1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM

24 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 369 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên các chuyến biển khảo sát nguồn lợi cá nổi xa bờ của dự án DANIDA, Xa bờ, Trường Sa, Dự báo trên các tàu Câu vàng và Rê khơi, số liệu về sản lượng,thành phần loài, các chỉ số sin

Trang 1

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 1

BỘ THỦY SẢN

VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG

Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và

CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)

Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM

Ths Đặng Văn Thi

CN Phạm Quốc Huy

Hải Phòng, 3/2003

Trang 2

2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 3

2.1 TÀI LIỆU 3

2.2 PHƯƠNG PHÁP 3

2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8

3.1 PHÂN BỐ NĂNG SUẤT 8

3.2 PHÂN BỐ CHIỀU DÀI 9

3.3 TƯƠNG QUAN CHIỀU DÀI - KHỐI LƯỢNG (L F - W) 14

3.4 SINH TRƯỞNG 16

3.5 HỆ SỐ CHẾT 19

3.6 SINH SẢN 19

3.7 ĐỘ NO DẠ DÀY 21

4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

1 MỞ ĐẦU

Từ đầu thập niên 90, nghề rê khơi và câu vàng ở nước ta đã phát triển mạnh ở các tỉnh như: Phú Yên, Bình Định, Khánh Hoà với đối tượng đánh bắt chính là họ

cá Thu Ngừ (Scombridae), đặc biệt hai loài Ngừ vây vàng (Thunnus albacares) và

Trang 3

Ngừ mắt to (Thunnus obesus) Đây là loài cá nổi lớn, có giá trị kinh tế cao, phân bố ở

cả vùng gần bờ và xa bờ [3, 4, 8]

Trước kia đã có nhiều công trình nghiên cứu về họ cá Thu Ngừ, nhưng mớidừng lại ở đặc điểm hình thái và định loại, nghiên cứu sinh học còn có nhiều hạn chế.Nghiên cứu đầu tiên về đặc điểm sinh học của cá Ngừ ở biển Việt Nam có thể kể đếnchương trình hợp tác Việt - Xô (1960-1961) trên tàu nghiên cứu ONDA và ORLIK.Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học và phân bố của

họ cá Thu Ngừ ở vùng biển Việt Nam như: Bùi Đình Chung (1965), Trần Đôn vàNguyễn Kiêm Sơn (1978), Nguyễn Phi Đính và ctv (1971,1972), Chu Tiến Vĩnh vàTrần Định (1995), Vũ Huy Thứ và ctv (1994), Bùi Đình Chung, Chu Tiến Vĩnh vàNguyễn Phi Đính (1995), Nguyễn Phi Đính và ctv (1996) Do đó nghiên cứu đặcđiểm sinh học của hai loài cá Ngừ mắt to và Ngừ vây vàng là quan trọng và cần thiết

Với nguồn số liệu hiện có, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học

của hai loài cá Ngừ vây vàng (T albbacares) và cá Ngừ mắt to (T obesus) ở vùng

biển Việt Nam

2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Tài liệu

Số liệu sử dụng trong báo cáo này được cung cấp từ cơ sở dữ liệu của PhòngNghiên cứu Nguồn lợi biển, trong chương trình điều tra và giám sát hoạt động khaithác nghề Câu vàng và lưới Rê, thuộc Dự án DANIDA, Xa bờ, Đề tài Dự báo, cá Ngừ,Trường Sa từ năm 1999 đến năm 2002

Bảng 1 Các chương trình điều tra và giám sát hoạt động khai thác

ALMRV - Xa bờ 2000 - 2002 Rê - Câu 5 7000-14000; 107030-112030

Trường Sa 1999 - 2002 Rê - Câu 4 8030-10030; 112030-114000

Cá Ngừ 2001 - 2002 Rê - Câu 2 14000-16030;110000-112030

Dự báo 2001 Câu vàng 4 6030-11030; 110000-112000

Dự án DANIDA, Xa bờ và Đề tài cá Ngừ đã tiến hành các chuyến điều tra vàotháng 4-5 (đại diện cho mùa gió Tây Nam) và tháng 9-10 (đại diện cho mùa gió ĐôngBắc), trên 6 tàu Câu vàng và Rê khơi từ năm 2000 đến 2002 tại vùng biển từ vĩ tuyến

7000 đến 140 00 và từ kinh tuyến 107030 đến 112030 Cùng với các chuyến điều tratrên, Dự án Trường Sa cũng dùng 4 tàu Câu vàng và Rê khơi điều tra vào tháng 3 và

Trang 4

tháng 10 từ năm 2001 đến năm 2002 và 2 tàu Rê khơi vào tháng 3 và tháng 5 năm

1999, tại vùng biển quần đảo Trường Sa Đế bổ sung thêm nguồn số liệu về nghề Rêkhơi và Câu vàng, các Dự án và Đề tài cũng đã tiến hành các chuyến giám sát trên tàuđánh bắt của ngư dân vào các tháng trong năm

2.2 Phương pháp

Trong các chuyến khảo sát tại mỗi trạm, tàu rê và câu vàng đều bắt đầu thả lưới(hoặc thả câu) từ 16 giờ và đến 4 giờ sáng hôm sau bắt đầu thu lưới (hoặc thu câu).Lưới rê thả các loại mắt lưới khác nhau, mỗi loại thả khoảng 15 cheo lưới; Câu vàngthả khoảng 500 lưỡi câu/ mẻ

Trong các chuyến giám sát mỗi mẻ lưới (hoặc câu) vào cuối ngày được thảkhoảng 14 giờ và thu lúc khoảng 19 giờ; các mẻ lưới (hoặc câu) lúc ban mai được thảvào khoảng 2 giờ và thu vào khoảng 5 giờ Lưới rê Ngư dân thả loại mắt lưới 2a =100mm nổi, mỗi mẻ thả khoảng 100 - 200 cheo lưới; Câu vàng thả khoảng 700 - 1000lưỡi câu/ mẻ

Dựa trên các chuyến biển khảo sát nguồn lợi cá nổi xa bờ của dự án DANIDA,

Xa bờ, Trường Sa, Dự báo trên các tàu Câu vàng và Rê khơi, số liệu về sản lượng,thành phần loài, các chỉ số sinh học được thu theo quy trình thu mẫu của Viện Nghiêncứu Hải sản

Các cá thể đánh bắt được đều tiến hành cân, đo, đếm số cá thể, riêng mổ sinh họcnếu trên tàu câu thì tiến hành mổ hết và trên tàu rê thì tiến hành mổ 25 cá thể/ loài.Đơn vị cân khối lượng được tính tới gram, và đơn vị đo chiều dài được tính tới mm.Đối với nghề lưới Rê chúng tôi không phân biệt các loại mắt lưới khác nhau, màtính sản lượng loài theo từng mẻ, đơn vị năng suất trung bình (CPUE) là kg/km lưới,

và đơn vị năng suất trung bình nghề Câu vàng là kg/100 lưỡi câu

Phân bố chiều dài được thống kê theo phương pháp thông thường

Độ no dạ dày được xác định bằng mắt thường theo thang 5 bậc của Nikolskii

(1963); cá có độ no dạ dày từ giai đoạn 3 trở lên được coi là no, từ giai đoạn 3 trở

xuống được coi là đói

· Độ chín muồi tuyến sinh dục

Độ chín muồi sinh dục của cá được xác định theo Nikolskii (1963), cá có độ chín

muồi sinh dục từ giai đoạn IV trở lên được coi là thành thục; từ giai đoạn IV trở xuống

Trang 5

được coi là chưa thành thục Đường cong độ chín muồi sinh dục được tính toán theocông thức:

)]) (

exp[

1 (

1

Lm L r

(Trong đó: r là độ dốc của đường cong; Lm là chiều dài 50 % cá thể tham gia vào

sinh sản; P là tỉ lệ chín sinh dục của cá; L là chiều dài cá bắt được)

· Sinh trưởng

Sự phân bố của tần suất chiều dài thành các thế hệ cá, được phân tách theo

phương pháp Bhattacharya, 1967 (Per Sparre, 1992)

Phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy cho cá Ngừ vây vàng và Ngừ mắt to

có dạng:

L t = L (1  exp[K(tt0 )]))

(Trong đó, L t : chiều dài cá ở thời gian t; L : chiều dài lý thuyết tối đa cá có thể đạt được; K : hằng số sinh trưởng; t 0 : tuổi lý thuyết, khi cá có chiều dài bằng 0)

Các tham số sinh trưởng L được xác định theo phương pháp Powell Wetherall

(Per Sparre, 1992), K và t0 được ước tính từ kết quả phân tách theo phương pháp

Bhattacharya.

· Hệ số chết

Các thông số của hệ số chết được tính trên phần mềm FiSAT, hệ số chết chung

(Z) được tính theo công thức của Beverton và Holt, và hệ số chết tự nhiên (M) được tính theo công thức của Pauly.

Các số liệu trên được xử lý trên phần mềm Excel, FiSAT, Statictica

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Cá Ngừ mắt to - Thunnus obesus (Lowe, 1839)

Hệ thống phân loại:

Trang 6

Lớp: Actinopterygii

Tên Việt Nam: Cá Ngừ mắt to

Tên Tiếng Anh: Big-eye tuna

Đặc điểm hình thái:

D XIV - XV, A 13 - 15 với 8 vây phụ nhỏ rời nhau, P 32 - 35, lược mang 23

- 24 Chiều dài thân gấp 3,3 - 3,7 chiều cao thân Thân dài, hai vây lưng gần nhau Sauvây lưng thứ hai có 8 - 10 vây phụ Vây ngực khá dài, đặc biệt là ở cá thể còn nhỏ.Thân phủ lớp vẩy rất nhỏ, cuống đuôi mảnh, mắt to Lưng có màu xanh sẫm ánh kimloại, sườn và bụng màu trắng nhạt Vây lưng thứ nhất màu vàng sẫm, đỉnh vây lưngthứ hai và vây hậu môn có màu vàng nhạt, vây phụ có màu vàng tươi và viền đen(Hình 1a)

Phân bố ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam chỉ phân bố ở vùngbiển miền Trung và Đông Nam Bộ [ 4, 12]

Theo FishBase 2000, thành phần hoá học của thịt cá Ngừ mắt to như sau: Nước73,3 - 74,6%; Protid 21,4 - 22,4%; Lipid 1,0 - 1,2%; Tro 1,3%

Hình 1a Ngừ mắt to (Thunnus obesus)

Cá Ngừ vây vàng - Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788)

Hệ thống phân loại:

Trang 7

Lớp: Actinopterygii

Tên Việt Nam: Cá Ngừ vây vàng

Tên Tiếng Anh: Yellow tuna

Đặc điểm hình thái: D1 XIII, D2 XII có 9 vây nhỏ rời, A 12 có 8 vây nhỏ rời, lượcmang 23 - 24 Chiều dài thân dài gấp 3,6 - 4,1 chiều cao thân Thân hình thoi dài, hơidẹt bên Hai vây lưng sát gần nhau, vây lưng thứ hai và vây hậu môn kéo dài chiếmkhoảng 20% chiều dài thân Vây ngực dài đến phía trước của vây lưng thứ hai Toànthân phủ vảy nhỏ, đường bên hơi lượn sóng ở vùng giữa thân Cuống đuôi thon, mỗibên có một gờ cứng Lưng màu xanh sẫm ánh kim loại, lườn bên màu vàng tươi ánhbạc, bụng màu bạc Đầu vây lưng và vây hậu môn có màu vàng tươi, vây phụ có viềnđen hẹp (Hình 1b)

Phân bố ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam cá chỉ phân bố ởvùng biển miền Trung và ngoài khơi Đông Nam Bộ [ 4, 12]

Theo FishBase 2000 thành phần hoá học của thịt cá là: Nước 74,4%; Protid23,7%; Lipid 1,4%; Tro 2,3%

H.1b Ngừ vây vàng (Thunnus albacares)

Nhưng khi còn nhỏ, hai loài cá Ngừ mắt to và cá Ngừ vây vàng rất khó phânbiệt về mặt hình thái Do vậy để phân loại được hai loài này một cách chính xác, chúng

Trang 8

ta phải mổ và phân biệt bằng thuỳ gan của chúng Gan của cá Ngừ mắt to có nhữngđường rạch trên bề mặt, còn cá Ngừ vây vàng thì không có; thuỳ gan bên phải hoặcbên trái của cá Ngừ mắt to không kéo dài như ở cá Ngừ vây vàng Đây là đặc điểm cơbản để phân biệt cá Ngừ mắt to và cá Ngừ vây vàng.

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Phân bố năng suất

Theo số liệu từ năm 1999 - 2002, nhìn chung năng suất bình quân (CPUE) của

cá Ngừ vây vàng và cá Ngừ mắt to ở cả hai nghề Rê và Câu vàng là khá cao (với lưới

rê chỉ đứng sau CPUE của cá Ngừ vằn - Katsuwonus pelamis) (Hình 2).

Hình 2 Phân bố năng suất - CPUE

Theo báo cáo chuyến tháng 9-2001, đối với lưới Rê, sản lượng khai thác của cáNgừ mắt to chiếm 1,64% tổng sản lượng (TSL) (190,88kg), cá Ngừ vây vàng chiếm4,67% TSL (544,74kg) Với nghề câu vàng sản lượng khai thác của cá Ngừ mắt tochiếm 3,21% TSL (47,10kg), cá Ngừ vây vàng chiếm 32,37% TSL (474,40kg)

So sánh CPUE của cá Ngừ mắt to và Ngừ vây vàng trong chương trình điều travới chương trình giám sát hoạt động khai thác ta thấy: đối với cả nghề lưới rê và câuvàng, CPUE của các chuyến giám sát luôn cao hơn các chuyến điều tra, điều đó đượcthể hiện ở hình 3 Nguyên nhân có thể là các chuyến điều tra đánh theo các trạm vị đãđịnh sẵn, theo nguyên tắc nhất định (thời gian ngâm lâu hơn, ngư cụ có nhiều loại mắtlưới khác nhau ), còn các chuyến giám sát thì ngư dân đánh theo các ngư trườngtrọng điểm, và đã có sự chọn lọc ngư cụ

Thunnus obesus Thunnus albacares

Gi¸m­s¸t §IÒu­tra

Trang 9

Hình 3 CPUE chung của cá Ngừ mắt to và Ngừ vây vàng theo các chương trình

Qua phân bố năng suất, nhận thấy ngư trường đánh bắt của cá Ngừ mắt to vàNgừ vây vàng tập trung từ vĩ tuyến 15000 trở xuống Ngư trường lớn nhất là vùngbiển phía Nam quần đảo Trường Sa

Vào vụ Bắc đối với nghề lưới rê, cá Ngừ vây vàng đánh bắt tập trung chủ yếu ởvùng biển ngoài khơi Đông Nam bộ (Hình 1, phụ lục), cá Ngừ mắt to đánh bắt tậptrung ở vùng biển thuộc tỉnh Bình Định, Phú Yên và phía Nam quần đảo Trường Sa(Hình 2, phụ lục) Đối với nghề câu vàng, cá Ngừ vây vàng đánh bắt tập trung chủ yếu

ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Định, Phú Yên và phía Nam quần đảo Trường Sa(Hình 3, phụ lục)

Vào vụ Nam nghề lưới rê, ngư trường đánh bắt cá Ngừ vây vàng và Ngừ mắt tophân bố rất rộng, ở ngoài khơi vùng biển Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, phía Namquần đảo Trường Sa và phía Nam vùng biển tỉnh Cà Mau (Hình 4- 5, phụ lục) Đối vớinghề Câu vàng, ngư trường đánh bắt cá Ngừ mắt to và Ngừ vây vàng chủ yếu tập trung

ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Khánh Hoà và vùng biển phía Nam quần đẩo Trường Sa(Hình 6 - 7, phụ lục)

3.2 Phân bố chiều dài

Cá Ngừ mắt to

Nghề lưới rê:

Số cá thể phân tích sinh học trong vụ Bắc là 282 con, trong vụ Nam là 173 con(Hình 4)

Trang 10

Hình 4 Phân bố chiều dài của cá Ngừ mắt to

Chiều dài đến chẽ vây đuôi (LF) của cá Ngừ mắt to trong vụ Bắc phân bố từ20cm (0,27kg) đến130cm (43,60kg), tập trung từ 30cm đến 55cm; vụ Nam phân bố từ15cm (0,09kg) đến 115cm (33,00kg), tập trung từ 40cm đến 55cm; chiều dài trungbình vụ Bắc đạt 49,50cm, vụ Nam đạt 55,62cm Nhìn vào khoảng số liệu trên hình 4 tathấy, chiều dài LF của cá Ngừ mắt to trong vụ Bắc phân bố rộng hơn vụ Nam, nhưng

cụ thể thì trong vụ Bắc chiều dài LF chỉ phân bố từ 20cm đến 75cm, (vì chỉ bắt được 1con có LF đạt 130cm) Cá bắt được trong vụ Nam lớn hơn vụ Bắc

Hình 5 Phân bố chiều dài của cá Ngừ mắt to

15 25 35 45 55 65 75 85 95 105 115 125 L F ­(cm) TÇn­su¸t­(%)

C©u­vµng­-­Thunnus­obesus

0 5 10 15 20 25

45 55 65 75 85 95 105 115 125 135 145 L F (cm) TÇn­su¸t­(%)

Trang 11

Phân bố chiều dài LF của cá Ngừ mắt to trong vụ Bắc từ 60cm (4,40kg) đến105cm (20,67kg), trung bình đạt 85,71cm; vụ Nam từ 45cm (1,90kg) đến 145cm(48,00kg), xuất hiện 2 nhóm tập trung từ 70cm đến 80cm và từ 110cm đến 140cm,trung bình đạt 97,37cm

Qua hình 5 ta thấy, chiều dài LF của cá Ngừ mắt to trong vụ Nam phân bố rộnghơn và cá có kích thước lớn hơn vụ Bắc Cá thể có LF lớn nhất đạt 145cm

Phân bố chiều dài qua các năm

Cá Ngừ mắt to đánh bắt được bằng nghề lưới rê với các loại mắt lưới khácnhau, đạt kích thước nhỏ và có xu hướng giảm theo các năm Năm 2000 chiều dài cáphân bố từ 20cm đến 55cm, năm 2001 phân bố từ 15cm đến 80cm và năm 2002 chiềudài cá phân bố từ 15cm đến 130cm, chủ yếu tập trung từ 15cm đến 55cm (Hình 6)

Trang 12

Hình 6 Phân bố chiều dài của cá Ngừ mắt to đánh bắt được bằng

nghề lưới rê qua các năm

Hình 7 Phân bố chiều dài của cá Ngừ mắt to đánh bắt được bằng

nghề câu vàng qua các năm

Với nguồn số liệu chưa nhiều về chiều dài của cá Ngừ mắt to đánh bắt đượcbằng nghề câu vàng (năm 2000 được 33 con, năm 2001 được 32 con, năm 2002 được3con), nhìn chung không có sự biến động lớn Chiều dài LF cá năm 2000 phân bố từ45cm đến 145cm (tập trung ở nhóm chiều dài 95cm đến 145cm); năm 2001 phân bố từ60cm đến 140cm (tập trung chủ yếu ở nhóm chiều dài 100cm đến 140cm) (Hình 7)

Qua số liệu của 521 cá thể, phương trình tương quan giữa chiều dài toàn thân(LT) và chiều dài đến chẽ vây đuôi (LF) của cá Ngừ mắt to là: (Hình 8, phụ lục)

Trang 13

20cm (0,24kg) đến 150cm (56,00kg), tập trung từ 30cm đến 50cm, trung bình đạt78,25cm (Hình 8).

Hình 8 Phân bố chiều dài của cá Ngừ vây vàng đánh bắt được bằng lưới rê

Nghề câu vàng:

Chiều dài LF của cá Ngừ vây vàng trong vụ Bắc từ 45cm (1,78kg) đến 145cm(51,76kg), tập trung từ 55cm đến 130cm, trung bình đạt 92,65cm; vụ Nam từ 55cm(3,54kg) đến 165cm (69,50kg), tập trung từ 80cm đến 155cm, trung bình đạt112,27cm Chiều dài LF của cá Ngừ vây vàng trong vụ Nam dao động rộng hơn và cáthể có kích thước lớn hơn vụ Bắc, cá thể lớn nhất đạt được 165cm (Hình 9)

Hình 9 Phân bố chiều dài của cá Ngừ vây vàng đánh được bằng nghề câu vàng

Phân bố chiều dài qua các năm

Nhìn vào hình 10 ta thấy: Cá Ngừ vây vàng đánh bắt bằng nghề lưới rê có kíchthước ngày một nhỏ đi Chiều dài cá đánh bắt được chủ yếu trong năm 1999 từ 45cm

L­ íi­rª­-­Thunnus­albacares

0 10 20 30 40 50

20 30 40 50 60 70 80 90 100 110 120 130 140 150 L

F (cm) TÇn­suÊt­(%)

C©u­vµng­-­Thunnus­albacares

0 3 6 9 12 15

45 55 65 75 85 95 105 115 125 135 145 155 165 L F (cm) TÇn­suÊt­(%)

Trang 14

đến 55cm; năm 2000 từ 25cm đến 60cm; năm 2001 từ 20cm đến 55cm; năm 2002 từ25cm đến 40cm Theo số liệu của dự án JICA trên tàu lưới rê năm 1996 - 1997, chiềudài của cá Ngừ vây vàng dao động từ 22,5cm đến 142,5cm [2]

Trang 15

Hình 10 Phân bố chiều dài cá Ngừ vây vàng đánh bắt được bằng nghề lưới rê

Trang 16

Với r2 = 0,99 chứng tỏ mối tương quan giữa LT và LF là rất chặt (Hình 9, phụlục).

3.3 Tương quan chiều dài - khối lượng (L F - W)

Qua phân tích sinh học của 510 cá Ngừ mắt to và 1476 cá Ngừ vây vàng,phương trình tương quan chiều dài (LF) - khối lượng (W) của cá Ngừ mắt to là: (Hình

B ng 2 Thông s v các th h phân tách c a cá Ng vây v ng ảng 2 Thông số về các thế hệ phân tách của cá Ngừ vây vàng ố về các thế hệ phân tách của cá Ngừ vây vàng ề các thế hệ phân tách của cá Ngừ vây vàng ế hệ phân tách của cá Ngừ vây vàng ệ phân tách của cá Ngừ vây vàng ủa cá Ngừ vây vàng ừ vây vàng àng

Chiều dài

TB (cm)

Độ lệch chuẩn (STD)

Hệ số tương quan (r 2 )

Chỉ số phân tách (SI)

Ngày đăng: 21/08/2020, 12:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Thụng số về cỏc thế hệ phõn tỏch của cỏ Ngừ võy vàng - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM
Bảng 2. Thụng số về cỏc thế hệ phõn tỏch của cỏ Ngừ võy vàng (Trang 16)
Từ bảng 3 ta thấy, cá đánh bắt đợc bằng nghề lới rê có 5 thế hệ đợc xác định, bằng nghề câu vàng có 5 thế hệ đợc xác định, bằng cả hai nghề có 6 thế hệ đợc xác định (tơng ứng với 3 năm tuổi). - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM
b ảng 3 ta thấy, cá đánh bắt đợc bằng nghề lới rê có 5 thế hệ đợc xác định, bằng nghề câu vàng có 5 thế hệ đợc xác định, bằng cả hai nghề có 6 thế hệ đợc xác định (tơng ứng với 3 năm tuổi) (Trang 18)
Bảng 4. Các thông số về hệ số chết - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM
Bảng 4. Các thông số về hệ số chết (Trang 19)
3.5. Hệ số chết - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM
3.5. Hệ số chết (Trang 19)
Bảng 6. %theo vụ về độ no dạ dày của cỏ Ngừ mắt to và cỏ Ngừ võy vàng - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM
Bảng 6. %theo vụ về độ no dạ dày của cỏ Ngừ mắt to và cỏ Ngừ võy vàng (Trang 21)
3.7. Độ no dạ dày - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM
3.7. Độ no dạ dày (Trang 21)
Bảng 7. Độ no dạ dày của cỏ Ngừ võy vàng và cỏ Ngừ mắt to ở cỏc giai đoạn chớn muồi sinh dục - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NGỪ VÂY VÀNG Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) và CÁ NGỪ MẮT TO - Thunnus obesus (Lowe, 1839)Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM
Bảng 7. Độ no dạ dày của cỏ Ngừ võy vàng và cỏ Ngừ mắt to ở cỏc giai đoạn chớn muồi sinh dục (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w