, Tòa án nhân dân có thẩm quyền thi hành án tử hình phải báo cho gia đình phạm nhân biết [10, tr 57]
Điều 478 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định: "Sĩ quan trợ lý công tố viên tham gia thi hành án tử hình sẽ lập biên bản thi hành án biên bản
đó sẽ do sĩ quan trợ lý công tố viên ký và đóng dấu cùng với chữ ký của công tố viên và giám thị trại giam hoặc đại diện của giám thị trại giam" [13, tr 77]
Về vấn đề thi thể ngời bị kết án, pháp luật các nớc quy định khác nhau
Có nớc không cho phép thân nhân nhận thi thể ngời bị kết án về chôn cất nh
Điều 186 Bộ luật thi hành án hình sự Liên bang Nga quy định: "Chính quyền cơ quan nơi thi hành án tử hình có trách nhiệm thông báo về việc thi hành án cho Tòa án đã ra bản án tử hình và thân nhân ngời bị kết án Thi thể ngời bị kết án không đợc trao trả và nơi chôn cất của ngời đó cũng không đợc thông báo" [61,
tr 640]; có nớc lại cho phép thân nhân đem thi thể ngời bị kết án về chôn cất
nh Điều 347 Giải thích của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề chấp hành luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 8-9-1998 quy
định:
Trang 32Sau khi thi hành án tử hình, Tòa án nhân dân chịu trách nhiệm thi hành án, cần làm các việc sau:
Thông báo cho gia đình tội phạm trong thời hạn nhất định tới nhận thi thể tội phạm, nếu có điều kiện hỏa táng, thì thông báo tới nhận hài cốt Nếu quá hạn không tới lấy, thì Tòa án thông báo cho
đơn vị hữu quan xử lý [57, tr 142]
Về các trờng hợp hoãn thi hành hình phạt tử hình, pháp luật các nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Vơng quốc Nhật Bản, Liên bang Nga đều rất quy định cụ thể Điều 341 Giải thích của Tòa án nhân dân tối cao về một số chấp hành luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 8-9-
1998 quy định:
Tòa án nhân dân cấp dới sau khi nhận lệnh thi hành án tử hình, nếu phát hiện có một trong những tình tiết sau đây, phải ngừng việc thi hành và lập tức báo cáo với Tòa án nhân dân đã phê chuẩn tử hình, để Tòa án nhân dân phê chuẩn tử hình ra quyết định:
1 Trớc khi thi hành, phát hiện việc phán quyết có khả năng mắc sai lầm;
2 Trớc khi thi hành, tội phạm khai báo sự thật quan trọng hoặc có biểu hiện lập công lớn khác, có thể cần thay đổi phán quyết;
3 Tội phạm đang mang thai [54, tr 140-141]
Các trờng hợp hoãn thi hành hình phạt tử hình đợc quy định tại
Điều 479 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản:
1 Nếu ngời bị kết án tử hình đang ở trong tình trạng rối loạn thần kinh thì việc thi hành án sẽ đợc hoãn theo lệnh của Bộ trởng Bộ
T pháp
2 Nếu phụ nữ bị kết án tử hình đang có thai thì việc thi hành
án sẽ đợc hoãn theo lệnh của Bộ trởng Bộ T pháp
Trang 333 Khi việc thi hành án tử hình đã đợc hoãn theo quy định tại khoản 1 và 2 trên đây thì hình phạt tử hình sẽ không đợc thi hành trừ phi có lệnh của Bộ trởng Bộ T pháp đợc ra sau khi hồi phục tình trạng rối loạn thần kinh hoặc sau khi sinh con.
4 Quy định của khoản 2 Điều 475 đợc áp dụng với những thay đổi tơng ứng, đối với lệnh nói tại khoản 3 trên đây Trong trờng hợp này, "ngày bản án có hiệu lực pháp luật" nói trong điều này có nghĩa là "ngày hồi phục tình trạng rối loạn thần kinh hoặc ngày sau khi sinh con [13, tr 77]
Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự các nớc nói trên về các ờng hợp hoãn thi hành hình phạt tử hình là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu, hoàn thiện chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 34tr-Chơng 2
Những quy định của pháp luật
tố tụng hình sự hiện hành về thi hành hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng
2.1 những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thi hành hình phạt tử hình
2.1.1 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về các cơ quan có nhiệm vụ thi hành hình phạt tử hình
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, ở nớc ta không
có cơ quan chuyên trách thi hành hình phạt tử hình, mà nhiệm vụ này đợc giao cho ba cơ quan, đó là Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và cơ quan Công an
1- Tòa án nhân dân
Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xét xử và tuyên án tử hình đối với ngời
bị phạm tội (Tòa án cấp tỉnh trở lên) Trong việc thi hành hình phạt tử hình, Tòa
án giữ một vai trò hết sức quan trọng Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 quy định: "Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành Hội đồng thi hành án tử hình gồm đại diện Tòa án, Viện Kiểm sát và Công an" Trong Hội đồng thi hành án, Chánh án hoặc Phó Chánh án hoặc Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng, có chức năng chỉ đạo quá trình thi hành án tử hình
Sau khi Hội đồng thi hành án đợc thành lập, Chủ tịch Hội đồng thi hành
án phải chủ trì công tác chuẩn bị nh mời đại diện của các cơ quan là thành viên Hội đồng thi hành án đến họp bàn về kế hoạch, mời bác sĩ giám định pháp y và
cử một cán bộ Tòa án làm th ký Hội đồng thi hành án
Trang 35đến khi kết thúc việc thi hành án nhằm bảo đảm theo đúng quy định tại Điều
258, 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Viện Kiểm sát phải cử Viện trởng hoặc Phó Viện trởng hoặc Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tham gia Hội đồng thi hành án tử hình Trong Hội đồng thi hành án
tử hình, đại diện Viện Kiểm sát phải thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm:
- Bảo đảm việc kiểm tra căn cớc của ngời bị kết án trớc khi thi hành án
- Nếu ngời bị kết án là phụ nữ thì phải bảo đảm việc kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành hình phạt tử hình đợc quy định tại Điều
35 Bộ luật hình sự năm 1999
- Bảo đảm cho ngời bị kết án trớc khi thi hành án đợc đọc các quyết
định: quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bản sao quyết định của Chủ tịch nớc bác đơn xin ân giảm (nếu ngời bị kết án có đơn xin ân giảm án tử hình)
- Bảo đảm thực hiện quyền của ngời bị kết án đợc viết th và gửi đồ vật cho thân nhân (nếu có)
- Bảo đảm việc thi hành hình phạt tử hình đợc thực hiện bằng hình thức
xử bắn
- Bảo đảm biên bản thi hành hình phạt tử hình phải phản ánh đúng, đầy
đủ hoạt động thi hành án tử hình theo quy định của pháp luật
Trang 36- Bảo đảm quyết định hoãn thi hành án tử hình của Hội đồng thi hành án (nếu có) có căn cứ đúng pháp luật.
Sau khi kiểm sát thi hành hình phạt tử hình, Viện Kiểm sát thực hiện công tác kiểm sát đó có trách nhiệm báo cáo kết quả thi hành hình phạt tử hình cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng thời lập hồ sơ kiểm sát thi hành hình phạt tử hình gồm đầy đủ các tài liệu liên quan đến việc thi hành án tử hình để lu trữ
3- Cơ quan Công an
Giám đốc hoặc Phó giám đốc Công an tỉnh, thành phố (thờng là Phó giám đốc phụ trách Cảnh sát) tham gia Hội đồng thi hành án tử hình theo quy
định tại Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Sau khi nhận đợc quyết định thi hành án tử hình, theo quy định tạm thời
số 03/BNV ngày 15-08-1980 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về tổ chức thi hành các bản án tử hình, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố phải chủ trì họp với lãnh đạo các đơn vị có liên quan về kế hoạch thi hành án tử hình, trong đó các
đơn vị đợc giao nhiệm vụ cụ thể nh sau:
- Phòng Hồ sơ Cảnh sát nhân dân đợc giao nhiệm vụ chuẩn bị hồ sơ và vân tay lu trữ của ngời bị kết án và lăn tay ngời bị thi hành án để Phòng Khoa học kỹ thuật hình sự giám định
- Phòng Kỹ thuật hình sự có trách nhiệm giám định vân tay, kiểm tra căn cớc của ngời bị thi hành án và so sánh với vân tay lu trữ của ngời bị kết án, chụp ba kiểu ảnh để lu hồ sơ
- Phòng Cảnh sát Điều tra có trách nhiệm trng cầu giám định pháp y về ngời bị kết án đã chết hay cha sau khi bắn và mời phiên dịch khi ngời
bị kết án là ngời dân tộc thiểu số không biết tiếng phổ thông hoặc là ngời nớc ngoài
- Trại Tạm giam có trách nhiệm dẫn giải ngời bị kết án đến phòng làm việc của Hội đồng thi hành án, đến pháp trờng và trói ngời bị kết án vào cột;
Trang 37chuẩn bị các phơng tiện nh xe dẫn giải, xe chở áo quan, liên hệ với địa phơng làm thủ tục khai tử, chôn cất ngời bị kết án; thông báo và trao trả di vật của ngời
bị kết án cho thân nhân của họ
- Phòng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ t pháp có trách nhiệm xây dựng
ph-ơng án bảo vệ, khảo sát pháp trờng, thành lập đội vũ trang thi hành án tử hình;
tổ chức lực lợng bảo vệ Hội đồng thi hành án, giữ gìn trật tự pháp trờng
- Công an địa phơng nơi bố trí pháp trờng có trách nhiệm bố trí lực lợng phối hợp với chính quyền địa phơng để bảo vệ pháp trờng, quản lý các đối tợng
có tiền án, tiền sự xung quanh khu vực pháp trờng; quản lý mộ chí của ngời bị kết án trong vòng ba ngày kể từ khi chôn cất, không để xảy ra việc đào bới, lấy xác ngời bị kết án đem đi nơi khác
2.1.2 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về trình tự, thủ tục xem xét bản án tử hình trớc khi đa ra thi hành
Theo quy định chung, bản án và quyết định của Tòa án khi đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án sẽ ra quyết định thi hành, nhng đối với bản án tử hình, pháp luật tố tụng hình sự quy định thêm thủ tục xem xét bản án tử hình trớc khi
đa ra thi hành
Khoản 1 Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải
đợc gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án đợc gửi ngay lên Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận đợc bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Trong thời hạn bảy ngày, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngời bị kết án đợc gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nớc
Trang 38Là hình phạt đặc biệt, nên hình phạt tử hình không chỉ mang tính chất
đặc biệt khi Tòa án áp dụng, mà việc thi hành nó cũng phải tuân theo những trình tự, thủ tục đặc biệt Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, Tòa án đã
ra bản án có hiệu lực pháp luật phải gửi hồ sơ vụ án lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và gửi bản sao bản án lên Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
để xác định việc xét xử có chính xác hay không và có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hay không
Đối với bản án có hiệu lực pháp luật, Điều 278 và Điều 295 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định thời hạn kháng nghị theo hớng có lợi cho ngời
bị kết án là một năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm) hoặc một năm kể từ ngày nhận đợc tin báo về tình tiết mới đợc phát hiện (kháng nghị theo thủ tục tái thẩm); còn kháng nghị theo hớng
có lợi cho ngời bị kết án thì không hạn chế về thời gian và đợc tiến hành trong cả trờng hợp ngời bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ Đối với bản án tử hình, không thể thi hành xong hình phạt tử hình, rồi sau đó mới phát hiện sai lầm, cho nên, trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận đợc bản án và hồ sơ vụ
án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Việc ra một trong các quyết định này của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là bắt buộc, không phụ thuộc vào việc ngời bị kết án có gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch n-
ớc hay không Nếu ngời bị kết án đã gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nớc,
nh-ng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trởnh-ng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thấy việc xét xử không chính xác, thì vẫn có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Sau khi đã có kháng nghị, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải báo cáo Chủ tịch nớc biết về việc bản án tử hình đã bị kháng nghị
Trang 39Trong trờng hợp ngời bị kết án làm đơn xin ân giảm án tử hình thì theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002: "Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao trình Chủ tịch nớc ý kiến của mình về những trờng hợp ngời bị kết án xin ân giảm án tử hình" và quy định tại khoản 6 Điều 27 Luật
Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002: "Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân trình Chủ tịch nớc ý kiến của mình về những trờng hợp ngời bị kết án xin
ân giảm án tử hình"; điểm 8 khoản 3 Điều 2 Quyết định số 207-QĐ/CTN ngày 6-7-1994 của Chủ tịch nớc về chức năng nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức của Văn phòng Chủ tịch nớc quy định: "Văn phòng Chủ tịch nớc có nhiệm vụ, quyền hạn về đặc xá" Theo Thông báo số 10-TB/VP-PL ngày 25-3-1999 của Văn phòng Chủ tịch nớc, hồ sơ trình Chủ tịch nớc xét đơn xin ân giảm của ngời
bị kết án bao gồm: đơn xin ân giảm của ngời bị kết án viết trong thời hạn quy
định (bảy ngày kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật) hoặc đơn quá hạn có lý
do chính đáng (Đơn xin ân giảm phải là bản chính, có chữ ký hoặc điểm chỉ của ngời bị kết án, trờng hợp đơn xin ân giảm do ngời khác viết hộ hoặc phiên dịch, thì cũng phải có chữ ký, ghi rõ họ, tên của những ngời đó Đơn xin ân giảm phải
có xác nhận của đơn vị giam giữ ngời bị kết án); Tờ trình của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Tờ trình của Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; quyết định không kháng nghị của Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; các bản án sơ thẩm, phúc thẩm; đơn xin ân giảm cho ngời bị kết án của các tổ chức xã hộ, nhân dân, chính quyền địa phơng hoặc của những ngời thân thích nh bố, mẹ, anh chị em ruột của ngời bị kết án (nếu có); biên bản khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của ngời bị kết án gây ra nh đền bù vật chất cho ngời bị hại (nếu có); giấy tờ, tài liệu khác có liên quan đến việc xem xét đơn xin ân giảm của ngời bị kết án nh giấy chứng nhận gia đình có công với cách mạng, Huân chơng, Huy chơng
Trang 40Đối với những trờng hợp ngời bị kết án không gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nớc, Công văn số 127/KHXX ngày 9-1-1997 của Tòa án nhân dân tối cao về thi hành hình phạt tử hình đã hớng dẫn:
Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự xong mà trong đó có ngời bị xử tử hình nhng hết thời hạn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm không nhận đợc đơn kháng cáo và cũng không nhận đợc đơn xin ân giảm án tử hình, thì Tòa án cấp sơ thẩm cần phối hợp với trại tạm giam nơi đang giam giữ ngời bị phạt tử hình để xác minh xem ngời
bị xử phạt tử hình có làm đơn kháng cáo hoặc có làm đơn xin ân giảm án tử hình hay không Cần phải lập biên bản về kết quả xác minh này Biên bản phải có chữ ký của cán bộ Tòa án, cán bộ trại tạm giam và ngời bị xử phạt tử hình
Nếu kết quả xác minh cho thấy ngời bị xử phạt tử hình không làm đơn kháng cáo mà có làm đơn xin ân giảm, nhng bị thất lạc, nay muốn làm đơn xin ân giảm án tử hình, thì cho ngời bị xử phạt tử hình viết đơn xin ân giảm án tử hình Biên bản xác minh đơn xin ân giảm án tử hình và hồ sơ vụ án phải đợc gửi ngay cho Ban th
ký Tòa án nhân dân tới cao
Nếu kết quả xác minh cho thấy ngời bị xử phạt tử hình không làm đơn kháng cáo và không làm đơn xin ân giảm án tử hình, thì trong biên bản phải ghi rõ việc ngời bị xử phạt tử hình không có kháng cáo và không làm đơn xin ân giảm án tử hình Biên bản xác minh cùng hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho Ban th ký Tòa án nhân tối cao
Khoản 2 Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: "Bản án
tử hình đợc thi hành, nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm" Quy định này bảo đảm chặt chẽ hơn so với quy định tơng ứng trong