1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO ÁN BÀI NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

56 193 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 115,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Về kiến thức: Trang bị cho học viên nội dung chủ yếu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay. Trên cơ sở thống nhất nhận thức để thực hiện các giải pháp nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. Về kỹ năng: Giúp học viên bồi dưỡng kỹ năng thực hiện nhiệm vụ trong các điều kiện cụ thể để góp phần bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Về thái độ: Giúp học viên nâng cao niềm tin, trách nhiệm cá nhân cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và hệ thống chính trị thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình hiện nay.

Trang 1

A KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG

1 Tên bài giảng: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ

TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

2 Thời gian giảng: 8 tiết (mỗi tiết 45 phút)

3 Đối tượng người học: Cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn

thể nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương); trưởng,phó phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương; trưởng, phó phòng của

sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và tương đương; cán bộ dự nguồn các chức danhtrên; cán bộ, công chức cấp cơ sở và một số đối tượng khác

4 Mục tiêu:

4.1 Về kiến thức: Trang bị cho học viên nội dung chủ yếu trong chiến lược

bảo vệ Tổ quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay Trên cơ sởthống nhất nhận thức để thực hiện các giải pháp nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốcViệt Nam

4.2 Về kỹ năng: Giúp học viên bồi dưỡng kỹ năng thực hiện nhiệm vụ trong

các điều kiện cụ thể để góp phần bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

4.3 Về thái độ: Giúp học viên nâng cao niềm tin, trách nhiệm cá nhân cùng

toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và hệ thống chính trị thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệvững chắc Tổ quốc trong tình hình hiện nay

5 Kế hoạch chi tiết:

Bước

Phương pháp Phương tiện

Thời gian BUỔI 1

1.1.4 Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Thuyết trình 10’

1.2 Những căn cứ để hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong giai

đoạn hiện nay

130’

1

Trang 2

1.2.1 Kinh nghiệm, truyền thống giữ nước của dân tộc

- Thuyết trình

- Hỏi - đáp

- Micro

- Powerpoint 30’

1.2.2 Học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ

1.2.3 Đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và kinh nghiệm bảo vệ

Tổ quốc trong quá trình đổi mới

1.2.4.2 Tình hình trong nước Thuyết trình 10’

2 NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC

2.2.5 Về quốc phòng – an ninh Thuyết trình 5’

2.3.1 Quan điểm Thuyết trình - Micro

2.4.5 Tích cực và chủ động trong hoạt Thuyết trình 5’

2

Trang 3

động đối ngoại

Bước 3 Tiểu kết phần 2 và chốt kiến thức toàn bài 10’ Bước 4 Hướng dẫn câu hỏi, bài tập, nghiên cứu tài liệu 10’

B TÀI LIỆU PHỤC VỤ SOẠN GIẢNG

1 Tài liệu bắt buộc

1.1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị - Hành chính: Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về các lĩnh vực của đời sống xã hội, Nxb Lý luận chính trị, H.2016.

1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,

2 Tài liệu tham khảo

2.1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1977, tr.36, tr.102.

2.2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t4-t5-t9-t15 2.3 Từ điển bách khoa Quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H.2004 2.4 Học viện An ninh nhân dân: Một số vấn đề cơ bản về Chiến lược An ninh quốc gia của Việt Nam, H.2014.

3

Trang 4

2.5 Học viện Quốc phòng: Một số vấn đề cơ bản về chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, H.2015.

2.6 Hoàng Xuân Lãm: Lý Thường Kiệt, Nxb Khoa học xã hội, H.1994, t.1 2.7 Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1993 2.8 Viện Chiến lược quân sự: Cách mạng trong quân sự và những vấn đề đặt

ra đối với Quốc phòng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.2010.

2.9 Quý Lâm (tuyển chọn): Những điều cần biết Về công tác quốc phòng và

an ninh trong tình hình mới, Nxb Hồng Đức, H.2018.

2.10 Tạp chí Cộng sản; Tạp chí Xây dựng Đảng; Tạp chí Dân vận;…

C NỘI DUNG BÀI GIẢNG

Bước 1: Ổn định lớp

Bước 2: Kiểm tra bài cũ (Lồng ghép trong quá trình giảng bài)

Bước 3: Giảng bài mới

4

Trang 5

Bài 10 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT

NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 KHÁI NIỆM VÀ CĂN CỨ ĐỂ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔQUỐC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Chiến lược

(Phương pháp: Thuyết trình; thời gian: 5 phút)

Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hànhđộng, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp cácmục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó.Như vậy, một chiến lược phải giải quyết tổng hợp các vấn đề sau:

- Xác định chính xác mục tiêu cần đạt

- Xác định con đường, hay phương thức để đạt mục tiêu

- Và định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn

Trong ba yếu tố này, cần chú ý, nguồn lực là có hạn và nhiệm vụ của chiếnlược là tìm ra phương thức sử dụng các nguồn lực sao cho nó có thể đạt được mụctiêu một cách hiệu quả nhất

1.1.2 Tổ quốc

(Phương pháp: Hỏi – đáp, thuyết trình; thời gian: 10 phút)

- GV nêu câu hỏi: Tổ quốc là gì?

- GV gọi 1 -2 học viên trả lời, sau đó nhận xét, đánh giá, khái quát lại như sau:

Với người Việt Nam, hai tiếng “Tổ quốc” từ bao đời đã trở thành tiếng nóithiêng liêng, tha thiết nhất…Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 1992), tổquốc là “đất nước, được bao đời trước xây dựng và để lại, trong quan hệ với nhữngngười dân có tình cảm gắn bó với nó” (tr.990)

Như vậy, tổ quốc trước hết chính là đất nước, giang sơn tổ tiên, ông bà bao đờitrước xây dựng, bảo vệ và để lại Mang tính lịch sử và tự nhiên

“Tổ quốc” có thể hiểu là “đất nước của tổ tiên (xây dựng, bảo vệ và để lại)” Do

đó, “tổ quốc” hay đất nước không phải là tài sản riêng của một cá nhân, một dòng họ,

5

Trang 6

một tổ chức, một nhà nước, một chế độ nào cả “Tổ quốc” là tài sản chung của cả mộtdân tộc – quốc gia trải qua hàng nghìn đời vun đắp, giữ gìn, kế thừa và xây dựng Đó làthứ tài sản thiêng liêng, bất khả xâm phạm

Tuy Tổ quốc không là tài sản của riêng ai, nhưng lại gắn liền với một Nhà nước

cụ thể, một chế độ chính trị cụ thể (Chưa thấy có cái gọi Tổ quốc siêu biên giới, khôngbiên giới hay Tổ quốc siêu tự nhiên mà bản thân nó không gắn liền với một chế độchính trị nào) Như vậy, bản thân Nhà nước đó, chế độ chính trị đó có đầy đủ tính

“chính đáng”, trước tiên, NN, chế độ đó phải bảo vệ Tổ quốc, cũng chính là tự bảo vệlấy nó hay chế độ của nó Qua đó, nó có xứng đáng là sự lựa chọn của lịch sử (ngườidân) hay không? Nếu không người dân sẽ thay thế NN, chế độ đó bằng một NN, chế

độ khác đủ khả năng bảo vệ Tổ quốc Tổ quốc là cái vĩnh viễn, NN là cái biến đổi Cóthể nói rõ rằng, Tổ quốc mang tính chính trị - xã hội

Có thể khái quát: Tổ quốc là tổng hòa các yếu tố lịch sử tự nhiên và chính trị

-xã hội của một quốc gia – dân tộc được gắn kết chặt chẽ bởi chủ quyền lãnh thổ của đất nước và cộng đồng dân cư với chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.

1.2.3 Bảo vệ Tổ quốc

(Phương pháp: Thuyết trình; thời gian: 2 phút)

Bảo vệ: “Bảo” là giữ; “Vệ” là che chở Bảo vệ: Sự giữ gìn, che chở.

Bảo vệ Tổ quốc là việc giữ gìn đảm bảo toàn diện cả mặt lịch sử - tự nhiên cùngmặt chính trị - xã hội của Tổ quốc, chống lại mọi âm mưu và hành động phá hoại củacác thế lực thù địch

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lời vua Lê Thánh Tông khi căn dặn sứ thần

sang nhà Minh đòi đất, đã chỉ rõ: “Một thước núi, một tất sông của ta lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian Nếu ngươi dám đem một thước, một tất đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di”1 ( Thời điểm diễn ra sự việc kể trên là vào năm 1473, tức năm Hồng Đức thứ 4).

Lời răn của người xưa luôn có ý nghĩa sâu xa, thâm thúy, đặc biệt những lời rănnhư trên, giá trị của nó xuyên thời gian, đến với muôn đời các thế hệ dân tộc ViệtNam về sự thiêng liêng của hai tiếng tổ quốc, không có gì có thể đánh đổi được

1 Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1993, tr.478.

6

Trang 7

Ý nghĩa nhận thức trên: Đấu tranh phản bác với những luận điệu tư tưởng của

bọn phản động, tàn quân của ngụy quân, ngụy quyền lẫn trốn ở nước ngoài: luôngương cao ngọn cờ “Tổ quốc” – “Phục quốc” khoét sâu thêm nổi mất mát đau thươngcho dân tộc trong chiến thắng 30/4, nào là “nhồi da, xáo thịt” nào là ngày “Quốchận”,…Tất cả đều là ngụy biện cho sự thất bại, dựa dẫm vào nguồn viện trợ nướcngoài Thực chất chúng không xứng đáng để gọi 2 tiếng “Tổ quốc”

1.1.4 Chiến lược bảo vệ Tổ quốc

(Phương pháp: Thuyết trình; thời gian:10 phút)

Chiến lược BVTQ là chương trình hành động, kế hoạch hành động hay là mưulược (kế sách) xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khảthi nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ quốcphòng, an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Mục tiêu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc được Đảng, Nhà nước ta xác định (Đại hội XII của Đảng):

- (1) Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của

Tổ quốc, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc;

- (2) Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;

- (3) Bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa;

- (4) Bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc;

- (5) Bảo vệ nền văn hóa dân tộc;

- (6) Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự

an toàn xã hội để đất nước phát triển bền vững

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc mang tính tổng hợp toàn diện về bảo vệ Tổ quốc,

do cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng, Nhà nước hoạch định, dựa trên cơ sở:

- Đánh giá đúng đắn các điều kiện khách quan và chủ quan về bối cảnh quốc tế,tình hình khu vực, về thực trạng tình hình đất nước;

- Dự báo các nguy cơ, khả năng và tình huống chiến lược có thể xảy ra đối với đấtnước;

- Cũng như quá trình tổng kết thực tiễn và những yêu cầu mới đặt ra của nhiệm

vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

7

Trang 8

1.2 Những căn cứ để hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

1.2.1 Kinh nghiệm truyền thống giữ nước của dđn tộc

Việt Nam có vị trí chiến lược ở khu vực Đông Nam chđu Â, luôn lă đối tượng

bị câc thế lực bănh trướng ngoại bang xđm chiếm Cũng chính vì thực tiễn đó mẵng cha ta đê đúc kết được nhiều băi học kinh nghiệm trong kế sâch giữ nước, bảo

vệ Tổ quốc

(Phương phâp: Hỏi – đâp, thuyí́t trình; thời gian: 30 phút)

- GV níu cđu hỏi: Những băi học kinh nghiệm năo trong kế sâch giữ nước, bảo

vệ Tổ quốc mă ông cha để lại cho chúng ta?

- GV gọi 1 - 2 học viín trả lời, sau đó nhận xĩt, đânh giâ, khâi quât lại như sau:

Có thể khâi quât lín thănh những băi học kinh nghiệm như sau:

Một lă, Quyí́t tđm bảo vệ toăn vẹn cương vực lênh thổ, chủ quyền quốc gia vă giữ gìn bản sắc văn hóa dđn tộc.

Từ năm 179 tr.CN, khi cuộc khâng chiến của nước Đu Lạc bị thất bại đến năm

938, hơn 1.000 năm Việt Nam liín tục bị câc triều đại phong kiến phương Bắc nhưHân, Lương, Tùy, Đường đô hộ Đđy lă thời kỳ thử thâch hết sức nguy hiểm đối với

sự mất còn của dđn tộc ta Nhưng cũng chính trong thời gian mất nước kĩo dăi, nhđndđn ta đê níu cao tinh thần bất khuất, kiín cường vă bền bỉ, đấu tranh bảo tồn cuộcsống, giữ gìn, phât huy tinh hoa của nền văn hóa dđn tộc vă quyết đứng lín đấu tranhgiănh lại độc lập dđn tộc Nước mất, nền văn hóa bâm chặt văo lăng xê, đoăn kết đùmbọc lẫn nhau, nhđn dđn ta đê đấu tranh có hiệu quả chống lại chính sâch nô dịch văđồng hóa của kẻ thù

Quyết tđm bảo vệ Tổ quốc được thể hiện rõ trong băi thơ thần của Lý Thường

Kiệt: “Nam quốc sơn hă Nam đí́ cư/ Tiệt nhiín định phận tại thiín thư/ Như hă nghịch lỗ lai xđm phạm/ Nhữ đẳng hănh kha thủ bại hư” 2 Hay trong “Hịch tướng

sĩ”, Trần Quốc Tuấn đê lín ân gay gắt tội không chú ý đến việc giữ gìn quốc thể:

“Nay câc ngươi nhìn chủ nhục mă không bií́t lo, thấy nước nhục mă không bií́t thẹn Lăm tướng triều đình phải hầu quđn giặc mă không bií́t tức; nghe nhạc thâi thường để đêi yí́n ngụy sứ mă không bií́t căm,…; chẳng những thđn ta kií́p năy bị

2 Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thí́ kỷ X – XVII, Nxb Văn hóa, H.1963, tr.45-46.

8

Trang 9

chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà thanh danh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận” 3 Hay trong bài

“Hịch xuất quân”, Quang Trung – Nguyễn Huệ đã dõng dạc tuyên đọc:

“Đánh cho để dài tóc,

Đánh cho để đen răng,

Đánh cho chúng chích luân bất phản,

Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn,

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!”

Hai là, Lo giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, một kỷ nguyên độc lập, tự chủ của dân tộc

đã mở ra Các triều đại phong kiến đã chú trọng chăm lo xây dựng đất nước, thựchiện giữ nước từ khi nước chưa nguy Điển hình là vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư

về Thăng Long Trong Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn viết: “Thành Đại La ở giữa khuvực đất trời, có thế rồng cuộn hổ ngồi, giữa ở Nam, Bắc, Đông, Tây, tiện hình thế núisông sau trước, đất rộng mà phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngậplụt…xem khắp nước Việt, chỗ ấy là hơn cả…Làm như thế cốt để mưu việc lớn, chọnchỗ ở giữa làm kế cho con cháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân…” Năm 1075, biết tin nhà Tống chuẩn bị phát binh xâm lược Đại Việt, Nhà Lý đãdùng biện pháp “tiên phát chế nhân”, đưa quân đánh sang Ung Châu, Khâm Châu vàLiêm Châu, phá cuộc chuẩn bị tiến công của giặc

Kế thừa tư tưởng của tiền nhân, nhà Trần đã nhận thức sâu sắc mối đe dọa từbên ngoài, do đó rất chăm lo việc phòng bị đất nước Tinh thần chuẩn động phònggiữ đất nước được thể hiện trong bài thơ của Thái sư Trần Quang Khải: “…Tháibình tu trí lực; Vạn cổ thử giang san”4 (Thái bình phải gắng sức/ Non nước ấy ngànthu) Tinh thần đó được thể hiện ở “giảng võ đường”, “trường đua” và diễn tập đểnâng cao sức chiến đấu cho quân đội và tinh thần cảnh giác của nhân dân Vua LêThái Tổ đã căn dặn: “Nên sửa sang võ bị, đề phòng việc không ngờ”5.

Ba là, “Khoan thư sức dân” là kế sách lâu dài để giữ nước.

3 Xem Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X – XVII, Nxb Văn hóa, H.1963, tr.91.

4 Lịch sử Việt Nam: Quyển 1, Nxb Giáo dục, H.1980, tr.355.

5 Viện Lịch sử Quân sự, Bộ Quốc phòng

9

Trang 10

Trong lịch sử dân tộc, hầu hết các Nhà nước phong kiến Việt Nam đều nhậnthức khá đầy đủ vai trò của nhân dân trong dựng nước và giữ nước Nhân dân ta vốn

có lòng yêu nước nồng nàn và nhiều bậc hiền nhân đã quy tụ lòng dân thành “thếtrận” vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp giữ gìn non sông

Thời nhà Trần đã “khoan thư sức dân”, coi đó là kế sách lâu dài để trị nước đãthực hiện “Chúng chí thành thành”, xây dựng thành lũy của lòng dân, tạo được bứctường thành vững chắc nhất trong lòng dân để giúp triều đình ba lần đánh bại quânNguyên, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Trong binh pháp của Trần Quốc Tuấn đều chỉ rõ:lòng dân không chia, cả nước chung sức chống giặc là nền tảng cho xây dựng lựclượng vũ trang thời nhà Trần Mặc khác, ông còn thấy rõ vai trò của nhân dân đối với

sự phát triển tài năng của những anh hùng xuất chúng Theo ông, những vị anh hùnglàm nên nghiệp lớn là dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, bởi họ cũng từ nhân dân mà ra.Thời nhà Hậu lê, Nguyễn Trãi – nhà quân sự, chính trị lỗi lạc của dân tộc đã có

tư tưởng sâu sắc về vai trò của nhân dân Ông nói: “Mến người có nhân là dân, màchở thuyền và lật thuyền cũng là dân”; “Việc thành bại của Nhà nước và nỗi vui haybuồn của nhân dân, những việc ấy đều có liên quan đến nhau rất lớn”6 Đúng vậy,dựng nước và giữ nước là của dân, do dân, vì dân, nghĩa là dân là chủ thể hoạt độngcủa mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa,…Tư tưởng đó của NguyễnTrãi được rút ra từ thực tiễn cuộc sống lao động, sản xuất của người dân, từ kinhnghiệm “hưng vong”, thành bại của các thời đại trước Đặc biệt là sự đánh giá đúngvai trò, vị trí của “lòng dân”, “thế trận lòng dân” trong lịch sử giữ nước của dân tộc

Do đó, Nguyễn Trãi cùng Lê Lợi đã động viên nhân dân cả nước tiến hành khởinghĩa vũ trang và phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc

Bốn là, Kết hợp chặt chẽ “kiến quốc” với “thủ quốc”.

Bước vào thời kỳ độc lập tự chủ, các nhà nước phong kiến Việt Nam luôn thựchiện “dựng nước đi đôi với giữ nước”, coi đó là quy luật sinh tồn của dân tộc Vàothời nhà Lý, thế nước Đại Việt khá vững mạnh là do công cuộc “kiến quốc” kết hợpchặt chẽ với “thủ quốc”, trong đó điển hình là chính sách “ngụ binh ư nông” Xâydựng quân đội gắn liền với “tam nông” dưới thời nhà Lý, nhà Trần và Lê Sơ là mộtphương thức kết hợp kinh tế với quốc phòng rất hiệu quả Chính vì lẽ đó mà quốc gia

6 Viện sử học: Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1976, tr.141-146.

10

Trang 11

độc lập, thống nhất, có nền kinh tế và văn hóa…ngày càng phát triển ngang hàng vớicác nước trong khu vực Đồng thời có sách lược đối nội, đối ngoại khôn khéo nhằm

ổn định tình hình, xây dựng phát triển tiềm lực đất nước Ông cha ta đã thực hiện tốtviệc kết hợp chặt chẽ giữa “kiến quốc” với “thủ quốc” để xây dựng “quốc phú, binhcường, nội yên, ngoại tĩnh”

Năm là, Thực hiện “cử quốc nghênh địch”, phát huy sức mạnh của toàn dân để đánh giặc, trong đó lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt.

Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, Việt Nam đã phải chống lại những đội quânxâm lược hùng mạnh đến từ phương Bắc để bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ củaquốc gia Để đánh bại kẻ thù xâm lược, các triều đại phong kiến Việt Nam đã huy

động sức mạnh của nhân dân cả nước đánh giặc, thực hiện “cử quốc nghênh địch”.

Mỗi người dân là một người lính, đánh giặc theo cương vị, chức trách của mình đểtạo ra thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, vững chắc làm cho địch rơi vào trạngthái bị động, lúng túng và bị sa lầy Thời nhà Tiền Lê, khi nhà Tống phát binh xâmlược nước ta (năm 981), Lê Hoàn đã dựa vào sức mạnh toàn dân để tổ chức khángchiến, xây dựng hệ thống trận địa để chặn hướng tiến công và đánh bại chúng Thờinhà Lý, tư tưởng “cử quốc nghênh địch” được thể hiện rõ trong cuộc kháng chiếnchống quân Tống lần thứ 2 (từ năm 1075 đến năm 1077) Thời nhà Trần, nước ta đãphải trải qua ba lần kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông (năm 1258, 1285, 1288),

tư tưởng “cử quốc nghênh địch” lại phát triển lên một tầm cao mới lầm cho kẻ địchluôn bị động đối phó Trước những hành động ngang ngược của kẻ thù, sứ giả nhàTrần đã khẳng khái trả lời: “Nước chúng tôi tuy nhỏ nhưng cũng đủ binh tướng rađón tiếp quân quý quốc”7 Mỗi khi đất nước đứng trước họa xâm lăng, đều huy độngsức mạnh cả nước để đánh giặc, đồng thời rất chú trọng xây dựng lực lượng vũ tranglàm nòng cốt Thời nhà Lý, nhà Trần, Hậu Lê…đã xây dựng nhiều thứ quân (cấmquân, lộ quân, dân binh, thổ binh) Trong xây dựng quân đội, thường chú trọng chấtlượng hơn số lượng (binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa)

Sáu là, Thực hiện “bang giao hòa hiếu”, ngăn chặn “họa binh đao” cho đất nước.

Khát vọng hòa bình luôn là ước mơ cháy bỏng trong tâm khảm của mỗi người dânĐại Việt Khát vọng đó thể hiện rất rõ trong quá trình giữ nước và dựng nước của các

7 Theo Hoàng Xuân Lãm: Lý Thường Kiệt, H.1994, t1, tr.175.

11

Trang 12

triều đại phong kiến Việt Nam Khi đất nước bị xâm lăng, các triều đại phong kiến mỗingười dân phải cầm vũ khí để tự vệ, nhưng vẫn thực hiện tư tưởng “không đuổi cùngdiệt tận những kẻ bại trận”, “mưu phạt công tâm”, đánh vào lòng người để muôn đờidập tắt chiến tranh Khi đất nước hòa bình thì thực hiện “bang giao hòa hiếu” để giữyên bờ cõi và cuộc sống thanh bình cho muôn dân Tinh thần hòa hiếu để bảo vệ Tổquốc được thể hiện đầy đủ trong chủ trương của Lê Lợi, Nguyễn Trãi: “Nghĩ về kế lâudài của Nhà nước; Tha kẻ hàng người vạn sĩ binh; Sửa hòa hiếu cho hai nước Tắtmuôn đời chiến tranh”8.

Sau cuộc chiến, Quang Trung ra lệnh thu nạp và nuôi dưỡng hàng vạn tù binhMãn Thanh Ông sai thu nhặt xương cốt quân Thanh tử trận, chôn thành những gòđống, lập đàn cúng tế và sai Vũ Huy Tấn soạn văn tế, biểu thị sự thương xót với nhữngquân, dân Trung Quốc chết xa nhà Bài văn có đoạn:

“Nay ta

Sai thu nhặt xương cốt chôn vùi

Bảo lập đàn bên sông cúng tế

Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc

Xuất của kho mà đắp điếm đống xương khô

Hồn các ngươi không vơ vẩn ở trời nam, hãy lên đường mà quay về nơi hương chí

Nên kính ngưỡng ta đây là chủ, chan chứa lòng thành

Nhưng mong sao đáp lại đạo trời, dạt dào lẽ sống”.

Qua đó, chúng ta thấy rất rõ tinh thần nhân văn, nhân đạo của các bậc tiền nhân.Nhưng cốt yếu đó chính là đạo lý nhân nghĩa, đánh vào lòng người để dập tắt chiếntranh muôn đời cho con cháu

 Những kinh nghiệm, truyền thống quý báu trong kế sách, mưu lược giữ nướccủa cha ông ta được truyền nối qua nhiều thế hệ và trở thành tài sản tinh thần vô giátrong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

1.2.2 Học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc

xã hội chủ nghĩa

(Phương pháp: Thuyết trình; thời gian: 30 phút)

8 Viện Sử học: Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1976, tr.87.

12

Trang 13

- C Mác, Ph Ăngghen sống trong thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh, các nước tư

bản lớn nhất lúc này phát triển tương đối đồng đều, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản vàgiai cấp vô sản trong các nước đó chưa đến độ chín muồi, khi mà giai cấp vô sản chưatrở thành giai cấp cầm quyền, chưa có quốc gia, chưa có quyền lực nhà nước Vì thế,Mác và Ăngghen cho rằng, cách mạng vô sản chỉ có thể đồng thời xảy ra ở tất cả cácnước văn minh nhất, như Anh, Pháp, Mỹ, Đức,…và cách mạng vô sản là một cuộccách mạng có tính chất toàn thế giới, với khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước, đoàn kếtlại”! Sau này được Lênin phát triển thành: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị

áp bức, đoàn kết lại!” đến nay vẫn là hồi kèn tập hợp lực lượng trong cuộc đấu tranhgiành hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Qua kinh nghiệm Công xã Pari năm 1871 (từ ngày 18/3-28/5/1871) Mác vàĂngghen cho rằng, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải nhanhchóng:

+ củng cố nền chuyên chính vô sản;

+ cũng cố khối liên minh công nông;

+ giải giáp quân đội cũ, vũ trang toàn dân, thành lập các đội dân cảnh;

+ xây dựng xã hội mới;

+ kiên quyết tiến công đập tan mọi hành động phản kháng của giai cấp tư sản

 Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Mác,Ph.Ăngghen

- Thời kỳ V.I Lênin, Lênin phát hiện quy luật phát triển không đồng đều về

kinh tế, chính trị của CNTB trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và đi đến kết luận hếtsức quan trọng: Trong điều kiện lịch sử mới, giai cấp vô sản có thể giành được chínhquyền ở mắc xích yếu nhất của CNTB, tức là cách mạng vô sản có thể thành công ởmột nước, thậm chí ở một nước có trình độ phát triển chưa cao Thực tiễn ở nướcNga, cách mạng vô sản Nga thành công vào tháng 10/1917 V.I.Lênin là người cócông, đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát triển học thuyết về bảo vệ Tổ quốc xã

hội chủ nghĩa trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Lênin khẳng định: “Kể từ ngày 25 tháng Mười năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc Chúng

ta tán thành “bảo vệ Tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang

13

Trang 14

đi tới là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc”9.

Ngay sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, nhà nước của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động được thiết lập thì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng bắtđầu được hình thành Giai cấp công nhân bắt tay vào công cuộc cải tạo xã hội cũ vàxây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa Cùng với nhiệm vụ xây dựng chủnghĩa xã hội, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra một cáchtrực tiếp, nó trở thành nhiệm vụ chiến lược của các nước xã hội chủ nghĩa, hai nhiệm

vụ chiến lược này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủnghĩa Do đó, bảo vệ Tổ quốc là một tất yếu khách quan của cách mạng vô sản và

“một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, “giành chính quyền đã khó,giữ chính quyền còn khó hơn”

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng

sáng tạo học thuyết của Mác – Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào tình hìnhthực tiễn của cách mạng Việt Nam; kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc, nắm vữngquy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam “dựng nước phải đi đôi với giữnước”, Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã đưa ra hệ thốngquan điểm, tư tưởng làm cơ sở cho đường lối của Đảng trong lĩnh vực bảo vệ Tổ quốc

xã hội chủ nghĩa Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn thểdân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữvững quyền tự do và độc lập ấy”10 Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày19/12/1946, Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mấtnước, nhất định không chịu làm nô lệ…Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”11

Hồ Chí Minh tiêu biểu cho ý chí, quyết tâm giải phóng dân tộc, quyết tâm bảo

vệ đất nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta Nhữngđiều Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh đã trở thành chân lý, thôi thúc ý chí, quyết tâmcủa cả dân tộc: “Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhaugiữ lấy nước”12 Ý chí giữ nước của người rất sâu sắc và kiên quyết; dù hy sinh đếnđâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc

9 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1977, t.36, tr.102.

10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr3.

11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr534.

12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.9, tr59.

14

Trang 15

lập Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương kiên quyết bảo vệ chính quyền và chủ quyền

dân tộc, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, hết sức tranh thủ thời

gian hòa hoãn để xây dựng lực lượng mọi mặt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Ngườiđưa ra hàng loạt các biện pháp xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, tổchức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thông qua Hiến pháp 1946; kiên quyết chống

“giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt”, ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, đồng thờicùng Trung ương Đảng quyết định chủ trương “Hòa để tiến”; quyết định ký Hiệpđịnh sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 14/9/1946 để có thời gian chuẩn bị kháng chiến, bảo

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh đã chỉ ra một chân lýrằng: Không có gì quý hơn độc lập tự do; “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta,thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”13 Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coitrọng xây dựng các tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tinh thầnkháng chiến của toàn dân Đồng thời, chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.Tích cực thực hiện các biện pháp ngoại giao, lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù, phânhóa chúng, đồng thời hết sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đốivới cách mạng Việt Nam Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốttrong tư tưởng Hồ Chí Minh Trước khi Người đi xa, trong bản Di chúc, có căn dặn:

“Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiềucủa, nhiều người Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợihoàn toàn”14 Người kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàntoàn để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất đất nước, cả nước

đi lên xã hội chủ nghĩa

 Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng xuyên suốt trongcuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh

13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.15, tr512.

14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr623.

15

Trang 16

Tóm lại: Học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã

hội chủ nghĩa là một bộ phận hợp thành lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa, bao gồmmột hệ thống các quan điểm, tư tưởng hết sức cơ bản về tính tất yếu, nhiệm vụ và nộidung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cùng với các biện pháp có tính chiến lược trongxây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bị đất nước về mọi mặt và đường lối đối ngoạiđúng đắn để có thể đánh thắng thù trong, giặc ngoài bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hộichủ nghĩa

1.2.3 Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và những kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong quá trình đổi mới đất nước

1.2.3.1 Đường lối, quan điểm của Đảng từ năm 1991 đến Đại hội XII

(Phương pháp: Thuyết trình; thời gian: 20 phút)

Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc xã hộichủ nghĩa là những định hướng chiến lược xác định mục tiêu, phương châm, phươngthức, sức mạnh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của

Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ côngcuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia – dântộc; bảo vệ văn hóa dân tộc; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật

tự, an toàn xã hội để đất nước phát triển bền vững

Đường lối, quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc luôn được bổ sung và phát

triển hoàn thiện qua các kỳ Đại hội (VII – XII) như sau:

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) xác định:

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệchế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, quyền làm chủcủa nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phảnđộng phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Củng cố quốc phòng, giữ vững

an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của nhân dân…Kết hợp chặtchẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế trong kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội…Xây dựng LLVTND với số quân thường trực thích hợptheo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; với lực lượng dự

16

Trang 17

bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu, có sức chiến đấu cao Phát triển đường lối vànghệ thuật quân sự, chiến tranh nhân dân trong hoàn cảnh mới…15

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) xác định:

Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta khôngđược lơi lõng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, “Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân,của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh củađất nước, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dângắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng các lựclượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ củađất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; ngăn ngừa vàlàm thất bại mọi âm mưu và hoạt động gây mất ổn định chính trị xã hội, xâm phạm độclập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đấtnước; ngăn chặn và trừng trị có hiệu quả mọi loại tội phạm, bảo đảm tốt trật tự, an toàn

xã hội…Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Kết hợp quốc phòng và anninh với kinh tế Gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có quan hệkhăng khít với nhau của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa”16

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) xác định:

“Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa;bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổimới và lợi ích quốc gia, dân tộc Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp củakhối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng,…Kếthợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tếtrong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Phối hợp hoạtđộng quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại Tăng cường quốc phòng, giữvững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên củaĐảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làlực lượng nòng cốt Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng,

15 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2007, t.51, tr.142-143.

16 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, tr.118.

17

Trang 18

chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,…có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiếnđấu ngày càng cao; thường xuyên cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hànhđộng xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và an ninh quốcgia; ngăn chặn và đẩy lùi các tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm tốt trật

tự, an toàn xã hội”17

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) xác định:

Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo

vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, “bảo vệ an ninh chính trị, anninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, antoàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bạimọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ…”18

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) xác định:

“Nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệĐảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật

tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phácủa các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyềnthống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trọng mọi tình huống”19

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016) đặt ra mục tiêu tổng

quát phát triển đất nước ta trong năm năm tới là: “Tăng cường xây dựng Đảng trongsạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng

hệ thống chính trị vững mạnh Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hộichủ nghĩa Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tếnhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệptheo hướng hiện đại Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Kiênquyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đấtnước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”

17 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, 118.

tr.117-18 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, H.2006, tr.109.

19 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, tr.233.

18

Trang 19

Về nhiệm vụ tổng quát bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới, Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắcđộc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhànước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động, tíchcực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Namtrong khu vực và trên thế giới”20; và … “củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh Xâydựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng lực lượng

vũ trang nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đạihóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng”21

Như vậy, quan điểm, đường lối của Đảng ta trong quá trình xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc dần bổ sung và phát triển nhưng mục tiêu không chỉ kiên quyết, kiên trìđấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của

Tổ quốc, mà còn bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Đâychính là cơ sở vững chắc để Đảng ta hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc tronggiai đoạn hiện nay

1.2.3.2 Kinh nghiệm bảo vệ Tổ quốc trong quá trình đổi mới

Trong quá trình thực hiện đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, toàn Đảng,toàn dân và toàn quân ta đã có những nỗ lực lớn và đạt được những thành tựu thật sự tolớn, hết sức có ý nghĩa về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong những năm qua, đó

là cơ sở và căn cứ quan trọng để Đảng hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc

Trong quá trình đổi mới, về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đã có bước phát triển vàhoàn thiện: “Nhận thức về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một trong hainhiệm vụ chiến lược, có mối quan hệ biện chứng không tách rời; trong lúc đặt lên hàngđầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, phải đồng thời coi trọng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

Có xây dựng tốt mới tạo sức mạnh cho bảo vệ Tổ quốc, có bảo vệ tốt mới tạo điều kiệnthuận lợi cho xây dựng đất nước”22

- Mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cũng được hoàn thiện hơn: “Bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa không chỉ là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mà còn bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân

20 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016, tr.76.

21 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016, 79.

tr.78-22 Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, H.2015, tr.118.

19

Trang 20

và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng,phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”23.

- Về phương châm chỉ đạo:

+ Một, kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về

sách lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế.Kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật phápquốc tế; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế; phânhóa, cô lập các phần tử, thế lực ngoan cố chống phá Việt Nam

+ Hai, đối với nội bộ, lấy việc giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, đi

đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật.Đối với các đối tượng chống phá ở trong nước, cần phải kịp thời ngăn chặn, xử lýnhững kẻ chủ mưu, cầm đầu, ngoan cố; giáo dục, cảm hóa những người lầm đường.Chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lựcthù địch Không để hình thành tổ chức chính trị đối lập dưới bất kỳ hình thức nào

+ Ba, thường xuyên bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình, chủ động xử lý đúng

đắn, kịp thời mọi tình huống gây mất ổn định chính trị - xã hội

(Phương pháp: Thuyết trình; thời gian: 5 phút)

- Về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc:

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả

hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ” 24

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc được tạo thành bởi nhiều yếu tố: chính trị, kinh tế, vănhóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,…Đây là những lĩnh vực hoạt động chủ yếu, quantrọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc hiện nay được xây dựng trên nền tảng nhân lực, vậtlực, tinh thần mang tính toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường, nhưng trước hếttập trung ở sức mạnh quốc phòng, an ninh Tăng cường sức mạnh quốc phòng an ninh

23 Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, H.2015, tr.118.

24 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011,t.5, tr.9.

20

Trang 21

phải giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động phá hoại, bạo loạn lật đổ của

kẻ thù bảo đảm cho đất nước cũng như từng địa phương không bị bất ngờ trước mọitình huống và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, quy mô.Quốc phòng trở thành sức mạnh của đất nước và phối hợp với an ninh để giữ vững ổnđịnh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường hòa bình để xây dựng đất nước Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không đồng nghĩa với quân sự, với chiến tranh,được thực hiện trong thời bình nhằm mục đích tự vệ, phòng thủ đất nước nhưngkhông thụ động, phải chủ động ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu của kẻthù và sẵn sàng đánh thắng khi chiến tranh xảy ra, đồng thời tích cực khắc phụcnhững lực cản nội sinh và làm thất bại “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của cácthế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”trong nội bộ chúng ta

(Phương pháp: Thuyết trình; thời gian: 5 phút)

- Về lực lượng bảo vệ Tổ quốc:

Lực lượng bảo vệ Tổ quốc là những con người, tổ chức hoạt động dưới sự lãnhđạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trongmọi tình huống

Lực lượng bảo vệ Tổ quốc là toàn dân tộc Việt Nam, trong đó lực lượng vũ trangnhân dân là nòng cốt

- Lực lượng vũ trang của Việt Nam?

Bao gồm: Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ.

+ Quân đội? là tổ chức, lực lượng vũ trang tập trung, thường trực và chuyên

nghiệp do một nhà nước hoặc một phong trào chính trị xây dựng nhằm mục tiêugiành chính quyền, giải phóng đất nước, bảo vệ Tổ quốc bằng đấu tranh vũ trang(chiến tranh, nội chiến ) hoặc tiến hành chiến tranh, đấu tranh vũ trang để thực hiệnmục đích chính trị của nhà nước hoặc của phong trào chính trị đó

+ Công an? Là một LLVT của một nhà nước, công cụ chuyên chế của chính

quyền đang điều hành nhà nước đó Nhiệm vụ ổn định xã hội, trật tự kỷ cương, bảo

vệ lợi ích của Nhà nước trong xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

+ Dân quân, tự vệ? Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không

thoát ly sản xuất, công tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân nước

21

Trang 22

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chínhquyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nòng cốtcùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh.

Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấpxã) gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế (sau đây gọi chung là cơquan, tổ chức) gọi là tự vệ

Trong tình hình mới phải khai thác, phát huy ở mức cao nhất thế mạnh của cảhai lực lượng quốc phòng và an ninh trong vai trò nòng cốt của sức mạnh bảo vệ Tổquốc; không để chồng chéo lên nhau; hạn chế thấp nhất mọi sơ hở, mâu thuẫn quốcphòng và an ninh, không cho kẻ thù lợi dụng kích động, chia rẽ giữa quân đội và công

an, giữa quân đội, công an và nhân dân Đồng thời, quân đội nhân dân và công annhân dân là hai lực lượng vũ trang nòng cốt cùng có nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhànước và Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đấu tranh làm thất bạimọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các loại tội phạm

- Nhận thức về phương thức bảo vệ Tổ quốc:

Phương thức bảo vệ Tổ quốc là cách thức, biện pháp tiến hành của cả hệ thốngchính trị và toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; nhằm bảo vệ vững chắt độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc; bảo vệ nền văn hóadân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự,

an toàn xã hội

Dân tộc Việt Nam đã chịu nhiều đau thương, mất mát từ các cuộc chiến tranhchống xâm lược, do đó nhân dân Việt Nam luôn khác vọng được sống trong hòa bình,hữu nghị để xây dựng và phát triển Xuất phát từ ý nghĩa đó, Đảng ta xác định phươngthức bảo vệ Tổ quốc: “Kết hợp chặt chẽ đấu tranh phi vũ trang và đấu tranh vũ trang,kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ, nhấn mạnh phương thức “phi vũtrang”, bảo vệ Tổ quốc từ xa, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tựchuyển hóa” trong nội bộ…”25

25 Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, H.2015, tr.120.

22

Trang 23

- Nhận thức về đối tác, đối tượng: về quan hệ đối tác, đối tượng có bước phát

triển đột phá trong thời gian đổi mới: chuyển từ tư duy bạn – thù sang đối tượng, đối tác trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc Nhận thức về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về

mọi mặt của Đảng, quản lý của Nhà nước với lực lượng vũ trang, nhiệm vụ quốcphòng, an ninh trong quá trình đổi mới là cơ sở để định ra chiến lược bảo vệ Tổ quốctrong thời kỳ mới

Theo quan điểm, nguyên tắc đó, trong tình hình diễn biến mau lẹ và phức tạp hiện

nay, việc xác định đối tượng, đối tác có cách nhìn nhận mới, biện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; ngược lại, trong số các đối tác, có thể

có mặt khác biệt, mâu thuẫn lợi ích với ta Một chủ thể có thể vừa là đối tác, vừa là đối

tượng Hai mặt đối tượng và đối tác có thể chuyển hóa lẫn nhau Do vậy, trong từnglĩnh vực, thời điểm cụ thể có thể có những đối tượng, đối tác khác nhau Cần khắc phục

cả hai khuynh hướng mơ hồ mất cảnh giác hoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương

và xử lý các tình huống cụ thể

Với đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tíchcực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộngđồng quốc tế Để phát huy thuận lợi, hạn chế thách thức, cần có trách nhiệm trong cộng

đồng quốc tế Để phát huy thuận lợi, hạn chế thách thức, cần có cách nhìn nhận thức mới về đối tượng và đối tác của cách mạng Việt Nam theo nguyên tắc:

Một là, những ai chủ trương tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta.

Hai là, bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước

ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc những năm qua, bên cạnhnhững thành tựu và kết quả đã đạt được cũng còn không ít những khuyết điểm, yếukém: “- Tuy nhiên, nhận thức của một số cán bộ các cấp, các ngành về nhiệm vụ bảo

vệ Tổ quốc trong tình hình mới chưa thật đầy đủ, sâu sắc

- Kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh trênmột số lĩnh vực, địa bàn có lúc, có nơi chưa chặt chẽ

23

Trang 24

- Việc quán triệt và triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, các nghị quyếtcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh của một số cấp ủy, chínhquyền có nơi, có lúc chưa kiên quyết, triệt để;

- Còn thiếu những giải pháp mang tính chiến lược, tổng thể Cơ chế, chính sách,pháp luật về quốc phòng, an ninh chưa hoàn thiện”26

1.2.4 Tình hình thế giới, khu vực và trong nước ảnh hưởng đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

1.2.4.1 Về tình hình thế giới và khu vực

* Những nhân tố tác động chủ yếu đến sự vận động của cục diện thế giới ảnh hưởng đến nhiệm vụ BVTQ

Thứ nhất, đó là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (hay cách mạng công nghiệp 4.0).

Khác với các cuộc cách mạng trước kia, cách mạng CN 4.0 là sự gắn quyệngiữa các nền công nghệ làm xóa đi ranh giới giữa thế giới vật thể, thế giới số hóa vàthế giới sinh học Đó là công nghệ Internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, ngườimáy, xe tự lái, in ba chiều, máy tính siêu thông minh, công xưởng thông minh, côngnghệ nano, công nghệ sinh học,…Với các tư liệu sản xuất mới và cách thức tổ chức,quản lý sản xuất mới do cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra, thế giới hiện đại từthập niên thứ nhất của thế kỷ XXI đã có những bước đi đầu tiên vào một thời đạikinh tế mới: thời đại kinh tế tri thức, số hóa, tự động hóa và toàn cầu hóa cao độ.Mặc dù bản thân nó chưa là một thời đại lịch sử, nhưng mỗi thời đại kinh tế đều đặtdấu ấn của mình lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, làm xuất hiện các xu hướngvận động mới, ban đầu ở phạm vi cục bộ, sau đó mở rộng ra toàn thế giới

Với tác động mạnh mẽ cuộc CM 4.0, lĩnh vực quân sự không đứng ngoài cuộc.Các nước tranh thủ mọi thành quả của nó để cải tiến vũ khí, khí tài quân sự nhằmphòng thủ quốc gia và cũng như tạo ra các mưu lược khác Chính vì vậy, đã tạo ra

cả thời cơ và thách thức đối với nhiệm vụ an ninh an toàn của mọi quốc gia

Thứ hai, đó là quá trình nhận thức lại nội hàm của phạm trù “phát triển” và chuyển đổi mô hình phát triển.

26 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016, tr.147.

24

Trang 25

Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội năm 2008 đã buộc thế giới phải tư duy lại

về sự phát triển và mô hình phát triển; khắc phục những khuyết điểm, sai lầm củakiểu phát triển duy kinh tế, phát triển loại trừ đầy bất công xã hội, phát triển trên cơ

sở khai thác tàn khốc các nguồn lực thiên nhiên Từ sự đỗ vỡ đó (2008), cộng đồngquốc tế đã đúc kết những mô hình tăng trưởng phản phát triển; đồng thời, đã nhấnmạnh tính cấp bách của việc áp dụng mô hình phát triển bền vững trên phạm vi toàncầu Tất cả các quốc gia đều phải chuẩn bị các nguồn lực cần thiết để triển khai môhình này, trong đó tri thức, thông tin, năng lượng sạch, công nghệ tiên tiến, sức laođộng chất lượng cao,…là những nguồn nhân lực chiếm thứ hạng hàng đầu, khác xavới thời kỳ công nghiệp trước đây Cuộc cạnh tranh vì những nguồn lực sống còn,mới mẽ này chắc chắn sẽ tạo nên nhiều thay đổi, sôi động trong những năm sắp tới

Thứ ba, sự nổi lên gay gắt của các nguy cơ biến đổi khí hậu và các vấn đề toàn cầu cấp bách khác.

Trong mọi kịch bản của nó, biến đổi khí hậu là một thảm họa chung đối với toànnhân loại: làm mất đi không gian sinh tồn của hàng tỷ người, châm ngòi cho sự bùng

nổ các làn sóng di cư khổng lồ, đẩy thế giới vào hỗn loạn không thể kiểm soát Bêncạnh đó, các vấn đề toàn cầu khác vẫn rất nghiêm trọng: nguy cơ chiến tranh hạtnhân, dịch bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh thái tàn phá, tình trạng đói nghèo, chủnghĩa khủng bố,… có thể xóa sổ toàn bộ nền văn minh trên trái đất Những vấn đềsinh tử cấp bách này buộc các quốc gia – dân tộc phải vượt qua ranh giới ý thức hệ,tạm gác lại mọi mâu thuẫn, không phân biệt chế độ chính trị cũng như tiềm lực nướclớn – nước nhỏ, kịp thời triển khai các hành động chung bảo vệ trái đất như ngôi nhàcủa tất cả và cho tất cả Cục diện thế giới, vì vậy, sẽ có những chuyển động mới,trong đó hợp tác để cùng tồn tại và phát triển sẽ có nhiều cơ chế, bước đi hữu hiệu

25

Trang 26

tranh lạnh là do: (1) tương quan lực lượng giữa các nước lớn chưa đem lại cho bất kỳbên nào lợi ích tuyệt đối nếu để xảy ra chiến tranh; (2) đồng thời, xã hội quốc tế đãxây dựng được hệ thống luật pháp, cộng đồng quốc tế đã tạo lập được hệ thống giá trịchuẩn mực chung đủ sức hóa giải các nguy cơ chiến tranh; (3) hòa bình là tiền đềthuận lợi cho các quốc gia triển khai các quan hệ hợp tác các bên đều có lợi (win –win) và cùng nhau phát triển; (4) Bên cạnh đó, càng hợp tác thì vấn đề đan cài, đanxen lợi ích giữa các quốc gia với nhau càng lớn, khi xảy ra chiến tranh thì chắc chắn

sẽ có sự tổn hại đến lợi ích (trước mắt về kinh tế) của họ

Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc trên thế giới hiện nay bao hàm cả hai nội

dung cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau: (1) trong phạm vi lãnh thổ, mỗi dân tộc phải

có quyền tối cao, tức là phải có đầy đủ quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tưpháp để tự quyết định mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mình; không

lệ thuộc hoặc bị thao túng bởi các dân tộc khác; (2) trong quan hệ hợp tác quốc tế,

các dân tộc phải hoàn toàn bình đẳng với nhau theo luật pháp quốc tế, có quyền tựquyết định mọi vấn đề mang tính chất đối ngoại của mình; đồng thời, cam kết và thựchiện cam kết tôn trọng độc lập, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc giakhác Hai mặt đối nội và đối ngoại nói trên luôn gắn bó mật thiết với nhau trong mộtthể thống nhất Một dân tộc không thể được coi là có nền độc lập thực sự và đúngnghĩa của từ này nếu một trong hai mặt ấy bị vi phạm

Trên cơ sở tôn trọng độc lập dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau, các quốc gia trên thế giới hiện nay đang nỗ lực xây dựng nhiều cơ chế thực hiệndân chủ trong quan hệ quốc tế, làm tiền đề cho hợp tác công bằng, bình đẳng, các bênđều có lợi vì mục tiêu phát triển

- Hai, tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, khó lường.

Nhìn tổng thể, các điểm nóng trên bản đồ thế giới không những không suygiảm mà còn gia tăng cả về số lượng, quy mô và mức độ nguy hiểm: xung đột kéodài nhiều thập kỷ ở Trung Đông, nội chiến ở nhiều quốc gia châu Phi Nam Xahara,bất ổn ở Bắc Phi – Trung Đông vào châu Âu, vấn đề Đài Loan, nguy cơ khủnghoảng hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên, chủ nghĩa khủng bố, tình trạng xâm phạm chủquyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ, xung đột sắc tộc, tôn giáo,… đang gây ra tìnhtrạng căng thẳng cho toàn thế giới

26

Trang 27

Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninhnguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh (như Covid-19) có nhiều diễn biến phức tạp Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyếtliệt hơn với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là anninh mạng và các các hình thái chiến tranh kiểu mới.

- Ba, cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn

Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh,đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực.Tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh, đấu tranh vì lợi ích quốc gia tiếp tục diễn rarất phức tạp Đối tượng và đối tác; đối thủ và đồng minh; thù địch và bạn bè,… cóthể sẽ hoán vị cho nhau một cách hết sức bất quy ước Lợi ích quốc gia – dân tộc sẽ

là cỗ máy động lực chính tạo ra dọc ngang các véc tơ chuyển động này

Dưới sự điều hành của Tổng thống D.Trump, siêu cường Mỹ có nhiều điềuchỉnh trong chính sách toàn cầu, dồn ưu tiên cho các mục tiêu đối nội, phục vụ chokhẩu hiệu mang tính cương lĩnh “nước Mỹ trên hết” Thay vào đó, là sự vươn lênchủ động, mạnh mẽ của cường quốc Trung Quốc như thực thể mới dẫn dắt nhiềuquá trình hội nhập toàn cầu; đồng thời, Liên bang Nga, Nhật Bản, Ấn Độ,… cũngtriển khai nhiều chính sách thể hiện rõ nét hơn vị thế của các cường quốc đang cạnhtranh quyết liệt quyền lực quốc tế

Diện mạo đa cực, đa trung tâm của cục diện thế giới trong những năm vừa quađược thể hiện qua sự hình thành của hai không gian địa – chiến lược mới, đó là

“vành đai và con đường” do Trung Quốc cầm lái và Xoay trục khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với “tứ giác kim cương” (Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Australia)

do Mỹ khởi xướng

- Bốn, kinh tế thế giới phục hồi chậm, gặp nhiều khó khăn, thách thức và còn

có nhiều biến động khó lường.

Hầu hết đầu tàu lớn của kinh tế thế giới đều chưa ra khỏi tình trạng suy trầm,suy thoái Cuối năm 2019, đầu năm 2020, dưới tác động của Đại dịch Covid-19 chắcchắn nền kinh tế thế giới sẽ rơi vào trạng thái chậm phát triển, có nguy cơ dẫn đếnsuy thoái Đòi hỏi, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giớicần nhiều thời gian Các quốc gia tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất – kinh

27

Trang 28

doanh và chuỗi giá trị toàn cầu Tương quan sức mạnh kinh tế giữ các quốc gia, khuvực đang có nhiều thay đổi Các hình thức liên kết kinh tế mới; các định chế tàichính quốc tế khu vực; các hiệp định kinh tế song phương, đa phương thế hệ mới sẽđược triển khai rộng rãi.

* Về tình hình khu vực: Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có khu vựcĐông Nam Á tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế - chínhtrị chiến lược ngày càng quan trọng trên thế giới Đồng thời, đây cũng là khu vựccạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn Tranh chấplãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gaygắt, phứt tạp ASEAN trở thành cộng đồng, tiếp tục phát huy vai trò quan trọngtrong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế trong khu vực,nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả bên trong và bên ngoài

1.2.4.2 Về tình hình trong nước

Trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc

tế của đất nước ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để thựchiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kinh tế nước ta từng bước ra khỏi tình trạng suy giảm, lấy lại đà tăng trưởngnhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức Kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc;

nợ công tăng nhanh, nợ xấu đang giảm dần nhưng còn ở mức cao, năng suất, chấtlượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế thấp

Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn

về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòabình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tưtưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, thamnhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu – nghèo, phân hóa xã hộingày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm lòng tincủa cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước Bảo vệ chủ quyền biển,đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn Tình hình chính trị - xã hội ở một sốđịa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định Những thành tựu, kinh nghiệm của 30

28

Ngày đăng: 21/08/2020, 16:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w