1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO ÁN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở CƠ SỞ

44 397 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 84,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộiBổ sung, phát triển năm 2011 khẳng định : “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thểnhân dân có vai trò rất quan trọng

Trang 1

A KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG

1 Tên bài giảng: Nghiệp vụ công tác mặt trận tổ quốc và vận động xây dựng khối

đại đoàn kết dân tộc ở cơ sở

2 Thời gian giảng: 4 tiết (mỗi tiết 45 phút)

3 Đối tượng người học: Cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể

nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương); trưởng, phóphòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương; trưởng, phó phòng của sở, ban,ngành, đoàn thể cấp tỉnh và tương đương; cán bộ dự nguồn các chức danh trên; cán bộ,công chức cấp cơ sở và một số đối tượng khác

4 Mục tiêu:

4.1 Về kiến thức: Trang bị những kiến thức cơ bản về công tác MTTQ và nghiệp

vụ vận động xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở cơ sở

4.2 Về kỹ năng: Biết vận dụng lý luận đã nghiên cứu vào công tác vận động xâydựng khối đại đoàn kết dân tộc ở cơ sở

4.3 Về thái độ: Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của MTTQ và công tác MTTQ

Thời gian

Thuyếttrình

Hỏi đáp1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ Thuyết

trình

Trang 2

Hỏi đáp1.2.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động Thuyết

1.4 Mặt trận tổ quốc Việt Nam ở cơ sở

1.4.1 Vai trò của MTTQ Việt Nam ở cơ sở Thuyết trình

2.4 Nghiệp vụ vận động đồng bào các tôn giáo Thuyết trình

2.5 Nghiệp vụ tổ chức thực hiện cuộc vận

động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn

mới, đô thị văn minh”

Thuyết trình Hỏi đáp

Bước 4 Chốt kiến thức Thuyết trình - Micro

Trang 3

1 Tài liệu bắt buộc

1.1 Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính, Nghiệp vụ công tác Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân ở cơ sở, Nxb Lý luận chính trị, H.2017.

1.2 Nghị quyết số 25 – NQ/TW ngày 3/6/2013 của BCH TW khóa XI về tăngcường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.1.3 Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cácđoàn thể chính trị - xã hội (ban hành kèm theo Quyết định số 217 – QĐ/TW ngày12/12/2013 của Bộ Chính trị)

1.4 Quy chế về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và

nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền (ban hành kèm theo Quyết định số 218 – QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị).

1.5 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2015)

1.6 Văn kiện Đại hội lần thứ VIII (NK 2014 – 2019) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.1.7 Đề án Tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nôngthôn mới, đô thị văn minh” ngày 28/12/2015 của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

2 Tài liệu tham khảo

2.1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứX,XI,XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2008, H.2011, H.2017

2.2 Nghị quyết số 07- NQ/TW, ngày 17/11/1993, của Bộ Chính trị về đại đoàn kếtdân tộc và tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất

2.3 Chỉ thị số 30-CT/TW, 24/12/1993 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết của

Bộ Chính trị “về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất”

2.4 Nghị quyết số 23 – NQ/TW, ngày 12/03/2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấphành Trung ương Đảng (khoá IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộcvì“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

2.5 Nghị quyết số 24 - NQ/TW,12/03/2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hànhtrung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc

2.6 Nghị quyết số 25 - NQ/TW, 12/03/2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hànhtrung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo

Trang 4

2.7 Nghị quyết số 36-NQ/TW, 26/03/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối vớingười Việt Nam ở nước ngoài.

2.8 Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hànhTrung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước

2.9 Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huyvai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế.2.10 Các bài viết trên website: Tạp chí cộng sản, tạp chí dân vận, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam;

Trang 5

C NỘI DUNG BÀI GIẢNG

Bước 1: Ổn định lớp

Bước 2: Kiểm tra bài cũ (Lồng ghép trong quá trình giảng bài)

Bước 3: Giảng bài mới

Bài 1 NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG

KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở CƠ SỞ

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỦ YẾU VỀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

1.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của MTTQ Việt Nam

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03 tháng 02 năm 1930, ngay từ những ngàyđầu, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng, cách mạng muốn thành công phải có lực lượng đủ mạnh Muốn có lực lượng đủmạnh phải tiến hành đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, các tầng

lớp xã hội Do vậy, cần thiết phải thành lập một Mặt trận dân tộc.

Như vậy, có thể hiểu cách khác: công tác Mặt trận chính là công tác tập hợp quần chúng – tập hợp lực lượng cho cách mạng.

Lịch sử phát triển của MTTQ gắn liển với sự thay đổi tên gọi MTTQVN qua cácthời kỳ:

(1) Hội phản đế đồng minh (18/11/1930)

(2) Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (10/1936)

(3) Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận dân chủ ĐôngDương (6/1938)

(4) Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương (11/1939)

(5) Mặt trậnViệt Nam độc lập Đồng Minh(gọi tắt là Mặt trận Việt Minh(19/5/1941).(6) Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam(Hội Liên Việt) (ngày 29/5/1946)

(7) Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt).Ngày 3/3/1951

(8) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ngày 10 tháng 9 năm 1955

(9) Mặt trận Dântộcgiải phóng miền Nam Việt Nam ra đời Ngày 20/12/1960

Trang 6

(10).Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam Ngày20/4/1968.

(11) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam- từ ngày 31/1 đến 4/2/1977

Ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam cónhững hình thức, tên gọi khác nhau cho phù hợp với nhiệm vụ nhưng đều nhằmmục đích xây dựng, tập hợp các tầng lớp nhân dân thành một khối đoàn kết, thống nhất

về ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh để hoàn thành những mục tiêu cách mạng doĐảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo thực hiện

MTTQVN trở thành một bộ phận của hệ thống chính trị, là một phần tất yếu của nền dân chủ XHCN ở nước ta, ngày càng không ngừng phát huy tinh thần yêu nước,

truyền thống đoàn kết dân tộc Việt Nam; và là nhân tố quyết định thắng lợi của sựnghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Dẫn nhập: Vì sao có thể khẳng định MTTQ là một phần tất yếu của nền dân chủ

XHCN ở nước ta –xuất phát từ vị trí, vai trò của MTTQ, chúng ta tìm hiểu nội dung 1.2,

để chứng minh điều đó

1.2 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam

1.2.1 Khái niệm MTTQ Việt Nam

MTTQ Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổchức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, cáctầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Qua khái niệm trên chúng ta thấy rằng:

- Tổ chức liên minh chính trị là: Liên minh chính trị là liên kết (tập hợp) các lựclượng chính trị - xã hội với nhau thành một khối thống nhất để thực hiện mục tiêu chínhtrị chung là giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước (NN là trung tâm quyền lực chínhtrị); sử dụng chính quyền để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng vàphát triển kinh tế - xã hội

- Liên hiệp tự nguyện với các tổ chức chính trị - xã hội (là những tổ chức làm việctheo điều lệ của hội theo quy định của pháp luật, các thành viên có lương); với các tổ

Trang 7

chức xã hội (là tổ chức tham gia tự nguyện, không liên quan đến chính phủ, thành viênkhông hưởng lương, hệ thống không có quyền lực).

Các thành viên của MTTQ:

- 1 Đảng Cộng sản Việt Nam

- Tổ chức CT-XH: 2 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;3 Hội Nông dân ViệtNam; 4 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; 5 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

6 Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

- LL vũ trang: 7 Quân đội Nhân dân Việt Nam

- Tổ chức XH: 8 Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; 9 Hiệp hộicác hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam; 10 Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam;

11 Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; 12 Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; 13 PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam; 14 Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; 15 Hội Luậtgia Việt Nam; 16 Hội Nhà báo Việt Nam; 17 Giáo hội Phật giáo Việt Nam; 18 Uỷ banĐoàn kết Công giáo Việt Nam; 19 Hội Làm vườn Việt Nam; 20 Hội Người mù ViệtNam; 21 Hội Sinh vật cảnh Việt Nam; 22 Hội Đông y Việt Nam; 23 Tổng hội Y dượchọc Việt Nam; 24 Hội Người cao tuổi Việt Nam; 25 Hội Kế hoạch hoá gia đình ViệtNam; 26 Hội Khuyến học Việt Nam; 27 Hội Bảo trợ tàn tật và Trẻ mồ côi Việt Nam;

28 Hội Châm cứu Việt Nam; 29 Tổng hội Thánh Tin lành Việt Nam; 30 Hội Liên lạcvới người Việt Nam ở nước ngoài; 31 Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; 32 Hội Nạnnhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam; 33 Hội Mỹ nghệ - Kim hoàn - Đá quý ViệtNam; 34 Hội Cựu Giáo chức Việt Nam; 35 Hội Xuất bản - In - Phát hành sách ViệtNam; 36 Hội Nghề cá Việt Nam; 37 Hiệp hội Sản xuất kinh doanh của Người tàn tậtViệt Nam; 38 Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật Việt Nam; 39 Hội Y tế Cộng đồng Việt Nam;

40 Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam; 41 Hiệp hội Các trường Đại học, Caođẳng ngoài công lập Việt Nam; 42 Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam; 43.Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt-Đức; 44 Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

1.2.2 Vị trí, vai trò

* Vị trí

MTTQ là bộ phận của hệ thống chính trị bao gồm Đảng CSVN, Nhà nước, MTTQ

và các đoàn thể nhân dân

Trang 8

Không phải bất kỳ tổ chức công dân nào cũng thuộc HTCT, mà chỉ những tổ chứcnào mà việc tham gia đời sống chính trị là mục tiêu cơ bản và là một trong những hoạtđộng chủ yếu của mình mới thuộc HTCT.

MTTQ là bộ phận HTCT, sự quy định này xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu khách

quan của sự nghiệp cách mạng (quay lại lịch sử hình thành và phát triển của MT và yêu cầu đặt ra, có tổ chức để tập hợp lực lượng, thống nhất hành động vì mục tiêu cách mạng), xuất phát từ thể chế chính trị nước ta: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực

thuộc về nhân dân

Đây còn là vấn đề mang tính lịch sử, vấn đề truyền thống của dân tộc (đoàn kết tạosức mạnh toàn dân trong phòng chống thiên tai, ngoại xâm bao đời – qua câu chuyệnSơn Tinh – Thủy Tinh, Thánh Gióng, );

Từ khi có Đảng là có Mặt trận, Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặttrận Sau khi giành được chính quyền, Đảng, chính quyền (Nhà nước), MTTQ là những

bộ phận hợp thành hệ thống chính trị

-> Điều này nhằm chứng minh: Các thế lực thù địch – họ muốn MT phải độc lập,muốn MTTQ không là bộ phận trong hệ thống chính trị, MTTQ không mang tính chínhtrị mà phải mang tính xã hội Hòng muốn tách biệt sự lãnh đạo của Đảng với MTTQ,làm suy yếu tính chính trị của MTTQ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lật đổ thểchế chính trị nước ta

Chúng ta biết rằng: Tuy vai trò, chức năng, phương thức hoạt động của các tổ

chức này có khác nhau, nhưng đều là “công cụ” để thực hiện và phát huy quyền làm chủ

của nhân dân, cùng có chung một mục đích là phấn đấu xây dựng một nước Việt Namhòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc

tế “MTTQ là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân” – điều đó xác định rõ hơn vị trícủa MTTQ trong hệ thống chính trị

Trong hệ thống chính trị này:

- Đảng: vừa là lãnh đạo và là thành viên Mặt trận; Hạt nhân của hệ thống chính trị;Nơi tập trung ý trí của toàn dân Đảng lãnh đạo và thực hiện đường lối thông qua nhànước, MT và các đoàn thể

Trang 9

- Nhà nước: Quản lý xã hội; Công cụ thực hiện đường lối của Đảng; Nhà nước dựavào MTTQ và các đoàn thể trong xã hội và thực hiện đường lối của Đảng, ý trí của nhândân Quyền làm chủ của nhân dân.

- MTTQVN: Liên minh chính trị của các tổ chức, đoàn thể là chỗ dựa của Nhànước, có trách nhiệm xây dựng nhà nước, phối hợp với các phong trào quần chúng, thểhiện ý trí của nhân dân thể hiện tiếng nói và là khối đoàn kết của các tầng lớp nhân dân

- Đoàn thể nhân dân: Thành viên của MTTQ; Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; Chỗdựa của chính quyền; Khối đại đoàn kết toàn dân

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có nhiệm vụ, chức năng là đưađường lối, chính sách của Đảng vào thực tiễn hoạt động thông qua các hình thức tập hợpquần chúng đặc thù

*Vai trò

- Tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân;

- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân;

- Cơ sở chính trị của Đảng và của chính quyền nhân dân

Phân tích từng vai trò của MTTQ:

Vai trò 1: Tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân (đại đoàn kết dân tộc).

“Dân” chỉ mọi con dân đất Việt, con rồng cháu tiên, không phân biệt dân tộc đa số,người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ, gái, trai, giàu,nghèo Nói đến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp mọi người dân vào mộtkhối trong cuộc đấu tranh chung

Đoàn kết là một truyền thống quý báu và là bài học lớn của cách mạng Việt Nam,

là nhân tố quan trọng đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng

- Bác Hồ đã đúc kết ra 3 điều:

+ “Đoàn kết là chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Ai có tài,

có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì đại đoàn kết mớimạnh”

+ “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/

Thành công, thành công, đại thành công”

(Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II, năm 1961).

Trang 10

+ “Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng màcòn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc” (Năm 1955).

Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải:

- Một là, đặt vấn đề lợi ích là yếu tố quan trọng đầu tiên.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc bất di bất dịch khi thực hiện đại đoàn kếttoàn dân là đảm bảo lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân ViệtNam Lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ

Đó vừa là truyền thống dân tộc, là chân lý, là ngọn cờ, và là nguyên tắc của đại đoàn kết.Người còn chỉ rõ, mục tiêu lý tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập, tự

do và CNXH; cùng phương châm: dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do conngười, vì con người là mẫu số chung, là điểm quy tụ khối đoàn kết

Chẳng hạn, sau cách mạng Tháng 8-1945 thành công, Hồ Chí Minh đã ký nhiều sắclệnh chiêu tập quan lại cũ triều Nguyễn, như cựu hoàng Bảo Đại, Khâm sai đại thần

Phan Kế Toại, Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, hay Cụ Huỳnh Thúc Kháng (Dĩ bất biến, ứng vạn biến- Thực ra câu " Dĩ bất biến ứng vạn biến" là một vế trong đôi câu đối hoàn chỉnh mà vế thứ hai là "Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm" –‘Lấy tâm chúng sinh làm tâm của mình- trong nền văn hóa, triết học phương Đông.)…tham gia chính quyền mới, tạo điều kiện

cho họ đóng góp tài lực vào sự nghiệp chung của dân tộc Chính sự bao dung, độ lượngcủa Hồ Chí Minh đã cảm hoá, mở rộng con đường cho họ trở lại sum họp trong đại giađình Việt Nam Đối với các trí thức người Việt được đào tạo ở nước ngoài, như kỹ sưPhạm Quang Lễ, bác sĩ Trần Hữu Tước thì tấm gương vì nước, vì dân cùng với tưtưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh có sức hấp dẫn kỳ lạ Nó tạo động lực để

họ tự nguyện từ bỏ cuộc sống vật chất đầy đủ, trở về nước góp tài lực cùng cả dân tộctạo nên sức mạnh to lớn trong sự nghiệp chống xâm lược, giành độc lập, tự do và xâydựng Nhà nước dân chủ nhân dân

Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khoá VI về đổi mới công tác quần chúng của Đảng,tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân đã nêu rõ quan điểm: “Động lực thúcđẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòacác lợi ích thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ của công dân”

Đòi hỏi bức thiết: Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân.

Trang 11

Tin vào dân: phải cho dân biết các thông tin về chủ trương của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước - phải biết dựa vào sức mạnh của nhân dân Vd: Để chiến thắngđược quân Nguyên Mông là Trần Hưng Đạo mở hội nghị Diên Hồng lấy ý kiến của dân

là nên hàng hay nên đánh như vậy là ông đã biết tin vào dân, dựa vào dân và vì dân.Phong trào xây dựng nông thôn mới người dân phải được biết mục đích và ý nghĩanhư thế nào? họ được cái gì? Vì ai? Thì họ mới tham gia tự nguyện đóng góp, nếu địaphương nào kém về sự đoàn kết thì phong trào kém thành công

- Hai là, xác định khối đại đoàn kết là liên minh công nông, trí thức.

Một xã hội có hùng mạnh và phát triển hay không thì phải dựa vào các giai cấp,tầng lớp xã hội cơ bản của đất nước, đó là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, độingũ trí thức…

Liên minh công - nông - lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàndân, nền tảng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng,không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc

Điều này được thể hiện như sau:

+ Thắng lợi huy hoàng của cuộc CM tháng Tám năm 1945 gắn liền với sự nghiệpcủa mặt trận Việt Minh đó là sức mạnh của lực lượng toàn dân đoàn kết Tất cả các dântộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Nam để tranhlại quyền độc lập cho Tổ quốc Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết Không aithắng được lực lượng đó

+ Tại sao Đế quốc Pháp có ưu thế về vật chất, về phương tiện chiến tranh hiện đạilại phải thua một Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu trong cuộc chiến xâm lược? Đó là vìđồng bào Việt Nam đã đoàn kết cùng một mục đích quyết không chịu mất nước, quyếtkháng chiến để thống nhất và độc lập cho Tổ quốc Sự đồng tâm của đồng bào ta đúcthành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc Dù địch hung tàn, xảo quyệtđến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”

+ Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, MTTQVN đã cùng Mặt trận Dântộc giải phóng miền Nam VN và liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình

VN đoàn kết nhân dân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang, giải phóng miền Nam,bảo vệ miền Bắc

Trang 12

+ Khi nước nhà thống nhất MTTQ giữ vai trò trong việc củng cố và tăng cườngkhối đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận:

“Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại,lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”

Đây chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do, xã hội phát triển Đã có sựđoàn kết quyết định sẽ thành công.Vì đoàn kết tạo nên sức mạnh, là then chốt của thànhcông Muốn có được thành công phải có lực lượng đủ mạnh, muốn có lực lượng phảiquy tụ cả dân tộc thành một khối thống nhất.Giữa đoàn kết và thành công có mối quan

hệ chặt chẽ, qui mô của đoàn kết quyết định quy mô mức độ của thành công

Tuy nhiên có những khó khăn:

+ Giai cấp công nhân nước ta tăng nhanh về số lượng, nhưng trình độ học vấn,chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp còn thấp so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước

+ Giai cấp nông dân đời sống vật chất và tinh thần còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còncao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu nghèo giữathành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc; tạimột số vùng nông thôn, mối quan hệ cộng đồng cổ truyền bị xói mòn, tệ nạn xã hội giatăng, dân chủ cơ sở chưa được phát huy đúng mức, an ninh trật tự diễn biến phức tạp đãgây nhiều bức xúc, tiềm ẩn bất ổn trong xã hội nông thôn

+ Các chính sách đối với đội ngũ trí thức thiếu đồng bộ, mang nặng tính hànhchính, thiếu những chính sách động viên và phát huy khả năng cống hiến của trí thứcvào việc tham gia giải quyết các vấn đề trọng yếu của quốc gia Các chính sách cụ thể vềviệc làm, tiền lương, tiền thưởng, tôn vinh chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩytính năng động, sáng tạo của trí thức Việc đánh giá, sử dụng trí thức không đúng vớinăng lực và trình độ, ngay cả với trí thức đầu ngành, dẫn đến tâm tư nặng nề

Điều đó chứng tỏ rằng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhànước và nhân dân chưa thật bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới Lòngtin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân chưa vững chắc, phần vìđời sống còn nhiều khó khăn, phần vì bất bình trước những bất công xã hội và tình trạng

Trang 13

tham nhũng, quan liêu, lãng phí còn khá phổ biến và nghiêm trọng, kỷ cương phép nướcnhiều lúc, nhiều nơi không nghiêm, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp, trật tự an toàn xãhội còn phức tạp Phát hiện, giải quyết kịp thời và đúng đắn các mâu thuẫn đó sẽ tạo ratổng hợp động lực căn bản nhất cho sự củng cố, phát triển liên minh - cơ sở của đại đoànkết toàn dân tộc Cơ sở này đặt ra từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạngchung của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức.

Vai trò 2: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Dân chủ là ước ao, là khác vọng của nhân loại và nó được các nhà tư tưởng tiến bộnêu ra rất sớm trong lịch sử xã hội Trải qua hàng ngàn năm tiến hóa, đến thời đại chúng

ta, dân chủ đang là đòi hỏi bức xúc, là nhu cầu và động lực phát triển xã hội

Dân bao giờ cũng là gốc của nước, vì nước bao giờ cũng là của mọi người dân.Cách mạng như con thuyền mà dân trao cho Đảng là người cầm lái Con thuyền cáchmạng đi tới đích thắng lợi là nhờ ở sức dân Chính những ý kiến, những nguyện vọng vàsáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối cách mạng, và cũng chínhphong trào cách mạng của nhân dân là yếu tố quan trọng nhất biến đường lối đó thànhhiện thực, tạo ra những thành tựu to lớn hôm nay và là tiền đề cho những năm tiếp theo

Vì vậy vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc phát huy quyền làm chủ của nhândân đã được nêu rõ trong nhiều văn kiện của Đảng và các văn bản mang tính pháp lệnhcủa Nhà nước Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định : “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thểnhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầnglớp nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ”

- Thực hiện dân chủ là những yếu tố quan trọng để củng cố phát triển khối đại đoànkết toàn dân tộc Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới Muốnđoàn kết thì phải dân chủ, dân chủ là để tăng cường đoàn kết

- Thực chất của nền dân chủ theo tư tưởng các nhà khai sáng (Mông teki ơ; Rusxo)

là xây dựng một nền KTTT, một Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân

Trang 14

Vai trò 3:Cơ sở chính trị của Đảng và của chính quyền nhân dân.

Cội nguồn sức mạnh của Đảng, của Nhà nước từ nhân dân mà ra, do nhân dân mà

có Vấn đề là làm gì, làm như thế nào để huy động tài năng, trí tuệ của nhân dân thamgia xây dựng Đảng và Nhà nước Phương thức tốt nhất để huy động sức dân tham giaxây dựng Đảng và Nhà nước là thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là thành viên trong hệ thống chính trị, có vai trò quantrọng tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, vận động, giáo dục quần chúng vàthu hút các lực lượng xã hội vào các phong trào cách mạng thực hiện các nhiệm vụchính trị của Đảng

Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò chi phối, tác động rất lớn đếnquá trình thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát hoạt độngcủa cơ quan nhà nước, công chức nhà nước; tham gia vào việc xây dựng và củng cốchính quyền, tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chứcđảng

Như vậy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia xây dựng Đảng và Nhànước góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý của Nhà nước

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước nhằmphát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổquốc Việt Nam các cấp trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước, tăng cườngmối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; bảo đảm cho sự nghiệp đổimới đất nước thành công

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia xây dựng Đảng, xây dựngnhà nước được thể hiện cụ thể như sau:

Về việc tham gia xây dựng Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọngtrong góp phần xây dựng các chủ trương, nghị quyết của Đảng, phản ánh ý kiến củanhân dân về các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, để Đảng kịp thời đề ra những chủtrương, chính sách hợp lý trong quá trình lãnh đạo, nhằm giải quyết, điều chỉnh cho phùhợp với thực tiễn Trong quá trình vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối,nghị quyết của Đảng, thông qua ý kiến quần chúng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt

Trang 15

Nam kịp thời đề xuất với Đảng về những hạn chế trong đường lối, chính sách của Đảng.Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua hoạt động của mình quy tụ, phốihợp các tổ chức thành viên thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tácxây dựng Đảng, góp phần xây dựng bộ máy tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh ở cáccấp và vận hành thống nhất trong phạm vi cả nước Vận động toàn thể nhân dân pháthuy tinh thần làm chủ trong việc xây dựng và bảo vệ Đảng; giám sát hoạt động của cấp

ủy đảng tại địa phương để kịp thời phát hiện những sai sót, khiếm khuyết trong công táclãnh đạo ở địa phương ; qua đó, làm cho Đảng ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhân dân,phát huy trí tuệ của nhân dân trong quá trình lãnh đạo của Đảng, từ đó nâng cao sứcmạnh và trí tuệ của Đảng

Về tham gia xây dựng Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp phần phát huysức mạnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước, tham gia tổ chức bầu cử Quốc hội và hộiđồng nhân dân, góp phần nâng cao sức mạnh của cơ quan quyền lực nhà nước; tổ chứchiệp thương với các tổ chức thành viên, giới thiệu những người đủ tiêu chuẩn làm hộithẩm nhân dân của tòa án nhân dân các cấp, tham gia vào hoạt động hành pháp của Nhànước; phát huy sức mạnh của hệ thống các cơ quan quản lý hành chính; tham gia xâydựng chính sách, pháp luật, tham gia giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước; vận độngcác tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào quần chúng, cùng Nhà nước thực hiệncác chương trình kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả quản lý nhà nước

1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ

* Chức năng của MTTQ:

Việc pháp luật khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “là một bộ phận của hệthống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” có nghĩa là pháp luật

xác định địa vị pháp lý và chính trị của Mặt trận là một thành tố cấu thành thể chế chính

trị của nước ta Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là thành viên của hệ thống chínhtrị có chức năng, nhiệm vụ riêng và tồn tại, hoạt động trong mối quan hệ với các thànhviên khác của hệ thống chính trị

- Từ vị trí, vai trò trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng đại diện cho lợi ích của nhân dân, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho các thành viên.

Trang 16

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các tổ chức đoàn thể nhân dân, trước hết là

tổ chức của nhân dân nên có chức năng đại diện, bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp phápcủa các tầng lớp nhân dân trước các cơ quan quyền lực là Đảng và Nhà nước Đây là lý

do tồn tại và là chức năng chủ yếu của bất cứ tổ chức chính trị - xã hội nào

-Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng tập hợp, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

(theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng)

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nội dung chủ đạo của tư tưởng HồChí Minh và đã được Đảng ta khẳng định trong đường lối cách mạng: Đại đoàn kết toàndân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, lànguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắnglợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc là trách nhiệm của cả hệthống chính trị và toàn xã hội; trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Mặt trận Tổquốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp, xây dựng, củng cố khối đại đoànkết trên cơ sở vì lợi ích chung của dân tộc và bằng cách vận động, thuyết phục, hiệpthương dân chủ- thống nhất hành động Bởi vậy, có thể nói rằng, tổ chức và hoạt độngcủa Mặt trận là sự thống nhất từ đa dạng, không có sự đa dạng khác nhau thì khôngthành Mặt trận, nhưng không có sự tương đồng và thống nhất về lợi ích chung của Tổquốc thì cũng không thành Mặt trận

- Chức năng tuyên truyền, thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đây thực chất là chức năng dân vận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (và cũng làchức năng vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách vàpháp luật của Nhà nước thông qua các tổ chức thành viên và các cuộc vận động chungcủa các tổ chức quần chúng); tuyên truyền, thuyết phục, tổ chức vận động các phongtrào cách mạng mang tính toàn dân Đây cũng là một trong những yếu tố quy định vaitrò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở của chính quyền nhân dân

- Chức năng tham gia xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.

Trang 17

Chức năng này được quy định rõ trong Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị,ngày 12-12-2013 về việc ban hành Quy chế Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xãhội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Tham gia xâydựng Đảng xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân là trách nhiệm của mọi thànhviên hệ thống chính trị và xã hội Thực hiện chức năng này, không chỉ đảm bảo gópphần làm cho Đảng và Nhà nước mạnh hơn, qua đó thực thi chủ quyền của nhân dân tốthơn mà còn làm cho bản thân tổ chức Mặt trận mạnh hơn bởi vì Đảng là thành viên vàcũng là hạt nhân lãnh đạo Mặt trận, còn Nhà nước là thiết chế đảm bảo các điều kiện chohoạt động của mọi thành viên hệ thống chính trị (pháp luật, chính sách, tài chính).

- Chức năng giám sát và phản biện xã hội.

Chức năng này được quy định rõ trong Quyết định 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị,ngày 12-12-2013 về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận

Tổ quốc Việt nam và các đoàn thể chính trị - xã hội Quyền giám sát của Mặt trận Tổquốc Việt Nam đã được khẳng định trong Điều 9 Hiến pháp năm 2013 Trong điều kiệnmột đảng duy nhất cầm quyền, hoạt động phản biện xã hội là nhu cầu rất tự thân đối vớiviệc nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng Sự phản biện xã hội từ phía nhân dânthông qua Mặt trận giúp Đảng và Nhà nước tránh được sự chủ quan, duy ý chí trong việcxác định đường lối, chủ trương, chính sách

Sở dĩ giám sát và phản biện xã hội trở thành một chức năng cơ bản của Mặt trận Tổquốc Việt Nam là vì những lý do sau:

Mặt trận là tổ chức quần chúng rộng lớn nhất, đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân.Chỉ có thông qua hoạt động giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận mới có thể giúp nhândân kiểm soát được việc sử dụng quyền lực đã uỷ quyền của mình cho các cơ quanquyền lực (hoạt động giám sát và phản biện xã hội tạo ra sự chế ước từ bên ngoài đểĐảng cầm quyền và Nhà nước không thể tuỳ tiện trong việc hoạch định đường lối và tổchức thực thi các quyết sách Giám sát và phản biện xã hội góp phần vào việc giáo dụcđội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên về đạo đức, lối sống, ý thức và kỹ năng thực thicông vụ)

Thực hiện giám sát và phản biện xã hội là Mặt trận đã thực hiện sự uỷ quyền củamọi tầng lớp nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội Nếu không thực hiện tốt chức

Trang 18

năng giám sát và phản biện xã hội thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không thể hoàn thànhvai trò đại diện bảo vệ lợi ích cho mọi tầng lớp nhân dân.

* Nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam

Điều 3 Luật Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam quy định nhiệm vụ của MTTQ là:

- Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cườngđồng thuận xã hội;

- Tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối,chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

-Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân

- Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước

- Thực hiện giám sát và phản biện xã hội

- Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghịvới Đảng, Nhà nước

- Thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân

1.2.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

Điều 4 Luật MTTQ Việt Nam quy định:

-“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp,pháp luật và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theonguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa cácthành viên

- Khi phối hợp và thống nhất hành động, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổquốc Việt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời vẫn giữ tínhđộc lập của tổ chức mình

- Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận Tổquốc Việt Nam”

Trong đó: - Tự nguyện: Các thành viên gia nhập MTTQ VN trên cơ sở tự nguyện,

tán thành Điều lệ MTTQ VN, được Ủy ban MTTQ cùng cấp xem xét công nhận

- Hiệp thương dân chủ:

Trang 19

+ Về tổ chức: Ủy ban MTTQ ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành của MTTQ cùng cấp,

do Đại hội đại biểu MTTQ VN cấp đó hiệp thương (khác với Bầu cử) cử ra, có tráchnhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của MTTQ VN

+ Trong tổ chức và hoạt động của MTTQ, các thành viên đều có quyền trình bày ýkiến của mình, cùng trao đổi, bàn bạc, hiệp thương dân chủ để đạt sự nhất trí, khôngdùng mệnh lệnh, áp đặt Nếu có những ý kiến khác nhau trên những vấn đề cụ thể thìcùng nhau trao đổi, thuyết phục, giúp nhau giải quyết

Tư tưởng của chủ tịch HCM về nguyên tắc hiệp thương dân chủ:

+ Phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân

+ Giải quyết hài hòa quan hệ độc lập dân tộc và giai cấp, lợi ích chung và lợi íchriêng, lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt

HCM chỉ rõ nếu làm tốt hiệp thương, dân chủ sẽ củng cố được mối quan hệ bềnchặt, đồng thuận nhằm thực hiện mục tiêu 4 “chữ đồng” của nhân dân ta là : “Đồng tình,đồng sức, đồng lòng, đồng minh”

- Phối hợp và thống nhất hành động:Trong hoạt động, các thành viên thoả thuận

với nhau về chương trình hành động chung và có nghĩa vụ phối hợp, giúp đỡ nhau đểthực hiện chương trình hành động đã được thỏa thuận, đồng thời các tổ chức thành viêncủa Mặt trận vẫn giữ được tính độc lập của tổ chức mình

- Trong tổ chức và hoạt động MTTQ phải theo sự lãnh đạo của Đảng, cũng là một

thành viên của MTTQ VN

1.3 Quan hệ giữa MTTQ Việt Nam với Đảng, Nhà nước và các tổ chức thành viên

1.3.1 Mối quan hệ giữa MTTQ VN với Đảng

Có điểm đặc biệt chú ý là Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo MTTQ

- Là thành viên, Đảng tham gia MTTQ bình đẳng và có nghĩa vụ như mọi thànhviên khác Đại diện cấp uỷ đảng trongUỷ ban MTTQ có trách nhiệm tham gia sinh hoạtđầy đủ thực hiện đúng nguyên tắc của MTTQ và tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phốihợp và thống nhất hành động Cấp uỷ đảng phải giáo dục, vận động đảng viên gươngmẫu thực hiện chương trình hành động chung đã được các tổ chức thành viên thoả thuận

và tích cực tham gia công tác Mặt trận ở khu dân cư

Trang 20

- Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng lãnh đạo MTTQ thông qua Đảng đoàn Mặt trận vàĐảng đoàn các tổ chức thành viên của Mặt trận Đảng cử đại diện thường vụ cấp ủytham gia Đảng đoàn và phụ trách công tác Mặt trận Đảng lãnh đạo sự phối hợp và thốngnhất hành động giữa các thành viên, giữa MTTQ và chính quyền Đảng tôn trọng tínhđộc lập về tổ chức và khuyến khích mọi hoạt động sáng tạo của Mặt trận vì lợi ích củađất nước, của nhân dân.

Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo bằng cách đề ra đường lối, chủ trương, chính sáchđúng đắn, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân.Đảng tiến hành công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tổ chức kiểm tra và bằng sựgương mẫu của đảng viên Thực tiễn lịch sử từ ngày thành lập Mặt trận đến nay đã chứng

tỏ các thành viên tham gia Mặt trận đều tự giác thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận là vấn đề có tính nguyên tắc, đảm bảo choMặt trận không ngừng được củng cố và mở rộng

Mặt trận có nhiệm vụ truyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức mới,động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Mặt trận có trách nhiệm tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chính sáchcủa Đảng và Nhà nước, trong việc xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước

và nhân dân Vì mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước là yếu tố cực

kỳ quan trọng bảo đảm sự vững mạnh của chế độ

Tư tưởng của chủ tịch HCM: Mối quan hệ giữa Đảng và mặt trận là máu thịt

(Không có mặt trận - Đảng không có lực lượng; Không có Đảng - Mặt trận không thểhình thành, phát triển và phương hướng)

Để lãnh đạo được mặt trận Đảng phải có chính sách mặt trận đúng đắn, phù hợptrong từng giai đoạn cách mạng (chống Pháp, Mỹ, kinh tế thời bao cấp, kinh tế thịtrường, khoán 10, nông thôn mới - tam nông )

1.3.2 Mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước

Quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước, chính quyền là quan hệ phối hợp để thực hiệnnhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và thực hiện theo quychế phối hợp ở mỗi cấp

Trang 21

Quan hệ phối hợp giữa MTTQ VN với Nhà nước được thực hiện theo quy chế phốihợp công tác do Ủy ban MTTQ VN và cơ quan nhà nước hữu quan ở từng cấp ban hành.Nhà nước tạo điều kiện để MTTQ hoạt động có hiệu quả.

Mặt trận tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước như: vận động các tầnglớp nhân dân thực hiện quyền làm chủ, bầu ra cơ quan dân cử, giám sát hoạt động của cơquan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ viên chức Nhà nước; tham gia xây dựng phápluật và chính sách; đóng góp ý kiến với cơ quan Nhà nước các cấp, vận động nhân dânxây dựng các qui ước, qui chế trên địa bàn cư trú về các vấn đề liên quan đến đời sốngnghĩa vụ và lợi ích của công dân phù hợp với pháp luật Mặt trận tham gia tuyên truyền,phổ biến pháp luật trong nhân dân, đấu tranh chống tệ quan liêu, cửa quyền, thamnhũng, gây phiền hà cho dân, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của dân

Nhà nước dựa vào Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để phát huy quyền làm chủ vàsức mạnh có tổ chức của nhân dân, tôn trọng và tạo mọi điều kiện để nhân dân trực tiếphoặc thông qua đoàn thể của mình tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước Đócũng là sức mạnh của bản thân Nhà nước

Trong quá trình ra các quyết định về quản lý và điều hành, Nhà nước các cấp cầnlắng nghe những kiến nghị của Mặt trận và các đoàn thể Nhà nước căn cứ quy chế tổchức và cơ chế hoạt động để giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước với Mặt trận.Nhà nước cần tiếp tục thể chế hoá quyền hạn và trách nhiệm của Mặt trận trong việctham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội và xây dựng cuộc sống tự quản của nhân dân.Nhà nước phối hợp với Mặt trận trong việc chăm lo lợi ích chính đáng của nhândân, trong việc vận động các tầng lớp nhân dânđẩy mạnh phong trào hành động thựchiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội

Một trong những nội dung quan trọng của cải cách bộ máy Nhà nước hiện nay là tăngcường mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhândân Để Mặt trận làm tròn trách nhiệm là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, sự phốihợp giữa Mặt trận với Nhà nước phải như nghị quyết đại hội VIII của Đảng đã khẳng định:

"thực hiện thành nền nếp việc Đảng và Nhà nước cùng bàn bạc và tham khảo ý kiến củaMặt trận về những quyết định chủ trương lớn" ngày một chặt chẽ và cụ thể hơn

1.3.3 Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức thành viên

Trang 22

Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức thành viên là hợp tác bìnhđẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau, hiệp thương dân chủ và thống nhất hànhđộng để cùng thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh – quốcphòng, đối ngoại của Nhà nước và các chương trình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.Khi phối hợp thống nhất hành động, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đồng thời vẫn giữ tính độc lậpcủa tổ chức mình.

1.4 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở

1.4.1 Vai trò của MTTQ Việt Nam ở cơ sở

Trong hệ thống bốn cấp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở

có vị trí quan trọng

Các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú sinh sống,

có truyền thống lâu đời, là thành luỹ kiên cường chống lại âm mưu xâm lược của kẻ thù

và chế độ cai trị của đế quốc phong kiến Từ sau Cách mạng Tháng Tám, trải qua cáccuộc kháng chiến của dân tộc và ngày nay trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, vị trí, vai trò của cơ sở càng được khẳng định

Các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, truyềnthống yêu nước và cách mạng; là nơi phát huy quyền làm chủ của nhân dân; là nơi khơidậy nguồn lực và sức mạnh toàn dân trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiệnđại hoá đất nước

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở là nơi trực tiếp tập hợp, đoàn kết,vận động mọingười dân, là nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, chăm lo và bảo vệ lợi ích của các tầng lớpnhân dân, theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

và tổ chức thống nhất hành động giữa các thành viên trong Mặt trận

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở tham gia với chính quyền để giải quyết cácmâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, thực hiện và phát huy dân chủ ở cơ sở, tham gia xâydựng, giám sát và bảo về chính quyền, tham gia quản lý xã hội, tổ chức thực hiện cáccuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, góp phần cùng Đảng và chính quyền cơ

sở thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốcphòng ở địa phương

Ngày đăng: 21/08/2020, 16:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1. Vài nét về sự hình thành và phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - GIÁO ÁN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở CƠ SỞ
1.1. Vài nét về sự hình thành và phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Trang 1)
2.1. Nắm tình hình, đặc điểm của địa phương Thuyết trình - GIÁO ÁN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở CƠ SỞ
2.1. Nắm tình hình, đặc điểm của địa phương Thuyết trình (Trang 2)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w