1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và lòng tự trọng

99 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ vấn đề này có thể cải thiện lòng tự trọng của mỗi người, hạn chế các yếu tố tác động tiêu cực làm giảm tính tự trọng, đồng thời tìm hiểu mối liên hệ giữa lòng tự trọng với cảm nhận hạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trương Thị Khánh Hà

Các số liệu và tài liệu trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Học viên

Ninh Bảo Khánh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Trương Thị Khánh Hà về sự chỉ bảo, dẫn dắt tận tình cùng những lời khuyên quý giá của cô trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu này

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô đang giảng dạy tại khoa Tâm Lý Học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn – Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã luôn có sự hỗ trợ cần thiết cho tôi trong thời gian tôi vắng mặt tại khoa do thực hiện nghĩa vụ quân sự (2017 – 2019) Nhờ đó mà tôi có thể yên tâm công tác và quay trở lại hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới toàn thể các bạn sinh viên tại các trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn – Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Đại Học Kinh tế Quốc Dân, Đại Học Mở, Đại Học Xây Dựng đã cho tôi cơ hội được tiếp xúc, chia sẻ và có được số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Học viên

Ninh Bảo Khánh

Trang 5

7 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

1.3.1 Luận điểm lý thuyết về cảm nhận hạnh phúc 26

1.4 Mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và 30

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số bảng

Bảng 1 Bảng ma trận xu hướng items - nhân tố (Rotated

Component Matrix) thang đo cảm nhận hạnh phúc 43

Bảng 2 Hệ số tin cậy của các tiểu thang đo và của toàn bộ thang

Bảng 7 Tương quan giữa từng mệnh đề với toàn bộ thang đo tính

ái kỷ và độ tin cậy của thang đo nếu loại bỏ từng mệnh

đề

50

Bảng 9 Tương quan giữa từng mệnh đề với toàn bộ thang đo

lòng tự trọng và độ tin cậy của thang đo nếu loại bỏ từng

mệnh đề

54

Bảng 11 Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc

Bảng 12 Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc

Trang 8

Bảng 13 Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc

Bảng 14 Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc

với tính ái kỷ và lòng tự trọng (so sánh theo giới tính) 60

Bảng 15 Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc

với tính ái kỷ và lòng tự trọng (so sánh về tình trạng kinh tế)

62

Biểu đồ 1 Mức độ cảm nhận hạnh phúc của các nhóm từ “nghèo”

Trang 9

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

tắt

Thuật ngữ

1 SWB Cảm nhận hạnh phúc (Subjective Well-being)

2 PWI Chỉ số hạnh phúc (Personal Well-being Index)

3 HPI Chỉ số hạnh phúc hành tinh (Happy Planet Index)

4 MHC Thang đo phổ sức khỏe tinh thần (Mental Health

Continuum)

5 NPI Nhân cách ái kỷ (Narcissism Personality Inventory)

Trang 10

độ mà họ cảm thấy hạnh phúc nói chung như thế nào? Từ đó, tìm ra các giải pháp nhằm giúp mỗi cá nhân ngày càng trở nên hạnh phúc hơn, hạn chế những yếu tố tác động làm giảm hạnh phúc

Các nghiên cứu về hạnh phúc chủ quan (Subjective well-being) được bắt đầu quan tâm nghiên cứu vào đầu thế kỷ XX xuất phát từ lý do con người

xa xưa tự đặt ra câu hỏi: “điều gì tạo ra cuộc sống tốt đẹp và điều gì khiến con người cảm thấy hạnh phúc” Vào những năm 30 – 40 của thế kỷ XX, các

nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu về hạnh phúc và sự hài lòng với cuộc sống

trong cộng đồng bằng cách đặt ra câu hỏi “Bạn cảm thấy hạnh phúc ở mức độ nào?” với các phương án trả lời khác nhau từ “rất hạnh phúc” đến “không hạnh phúc” (dẫn theo Cantril, Hadley, Mildred) Vào năm 1925, Flugel đã

nghiên cứu tâm trạng của con người bằng cách ghi lại các sự kiện và những phản ứng cảm xúc của họ

Điều quan trọng khiến các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc trong những thập niên gần đây nở rộ là người dân ở các quốc gia phát triển đã có mức sống cao hơn, đời sống kinh tế phát triển hơn, vì thế mà họ mong muốn đời sống tinh thần cũng phải trở nên tốt đẹp hơn Từ lý do trên mà chất lượng cuộc sống và sự cảm nhận hạnh phúc chủ quan từ đó mà trở nên cần thiết, quan trọng đối với họ

Trang 11

2

Việc nghiên cứu về lòng tự trọng giúp đánh giá và xem xét về mức độ

tự trọng của mỗi cá nhân trong xã hội Từ vấn đề này có thể cải thiện lòng tự trọng của mỗi người, hạn chế các yếu tố tác động tiêu cực làm giảm tính tự trọng, đồng thời tìm hiểu mối liên hệ giữa lòng tự trọng với cảm nhận hạnh phúc để xem xét chiều hướng tương quan nhằm đưa ra những nhận định phù hợp

Tiếp theo, nghiên cứu về tính ái kỷ vẫn còn khá mới tại Việt Nam Việc tìm hiểu về tính ái kỷ giúp đánh giá chung về mức độ tự yêu bản thân mình – điều mà thường xuất hiện thấy trong giai đoạn đầu tuổi trưởng thành Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều dạng ái kỷ với những mức độ khác nhau Tính ái kỷ có tương quan thuận với điều kiện kinh tế và tương quan nghịch với tuổi một cách có ý nghĩa Mặc dù mối tương quan này chỉ ở mức yếu, kết quả vẫn có sự phù hợp với kết quả của một nghiên cứu ở Trung Quốc, sử dụng mẫu internet trên diện rộng, theo đó, người trẻ tuổi có tính ái kỷ cao hơn những người lớn tuổi; người từ các tầng lớp kinh tế xã hội cao có tính ái kỷ cao hơn so với những người lớp xã hội thấp [5, tr 46]

Xuất phát từ những kết quả nghiên cứu đi trước cả trong nước lẫn nước ngoài về cảm nhận hạnh phúc chủ quan, tính ái kỷ và lòng tự trọng, chúng tôi muốn tìm hiểu, nghiên cứu về mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính

ái kỷ và lòng tự trọng trên khách thể là sinh viên Chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu này sẽ tạo nên một bức tranh đa dạng và phong phú về cảm nhận hạnh phúc của người Việt nói chung Chỉ ra được thực trạng về cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ và lòng tự trọng của sinh viên; sự khác nhau giữa giới tính, điều kiện kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên? Liệu mức độ về lòng tự trọng, tính ái kỷ (cao, thấp) có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên hay không?

Trang 12

3

Đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn khách thể là sinh viên bởi lẽ sinh viên thuộc nhóm độ tuổi có nhiều biến động về tâm sinh lý chịu ảnh hưởng từ môi trường sống trong gia đình và ngoài xã hội Điều kiện kinh tế, mối quan hệ bạn bè trên trường học ít nhiều ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên, tự đánh giá của sinh viên về bản thân mình

Chính vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu này nhằm trả lời cho câu hỏi:

 Giữa cảm nhận hạnh phúc và tính ái kỷ có mối quan hệ với nhau như thế nào?

 Giữa cảm nhận hạnh phúc và lòng tự trọng có mối quan hệ với nhau như thế nào?

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và lòng tự trọng trên khách thể là sinh viên, trên cơ sở đó đưa ra những nhận định và kiến nghị nhằm nâng cao cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ và lòng tự trọng của sinh viên và mối

quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và lòng tự trọng

3.2 Khách thể nghiên cứu:

360 sinh viên các trường: Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, Trường Đại Học Xây Dựng, Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Trường Đại học Bách Khoa

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lí luận

- Tổng quan một số nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ, lòng tự trọng và mối quan hệ giữa chúng

- Xây dựng cơ sở lý luận và các khái niệm cơ bản của đề tài

Trang 13

4

- Lựa chọn các thang đo: Cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ, lòng tự trọng

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát thực trạng cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ và lòng tự trọng của sinh viên

- Phân tích mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và lòng tự trọng

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao cảm nhận hạnh phúc của sinh viên

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc (subjective well-being) giới hạn trên phương diện: hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc tâm lý và hạnh phúc xã hội (Keyes, 2002)

Nghiên cứu tính ái kỷ (Narcissism) thông qua thang đo Nhân cách Ái kỷ (Raskin và Terry, 1998)

Nghiên cứu lòng tự trọng (Self-esteem) thông qua thang đo Lòng tự trọng

(Rosenberg, 1965)

5.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu ở một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội

5.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Sinh viên từ 18 – 25 tuổi

6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

 Cảm nhận hạnh phúc có tương quan nghịch với tính ái kỷ

 Cảm nhận hạnh phúc có tương quan thuận với lòng tự trọng

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp thống kê toán học (SPSS)

Trang 14

5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC, TÍNH

ÁI KỶ VÀ LÒNG TỰ TRỌNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ và lòng tự

trọng

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Cảm nhận hạnh phúc

Công trình nghiên cứu đầu tiên về cảm nhận hạnh phúc đó là cuốn sách

“Khoa học về hạnh phúc” (The Science of Happiness) của một nhóm tác giả

xuất bản tại London năm 1861 Vào năm 1909, một cuốn khác cùng tên của Henry S William xuất bản tại New York tiếp tục gây được sự chú ý nhất định trong giới học thuật Từ đó, các công trình, chuyên khảo, bài báo có xu hướng nghiên cứu khoa học về hạnh phúc dần dần xuất hiện Đến những năm

1960 của thế kỷ XX, khoa học về hạnh phúc không còn dừng lại ở những suy

tư triết học, mà đã dần trở thành khoa học thực nghiệm, nhất là đối với ngành tâm lý học, xã hội học, không chỉ ở Tây Âu, mà còn ở Bắc Mỹ và nhiều nơi

khác trên thế giới Tuy vậy, phải đến gần đây, ở Phương Tây, người ta mới

thừa nhận Khoa học Hạnh phúc (Science of Happiness) là một ngành nghiên cứu tương đối độc lập với đối tượng nghiên cứu là hạnh phúc Martin Sehgman, GS Đại học Pennsylvania, Chủ tịch Hiệp hội bác sĩ tâm lý Mỹ là một trong những người nhiệt thành lên tiếng đòi môn nghiên cứu về hạnh phúc phải được chú trọng với tính cách là một khoa học liên ngành, chuyên nghiên cứu định lượng về hạnh phúc, nhằm bổ sung, thay thế cho những lĩnh vực mà triết học và tôn giáo còn đang giải thích một cách rối rắm hoặc trừu

tượng

Từ đầu thế kỷ XX thì khái niệm hạnh phúc chủ quan (Subjective being) mới được hình thành để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “điều gì làm cho con người ta cảm thấy hạnh phúc?” Sự khởi điểm chỉ bắt đầu khi vào năm

Trang 15

Well-6

1980 – 1990, các nghiên cứu về hạnh phúc chủ quan mới thực sự được quan tâm và chú ý đến (Diener, 1984; Argyle, 1987; Myers, 1992; Ryff, 1989; Diener, 2000; Keyes, 1998, 2002)

Thời điểm từ năm 1925, tác giả Flugel nghiên cứu tâm trạng bằng cách ghi chép lại các sự kiện tình cảm và sau đó tổng hợp phản ứng cảm xúc qua từng khoảnh khắc Việc làm này của Flugel là tiền thân của phương pháp thực nghiệm mẫu hiện đại để đo lường sự cảm nhận hạnh phúc chủ quan trực tuyến như con người nói về cuộc sống hàng ngày của họ Sau thế chiến thứ hai, các nhà nghiên cứu bắt đầu cho mọi người khải sát bằng cách bỏ phiếu về sự hạnh phúc và sự hài lòng với cuộc sống thông qua bảng hỏi dùng cho mẫu toàn cầu Các cuộc thăm dò dư luận được nghiên cứu trên một số lượng lớn những người thường được chọn để tạo các mẫu đại diện của các quốc gia George Gallup, Gerald Gurin và các đồng nghiệp và Hadley Cantril đi tiên phong trong việc sử dụng các cuộc điều tra quy mô lớn như là một kỹ thuật để đánh

giá Họ hỏi mọi người những câu hỏi như “Bạn làm thế nào để hạnh phúc?” Với các câu trả lời mức độ khác nhau từ “rất hạnh phúc” đến “không hạnh phúc”

Vào năm 1969, nhà nghiên cứu Norman Bradburn chứng minh tác động của sự hài lòng và khó chịu có phần độc lập tương đối và có những mối tương quan khác nhau, nó không đơn giản chỉ còn là hai mặt của sự đối lập Do đó, hai ảnh hưởng này phải nghiên cứu một cách riêng biệt để đạt được một bức tranh hoàn chỉnh của cảm nhận hạnh phúc của cá nhân Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với lĩnh vực cảm nhận hạnh phúc chủ quan Điều này cho thấy những nỗ lực của tâm lý học lâm sàng để loại bỏ trạng thái tiêu cực

sẽ không nhất thiết phải thúc đẩy trạng thái tích cực Việc loại bỏ các cơn đau chưa chắc đã tạo ra sự tăng cường tương đương về niềm vui; thoát khỏi thế giới của nỗi buồn và sự lo lắng không hẳn đã là đem lại sự hạnh phúc [8]

Trang 16

7

Nhà nghiên cứu Wilson chưa có nhiều tài liệu đa dạng để tìm hiểu về

"sự thừa nhận hạnh phúc" vào năm 1967, và cho đến năm 1984 thì tác giả Diener đã cung cấp một đánh giá có ý nghĩa lớn trong cơ sở dữ liệu về cảm nhận hạnh phúc chủ quan đã được tập trung vào những năm 1980 Phải cho đến thập niên 90, lĩnh vực nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc mới thực sự trở thành ngành khoa học

Tác giả Diener (1995) nghiên cứu thấy rằng ngay cả khi mức nhu cầu

cơ bản đã được kiểm soát, thu nhập có ảnh hưởng khá lớn đến cảm nhận hạnh phúc của người dân của một quốc gia Từ đó cho thấy những người dân ở những nước giàu nhất có xu hướng hạnh phúc nhất Điều này có thể bởi vì họ

có nhiều của cải vật chất nhưng nó cũng có thể là vì các quốc gia giàu nhất có mức độ trải nghiệm những quyền con người cao hơn, tuổi thọ cao hơn và bình đẳng hơn

Cảm nhận hạnh phúc có thể mô tả như là sự hài lòng về cuộc sống nói chung Các quan điểm lớn được một số tác giả đưa ra Đối với Diener thì hiểu cảm nhận hạnh phúc là một khái niệm bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn các trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức độ thấp và sự hài lòng với cuộc sống ở mức

độ cao (Diener, 2000)

Ngoài ra còn một tác giả khác là Keyes thì hạnh phúc bao gồm sự khỏe mạnh về tinh thần, những cảm xúc tích cực và sự vận hành tốt các chức năng tâm lý, xã hội trong cuộc sống (Keyes, 2002)

Cummins và Lau (2003) thì cho rằng con người hạnh phúc khi họ hài lòng với những chiều cạnh làm nên chất lượng cuộc sống của mình Vì thế mà hai tác giả đã xây dựng thang đo Chỉ số hạnh phúc cá nhân (Personal Well-being Index – PWI) trên cơ sở các chiều cạnh của chất lượng cuộc sống

Bài nghiên cứu “Tổng quan về hạnh phúc chủ quan” (Subjective being: a general overview) của Ed Diener và Katherine Ryan đã cung cấp một

Trang 17

well-8

cái nhìn toàn diện về hạnh phúc chủ quan dưới góc độ những lợi ích xã hội và

cá nhân, mối liên hệ với nhân khẩu học, những lý thuyết về nguồn gốc, và mối quan hệ của nó với văn hóa Các cách thức để tăng cường hạnh phúc cũng được đề cập và các tác giả cũng đưa ra luận điểm về những tranh cãi xung quanh việc những báo cáo quốc gia của hạnh phúc chủ quan về chính sách công cũng nên được xem xét và tận dụng, cùng với những chỉ báo kinh

tế và xã hội, tất cả những chỉ báo này đều có khả năng phản án và tăng cường chất lượng cuộc sống của đất nước đó

Một là, về khái niệm “hạnh phúc chủ quan” (Subjective Well-being), Ed Diener và Katherine Ryan định nghĩa “hạnh phúc chủ quan là thuật ngữ có tính khái quát được sử dụng để mô tả mức độ hạnh phúc mà con người trải qua dựa trên những đánh giá chủ quan của họ về cuộc đời”

Hai là, về các phương pháp mà các tác giả tiếp cận thì bao gồm các

phương pháp tự thuật và các phương pháp đo lường không mang tính tự thuật Các phương pháp tự thuật nhóm phương pháp đo lường phổ biến được sử dụng để tiếp cận hạnh phúc chủ quan Nhóm phương pháp này yêu cầu người tham gia phải đưa ra những đánh giá theo tiêu chuẩn toàn cầu về sự hài lòng

về cuộc sống hoặc mức độ họ trải nghiệm một số cảm xúc cụ thể Những phương pháp này có thể khác biệt về thang đo, về khung thời gian, hoặc liệu rằng chúng có giống nếu so với các báo cáo được ghi lại trong quá khứ, tuy nhiên tất cả các phương pháp này đều hướng tới mục đích đo lường mức độ hạnh phúc từ góc độ chủ quan của các khách thể

Những phương pháp khác không mang tính tự thuật, ví dụ như quan sát, đánh giá nét mặt, đo lường chức năng sinh lý, và xem xét nhạy cảm cảm xúc giúp nhà nghiên cứu thu được những kết quả đo lường mang tính khách quan

về hạnh phúc

Trang 18

9

Ba là, về lợi ích của hạnh phúc, Ed Diener và Katherine Ryan đã chỉ ra

rằng hạnh phúc và sự hài lòng về cuộc sống ở mức độ cao cải thiện đáng kể cuộc sống của con người trong bốn lĩnh vực là các mối quan hệ xã hội, công việc và mức thu nhập, sức khỏe và tuổi thọ và các lợi ích xã hội

Tính ái kỷ

Tính ái kỷ (tiếng anh gọi là Narcissism, nguồn gốc từ nghĩa La tinh là Narcissus) Xuất phát từ một câu chuyện thần thoại trong Hy Lạp khi chàng trai Narcissus đem lòng yêu bóng hình tuyệt đẹp của chính mình khi có một lần, chàng soi mình dưới dòng nước và yêu chính cái bóng đó Cũng có truyện kể rằng chàng Narcissus vì không đáp lại tình yêu của nàng Echo xinh đẹp mà khiến nàng đau khổ tự vẫn chết Chính sự kiêu ngạo này đã khiến Narcissus bị các vị thần giáng hình phạt là phải yêu chính cái bóng của mình dưới nước, mỗi lần chàng vươn tay định ôm lấy cái bóng đó thì nó lại tan biến

đi mất Vì quá buồn cho thứ tình yêu mà không được đền đáp đó, kết cục Narcissus đã chết bên cạnh dòng nước Một loài hoa mang tên Thủy Tiên đã

ra đời tại nơi anh chết (phỏng theo Gantz và cộng sự, 1993)

Theo tác giả Kernberg (1975) thì thần thoại về câu chuyện của chàng trai mang tên Narcissus đặt nền móng cho miêu tả về một căn bệnh lâm sàng

có đặc điểm yêu bản thân thái quá, biểu hiện trong các đặc điểm như: Mình cao đẹp hơn người khác, sự kỳ vọng được ca tụng tán dương hay hâm mộ, sự phóng đại tài năng của chính mình và lợi dụng người khác để làm tư lợi cá nhân

Các nghiên cứu đã cung cấp thêm nhiều bằng chứng về độ hiệu lực của tính ái kỷ như là một nét nhân cách, cũng như độ hiệu lực của thang NPI (Narcissism Personality Inventory) Cấu trúc yếu tố của thang NPI được tìm

ra bởi Emmons (1984) cũng được xác nhận Tính ái kỷ bao gồm 4 yếu tố có tương quan trung bình với nhau, liên quan đến 4 lĩnh vực lãnh đạo

Trang 19

dự đoán của một số nhà nghiên cứu rằng các cá nhân ái kỷ sẽ phản ứng với các trải nghiệm tích cực và tiêu cực một cách mạnh mẽ và điều này phụ thuộc vào cảm giác về giá trị cá nhân của người đó

Thêm vào đó, chúng ta biết rằng hành vi ái kỷ được coi là kiểu phản ứng tương đối thiếu trường thành (Kernberg, 1980; Plutchik, Kellerman, & Conte, 1979), và những cá nhân thiếu trường thành có cái nhìn khá đơn giản

về bản thân

Fischer (1984) khám phá ra rằng các cá nhân có tính ái kỷ cao có nhiều đặc điểm tích cực hơn là các cá nhân có tính ái kỷ thấp (dẫn theo Emmons, 1987)

Mặc dù tính ái kỷ ở thời điểm hiện tại thu hút nhiều hứng thú, nhưng những nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này còn đang rất ít Sẽ khó có thể tiến xa hơn này nếu không có được những lý thuyết có thể kiểm chứng và quan sát một cách thực nghiệm Cần có thêm nhiều nghiên cứu mối quan hệ giữa hạnh phúc cá nhân, tính ái kỷ, sự phòng vệ, và lòng tự trọng ở cả những

cá nhân ái kỷ bình thường và bệnh lý Những nỗ lực đó sẽ mở rộng những vấn

đề xung quanh khái niệm tính ái kỷ và giúp phân biệt giữa các biểu hiện bình thường và bệnh lý tính ái kỷ

Lòng tự trọng

Tajfel và Turner đã phát triển tính đồng nhất xã hội và đưa ra hai khía cạnh riêng biệt trong tự ý thức bản thân: Đồng nhất cá nhân và đồng nhất xã

Trang 20

11

hội Tuy có nhiều công cụ đo lường lòng tự trọng nhưng chủ yếu tập trung vào đánh giá của cá nhân về tính đồng nhất cá nhân của họ Một thang đo được xây dựng để đánh giá sự khác biệt cá nhân trong tập thể với 4 tiểu thang

đo (lòng tự trọng hội viên, lòng tự trọng tập thể cộng đồng, lòng tự trọng tập thể riêng tư và tầm quan trọng về tính đồng nhất)

Dựa trên mô hình ba phần của cái tôi (Brewer & Gardner, 1996), cái tôi bao gồm ba khía cạnh: cá nhân, quan hệ, và tập thể Do đó mà các cá nhân có thể ý thức về sự tự đại (self-worth) thông qua các thuộc tính cá nhân của họ (lòng tự trọng cá nhân), mối quan hệ với những người quan trọng (lòng tự trọng quan hệ), hay là thành viên trong một nhóm xã hội (lòng tự trọng tập thể) Có một công cụ đo lường hiện nay về lòng tự trọng cá nhân và tập thể có thể sử dụng được trong tài liệu; tuy nhiên hiện chưa có thang đo nào đánh giá

về lòng tự trọng quan hệ Các tác giả đã phát triển một thang đo để đo lường

sự khác biệt cá nhân đối với lòng tự trọng quan hệ và đã thử nghiệm nó với hai mẫu nghiên cứu ở sinh viên đại học Trung Quốc Các cách tiếp cận giữa (between) và trong phạm vi hệ thống (within-network) đối với độ hiệu lực cấu trúc được sử dụng Thang đo đã cho thấy độ tin cậy ổn định bên trong đầy đủ

và các kết quả của phân tích nhân tố xác nhận cho thấy sự phù hợp Nó cũng thể hiện mối tương quan có ý nghĩa với các cấu trúc lý thuyết liên quan trong

hệ thống hợp pháp

Dựa vào vai trò quan trọng của sự tự đánh giá tích cực đối với sức khỏe tinh thần (Taylor & Brown, 1988), các nhà nghiên cứu đã dự đoán rằng các cá nhân có lòng tự trọng quan hệ cao cũng sẽ cho thấy sự hài lòng về cuộc sống

là cao hơn Mặc dù các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng lòng tự trọng cá nhân đem lại lợi ích cho sức khỏe tinh thần, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng lòng tự trọng tập thể và quan hệ cũng có liên quan tới sức khỏe tinh thần

Trang 21

Tuy nhiên, có một sự khan hiếm về nghiên cứu đối với lòng tự trọng quan hệ

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Gần đây, vấn đề về cảm nhận hạnh phúc (subjective well-being) đã được nhiều sự quan tâm từ các đề tài khóa luận, luận văn của sinh viên Khoa

Tâm lý học Tác giả Trương Thị Khánh Hà đã có đề tài nghiên cứu về “cảm nhận hạnh phúc chủ quan của người trưởng thành” (2015) với thang đo Phổ

sức khoẻ tinh thần - MHC (Mental Health Continuum) để đánh giá hạnh phúc chủ quan của con người Dựa trên quan niệm hạnh phúc (well-being) là sự khoẻ mạnh về tinh thần, kế thừa các mô hình và thang đo sức khoẻ tinh thần của các tác giả đi trước, Keyes (1998, 2002) đã xây dựng thang đo này Thang

đo hạnh phúc chủ quan MHC-SF, phiên bản tiếng Việt, có thể sử dụng trong nghiên cứu mức độ hạnh phúc của người trưởng thành ở Việt Nam Thang đo

có độ tin cậy cao, có cấu trúc ba nhân tố rõ ràng, và có độ tin cậy bên trong mỗi nhân tố chấp nhận được ở mức tốt

Tiếp đến năm 2017, tác giả Trương Thị Khánh Hà tiếp tục sử dụng một

công cụ đo lường chỉ số hạnh phúc (Personal Well-being Index) để đánh giá

mức độ hài lòng của sinh viên trên 7 chiều cạnh khác nhau của cuộc sống: Mức sống, sức khỏe, những điều đạt được trong cuộc sống, các mối quan hệ,

sự an toàn của cá nhân, sự gắn kết của cá nhân với cộng đồng và vấn đề an

Trang 22

Tháng 10 năm 2015, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới được giao nhiệm vụ thực hiện Đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cấp Quốc gia: “Hạnh phúc của người Việt Nam: quan niệm, thực trạng và chỉ số đánh giá” (ĐTĐL.XH-03/15) Thời gian thực hiện 30 tháng (từ tháng 10/2015 đến

tháng 3/2018) Mục tiêu tổng quát của đề tài: Xác định khái niệm hạnh phúc

của người Việt Nam và bộ chỉ số đánh giá hạnh phúc của người Việt Nam thích ứng với chuẩn quốc tế, đồng thời mang những đặc trưng riêng của người Việt Nam Báo cáo đã được nghiệm thu vào tháng 03 năm 2018 [6]

Trong bài “Nghiên cứu định lượng về hạnh phúc và chỉ số hạnh phúc (HPI) của Việt Nam”, Hồ Sĩ Quý (PGS TS Viện trưởng Viện thông tin

KHXH) đề cập tới Báo cáo chỉ số hạnh phúc hành tinh (HPI - Happy Planet Index) được công bố vào tháng 7/2006 - tập hợp và đưa ra được bức tranh về thực trạng hạnh phúc của 178 nước HPI được tính theo công thức:

Trang 23

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu khoa học về hạnh phúc còn chưa phong phú Việc chú ý hơn đến vấn đề nghiên cứu hạnh phúc và bộ chỉ số đánh giá hạnh phúc của người Việt Nam, đặt nó trong vị thế tương xứng không những

có tác dụng đóng góp thêm số liệu cụ thể của nghiên cứu vào tri thức nhân loại mà còn góp phần minh chứng cho bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cung cấp những tri thức nền tảng trong việc hình thành quan niệm và sự lựa chọn hạnh phúc của người dân, giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng chiến lược phát triển và quản lý sự phát triển xã hội một cách bền vững ở nước ta hiện nay

SWB (Subjective well-being) đã trở thành lĩnh vực tiềm năng trong

nghiên cứu, với nhiều cơ hội mới thú vị Mặc dù có nhiều điều thú vị đã được chúng ta phát hiện khi tìm hiểu về SWB, nhưng thực tế, những điều bí ẩn cần

giải đáp vẫn còn rất nhiều

1.2 Khái niệm cơ bản

1.2.1 Cảm nhận hạnh phúc

Đầu tiên phải kể đến nhà nghiên cứu đại tài Aristotle khi ông phân chia

lý thuyết này thành 3 loại sau: (1) lý thuyết về nhu cầu và mục đích của sự hài

Trang 24

15

lòng, (2) lý thuyết về cách thức và hành động, (3) những lý thuyết khuynh hướng di truyền và nhân cách Luận điểm chính của lý thuyết cho rằng việc giảm căng thẳng dẫn đến hạnh phúc

Tiêu biêu nhất phải kể đến tác giả Csikszentmihalyi (1975) cho rằng người hạnh phúc nhất khi họ đang tham gia vào các hoạt động thú vị phù hợp với các kỹ năng của họ Ông gọi đó là trạng thái của trí tuệ có được những kết quả từ sự phù hợp của những thách thức và kỹ năng thành thục Ông cho rằng những ai có càng nhiều trải nghiệm thì sẽ càng cảm thấy hạnh phúc

Đồng quan điểm với Csikszentmihalyi, tác giả Cantor và đồng nghiệp, (Cantor & Blanton, 1996; Harlow & Canter, 1996) nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia tích cực trong những hoạt động của cuộc sống Hai tác giả Harlow và Cantor (1996) cho rằng sự tham gia hoạt động xã hội là một yếu tố

dự báo mạnh mẽ về sự hài lòng với cuộc sống của người cao tuổi đã nghỉ hưu

Sự hài lòng của cuộc sống được định nghĩa như là một thành tố của hạnh phúc chủ quan và có một đặc điểm chung (Diener, 1984) [13]

Theo Diener, Horowitz và Emmons (1985) sự hài lòng cuộc sống là một quá trình phê phán được quy định bởi “một sự so sánh hoàn cảnh của một người với những gì được cho là tiêu chuẩn phù hợp” [15]

Hạnh phúc chủ quan được Diener (2000) định nghĩa như là sự đánh giá

về nhận thức và tình cảm của một người đối với cuộc sống của họ Những đánh giá này bao gồm các phản ứng cảm xúc đối với các sự kiện, cũng như nhận thức về sự hài lòng và sự thỏa mãn với cuộc sống Nói cách khác, theo Diener, hạnh phúc chủ quan là một khái niệm rộng bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn, các trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức thấp, và sự hài lòng với cuộc sống ở mức cao (Diener, 2000) [3]

Trong đề tài nghiên cứu này, tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Keyes (1998, 2002) với quan điểm cho rằng “hạnh phúc chủ quan là sự nhận

Trang 25

Tính ái kỷ xuất hiện lần đầu tiên trong tài liệu Tâm lý học năm 1898

khi Harvelock Ellis sử dụng thuật ngữ Narcissus để muốn nói đến “một xu hướng về những xúc cảm tình dục bị thất lạc và gần như hoàn toàn bị thu hút trong sự tự ngưỡng mộ bản thân” (Ellis, 1898)

Nacke (1899) đã có một bản tóm tắt bằng tiếng Đức về tài liệu của Ellis

và ông sử dụng thuật ngữ Narcismus để muốn nói đến sự loạn dâm khi một người đối xử với cơ thể của mình như một đối tượng tình dục

Năm 1914 tính ái kỷ đã trở thành một cấu trúc trọng tâm trong ý tưởng

về siêu tâm lý học (metapsychological) và lâm sàng Khám phá của Freud về tính ái kỷ là trung tâm cho sự phát triển của (a) mô hình cấu trúc (id, ego, và superego); (b) Khái niệm về bản ngã lý tưởng và superego; (c) chuyển đổi từ tâm lý về cái id đển tâm lý về cái ego; và (d) lý thuyết tương tác biểu trưng (object relations theory) (ví dụ, Mỹ, 1986; Moore, 1975; Sandier, Holder, và Dare, 1976; Tiecholz, 1978)

Freud sử dụng thuật ngữ Ái kỷ trong nhiều khía cạnh khác nhau Như

là một cấu trúc về siêu tâm lý học, Freud sử dụng thuật ngữ tính ái kỷ (a) để

mô tả một giai đoạn phát triển tình dục bình thường xảy ra giữa các giai đoạn của sự thủ dâm và tình yêu với đối tượng khác; (b) như là nguồn và năng lượng chính cho sự phát triển của bản ngã; (c) như là một kiểu của sự lựa chọn vật thể (hoặc liên cá nhân) trong đó cái tôi đóng nhiêu hơn một vai trò

Trang 26

17

quan trọng trong các mối quan hệ đối tượng hơn là so với các khía cạnh thực

tế của các đối tượng; (d) như là một phương thức liên quan đến môi trường được đặc trưng bởi sự thiếu tính cân đối của các đối tượng hoặc các mối quan

hệ giữa các cá nhân; (e) như là một cơ chế cho việc thành lập các lý tưởng của cái tôi; (f) như là một thành phần chính trong việc phát triển và duy trì lòng tự trọng; và (g) như là một yếu tố điều kiện hóa của sự ức chế (Freud, 1914/1957, 1923/1961, xem cũng đánh giá về tự đại của Bing, McLaughlin,

và Marburg, 1959; Duruz, 1981; Moore, 1975; Pulver, 1970; và Tiecholz , 1978)

S.Freud sử dụng thuật ngữ Ái kỷ trong lâm sàng bao gồm trong đó các biểu hiện hành vi như: (a) một khuynh hướng các thái độ mà một người có về chính bản thân mình, bao gồm trong đó việc tự yêu bản thân, tự ngưỡng mộ,

tự phóng đại bản thân; (b) một vài kiểu sợ hãi hoặc tính chất bị gây hại liên quan đến lòng tự trọng của một cá nhân bao gồm việc sợ mất đi tình yêu và nỗi sợ thất bại; (c) một định hướng phòng vệ phổ biến bao gồm chứng hoang tưởng tự đại, lý tưởng hóa, phủ nhận, phóng chiếu, và phân chia; (d) động lực

về nhu cầu được yêu thương, cũng giống như việc đấu tranh cho sự độc lập và

sự hoàn thiện; và (e) một cấu trúc của thái độ đó có thể mô tả mối quan hệ của một người với người khác Cấu trúc này bao gồm thói phô bày, cảm xúc về quyền lợi bao gồm trong đó mong đợi của những quyền lợi đặc biệt trội hơn những người khác và miễn trừ đặc biệt từ yêu cầu thông thường của xã hội, một xu hướng để coi những người khác như là sự gia tăng ảnh hưởng về chính bản thân mình, cảm xúc và suy nghĩ của quyền năng tuyệt đối bao gồm trong đó quyền kiểm soát những người khác, sự không khoan dung về những lời chỉ trích từ những người khác bao gồm nhận thức về những lời chỉ trích như một yêu cầu thay đổi chính bản thân mình, một xu hướng chỉ trích những người khác mà họ có sự khác biệt đối với chính bản thân mình, tính đa nghi,

Trang 27

18

thái độ ghen tuông và một xu hướng tập trung vào các “sản phẩm tinh thần” của chính mình Mặc dù Freud sử dụng thuật ngữ tính Ái kỷ đã đem đến một sức ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng phân tâm học hiện đại (Mỹ, 1986; Moore, 1975; Tiecholz, 1978), ảnh hưởng này trong nhiều phương diện được chứng minh là một con dao hai lưỡi

Mặt khác, việc sử dụng của Freud trong lâm sàng học về khái niệm tính

Ái kỷ đã khơi dậy sự quan tâm về những tiến bộ trong lâm sàng học đương đại một cách hết sức quan trọng trong việc tìm hiểu nguyên nhân của rối loạn tính Ái kỷ Nguyên nhân này sẽ thường bao gồm những khó khăn bắt nguồn trong giai đoạn chia tách sự cá nhân hóa (separation-individuation) ở sự phát triển thời thơ ấu dẫn đến xung đột về các vấn đề của sự phụ thuộc so với quyền tự chủ và các khó khăn có nguồn gốc từ việc không có sự thấu cảm khi nuôi nấng con cái (unempathic parenting) (đặc biệt là việc làm mẹ), trong đó cha mẹ sử dụng đứa trẻ chỉ tập trung việc tự yêu bản thân mình (narcissistically cathected child) để đáp ứng những nhu cầu không được thỏa mãn của bản thân anh hoặc cô ấy để được sự ngưỡng mộ, khen ngợi, thừa nhận, và thành tích (Kernberg, 1975; Kohut, 1971; Mahler, 1972; Mahler & Kaplan, 1977; Miller, 1981)

Theo các phiên bản gần đây nhất của chẩn đoán của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (DSM-V; Hiệp hội Tâm thần học Mỹ, 2013), nhân cách ái kỷ được xác định bởi các tiêu chuẩn lâm sàng sau đây: Một sự nhận thức vĩ đại về sự

tự cao tự đại (self-importance) (thổi phồng thành tích và tài năng của cá nhân, mong muốn được thừa nhận như là người giỏi hơn mà không có thành tích tương xứng); ám ảnh với những ý nghĩ huyễn tưởng (fantasies) về sự thành công không giới hạn, quyền lực, sự tài giỏi, sắc đẹp, hay tình yêu lý tưởng; họ tin rằng mình là người đặc biệt và độc nhất và chỉ có thể hiểu được họ bởi những người đặc biệt hoặc cùng đẳng cấp giống họ (hay người nổi danh); cần

Trang 28

19

sự ngưỡng mộ quá mức; ý thức về quyền lợi (một sự kì vọng vô lý về sự quan tâm chăm sóc ưu tiên đặc biệt hay một sự bằng lòng tự động theo mong muốn của họ); Lợi dụng giữa các nhân với nhau (lợi dụng người khác để đạt được mục đích của mình); Thiếu đồng cảm: Không sẵn sàng để thừa nhận hay đồng nhất với xúc cảm và nhu cầu của người khác; Thường ghen tị với người khác hay tin rằng người khác ghen tị với mình; Thể hiện hành vi và thái độ ngạo mãn, kiêu căng

Có ba xu hướng chính nổi bật vào năm 1980 Một xu hướng coi tính ái

kỷ có tính văn hóa và xã hội, cho rằng xã hội càng ngày càng có xu hướng ái

kỷ (Lasch, 1979; Mazlish, 1982; Nelson, 1977; Stern, 1980) Wallach và Wallach (1983) nghiên cứu sự ảnh hưởng của những trường phái tâm lý học (trường phái Freud, trường phái Freud mới, trường phái nhân văn) về sự phát triển của tính ích kỷ trong xã hội hiện nay Xu hướng này đặt ra những vấn đề không thể xem nhẹ Đã có nghiên cứu chỉ ra rằng cá nhân liên tục đề cao lợi ích của bản thân sẽ khiến họ ít sẵn sàng trong việc theo đuổi những mục tiêu

xã hội chung (Kanfer, 1979)

Fromm (1973) cho rằng tính ái kỷ của nhóm là sự chuyển hóa của tính

ái kỷ cá nhân Cá nhân thỏa mãn tính ái kỷ của bản thân bằng cách tham gia

và gắn bó với một nhóm, ví dụ như một nhóm chính trị, hay một nhóm tôn giáo

Xu hướng thứ hai thể hiện thông qua sự gia tăng của các nghiên cứu tâm lý học xã hội về hiện tượng khuynh hướng tư lợi (self-serving bias) (Harvey & Weary, 1984; Snyder, Stephan, & Rosenfield, 1978) Hiện tượng này có thể hiểu là xu hướng chỉ chịu trách nhiệm nếu kết quả tốt, và phủ nhận,

đổ lỗi khi thất bại Greenwald (1980) gọi hiện tượng này là năng lực làm tốt (beneffectance - beneficence “làm tốt” và effectance “năng lực, hiệu quả”) và đưa nó vào cùng nhóm các khuynh hướng nhận thức có tính ái kỷ với hai

Trang 29

là tự thỏa mãn tình dục (autoeroticism), tính ái kỷ (narcissism), và tình yêu với đối tượng khác (object love), với những cá nhân ái kỷ không tiến tới bước phát triển cuối cùng Mặt khác, Kohut không cho rằng dục năng ái kỷ được chuyển hóa thành tình yêu với đối tượng khác, mà cho rằng nó có một quá trình phát triển riêng đến khi trưởng thành Lý thuyết của Kohut là lý thuyết

về sự phát triển của cái tôi, cho rằng tính ái kỷ bệnh lý là kết quả của sự thất bại khi không thể lý tưởng hóa bố mẹ, vì bị hắt hủi và đối xử lãnh đạm

Gần đây có một lý thuyết thứ ba được ủng hộ bởi Millon (1981), lý thuyết học tập xã hội về tính ái kỷ Quan điểm này cho rằng tính ái kỷ hình thành không phải do sự thất vọng với cha mẹ, mà là do cha mẹ đã đánh giá quá cao con mình Đứa trẻ được đối xử như một người đặc biệt, tận hưởng chú ý, và được cha mẹ thuyết phục tin rằng mình là một người đáng yêu và hoàn hảo Millon (1981) cho rằng những đánh giá quá cao không thực tế đó dẫn đến những ảo tưởng về bản thân “không thể duy trì được ở thế giới bên ngoài” Thông thường, những đứa trẻ nhận được nhiều sự chú ý và cách đối

xử đặc biệt, sẽ là con đầu lòng hoặc con một

Trang 30

21

W K Campbell và Foster (2007, trang 115) nói rằng “cá nhân có nhân cách ái kỷ ám ảnh bởi sự sự thổi phồng cao, quan điểm phi thực tế về tính tích cực của bản thân” và Morf, Horvath, và Torchetti (2011, trang 399) cho rằng

tự đại được đặc trưng bởi “việc suy nghĩ về bản thân một cách vĩ đại (grandiose self-views) và một người đam mê không ngừng phấn đấu để tiếp tục khẳng định giá trị bản thân và ưu thế của họ.”

Raskin và cộng sự (1991) được mô tả tự đại như một chiến lược để quản lý lòng tự cao thông qua vẻ lớn lao

Gabriel, Critelli, và cộng sự (1994) báo cáo cho rằng những người vị kỷ nhận mình là thông minh hơn những người không vị kỷ (bình thường)

Paulhus và John (1998) mô tả ái kỷ như một bản ngã (tức là bản thân chính mình) chứ không phải là xu hướng đạo đức (tức là, xã hội, cộng đồng) Paulhus (2001) cho rằng tính ái kỷ hiểu một cách hay nhất là một hình thức đề cao bản thân mình một cách thái quá

Campbell, Reeder, Elliot, và Gregg (2003) lập luận rằng người vị kỷ rất

ám ảnh với cái tôi mà họ làm giảm đi giá trị của sự thân mật bằng cách chấp

nhận một ảo tưởng “những người khác tồn tại là vì tôi”

Tự yêu bản thân đáp ứng cốt lõi động cơ của chính họ (tức là, vĩ đại, lòng tự trọng, quyền lợi, quyền lực) thông qua phương tiện cá nhân

Người vị kỷ xã hội có cùng một động cơ cốt lõi bên trong như sự tự yêu bản thân (tức là, vĩ đại, lòng tự trọng, quyền lợi, quyền lực) Ngược lại với ái

kỷ bản thân, ái kỷ xã hội đáp ứng các động cơ của chính bản thân thông qua phương tiện công cộng

Vị kỷ cộng đồng có thể được hiểu như là một đặc điểm cá nhân – cộng đồng: một đặc điểm của cá nhân đó được thể hiện qua các phương tiện công cộng Thành phần chính của mối liên hệ này là sự hữu ích, sự ấm áp giữa các

cá nhân, và tin cậy Có thể cho rằng, những đặc điểm này có thể phục vụ như

Trang 31

Mức độ cao quá mức của lòng tự trọng cũng đã được thiết lập giống như là một phần không thể thiếu của nhân cách vị kỷ (Bosson và cộng sự, 2008; W K Campbell & Foster, 2007; Morf và cộng sự, năm 2011; Sedikides & Gregg, 2001; Sedikides, Gregg, và Hart, 2007) Một số nhà nghiên cứu định nghĩa lòng tự trọng như là thiết bị đo bên trong của người vị

kỷ để theo dõi sự phát triển động cơ của họ (Morf & Horvath, 2010) Một góc nhìn khác về lý thuyết của vị kỷ gọi nó là một chứng nghiện của lòng tự trọng (Baumeister & Vohs, 2001)

Raskin cùng cộng sự (1991) nhận thấy những người vị kỷ không ngừng thừa nhận vẻ lớn lao (tự cao tự đại) của chính họ như là một cách thức để thỏa mãn việc tự đáp ứng nhu cầu cốt lỗi của chính họ: Lòng tự trọng

Vị kỷ cũng được cho là có một ý thức mang tính phổ biến của quyền lợi, căn cứ trên sự vĩ đại và lòng tự trọng quá cao của chính họ Họ cảm thấy độc đáo, đặc biệt, và có quyền để được chăm sóc đặc biệt (Emmons, 1984; Morf

& Rhodewalt năm 2001; Sedikides và cộng sự, 2002) Nghiên cứu thực nghiệm đã thực sự ghi nhận rằng bản thân cá nhân (tức là, NPI) người vị kỷ

có ý thức rất cao về quyền lợi (Brown và cộng sự, 2009; W K Campbell, Bonacci, Shelton, Exline, & Bushman, 2004; Emmons, 1987)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cái nhìn dưới góc độ của Tâm lý học xã hội, khác so với việc sử dụng khái niệm ái kỷ bệnh lý từ góc độ Tâm lý

Trang 32

23

học lâm sàng Do vậy, ái kỷ được hiểu là một đặc điểm trong tính cách của con người Người mang trong mình tính ái kỷ sẽ luôn luôn tạo ra cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan, các chiến lược và kỹ thuật ứng phó trong nhận thức, cảm xúc và hành vi nhằm duy trì và nâng cao hình ảnh tích cực về bản thân

1.2.3 Lòng tự trọng

Tầm quan trọng của các thành viên trong nhóm xã hội đối với tự ý thức của cá nhân và hành vi xã hội được thừa nhận rõ ràng trong lý thuyết đồng nhất xã hội (Tajfel, 1982; Tajfel & Turner, 1979, 1986; Turner, 1982), điều thừa nhận rằng tự ý thức cá nhân có hai khía cạnh riêng biệt Một là về tính đồng nhất cá nhân, bao gồm trong đó các thuật ngữ cụ thể về cá nhân như năng lực, tài năng và tính thân mật Khía cạnh khác về tính đồng nhất xã hội

được định nghĩa như là “phần (bộ phận - part) của tự ý thức cá nhân có nguồn gốc từ tri thức của anh ta về tư cách hội viên của mình trong nhóm xã hội (hay nhiều nhóm – groups) gắn kết với ý nghĩa về mặt giá trị và cảm xúc gắn bó với hội viên” (Tajfel, 1981, p.255) Dựa trên lý thuyết về tính đồng

nhất xã hội, nhóm xã hội là một tập hợp của các cá nhân khi họ nhận thấy bản thân mình như là thành viên trong cùng tầng lớp xã hội Vì thế nên đồng nhất

xã hội có thể bắt nguồn từ sự đa dạng của các hội viên trong nhóm dựa trên chủng tộc, giới và nghề nghiệp Nhưng ngược lại, tính đồng nhất cá nhân muốn nói đến các cá nhân quan niệm về bản thân họ như thế nào, đồng nhất

xã hội thì muốn nói tới họ quan niệm về các nhóm xã hội mà họ thuộc về ra sao

Tajfel và Turner sử dụng thuật ngữ đồng nhất xã hội là bộ phận của tự ý thức cá nhân dựa trên các thành viên trong các nhóm xã hội hay các tầng lớp

xã hội Trong thuật ngữ của Mĩ thì điều này thường được nói đến như là đồng nhất tập thể, trong khi đồng nhất xã hội được sử dụng để nói đến phạm vi liên

cá nhân và vai trò xã hội

Trang 33

24

Cheek và cộng sự (Cheek, 1989; Cheek, Underwood, & Cutler, 1985) đưa

ra một sự phân biệt rõ ràng 3 khía cạnh của tính đồng nhất: Cá nhân, xã hội và tập thể Tính đồng nhất cá nhân bao hàm trong đó các giá trị riêng của cá nhân, ý tưởng, mục đích, cảm xúc v.v.v Đồng nhất xã hội thì khác biệt so với cái được gọi là đồng nhất xã hội trong lý thuyết về tính đồng nhất xã hội, ở đây muốn nói đến cái tôi trong mối quan hệ với người khác (ví dụ: phạm vi liên cá nhân), liên quan đến tính phổ biến, sự hấp dẫn thu hút, sự nổi tiếng và phong cách riêng Tính đồng nhất tập thể giống như Tajfel và Turner trong lý thuyết của hai ông về tính đồng nhất xã hội, đó là về các khía cạnh của tự ý thức cá nhân liên quan đến chủng tộc, bối cảnh sắc tộc, tôn giáo và xúc cảm (feelings) khi thuộc về một cộng đồng và những thứ tương tự như vậy

Các lý thuyết tâm lý học xã hội khác về lòng tự trọng nhấn mạnh nhiều hơn vào chủ nghĩa cá nhân hay cá nhân, các khía cạnh về sự tự ý thức Một vài tác giả tranh luận rằng các cá nhân đấu tranh để duy trì, bảo vệ và nâng cao hình ảnh cái tôi tích cực (Greenwald, 1980; Jones, 1973; Taylor & Brown, 1988; Tesser & Campbell, 1983; Wills, 1981) Xu hướng tự nâng cao bản thân (self-enhancement) này được nhận thấy trong sự đa dạng về các hành vi xã hội và nhận thức (xem Taylor & Brown, 1988 để đánh giá lại) Bằng chứng gần đây chỉ ra rằng lòng tự trọng cá nhân là người điều tiết quan trọng về xu hướng này và đó là cá nhân có lòng tự trọng cao, hầu hết có khả năng tham dự vào việc tự nâng cao bản thân hay các thành kiến vị kỷ (xu hướng tư lợi – self-serving biases (Alloy & Abramson, 1979, 1982; Crocker, Thompson, McGraw, &Ingerman, 1987; Tennen & Herzberger, 1987) Không như các cá nhân có lòng tự trọng thấp, họ có xu hướng cho thấy quan điểm hoàn toàn không chân thật về cái tôi, các ảo tưởng về sự kiểm soát, và sự lạc quan phi hiện thực về tương lai (xem Taylor & Brown, 1988, để xem xét)

Trang 34

tự ý thức – cả hai đều góp phần mở rộng một ý thức toàn diện của giá trị, hay

sự chắc chắn của ý thức cá nhân nói chung (xem ví dụ Tajfel & Turner, 1986)

Khái niệm của lòng tự trọng tập thể có thể hàm ý về sự đa dạng của các lĩnh vực tâm lý xã hội và hiện tượng, bao gồm trong đó cam kết và hành vi tổ chức, sự tham gia chính trị và sự điều chỉnh tâm lý

Theo như mô hình ba phần của cái tôi (Brewer & Gardner, 1996), cái tôi bao gồm ba khía cạnh: cá nhân, quan hệ, và tập thể Do đó mà các cá nhân có thể đạt được ý thức về sự tự đại (self-worth) thông qua các thuộc tính cá nhân của họ (lòng tự trọng cá nhân), mối quan hệ với những người quan trọng (lòng tự trọng quan hệ), hay là thành viên trong một nhóm xã hội (lòng tự trọng tập thể)

Nghiên cứu gần đây đã phân biệt ba khía cạnh khác nhau của cái tôi: cá nhân, quan hệ, và dân tộc (Brewer & Chen, 2007; Brewer & Gardner, 1996) Cái tôi cá nhân nhắc đến tự ý thức về bản thân (self-concept) đã được phân biệt hóa và cá nhân hóa, nhấn mạnh vào tính đơn nhất Cái tôi quan hệ là muốn nói đến tự ý thức bản thân được hình thành trong mối liên kết với những người quan trọng (ví dụ như gia đình và những người bạn tốt nhất) Cái tôi tập thể nói đến tính tự ý thức bản thân được xây dựng trong mối quan hệ với các nhóm xã hội (ví dụ như quốc gia, sắc tộc)

Lòng tự trong cá nhân đề cập đến việc làm thế nào mà mỗi cá nhân hiểu được bản thân họ và các thuộc tính cá nhân của họ như là năng lực và tài năng (Rosenberg, 1965) Phần lớn từ các nghiên cứu đã được tiến hành trên lòng tự

Trang 35

26

trọng cá nhân phát hiện thấy lòng tự trọng cá nhân có mối quan hệ tích cực với sức khỏe tinh thần, hạnh phúc và khả năng làm việc sáng tạo và hiệu quả ( xem Taylor & Brown , 1988) Nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng tự trọng tập thể (Luhtanen & Crocker, 1992) về việc làm cách nào mà các cá nhân hiểu được bản thân họ đối với giá trị mà họ đặt vào trong nhóm xã hội của mình Lòng tự trọng tập thể được tìm thấy trong sự liên kết với thành kiến nhóm (ingroup bias) (ví dụ, Crocker & Luhtanen, 1990) và hạnh phúc tâm lý (ví dụ, Crocker, Luhtanen, Blaine & Broadnax, 1994; Zhang, 2005) Tuy nhiên, có một sự khan hiếm về nghiên cứu đối với lòng tự trọng quan hệ

Rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy lòng tự trọng quan hệ có xu hướng đóng vai trò quan trọng hơn lòng tự trọng tập thể, đặc biệt là trong các nền văn hóa theo chủ nghĩa tập thể (Brewer & Chen, 2007)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn nhấn mạnh chủ yếu đến “lòng tự trọng cá nhân” được hiểu là sự chấp nhận hay hài lòng với những giá trị của

bản thân, có sự đánh giá tích cực về chính bản thân mình

1.3 Luận điểm lí thuyết nghiên cứu

1.3.1 Luận điểm lý thuyết về cảm nhận hạnh phúc

Sự hài lòng của cuộc sống được định nghĩa như là một sự biểu trưng nhận thức của hạnh phúc chủ quan và có một đặc điểm chung (Diener, 1984) Theo Diener, Horowitz và Emmons (1985) sự hài lòng cuộc sống là một quá trình phê phán được quy định bởi “một sự so sánh hoàn cảnh của một người với những gì được cho là tiêu chuẩn phù hợp” Các PWI đánh giá các khía cạnh nhận thức của hạnh phúc chủ quan bằng cách đo sự hài lòng của cuộc sống trong các lĩnh vực khác nhau (Cummins, Eckersley, Pallant, Van Vugt,

& Misajon, 2003), cụ thể là: (1) mức sống, (2) sức khỏe cá nhân, (3 ) thành

Trang 36

xã hội (psychological and social funtioning) của bản thân Theo cách hiểu của Keyes, hạnh phúc (well-being) chính là sự khoẻ mạnh về tinh thần, thể hiện ở những cảm xúc tích cực và sự vận hành tốt các chức năng tâm lý, xã hội trong cuộc sống, bao gồm 3 thành tố: hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc tâm lý, hạnh phúc xã hội (Keyes, 2002) [3]

Hạnh phúc cảm xúc (Emotional well-being) thể hiện qua một loạt những dấu hiệu biểu hiện trạng thái cảm xúc tích cực về cuộc sống Hạnh phúc cảm xúc được đo bằng những trạng thái cảm xúc dương tính hoặc sự hài lòng với cuộc sống nói chung [3]

Hạnh phúc tâm lý (Psychological well-being) thể hiện ở sự chấp nhận, hài lòng với bản thân; mối quan hệ tích cực với những người khác; sự phát triển cá nhân; mục tiêu trong cuộc sống; làm chủ môi trường xung quanh; tự chủ Người hạnh phúc về mặt tâm lý là người hài lòng với hầu hết những gì ở bản thân, có những mối quan hệ ấm áp và tin tưởng, tin bản thân mình sẽ phát triển thành người tốt hơn, có định hướng trong cuộc sống, có thể làm chủ môi trường nhằm thoả mãn nhu cầu, và làm chủ những quyết định của bản thân (Ryff, 1989; Ryff & Keyes, 1995) [3]

Hạnh phúc xã hội (Social well-being) thể hiện ở sự hài lòng với các mối quan hệ liên cá nhân và với môi trường xã hội xung quanh Trong khi hạnh phúc tâm lý được đánh giá thông qua những tiêu chí mang tính cá nhân và riêng tư, thì hạnh phúc xã hội lại được đánh giá qua những tiêu chí mang tính công khai và xã hội: sự gắn kết xã hội; sự hiện thực hoá xã hội; sự hoà nhập

Trang 37

1.3.2 Luận điểm lý thuyết về ái kỷ

Emmons (1984) phân tích yếu tố thang đo NPI và chỉ ra 4 yếu tố: Lợi dụng/ Đòi hỏi quyền lợi (Exploitiveness/ Entitlement), Lãnh đạo/ Uy quyền (Leadership/ Authority), Ưu thế/ Ngạo mạn (Superiority/ Arrogance), và Vị

kỷ/ Tự ngưỡng mộ (Self-Absorption/ Self-Admiration)

Raskin và Hall (1979) xây dựng Thang đo Nhân cách ái kỷ Narcissistic Personality Inventory (NPI), với 54 mục là các câu hỏi bắt buộc lựa chọn, dùng để đo lường sự khác biệt về tính ái kỷ như một nét nhân cách Cấu trúc của thang này dựa trên các tiêu chí của chứng rối loạn nhân cách ái kỷ theo cuốn Sổ tay chẩn đoán (Diagnostic and Statistical Manual (DSM-III) Những tiêu chí này bao gồm (a) cảm giác cuồng vĩ (grandiose sense) về tầm quan trọng cũng như độ độc nhất của bản thân, (b) bị ám ảnh bởi những ảo tưởng quá mức về sự thành công, sức mạnh, vẻ đẹp, hay là tình yêu lý tưởng (c) thích phô trương (exhibitionistic) - luôn đòi hỏi sự chú ý và ngưỡng mộ, (d) quyền lợi đương nhiên (entitlement) - trông chờ được đối xử đặc biệt nhưng không có ý định đáp lại, và (e) lợi dụng các một quan hệ giữa cá nhân với nhau (interpersonal exploitiveness) (American Psychiatric Association, 1980)

Vị kỷ cộng đồng có thể được hiểu như là một đặc điểm cá nhân – cộng đồng: một đặc điểm của cá nhân đó được thể hiện qua các phương tiện công cộng Thành phần chính của mối liên hệ này là sự hữu ích, sự ấm áp giữa các

cá nhân, và tin cậy Có thể cho rằng, những đặc điểm này có thể phục vụ như

Trang 38

29

là phương tiện để thể hiện tính ái kỷ vĩ đại (W K Campbell & Foster, 2007; Morf và cộng sự, 2011)

1.3.3 Luận điểm lý thuyết về lòng tự trọng

Nghiên cứu gần đây đã phân biệt ba khía cạnh khác nhau của cái tôi: cá nhân, quan hệ, và tập thể (Brewer & Chen, 2007; Brewer & Gardner, 1996) Cái tôi cá nhân nhắc đến tự ý thức về bản thân (self-concept) đã được phân biệt hóa và cá nhân hóa, nhấn mạnh vào tính đơn nhất Cái tôi quan hệ là muốn nói đến tự ý thức bản thân được hình thành trong mối liên kết với những người quan trọng (ví dụ như gia đình và những người bạn tốt nhất) Cái tôi tập thể nhắc đến tính tự ý thức bản thân được xây dựng trong mối quan hệ với các nhóm xã hội (ví dụ như quốc gia, sắc tộc)

Tương ứng ba khía cạnh khác nhau của cái tôi (ví dụ, cá nhân, quan hệ, và tập thể) Các cá nhân có thể đánh giá sự tự đại của họ trong mối quan hệ với 3 khía cạnh này (Breckler & Greenwald, 1986) Động cơ đánh giá liên kết với cái tôi cá nhân, quan hệ và tập thể có thể nhắc đến lần lượt như là lòng tự trọng cá nhân, lòng tự trọng quan hệ và lòng tự trong tập thể Lòng tự trong cá nhân đề cập đến việc làm thế nào mà mỗi cá nhân hiểu được bản thân họ và các thuộc tính cá nhân của họ như là năng lực và tài năng (Rosenberg, 1965) Phần lớn từ các nghiên cứu đã được chỉ đạo dựa trên lòng tự trọng cá nhân và

nó đã được tìm thấy rằng lòng tự trong cá nhân có mối quan hệ tích cực với sức khỏe tinh thần, hạnh phúc và khả năng làm việc sáng tạo và hiệu quả ( xem Taylor & Brown , 1988) Nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của lòng tự trọng tập thể (Luhtanen & Crocker, 1992) ám chỉ đến làm cách nào mà các cá nhân hiểu được bản thân họ đối với giá trị mà họ đặt vào trong nhóm xã hội của mình Lòng tự trọng tập thể được tìm thấy trong sự liên kết với thành kiến nhóm (ingroup bias) (ví dụ, Crocker & Luhtanen, 1990) và hạnh phúc tâm lý (ví dụ, Crocker, Luhtanen, Blaine & Broadnax,

Trang 39

30

1994; Zhang, 2005) Tuy nhiên, có một sự khan hiếm về nghiên cứu đối với lòng tự trọng quan hệ

Lòng tự trọng quan hệ được đánh giá trên thang đo bao gồm 2 khía cạnh

cơ bản: (1) một sự kết hợp với gia đình và bạn bè tốt nhất như là những người quan trọng và (2) giá trị của một cá nhân trong mối quan hệ với những người quan trọng khác và giá trị của những người quan trọng Về khía cạnh đầu tiên, những người quan trọng phần lớn được giới hạn trong gia đình và bạn bè tốt nhất (Chen, Boucher & Tapias, 2006; Markus & Kitayama, 1991) Nhận thức

về mối quan hệ ấm áp với phụ huynh và đồng nghiệp (ví dụ, sự gắn bó cha mẹ

và đồng nghiệp) đã được tìm thấy có mối liên hệ tích cực với lòng tự trọng (Armsden & Greenberg, 1987; Greenberg, Siegel & Leitch, 1983)

1.4 Mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và lòng tự trọng

Hạnh phúc chủ quan (subjective well-being)

Ái kỷ (Narcissism) Lòng tự trọng (Self-esteem) Mối quan hệ giữa hạnh phúc, ái kỷ và lòng tự trọng là sự liên kết có tính tương quan chặt chẽ với nhau trong các nghiên cứu ngoài nước đã được khám phá và tìm hiểu bởi các nhà Tâm lý học lâu năm Trong các nghiên cứu

đó, họ chỉ ra rằng lòng tự trọng có tương quan thuận đối với cảm nhận hạnh phúc, ngược lại thì ái kỷ lại cho thấy một tương quan nghịch về việc này và còn trở thành bệnh lý nhân cách khá nguy hiểm Đồng thời, lòng tự trọng và tính ái kỷ có mối quan hệ bổ sung và tác động qua lại lẫn nhau Đôi khi, tính

ái kỷ được thể hiện mạnh mẽ là để làm nổi bật lòng tự trọng

Trang 40

31

Tiểu kết chương 1

Các nghiên cứu về hạnh phúc dựa trên thang đo về chỉ số hạnh phúc cá nhân (Personal Well-being Inventory – PWI) bao gồm trong đó các tiêu chí về: (1) mức sống, (2) sức khỏe, (3) thành tựu cuộc đời, (4) các mối quan hệ cá nhân, (5) an toàn cá nhân, (6) kết nối cộng đồng, (7) sự an toàn trong tương lai, và (8) tôn giáo và tâm linh Bên cạnh đó, một thang đo Phổ sức khoẻ tinh thần - MHC (Mental Health Continuum) đánh giá hạnh phúc chủ quan của con người Dựa trên quan niệm hạnh phúc (well-being) là sự khoẻ mạnh về tinh thần, kế thừa các mô hình và thang đo sức khoẻ tinh thần của các tác giả

đi trước, đo lường hạnh phúc trên 3 yếu tố chính: Hạnh phúc cảm xúc (emotional well-being), hạnh phúc tâm lý (psychological well-being) và hạnh

phúc xã hội (social well-being)

Theo Diener, hạnh phúc chủ quan là một khái niệm rộng bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn, các trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức thấp, và sự hài lòng với cuộc sống ở mức cao (Diener, 2000)

Theo như Diener thì hạnh phúc chủ quan có một sự bao quát về khái niệm mà cá nhân trải nghiệm sự thỏa mãn, trang thái cảm xúc tiêu cực ở mức

độ thấp và hài lòng với cuộc sống ở mức cao (Diener, 2000) Ngoài ra tác giả Keyes (1998, 2002) khi định nghĩa về hạnh phúc chủ quan thì cho rằng đó là

sự nhận thức và đánh giá của cá nhân về cuộc sống, các trạng thái cảm xúc và các chức năng tâm lý xã hội của mình Khi đó có thể hiểu hạnh phúc chủ quan theo Keyes là sự khỏe mạnh về tinh thần bộc lộ thông qua các cảm xúc tích cực và sự vận hành các chức năng tâm lý, xã hội trong cuộc sống với 3 thành

tố Hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc tâm lý, hạnh phúc xã hội (Keyes, 2002)

Trải qua nhiều nghiên cứu trước đó, các nhà Tâm lý học quan tâm đến lĩnh vực Ái kỷ đã đúc kết ra được 4 yếu tố có tương quan với nhau, gắn 4 lĩnh vực lãnh đạo (leadership), tự ngưỡng mộ (self-admiration), ưu thế

Ngày đăng: 21/08/2020, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w