Trong trường hợp này, ngoài việc để cho người cao tuổi tự kiểm soát sự lão hoá và cuộc sống của mình, những tác động từ xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và cộng đồng là rất qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Hoàng Mộc Lan
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 4Lời cảm ơn
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Hoàng Mộc Lan – người đã tận tâm dìu dắt chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Đồng thời tôi cũng xin gửi cảm ơn tới PGS TS Lê Thị Bích Ngọc, người tuy không trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi nhưng đã khuyến khích tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành đề tài này sớm hơn so với dự kiến của tôi
Từ đáy lòng mình tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình thân yêu của tôi, những người đã tạo điều kiện, thời gian cho tôi có thể hoàn thành tốt luận văn Tôi cũng xin cảm ơn cả những người bạn học đã giúp đỡ, chăm sóc, khích lệ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn các ông, các bà cao tuổi – những người
đã đồng ý cho tôi thực hiện phỏng vấn để hoàn thành luận văn, cảm ơn họ đã trải lòng với tôi, đã cho tôi những trải nghiệm sâu sắc và thật đặc biệt
Học viên
Nguyễn Thị Loan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu về người cao tuổi và sức khỏe tinh thần của người cao tuổi 4
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Khái niệm về người cao tuổi 13
1.2.1 người cao tuổi 13
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi 15
1.3 Biểu hiện sức khỏe tinh thần của người cao tuổi 18
Tiểu kết chương 24
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Nghiên cứu lí luận 25
2.1.1 M c đích nghiên cứu 25
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 25
2.2.1 Giới thiệu chung về thành phố Hà Nội 25
2.2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 26
2.3 Nghiên cứu thực tiễn 28
2.3.1 Phương pháp trắc nghiệm (Test) 28
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 34
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 35
2.3.4 Phương pháp chuyên gia 35
2.3.5 Phương pháp xử lý thông tin nghiên cứu bằng thống kê toán học 35
Tiểu kết chương 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TINH THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 36
3.1 Sự đau khổ tâm lý (cảm xúc tiêu cực) 36
Trang 63.1.1 Dấu hiệu lo âu 36
3.1.2 Dấu hiệu trầm cảm 39
3.1.3 Dấu hiệu mất kiểm soát hành vi/Cảm xúc 42
3.2 Hạnh phúc nói chung (cảm xúc tích cực) 45
3.2.1 Cảm xúc tích cực 45
3.2.2 Các mối liên hệ xúc cảm 48
3.2.3 Mãn nguyện với cuộc sống 50
3.3 So sánh giá trị trung bình, bàn luận 55
3.3.1 So sánh giá trị trung bình giữa các biểu hiện sức khỏe tinh thần tiêu cực với tuổi 55
3.3.2 So sánh giá trị trung bình giữa các biểu hiện sức khỏe tinh thần tiêu cực với giới tính 57
3.3.3 So sánh giá trị trung bình giữa các biểu hiện sức khỏe tinh thần tiêu cực với nghề nghiệp 58
3.3.4 So sánh giá trị trung bình giữa các chỉ số sức khỏe tinh thần với nhóm chung sống 59
Tiểu kết chương 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 71
Trang 7
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
DSM-IV Diagnostic and Statistical Manual of Mental
Disorders - IV
Bản các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần của Hội tâm thần Hoa Kỳ
ICD-10 International Statistical Classification of Diseases
and Related Health Problems - 10
Phân loại bệnh tật quốc tế và những vấn đề liên quan đến sức khỏe phiên bản thứ 10
Chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố
MDI Thang thống kê suy thoái sức khỏe tinh thần
MHI Mental Health Inventory
Thang đo sức khỏe tinh thần
MSQLI Multiple Sclerosis Quality of Life Inventory
Thang đo chất lượng cuộc sống
RAND RAND - Một tổ chức phi lợi nhuận có tr sở tại
Santa Monica, California
WHO World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Dấu hiệu lo âu ở người cao tuổi
Bảng 3.2 Dấu hiệu trầm cảm ở người cao tuổi
Bảng 3.3 Dấu hiệu mất kiểm soát hành vi/cảm xúc ở người cao tuổi
Bảng 3.4 Cảm xúc tích cực ở người cao tuổi
Bảng 3.5 Các mối liên hệ xúc cảm ở người cao tuổi
Bảng 3.6 Mãn nguyện với cuộc sống ở người cao tuổi
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Biểu đồ 3.1 Tổng quát về thang lo âu của người cao tuổi
Biểu đồ 3.2 Tổng quát về các mức độ trầm cảm ở người cao tuổi
Biểu đồ 3.3 Tổng quát về mức độ mất kiểm soát hành vi, cảm xúc, suy nghĩ của
người cao tuổi Biểu đồ 3.4 Tổng quát về các mức độ cảm xúc tích cực ở người cao tuổi
Biểu đồ 3.5 Tổng quát về thang chia các mối liên hệ xúc cảm của người cao tuổi Biều đồ 3.6 Biều đồ 3.6: Mối quan hệ giữa các biểu hiện sức khỏe tinh thần tiêu
cực với tuổi Biều đồ 3.7 Mối quan hệ giữa các biểu hiện sức khỏe tinh thần tiêu cực với giới tính Biều đồ 3.8 Mối quan hệ giữa các biểu hiện sức khỏe tinh thần tiêu cực với nghề nghiệp Biều đồ 3.9 Mối quan hệ giữa các biểu hiện sức khỏe tinh thần tiêu cực với
nhóm chung sống
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Liên hiệp quốc thì năm 2000 cả thế giới có 600 triệu người cao tuổi (NCT) Ở các nước phát triển, cứ 6 người dân thì có 1 người trên 65 tuổi Tính toán thống kê cho thấy số ng NCT ở các nước đang phát triển sẽ tăng gấp đôi trong vòng 25 năm tới, đạt 850 triệu người vào năm 2025, chiếm 12% tổng dân
số các nước và đến năm 2050 NCT sẽ tăng lên 2 tỷ người
Trong mối quan hệ giữa dân số và con người thì vấn đề già hóa dân số là một vấn đề đáng kể của một đất nước Tuổi thọ của con người ngày càng cao chứng
tỏ điều kiện sống của họ an toàn hơn, thu nhập khá hơn, dinh dưỡng đầy đủ hơn và
hệ thống y tế chăm sóc con người được cải thiện hơn, tỷ suất sinh và tử đều giảm Tuy nhiên, vấn đề già hóa dân số nhanh lại tác động đến nhiều khía cạnh của đời sống, sinh hoạt con người, ảnh hưởng đến vấn đề an sinh xã hội, trong đó quan trọng nhất là việc chăm sóc sức khỏe cho NCT; ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư của đất nước
NCT là một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm sống NCT Việt Nam góp phần quan trọng trong việc khuyên dạy con cháu, dòng họ, giúp nhiều người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống, đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, phát triển các hình thức hoạt động giáo dục, y tế cho đất nước
Bên cạnh ưu điểm này, NCT bị suy yếu các chức năng cơ thể Khả năng nghe nhìn kém, gân cốt suy nhược khiến việc ngồi, đi đứng khó khăn; phản ứng chậm làm cho thân thể mất thăng bằng, dễ bị té ngã; mất trí nhớ tạm thời trong ngắn hạn, giảm tốc độ trong học tập và thường mắc một số bệnh về hô hấp, tim mạch, tiểu đường, tai biến mạch máu não, Parkinson, phong thấp, cao huyết áp (trung bình
có từ 3-4 bệnh) NCT có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và giữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tục phát huy vai trò của NCT là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội, là thể hiện bản chất tốt đẹp, đạo lý, truyền thống của dân tộc ta Chăm sóc sức khoẻ cho NCT là một việc làm cần thiết và thường xuyên
Trang 10Rất nhiều nước trên thế giới đưa NCT trở thành đối tượng quan tâm đặc biệt
và NCT được chăm sóc chu đáo và được hưởng nhiều phúc lợi xã hội Đặc biệt có rất nhiều nghiên cứu về những vấn đề của NCT, trong đó có những nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của NCT Từ đó có những đề xuất làm cải thiện sức khỏe tinh thần cho người NCT, để họ có cuộc sống tốt đẹp nhất
Ở Việt Nam những nghiên cứu về vấn đề tâm lý của NCT, đặc biệt là vấn đề sức khỏe tinh thần của NCT còn rất ít và thiếu hệ thống Xuất phát từ lý do trên
chúng tôi lựa chọn vấn đề: “ Sức khỏe tinh thần của NCT tại một số quận, huyện
thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng sức khỏe tinh thần của NCT nhằm chỉ ra đặc trưng sức khỏe tinh thần của NCT Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần vào việc chăm sóc nâng cao sức khỏe tinh thần cho NCT, giúp NCT có một cuộc sống tốt đẹp hơn
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: sức khỏe tinh thần của NCT
- Khách thể nghiên cứu: 173 Người cao tuổi từ từ 60 - 80 tuổi, bao gồm: 91
nữ, 82 nam, từ 60- 65 tuổi là 73 người , từ 66- 74 tuổi là 55 người, trên 75 tuổi là 49 người
4 Giả thuyết khoa học
Tình trạng sức khỏe tinh thần chung của người cao tuổi tại một số quận huyện thành phố Hà Nội ở mức độ khá tốt, tinh thần tích cực nhiều hơn tinh thần tiêu cực.Một số yếu tố như điều kiện kinh tế, quan hệ xã hội, sức khỏe thể chất có tác động đáng kể đến sức khỏe tinh thần của NCT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về sức khỏe tinh thần của người cao tuổi
- Khảo sát thực trạng sức khỏe tinh thần của người cao tuổi
- Dựa trên kết quả khảo sát, đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần vào việc chăm sóc nâng cao sức khỏe tinh thần cho NCT
Trang 116 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về khách thể: Đề tài nghiên cứu 173 NCT từ 60 – trên 75 tuổi có trí nhớ và khả năng giao tiếp bình thường
- Giới hạn về địa bàn: Một số quận, huyện trực thuộc thành phố Hà Nội (Huyện Đan Phượng, Huyện Hoài Đức, quận Hai Bà Trưng, quận Từ Liêm)
- Giới hạn về thời gian: từ tháng 6/2012 đến tháng 06/2014
- Giới hạn về nội dung: sử dụng trắc nghiệm sức khỏe tinh thần MHI-38
nghiên cứu đặc trưng sức khỏe tinh thần của người cao tuổi
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp trắc nghiệm sức khỏe tinh thần MHI-38
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp xử lý thông tin bằng thống kê toán học
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu về người cao tuổi và sức khỏe tinh thần của người cao tuổi
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1999 được Liên hiệp quốc chọn là năm quốc tế NCT Trước đó đã có một số nghiên cứu về người cao tuổi của các nhà xã hội học tại các nước phát triển như: Mỹ, Thụy Điển Đây là những nước có tuổi thọ trung bình tăng cao và bản thân người cao tuổi đã xuất hiện những vấn đề đang được xã hội quan tâm
Những kiến thức khoa học về tâm lý NCT bắt nguồn từ thời Hy lạp cổ đại giới thiệu với người cao tuổi lối sống, chế độ ăn uống, ngủ, nghỉ hợp lý như là những biện pháp phòng ngừa chống lại sự lão hoá sớm.Trong thời kỳ phát triển của tâm lý học (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX) sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
tự nhiên tạo điều kiện cho các thực nghiệm khoa học và một số lý luận về tâm lý NCT được xây dựng Các nghiên cứu của các nhà khoa học nhằm xác định nguyên nhân ban đầu của sự lão hoá nhằm tìm kiếm cách thức chủ yếu nhất để khắc phục
sự lão hoá, xây dựng các lý luận mới về sự lão hoá và cùng với đó là nghiên cứu các khía cạnh tâm lý, xã hội và các chức năng của cơ thể đang lão hoá Cùng với những biến đổi nhân khẩu và xã hội cơ bản trong xã hội hiện đại sau chiến tranh thế giới thứ hai đã xuất hiện lĩnh vực nghiên cứu mới được gọi là lão khoa xã hội và ra đời bộ môn tâm lý học NCT ở một loạt các nước Tây Âu và Mỹ Lĩnh vực này không chỉ chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các ngành khoa học xã hội, mà còn gắn liền với khía cạnh y- sinh học của sự lão hoá Các công trình nghiên cứu hiện đại về tâm lý NCT có thể liệt kê sau đây:
- Thuyết nghiên cứu sự thay đổi tâm lý khi nghỉ hưu
Nhà tâm lý học người Mỹ Ann Bowling (1998) đã thống kê ba thuyết chính
về sự lão hóa và nghiên cứu tâm lý của người về hưu Đó là:
+ Thuyết khủng hoảng, đứt đoạn cho rằng lao động là điều kiện cơ bản của
sự hoà nhập xã hội và nghỉ hưu là mất sự hoà nhập đó Đối với nhiều người, lao động không những là nguồn sinh sống mà còn là một yếu tố mà dựa trên đó họ xây
Trang 13dựng tình cảm về các giá trị tinh thần, về các giá trị tự khẳng định chính bản thân mình.Đối với mỗi người, vai trò làm người lao động là cơ bản nhất sau đó mới đến các vai trò xã hội khác như cha mẹ, hàng xóm, thành viên giải trí.Việc về hưu dẫn đến tâm trạng dễ biến thành khủng hoảng với những biểu hiện như chán chường, lo
âu, bi quan, trầm cảm…tạo điều kiện cho một số rối loạn bệnh lý Tỷ lệ tử vong tăng rõ rệt vào lứa tuổi 65 lại càng làm cho nhiều người cho thuyết này là đúng
+ Thuyết liên tục: cho rằng việc ngừng làm việc không nhất thiết dẫn đến sự khủng hoảng tâm lý Lao động không phải luôn dễ chịu và có tác dụng tốt với sức khoẻ và trạng thái hài lòng với cuộc sống.Các tác giả của thuyết này đã chứng minh
là hoạt động giải trí cũng có thể đem lại cảm giác dễ chịu như mô tả đối với lao động, nhất là khi hoạt động giải trí đó được tạo nên nhờ công của lao động chính đáng mang lại Hoạt động giải trí có đủ giá trị tinh thần để làm cầu nối giữa hoạt động và đời sống lúc nghỉ hưu làm nâng cao chất lượng cuộc sống Việc nghỉ hưu
áp dụng cho toàn xã hội nên mỗi người đều có dịp làm quen với việc về hưu.Tình trạng làm mất đi nhiều biểu hiện có tính đột ngột kể cả về tâm lý lẫn thời gian thực hiện Nghỉ hưu không nhất thiết dẫn đến sự khủng hoảng tâm lý và có ảnh hưởng xấu đáng kể so với lúc đi làm
+ Thuyết kiểm soát và thích nghi tiếp cận tâm lý - xã hội về tuổi già cho rằng đối với NCT, việc kiểm soát sự lão hoá được coi là một trong những yếu tố thích nghi quan trọng Người cao tuổi thường bị tác động bởi việc mất đi khả năng kiểm soát, có thể đi kèm với những mất mát thực tế liên quan đến đời sống tinh thần và thể chất Việc kiểm soát môi trường sống của mình thay đổi tuỳ theo đặc điểm, tuổi tác của từng người và môi trường riêng của người đó Một NCT biết kiểm soát sẽ hiểu được rằng, hiển nhiên ở tuổi già, việc các cơ quan dần bị lão hoá là không thể tránh được Những chức năng tâm vận động sẽ vì thế mà suy giảm đi Song cùng với tuổi tác, những người thông thường sẽ ý thức được sự già đi này Đồng thời, về khía cạnh xã hội, việc người cao tuổi phải đối diện với sự nghỉ hưu cũng có một tác động mạnh; trong gia đình thì con cái dần tách ra sống riêng, khiến cho họ thấy cô đơn và vô dụng hơn bao giờ hết Đó là khi mà biểu tượng của người cao tuổi về bản
Trang 14thân trở nên rất tiêu cực Trong trường hợp này, ngoài việc để cho người cao tuổi tự kiểm soát sự lão hoá và cuộc sống của mình, những tác động từ xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và cộng đồng là rất quan trọng trong việc mang đến cho người cao tuổi cái nhìn tích cực về bản thân.Tuy nhiên, sự mất kiểm soát cũng có thể xảy ra theo hướng đánh giá quá cao khả năng tự chủ của mình và tỏ ra muốn điều khiển môi trường xung quanh, cả về mặt xã hội lẫn vật chất; theo cách này thì những hậu quả đáng tiếc vẫn có thể xảy ra với người cao tuổi Có thể nói rằng, mặt trái của việc thích nghi thái quá, đó là khi NCT có ảo tưởng về những khả năng quá mức của mình trong khi trên thực tế, ở lĩnh vực đó, họ chỉ còn là một cựu chuyên gia Việc “thành công” trải qua tuổi già, theo nghĩa đảm bảo rằng mình sống tốt và
có ích, dựa phần lớn vào khả năng mà kiểm soát được xã hội quanh mình và ý thức mà
họ có về xã hội đó
- Nghiên cứu về đời sống tình cảm của NCT
Trong cuốn sách “Tâm lý học NCT”, nhà tâm lý học người Nga D.IA.Raigorodski ( 2004) đã cho rằng tình bạn ở tuổi già được gia tăng Cảm giác
bị bỏ rơi có thể được bù trừ, bổ khuyết bằng sự tham gia quan hệ với bạn bè Như vậy, tình bạn ở tuổi già trở thành quan hệ tình cảm có ý nghĩa lớn đối với họ
Năm 2000, nhà tâm lý học người Đức Martin Pinquart trong tạp chí “Tâm lý
và tuổi già”, đã làm thực nghiệm nghiên cứu “Tác động của trạng thái, mạng lưới
và năng lực kinh tế - xã hội đối với sự phồn thịnh khách quan trong cuộc sống của người cao tuổi” Một phân tích giả định và đưa ra kết luận như sau: NCT cảm thấy được thỏa mãn và hạnh phúc hơn khi sống trong mối quan hệ bạn bè vì họ có cùng nhóm tuổi và thường chia sẻ những đặc điểm , các kinh nghiệm và phong cách sống Hơn nữa, họ luôn là nguồn vui của nhau, thường xuyên giao lưu và cùng nhau nghĩ về quá khứ tốt đẹp
- Hôn nhân và vai trò của NCT trong gia đình
Công trình nghiên cứu của Martin Pinquart cho thấy NCT không thích sống chung với con cái khi con cái đã trưởng thành Họ xác định sống trong những hộ gia đình tách biệt là một cách để duy trì sự độc lập, ủng hộ những tương tác tự
Trang 15nguyện và tránh xung đột giữa các thế hệ trong gia đình Trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học Mỹ có đề cập đến vấn đề ở tuổi già, phần lớn hôn nhân có nguồn gốc là sự luyến tiếc, sự duy trì và sự gần gũi về tinh thần Các cặp vợ chồng già thường giúp đỡ lẫn nhau và họ hiểu rằng họ rất cần nhau Chính vì vậy, ở tuổi này, người cao tuổi ít ly hôn
Năm 1998, trong tạp chí “Tâm lý và tuổi già”, ba tác giả Neal Krause, Kersey Liang, Shengzu Gu đã nghiên cứu vấn đề “Sự căng thẳng tài chính, sự hỗ trợ nhận được và các triệu chứng trầm cảm ở Trung Quốc” Họ nhấn mạnh vai trò quan trọng của NCT trong đời sống ở Trung Quốc đã có từ hàng nghìn năm nay NCT hầu như quyết định tất cả các vấn đề trong cuộc sống gia đình, họ được tôn kính bởi những thành viên ít tuổi hơn trong gia đình, bởi vì gia đình được hình thành theo con đường độc quyền, gia trưởng và người cao tuổi được coi là “trụ cột” của gia đình
Năm 1984, hai nhà tâm lý học người Nga M.IA.Xônhin và A.A Dưxkin trong tác phẩm “Người cao tuổi trong gia đình và xã hội” đã đề cao vai trò của NCT trong gia đình trong việc chăm sóc và giúp đỡ con cháu và những hoạt động xã hội của họ Đó là những hình ảnh của những người về hưu hàng ngày làm mọi công việc nội trợ trong nhà, chăm sóc cháu để giúp đỡ con cái, sử dụng thời gian rảnh rỗi
để đi dạo, xem ti vi, tham gia các hoạt động xã hội
Nghiên cứu của hai nhà tâm lý học người Mỹ Stephen Worehel và Wayne Shebilsue cho thấy niềm hạnh phúc lứa đôi là điều rất quan trọng đối với các cặp vợ chồng già Những cặp vợ chồng già tìm thấy niềm hạnh phúc trong tình bạn gắn bó giữa hai người, sự thể hiện cảm xúc thật đối với nhau và sự đảm bảo về kinh tế cùng với những vấn đề khác Trừ khi có các vấn đề về sức khỏe, còn bình thường thì các cặp vợ chồng già vẫn có thể có quan hệ tình dục tới tuổi 80 hoặc hơn
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Ở các nước Phương Đông như Việt Nam, truyền thống ”kính lão đắc thọ”,
”Uống nước nhớ nguồn” thì người cao tuổi là vấn đề khá nhạy cảm Vì vậy, ngay trong tháng 1/1999 – tháng mở đầu của năm quốc tế NCT, đã có một hội thảo quốc
Trang 16gia về NCT Hội thảo này đã gây sự chú ý của chính phủ và đông đảo các nhà khoa học Trong những năm vừa qua, người cao tuổi đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu ở những khía cạnh khác nhau của đời sống tinh thần và vật chất của người cao tuổi
Vào năm 1977, chương trình nghiên cứu Y học tuổi già đã thực hiện một cuộc khảo sát lớn đầu tiên về sức khỏe của NCT (trên mẫu gồm 13.399 người từ 60 tuổi trở lên) ở các tỉnh phía Bắc Cuộc khảo sát cung cấp một bức tranh về sức khỏe
và bệnh tật của người cao tuổi ở miền Bắc Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn trợ cấp hưu không đủ chi dùng, rất nhiều người nghỉ hưu mang tâm trạng bị bỏ rơi, không được Nhà nước quan tâm đúng mức
Năm 1993 các nhà y khoa và xã hội học đã tiến hành nghiên cứu định lượng trên 196 khách thể là người nghỉ hưu tại Hà Nội Theo kết quả nghiên cứu, người cao tuổi ở Hà Nội có liên hệ khá thân thiết với những người thân, do đó họ nhận được sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần đáng kể Nghiên cứu cũng cho thấy, người nghỉ hưu có nhu cầu được người thân chăm sóc khi ốm đau là rất cao Điều này cho thấy vai trò quan trọng của gia đình trong cuộc sống của người nghỉ hưu
Trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu cấp quốc gia về nhà ở, vào năm
1983, một nhóm nhà xã hội học đã tiến hành một khảo sát thực nghiệm về đời sống người nghỉ hưu ở nội thành Hà Nội Mẫu nghiên cứu là 500 người nghỉ hưu ở bốn phường nội thành Hà Nội (Kim Liên, Bùi Thị Xuân, Thượng Đình và Hàng Bạc) Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu việc tổ chức cuộc sống gia đình của người nghỉ hưu vào các hoạt động của gia đình và xã hội tại nơi ở; sự biến đổi về địa vị và vai trò của người nghỉ hưu trong gia đình và trong xã hội và những chính sách cần thiết
để vừa phát huy vốn kinh nghiệm và những năng lực phong phú của những người nghỉ hưu tiếp tục phục vụ xã hội, vừa đảm bảo cho họ một cuộc sống đầy đủ ý nghĩa lúc tuổi già Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số người nghỉ hưu không thấy có
sự suy giảm uy tín đáng kể trong gia đình sau khi họ về hưu Người nghỉ hưu vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội Nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt xã hội đáng kể giữa những người nghỉ hưu là công nhân, viên chức hay trí thức Người
Trang 17công nhân nghỉ hưu ít tập thể dục, thể thao, ít đọc sách báo, nghe đài, xem tivi hơn
so với viên chức, trí thức nghỉ hưu.Về mối quan hệ trong gia đình, một bộ phận lớn người nghỉ hưu có tâm trạng không hài lòng với con cái sống chung trong gia đình,
lý do chủ yếu là do con cái ít quan tâm chăm sóc cha mẹ, thiếu tâm tình cởi mở với cha mẹ, con cái cư xử không đúng gây xúc phạm đến cha mẹ Đây chỉ là những lý do về mặt tâm lý tác động của những yếu tố khác còn chưa được phân tích thỏa đáng
Một khảo sát của Viện xã hội học (năm 1990) về đời sống của người nghỉ hưu ở quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) cho thấy phần lớn các cụ nghỉ hưu đều băn khoăn làm sao để dễ hòa nhập với môi trường mới, Làm gì để có thêm thu nhập Nghiên cứu cũng cho thấy, các cụ thường tìm những người có cũng sở thích, cảnh ngộ gần giống nhau để giao tiếp
Nghiên cứu của Lê Hà (1990) “Vài nét về đời sống tâm lý của người cao
tuổi” qua khảo sát đời sống của các cụ về hưu ở quận Hai Bà Trưng – Hà Nội cho
thấy khoảng 80% các cụ về hưu băn khoăn nhiều về vấn đề làm sao để dễ hòa nhập với môi trường mới? Làm gì đề có thu nhập? Nền kinh tế thị trường gây nhiều khó khăn đối với các cụ già, nhất là các cụ già cô đơn Người nghỉ hưu có nguyện vọng được làm việc, được tiếp tục cống hiến cho xã hội phù hợp với hoàn cảnh và khả năng của mình
Năm 1991, Viện Xã hội học thực hiện một nghiên cứu về người cao tuổi ở
An Điền (Hải Hưng) Mục đích của nghiên cứu quan tâm đến các đặc trưng dân số học và xã hội học của nhóm người cao tuổi (cấu trúc lớp tuổi và giới tính, trạng thái sức khỏe và bệnh tật, địa vị kinh tế và nghề nghiệp, định hướng giá trị và tâm trạng), vai trò của người cao tuổi trong gia đình, cộng đồng và xã hội, hệ thống an sinh xã hội và tác động của hệ thống đó vào hoàn cảnh sống của người cao tuổi Nghiên cứu cho thấy về tinh thần 40% các cụ cho rằng cuộc sống tinh thần sau khi nghỉ hưu kém đi Một số người nhất là những người có lương hưu cao, có chức vụ khi tại chức, cảm thấy cuộc sống hưu trí cô đơn, buồn tẻ Nghiên cứu cho thấy, vai trò và vị thế của người cao tuổi trong cộng đồng và gia đình giảm đáng kể so với trước đây
Trang 18Trong hai năm 1991 đến 1992 Viện Xã hội học đã triển khai đề tài “NCT và
an sinh xã hội” nghiên cứu khá công phu về đời sống của người cao tuổi ở nông
thôn và thành thị nước ta từ góc độ xã hội học (lao động, thu nhập, hoàn cảnh kinh
tế, tình hình nhà ở và tiện nghi, vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, việc tham gia công tác xã hội sau khi nghỉ hưu, hệ thống an sinh xã hội và tác động của hệ
thống đó vào hoàn cảnh sống của người cao tuổi ) Bài viết của Phùng Tố Hạnh
“Giao tiếp xã hội và gia đình ở NCT”được rút ra từ kết quả của đề tài trên cho thấy
giao tiếp của người nghỉ hưu chủ yếu tập trung vào các mối quan hệ gia đình và bè bạn – những nhóm phi chính thức hơn là những nhóm chính thức (các tổ chức xã hội) Việc tham gia vào các tổ chức xã hội của người gia có xu hướng giảm, các hình thức hoạt động nghèo nàn Nghiên cứu cũng cho thấy, ở nơi nào có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương thì ở đó số người cao tuổi tham gia các tổ chức xã hội
sẽ tăng
Năm 1996, các nhà xã hội học thuộc Viện Xã hội học đã tiến hành cuộc khảo
sát “NCT ở đồng bằng Sông Hồng” (trong đó có 16,63% người nghỉ hưu) Kết quả
nghiên cứu cho thấy, đời sống của người cao tuổi đã khá lên so với nửa đầu những năm 90 Tuy nhiên do mức lương hưu và trợ cấp thấp không đủ sống nên nhiều người nghỉ hưu phải đi làm thêm (55,7) Gần 1/3 số người nghỉ hưu được hỏi (28,2%) cho biết họ có tâm trạng “buồn” Nghiên cứu cũng cho thấy, đối với người nghỉ hưu nhu cầu chăm sóc sức khỏe và động viên tinh thần được đặt lên hàng đầu (80,3%) các cụ hưu trí, mất sức có nhu cầu này.Phần lớn người nghỉ hưu đều mong muốn đóng góp sức mình để giảm bớt khó khăn cho gia đình và xã hội
Nghiên cứu của Dương Chí Thiện (1999) về “Sự tham gia hoạt động xã hội
của NCT ở đồng bằng sông Hồng” rút ra từ kết quả cuộc nghiên cứu trên đã đề cập
đến sự tham gia vào các hoạt động xã hội của NCT và qua đó đánh giá những yếu
tố tác động đến sự tham gia hoạt động xã hội của NCT ở vùng đồng bằng sông Hồng Kết quả cho thấy tỷ lệ NCT tham gia vào các hoạt động xã hội ở các tổ chức phi chính thức cao hơn rất nhiều so với các tổ chức chính thức Các yếu tố như khu vực cư trú; giới tính; độ tuổi; trình độ học vấn; nghề nghiệp; hoàn cảnh và điều kiện
Trang 19sống, tình trạng sức khỏe đều có ảnh hưởng đến giao tiếp của NCT Cụ thể, NCT
ở khu vực đô thị thường có tỷ lệ tham gia các hoạt động xã hội cao hơn các cụ ở nông thôn trong hầu hết các tổ chức chính thức như Đảng, Chính quyền, Hội thọ, Hội Cựu chiến binh Ngược lại, trong những hình thức tổ chức phi chính thức như đám cưới, hỏi, đám tang, đám giỗ, lễ chùa, lễ mừng thọ và các hình thức giao tiếp các hội tại cộng đồng như thăm hỏi hàng xóm, bạn bè thì các cụ nông thôn lại có
tỷ lệ tham gia cao hơn các cụ ở đô thị Các cụ ông thường tham gia vào các hoạt động xã hội nhiều hơn các cụ bà Nghiên cứu cũng cho thấy, các cụ có đời sống và thu nhập cao thường có tỷ lệ tham gia các hoạt động xã hội cao hơn các cụ có đời sống và thu nhập thấp hơn Các cụ có trình độ học vấn cao hơn có tỷ lệ tham gia các hoạt động xã hội cao hơn các cụ có trình độ học vấn thấp, các cụ có tình trạng sức khỏe kém
Nghiên cứu của Nguyễn Hải Hữu (1999) cho thấy đa số người nghỉ hưu cảm thấy cuộc sống tinh thần thoải mái hơn khi làm việc, chỉ có 20% cảm thấy có cuộc sống nghèo nàn hơn so với trước Nghiên cứu cũng cho thấy, hoạt động xã hội của NCT hiện nay co lại trong phạm vi gia đình, thân tộc nhiều hơn Các hoạt động
xã hội rộng lớn, mang tính cộng đồng, làng, xã còn rất nghèo nàn
Nghiên cứu của Nguyễn Phương Lan (2000) về “Tiếp cận văn hóa NCT”,
trong đó có đề cập đến cuộc sống và hoạt động văn hóa tinh thần hàng ngày của người cao tuổi, trong đó có đề cập đến đời sống tâm lý, tình cảm cũng như nhu cầu của người nghỉ hưu ở đô thị hiện nay Theo tác giả, NCT ở đô thị muốn cống hiến nhiều cho xã hội và vẫn muốn khẳng định mình, song không gian đô thị mở với nhịp sống công nghiệp và các mối quan hệ đúng thực sự bất lợi cho tuổi già vốn có nhịp điệu sinh học chậm và tâm lý trọng quan hệ tình cảm Quan hệ láng giềng ở đô thị bị thiếu hụt do đó giao tiếp của NCT cũng như người nghỉ hưu bị bó hẹp trong phạm vi gia đình
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và Lê Trung Sơn (2003) về “Thực trạng NCT và các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc NCT ở Hà Tây” cho thấy NCT
ở Hà Tây thỏa mãn tinh thần chủ yếu là vui chơi cùng con cháu (81,4%) NCT ở
Trang 20nông thôn sinh hoạt cùng con cháu thường xuyên hơn NCT ở thành thị (83,5% so với 77,4%) NCT ở thành thị tiếp cận với thông tin, tham quan, du lịch, thể dục thể thao
và sinh hoạt đoàn thể một cách thường xuyên hơn nông thôn Tỷ lệ các cụ ở thành thị tham gia các hoạt động Đảng, chính quyền cao hơn ở nông thôn Các cụ ông tham gia nhiều hơn các cụ bà Đa số các cụ (80,7%) đều hài lòng với sự chăm sóc của gia đình, con cháu [26, tr 30-36]
Nghiên cứu của PGS TS Hoàng Mộc Lan (2006): “Động cơ tiếp t c hoạt
động lao động của người nghỉ hưu ở Hà Nội” được tiến hành trên 600 người về
hưu ở Hà Nội cho thấy hơn 50% người nghỉ hưu vẫn muốn tiếp tục duy trì lao động nghề nghiệp do lương hưu thấp, thói quen làm việc và mong muốn giao tiếp với mọi người trong cơ quan, cơ sở mà họ đã sống, gắn bó nhiều năm Trong đề tài nghiên cứu “Những đặc điểm tâm lý cơ bản của người về hưu ở Hà Nội” của Hoàng Mộc Lan đã đề cập đến sự thay đổi lớn của người về hưu: sức khoẻ suy giảm, quan
hệ xã hội thu hẹp, thu nhập giảm, nhờ cậy con cái, người khác chăm sóc, bạn hữu thân cận qua đời,… Trạng thái này ảnh hưởng đến tinh thần người về hưu Kết quả nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra được đặc điểm sự chuẩn bị tâm lý nghỉ hưu, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, động cơ tiếp tục lao động và tham gia vào các hoạt động, quan hệ giao tiếp trong gia đình, với bạn bè của người về hưu, đề xuất các hoạt động trợ giúp tâm lý- xã hội cho người về hưu để góp phần nâng cao chất lượng đời sống của họ
Nghiên cứu của Đặng Vũ Cảnh Linh (2009):“NCT và các mô hình chăm sóc
NCT ở Việt Nam” được tiến hành tại ba thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố
Hồ Chí Minh với mục đích tìm hiểu thực trạng và hiệu quả hoạt động của các loại hình dịch vụ chăm sóc NCT ở Việt Nam đã đề cập đến các mối quan hệ xã hội cũng như quan hệ gia đình của NCT Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu cho thấy về quan hệ xã hội, NCT nghỉ hưu hiện nay thường xuyên tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng (trên 80% NCT thường xuyên đọc sách báo, xem tivi, nghe đài) Đây là một hình thức duy trì sự giao tiếp với xã hội của đa số NCT hiện nay
Có rất ít NCT tham gia các hình thức tham quan, du lịch, đi chơi với bạn bè…Có
Trang 21một tỷ lệ khá cao NCT tham gia các câu lạc bộ hưu trí, NCT (60,6%) và trực tiếp tham gia các công tác xã hội tại địa phương (51,3%) Các cụ ông có tỷ lệ tham gia các hoạt động xã hội cao hơn nhiều lần so với các cụ bà Trong khi đó, các cụ bà lại thường đi sinh hoạt lễ chùa và nhà thờ nhiều hơn so với cụ ông Về quan hệ gia đình, tỷ lệ ý kiến của NCT cho rằng quan hệ gia đình hòa thuận giảm đi theo độ tăng của tuổi Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, một trong những nhu cầu nổi lên
ở NCT hiện nay là nhu cầu chăm sóc sức khỏe và nhu cầu được giao tiếp với người khác Điều này phản ánh mong muốn được người khác chia sẻ, quan tâm, chăm sóc
ở NCT hiện nay
Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã tiến hành triển khai đề tài “Nghiên
cứu một số đặc trưng của NCT Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc NCT đang
áp d ng” Thời gian triển khai đề tài trong hai năm, 2005-2006 Kết quả nghiên cứu
cho thấy Công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho NCT tại cộng đồng còn ít, tại nhiều địa bàn khảo sát tình trạng NCT hoạt động đơn lẻ, tự phát là phổ biến Việc tổ chức các câu lạc bộ NCT, câu lạc bộ dưỡng sinh… sẽ đem lại cho NCT sức khoẻ tốt hơn song hình thức này còn hạn chế và bị chi phối nhiều bởi kinh phí hoạt động hạn hẹp và đối tượng tổ chức
Như vậy, có thể nói rằng, các nghiên cứu nhằm đi sâu tìm hiểu các khía cạnh tâm lý, tâm tư, nguyện vọng của NCT còn ít được các nhà tâm lý học quan tâm Ta
có thể thấy các công trình nghiên cứu của một số tác giả nói trên cũng có những đóng góp là đã đưa ra được những kiểu hình chất lượng sống của NCT, đề cao những phúc lợi xã hội để giúp cho NCT sống khỏe, sống vui, sống có ích cho gia đình và xã hội nhưng chưa đề cập một cách cụ thể về sức khỏe tinh thần của NCT,
và chưa chỉ ra được trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tinh thần của NCT thì cộng đồng cần phải làm gì để hỗ trợ NCT
1.2 Khái niệm về người cao tuổi
1.2.1 Người cao tuổi
Từ thời Hypocrat, thủy tổ của y học, người ta đã chia đời sống con người ra làm bảy thời kỳ tuổi tác là: Thơ ấu, thiếu niên, thanh niên, trưởng thành, trung niên,
Trang 22nhiều tuổi, tuổi già
Dưới góc độ tâm lý học, E.Erikson cho rằng: tuổi già là tuổi của sự toàn vẹn của cái tôi hoặc sự tuyệt vọng, cảm giác về sự vô nghĩa, thất vọng
Tổ chức y tế thế giới định nghĩa người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên và sắp xếp các độ tuổi như sau:
+ Từ 60 – 74 tuổi: Người cao tuổi
+ Từ 75 – 90 tuổi: Người già
+ Từ trên 90 tuổi trở lên: Người sống lâu
Theo Luật người cao tuổi ban hành ngày 04/12/2009 tại Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2010 (thay cho Pháp lệnh người cao tuổi số 23/2000/PL-UBTVQH10) thì Người cao tuổi là những người có độ tuổi từ 60 trở lên
Ở độ tuổi này, đặc trưng cơ bản là sự thay đổi cả về thể chất và tâm lý Thể chất xuất hiện sự suy giảm của các cơ quan chức năng thực thể, sức đề kháng, sự lão hóa Lão hóa (tiếng Anh: Senescence, xuất phát từ senex nghĩa là “người cao tuổi”, “tuổi già”) là trạng thái hay quá trình tạo nên sự già nua Khái niệm người cao tuổi và sự lão hóa, xét trong giới hạn qui luật tâm – sinh học về sự phát sinh diễn biến của đời người, có thể coi đây là giai đoạn hóa già (thoái hóa) của cơ thể con người, đặc biệt về hiện tượng sinh lý, tâm lý và xã hội Về sinh học, có hiện tượng
tự phá hũy các gen (chết theo chương trình), hiện tượng mất gen kết thúc, hiện tượng tổn thương các gốc tự do, tổn thương trong ty lạp thể, Về tâm lý, nhận thức, thái độ, suy nghĩ, tình cảm, hành vi có sự thay đổi rõ rệt.Nhận thức đã đi vào tầm sâu do sự tích lũy các kinh nghiệm trong quá trình sống Thái độ, suy nghĩ, tình cảm, hành vi phụ thuộc nhiều vào các yếu tố ảnh hưởng của cuộc sống như sự nghỉ hưu, sức khỏe giảm sút, bệnh tật…
Đảng và Nhà nước có chủ trương thống nhất trong việc phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi Đây là một kho trí tuệ, tài năng, kinh nghiệm đáng quý, có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ở bất kì thời kì nào
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọn khái niệm người
cao tuổi theo Luật người cao tuổi, ở đây người cao tuổi được hiểu như “người cao
Trang 23tuổi" là những người có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên, có sự thay đổi theo chiều hướng suy giảm về mặt thể chất và tâm lý do chịu nhiều ảnh hưởng của các điều kiện, yếu
tố bên ngoài như sự nghỉ hưu, điều kiện kinh tế, lối sống, văn hóa lịch sử
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi
1.2.2.1 Đặc điểm sinh lý người cao tuổi và quá trình lão hoá
Đặc điểm sinh lý của NCT gắn liền với quá trình lão hoá Quá trình lão hóa
là quá trình tạo nên tuổi già, hay quá trình trưởng thành và già nua về mặt sinh học Tuổi già thường kèm theo những biểu hiện giảm khả năng chống chọi với stress, mất dần cân bằng nội môi, tăng nguy cơ mắc bệnh tật Một số nghiên cứu cho rằng yếu tố di truyền và môi trường là nhân tố tác động đến quá trình lão hóa của con người Các gen chịu trách nhiệm 35% sự thay đổi khác nhau của tuổi thọ, các yếu tố môi trường chiếm tới 65%
1.2.2.2 Đặc điểm sinh lý người cao tuổi - Những thay đổi của cơ thể trong quá trình lão hoá
Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của cơ thể con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều Điều đó cho thấy, đặc điểm sinh lý hay những thay đổi của cơ thể trong quá trình lão hoá ở NCT
- Những thay đổi của cơ thể trong quá trình lão hoá, trước hết đó là sự thay đổi diện mạo bề ngoài, như da nhăn, tóc bạc, lưng khòm, đi đứng chậm chạp, mọi phản ứng đều chậm, …
- Ăn uống mất ngon vì tế bào vị giác trên lưỡi ngày một ít đi, miệng khô vì tuyến nước bọt giảm bài tiết, thiếu hụt về dinh dưỡng
- Mất cơ và giảm đậm độ của xương
- Tế bào thần kinh bị huỷ diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, suy nghỉ chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn
- Thuỷ tinh thể của mắt cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sáng, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bóng tối
- Tai nghe nghễng ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao, kể cả tiếng nói bình thường
Trang 24- Khứu giác kém, mũi khó phân biệt và tiếp nhận được mùi của thực phẩm, hoá chất
- Nhịp tim chậm, lưu lượng máu qua tim giảm, cơ tim xơ cứng, dễ bị suy tim, dễ bị ngất xỉu Người cao tuổi dễ bị các bệnh lý tim mạch
- Hơi thở ngắn, nhanh, dễ bị khó thở do lượng dưỡng khí trong máu giảm, dễ mệt khi làm việc chân tay
- Gan teo, thể tích gan nhỏ, lượng máu qua gan giảm, giảm hoạt động các men oxy hóa, chức năng thanh lọc độc chất kém hữu hiệu Do đó, thuốc chuyển hóa qua gan chậm, tăng thời gian bán hủy các thuốc
- Hệ thống miễn dịch yếu, sự sản xuất kháng thể bị trì trệ, cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, bệnh tật dễ trầm trọng hơn
- Đời sống tình dục suy giảm
Ngoài các bệnh lý mạn tính từ các giai đoạn trước đó để lại, người cao tuổi còn mắc thêm các bệnh khác, như cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, đái tháo đường, tai biến mạch máu não, parkinson, Alzheimer, các bệnh về xương khớp, bệnh phổi, phế quản, hoặc ung thư… Hậu quả của bệnh tật đã làm thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc tâm lý và nhân cách của NCT
Như vậy, các giả thuyết về quá trình lão hoá đã minh chứng cho đặc điểm sinh lý và những thay đổi của cơ thể NCT, được coi như một qui luật tất yếu về sự phát triển của người, vòng đời người, vòng đời cá thể
1.2.2.3 Đặc điểm tâm lý của NCT - Những biểu hiện của biến đổi tâm lý trong quá trình lão hoá
Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của NCT, các tác giả cho thấy tuổi già có những biểu hiện tâm lý liên quan đến quá trình lão hóa
- Sự chậm chạp về tâm lý vận động: một động tác nhưng mất nhiều thời gian, sự lẫn lộn về thời gian, rối loạn trí nhớ: khó khăn trong việc tái hiện, có thể nhớ được khi có sự gợi ý, có khi lú lẫn, do liên quan đến sự suy giảm ý thức và tập trung chú ý
- Về tư duy: suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng chậm, ý tưởng tự ti, tự cho mình
là thấp kém, nặng hơn có thể có hoang tưởng bị tội, bị hại, nghi bệnh,…
Trang 25- Về tri giác: giảm tốc độ xử lý thông tin, có sự suy giảm về tri giác giác quan (thao tác cấp cao) nên nhận thông tin chậm, đôi khi bị nhiễu
- Khó tập trung chú ý hoặc chú ý giảm, cảm xúc dao động liên quan đến sự lão hóa hệ viền, cấu tạo lưới Những biến đổi tâm lý nặng có thể có lo âu, trầm cảm Những biểu hiện của lo âu rất đa dạng, phức tạp: cảm giác sợ hãi, lo lắng thái quá
về sức khoẻ của mình, lo lắng về tương lai, khó tập trung tư tưởng, dễ cáu, khó tính, căng thẳng vận động, bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau đầu, khô miệng, đánh trống ngực Những biểu hiện của trầm cảm ở người cao tuổi thường thấy là cảm giác buồn phiền, chán nản, bi quan, mất hứng thú với những ham thích trước đây, mất niềm tin vào tương lai, giảm nghị lực, giảm tập trung, rối loạn giấc ngủ, ăn không ngon miệng, và họ có thể trở nên suy kiệt
Như vậy, trong quá trình lão hóa, cùng với những thay đổi chức năng sinh lý các hệ thống cơ quan trong cơ thể, các nghiên cứu cũng nhận thấy có những biến đổi về tâm lý ở NCT Bởi vậy, có thể nói ngoài các bệnh cơ thể mà người cao tuổi
dễ bị mắc, thì các rối loạn tâm lý cũng là “bạn đồng hành” của họ Các rối loạn tâm
lý ở NCT rất phong phú và đa dạng Những biểu hiện thường thấy là từ cảm giác khó chịu, lo lắng, đến các rối loạn thần kinh chức năng, như mệt mỏi, uể oải, đau nhức, rối loạn giấc ngủ, lo âu, ám ảnh, nặng hơn có thể có các rối loạn loạn thần như hoang tưởng, ảo giác, rối loạn trí nhớ, rối loạn ý thức, rối loạn các năng lực phán đoán suy luận,… như đã trình bày ở trên Có thể nói, đây là giai đoạn có nhiều biến đổi tâm lý đặc biệt ở NCT; và các rối loạn tâm lý đó có liên quan trước hết đến các stress của việc thích nghi với hoàn cảnh sống mới, khi phải chuyển từ giai đoạn làm việc tích cực đến giai đoạn nghỉ hưu Bởi vì, sau khi nghỉ hưu những NCT phải trải qua hàng loạt các biến đổi tâm lý quan trọng do thay đổi nếp sinh hoạt, cũng như sự thu hẹp các mối quan hệ xã hội Lúc này, ở họ xuất hiện tình trạng khó thích nghi với giai đoạn nghỉ hưu, và dễ mắc “hội chứng về hưu”, với tâm trạng buồn chán, mặc cảm, thiếu tự tin, dễ nổi giận, cáu gắt Do đó, họ trở nên sống
cô độc và cách ly xã hội
Trang 26Từ những nghiên cứu trên cho thấy đặc điểm tâm - sinh lý, và những thay đổi của cơ thể, cũng như những biến đổi của tâm lý rất phong phú và đa dạng ở NCT gắn liền với quá trình lão hoá, quá trình tạo nên tuổi già Trong quá trình lão hóa, ngoài phát hiện những thay đổi chức năng sinh lý các hệ thống cơ quan trong
cơ thể, người ta cũng nhận thấy những biến đổi về tâm lý nhiều mức độ khác nhau
ở NCT Nghĩa là, ở người cao tuổi thường xuất hiện những rối loạn tâm thần đặc trưng (như trình bày ở trên), cũng như các bệnh lý cơ thể thường gặp ở lứa tuổi này
Từ đó, giúp cho chúng ta có cách nhìn tổng quan trong việc tiếp cận khám và điều trị các rối loạn tâm – sinh lý NCT, nhằm đưa lại hiệu quả trong việc chăm sóc sức khoẻ thể chất và tâm thần cho NCT trong cộng đồng
1.3 Biểu hiện sức khỏe tinh thần của người cao tuổi
Chỉ trong 30 năm cuối vừa qua, tâm thần học đã phát triển những cách tiếp cận kinh nghiệm đối với việc khái niệm hóa và lượng giá sức khỏe tinh thần tuyệt đối Nhiều mô hình sức khỏe tinh thần đã được xem xét Giống như những thầy bói
mù xem voi, mỗi mô hình chỉ mô tả một vài khía cạnh về sức khỏe tinh thần Nghiên cứu xa hơn có thể bộc lộ sự đóng góp của mỗi cái Các sách giáo khoa tâm thần học chính gần đây cho thấy thực sự không có những thảo luận nghiêm túc nào
về sức khỏe tinh thần tuyệt đối Một nghiên cứu điện tử của Psychological Abstracts từ 1987 đưa ra kết quả có đến 57.800 bài viết về lo âu và 70.856 bài về trầm cảm, nhưng chỉ có 5.701 bài đề cập đến sự thỏa mãn cuộc sống và 851 bài nói đến sự vui thú
Năm 1946, Tổ chức Y tế Thế giới WHO đã cho ra đời định nghĩa về sức
khỏe (Health) như sau: "Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh
thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật" - Tiếng Anh: "Health" is a state of complete physical, mental, and social well- being and not merely the absence of disease or infirmity"- nguồn wikipedia
Trong hầu hết các ngôn ngữ, đặc biệt trong tiếng Anh khi gặp nhau câu cửa
miệng người ta thường hỏi câu đầu tiên "How are you?" nghĩa là "Anh/chị/ông/bà
có khỏe không?" Như vậy có thể thấy "sức khỏe" rất có tầm quan trọng Nhưng
Trang 27điều đáng bàn ở đây là: Tại sao mọi người gặp nhau trông thấy nhau đều khỏe mạnh
nhưng vẫn luôn phải hỏi nhau câu” "Anh/chị/ông/bà có khỏe không?" Phân tích kỹ
trong câu này ta có thể thấy trong sâu xa câu hỏi người ta không chỉ hỏi nhau về vấn đề ốm đau bệnh tật mà còn muốn biết vấn đề khác bao gồm sức khỏe tinh thần
và các mối quan hệ xã hội khác của người được hỏi hiện nay thế nào
Như vậy, một người trông có vẻ không ốm đau bệnh tật gì thì chưa chắc đã
là một người hoàn toàn khỏe mạnh theo đúng nghĩa Tức là một người được coi là khỏe mạnh theo nghĩa rộng cần thiết phải có đầy đủ 3 yếu tố: "Khỏe về thể chất, khỏe về tinh thần và khỏe về mặt xã hội" Nếu thiếu một trong 3 yếu tố này thì sẽ
có một cuộc sống "không hoàn chỉnh" Xã hội hiện đại ngày nay con người cảm thấy vật chất đầy đủ, như vậy mới chỉ đáp ứng được vấn đề khỏe về vật chất và ngày nay người ta cho rằng sức khỏe về tinh thần và xã hội mới là điều quan trọng,
vì đó mới gọi là "chất lượng cuộc sống"
Một điều tất yếu là thể chất và tinh thần có mối liên quan chặt chẽ với nhau Khi thể chất có vấn đề, cơ thể mệt mỏi, ốm yếu thì khó có thể nói tinh thần luôn vui
vẻ, an bình Song ngược lại, trạng thái tinh thần bất ổn sẽ gây nên phiền muộn, lo
âu, căng thẳng và tất sẽ ảnh hưởng đến thể chất, thậm chí có thể làm cơ thể suy sụp, từ mạnh khỏe trở thành ốm yếu, từ ốm yếu ít trở nên ốm yếu nhiều hơn Trong một số tài liệu tâm lý học, sức khỏe tinh thần được dùng để chỉ sức khỏe tinh
thần Một người có vấn đề về sức khỏe tinh thần tức là cảm thấy không thoải mái,
buồn, trầm cảm, đau đớn, mệt mỏi, các trạng thái tâm lý khác như bồn chồn, lo lắng, giận giữ, bức xúc, đều không có lợi cho sức khỏe Các phương pháp luyện tập tăng sức khỏe tinh thần như thiền, khí công, thái cực quyền, yoga, nhân điện cũng giúp làm tăng cường sức khỏe tinh thần
Triết học Phương Đông gọi đó là sự cân bằng giữa thân (Thể chất) và tâm
(Tâm thần) Sức khỏe tinh thần là trạng thái thoải mái về tinh thần có liên quan chặt
chẽ với sức khỏe thể chất và xã hội
Chúng ta đều biết rằng, khi tuổi tác càng tăng cao, số tế bào thần kinh chết đi càng nhiều, não bộ cũng teo nhỏ dần, khiến khả năng hoạt động tinh thần quý báu
Trang 28của con người cũng bị suy giảm theo Khi về già, các tế bào thần kinh não bộ giảm khoảng 30% Người sa sút tâm thần, số lượng tế bào thần kinh giảm khoảng 30 – 70% Tuy nhiên, số tế bào thần kinh não của NCT còn lại vẫn có thể thay thế số lượng mất đi và họ còn có thể làm việc trí óc tốt Sự suy giảm khả năng trí tuệ ở họ chủ yếu là do bệnh tật, những khó khăn về kinh tế, sự tách biệt về mặt xã hội chứ không phải do mức độ lão hóa Bộ não càng được làm việc, càng thêm linh hoạt
Từ xa xưa, loài người vẫn quan niệm tuổi già là giai đoạn thông thái, trí tuệ,
mà trên một phương diện nào đó, chính những người trẻ tuổi có khi lại gặp bất lợi hơn vì họ chỉ có một đầu óc nhanh nhẹn, trong khi đó, lại thiếu hụt những thông tin sống, kinh nghiệm và trí khôn như những bậc lão thành Sức khỏe tinh thần và sức khỏe tình cảm tất nhiên là quan trọng trong tuổi già như bất cứ vấn đề nào khác của cuộc sống Mọi người đều có nhu cầu sức khỏe tinh thần, mặc dù chỉ có một số người được chẩn đoán là có bệnh tâm thần Đa số những người lớn tuổi có sức khỏe tinh thần tốt, nhưng họ có nhiều khả năng để trải nghiệm sự kiện có ảnh hưởng đến
an sinh cảm xúc, chẳng hạn như mất người thân hoặc khuyết tật
Một loạt các yếu tố xã hội, nhân khẩu, tâm lý và sinh học góp phần vào tình trạng sức khỏe tinh thần của một con người Hầu hết các yếu tố này đặc biệt đúng với nhóm người cao tuổi - M.T Yasamy, T Dua, M Harper, S Saxena, Tổ chức Y
cố gắng giữ bình tĩnh, hay lo lắng đứng ngồi không yên Biểu hiện về mặt hoạt động có thể có: Run tay khi cố làm việc gì đó
Trang 29Có người trở thành lo lắng quá độ, lúc nào cũng đòi con cái ở cạnh để được chăm sóc, hoặc trở thành cau có, gắt gỏng khi con cái bê trễ trong việc đáp ứng những nhu cầu của mình
Bao gồm: Cảm thấy chán nản hay buồn phiền, hay phải rầu rĩ hoặc suy tư về điều gì đó và tự nhận thấy bản thân mình bị sa sút về tinh thần Sự suy giảm chức năng có thể làm cho người già cảm thấy mình không còn làm chủ tình hình như trước và trở nên buồn phiền quá độ
Ít hoạt động, không làm việc phù hợp với bản thân, cảm thấy buồn chán, nhàn rỗi, cô độc, có cảm giác sống thừa, hay tự trách mình không có cơ hội, than thở về quá khứ, lo lắng cho tương lai, thất vọng, buồn phiền vì thất bại của bản
thân
Nếu con người tới tuổi già không có gì để thụ hưởng, sống nghèo khó, đơn côi, không người chăm sóc hay kề cận, hoặc có những ước mơ không thỏa mãn , họ
có thể có những xáo trộn tâm lý như phát bệnh trầm cảm hoặc trở nên lo lắng hay
đa nghi Một số nghiên cứu (Salvatore 2000) đã chỉ ra rằng tần số của trầm cảm nhẹ tăng theo tuổi trong một kiểu đường cong: giảm ở tuổi trung niên, gia tăng ổn định trong tuổi già và gia tăng rất nhanh ở những người trên 80 tuổi (Snowdon và cộng
sự - năm 1996, Sesso và cộng sự - 1998) Trầm cảm nhẹ thường là một phản ứng đối với sự trải nghiệm căng thẳng thường có trong tuổi già và thường liên quan đến sức khỏe thể chất (Beekman và cộng sự 1997, Tannock & Katona 1995) Mendes
de Leon và cộng sự - (1998) phát hiện ra rằng trầm cảm có thể làm gia tăng các yếu
tố nguy cơ ở phụ nữ lớn tuổi tương đối khỏe mạnh, nhưng nó không phải là một yếu tố nguy cơ độc lập trong những người cao tuổi nói chung Tỷ lệ cao hơn của trầm cảm ở phụ nữ vẫn có thể có nghĩa rằng tác động của trầm cảm là quan trọng hơn đối với họ
Mất kiểm soát hành vi
Bao gồm: Mất trí, hoặc mất sự kiểm soát trong hành động, nói năng, suy nghĩ, cảm nhận hay ghi nhớ, cảm thấy mình chẳng có điều gì để mong chờ, cảm thấy không
Trang 30ổn định cảm xúc, cảm giác như muốn khóc, cảm thấy rằng những người khác sẽ được dễ chịu hơn nếu mất đi, cảm thấy rằng chẳng có điều gì xảy ra theo cách mình mong muốn, cảm thấy buồn phiền đến độ không có gì có thể làm cho phấn chấn lên được và nghĩ đến việc tự tử
Rối loạn cảm xúc, dễ xúc động, lo âu, trầm cảm, sợ hãi Mất khả năng thiết lập một sự cân bằng trước các phương diện của cuộc sống như thể chất, tâm lý, tinh thần, xã hội và kinh tế Không thể đương đầu và giải quyết một cách có hiệu qủa những xung đột nội tâm của chính bản thân mình và những xung đột về tâm lý đối với những người khác
Người cao tuổi sẽ khó thích ứng với những thay đổi cơ thể liên quan đến tuổi tác, không thể điều hòa những mất mát trong cuộc sống cùng với với việc mắc bệnh nặng, khó khăn trong việc đương đầu với cái chết của bạn bè và những người thân yêu Việc chấp nhận cuộc sống được xem liên quan đến sự hòa hợp của cuộc sống quá khứ với những trải nghiệm sống hiện tại của một người (Levy và cộng sự 2002)
- Hạnh phúc nói chung
Cảm xúc tích cực
Bao gồm: Cảm thấy tương lai đầy triển vọng và hứa hẹn, cảm thấy cuộc sống thường nhật của bản thân đầy những điều thích thú, cảm thấy thoải mái và không căng thẳng Tự thấy vui thích với những điều mình làm, cảm thấy thanh thản và yên bình và thấy mình là một người hạnh phúc
Người cao tuổi có những cảm xúc tích cực sẽ có khả năng sống với hiện tại, họ trân trọng những gì mình có, bằng lòng với hoàn cảnh, yên tâm trong cuộc sống, thoải mái về tình cảm, tinh thần Họ có thể tự lên kế hoạch cho tương lai mà không trăn trở, họ không dấn sâu vào các kỷ niệm đau buồn, sự nuối tiếc hay những điều không thể thay đổi trong quá khứ hoặc dự đoán đuợc trong tương lai Họ có thể thích nghi với môi trường sống, một sự sảng khoái về tinh thần, một mối quan
hệ tốt đẹp với người khác
Trang 31 Các mối liên hệ xúc cảm
Cảm thấy được yêu thương và mong đợi?
Cảm thấy các mối quan hệ yêu thương, việc thương yêu và được thương yêu của mình là đủ và trọn vẹn ?
Mãn nguyện với cuộc sống
Mức độ hạnh phúc, hài lòng hay vui vẻ về cuộc sống của mình
Khả năng bình phục sau những trải nghiệm khó khăn hoặc những sự kiện đau buồn trong cuộc sống như trải qua mất mát, đổ vỡ, thất nghiệp,… Khả năng chống chọi với những đau khổ tâm lý trong những sự kiện đó mà không mất đi sự lạc quan cũng như niềm tin của mình
Khả năng thiết lập một sự cân bằng trước rất nhiều phương diện của cuộc sống như thể chất, tâm lý, tinh thần, xã hội và kinh tế Xây dựng sự cân bằng đúng mức về tinh thần, để có thể đương đầu và giải quyết một cách có hiệu qủa những xung đột nội tâm của chính bản thân mình và những xung đột về tâm lý đối với những người khác, để có thể kháng cự lại những áp lực, những ấm ức không thể tránh khỏi trong đời sống xã hội thường ngày Thái độ tích cực với bản thân, hiểu được giá trị đích thực của mình Người cao tuổi cũng phải thích ứng với những thay đổi cơ thể liên quan đến tuổi tác, điều hòa những mất mát cùng với với việc mắc bệnh nặng, và đương đầu với cái chết của bạn bè và những người thân yêu Việc chấp nhận cuộc sống được xem liên quan đến sự hòa hợp của cuộc sống quá khứ với những trải nghiệm sống hiện tại của một người (Levy và cộng sự 2002) Hồi tưởng, chiếm phần đáng kể trong tuổi già, đặc biệt quan trọng trong việc giúp người cao tuổi cân bằng với nghịch cảnh hiện tại với trải nghiệm quá khứ
Khi đạt được sự thoải mái, cân bằng về mặt tinh thần, hưởng thụ cuộc sống, hòa mình vào môi trường và các mối quan hệ, trở nên sáng tạo, ham học hỏi, khám phá những điều mới và chấp nhận mạo hiểm, có khả năng ứng phó tốt hơn với những khó khăn trong cuộc sống và công việc
Có khả năng chấp nhận các cảm xúc tiêu cực như nỗi đau đớn và buồn khổ khi mất người thân, sự thất vọng, tự ti khi thất bại trong công việc, sự chán nản và
Trang 32đầy tiêu cực khi đối mặt với quan hệ giữa người và người v.v… hoặc những sự kiện khó khăn khác Hơn thế, có thể vượt qua, cân bằng trở lại và hưởng thụ cuộc sống một lần nữa Biểu hiện sa sút tinh thần ở khả năng này là trì trệ, chậm chạp về tốc
độ xử lý thông tin, tuyệt vọng với mục tiêu sẽ đến sau này của bản thân, không thừa nhận bị lão suy, thiếu chí tiến thủ, mong đợi người khác giúp đỡ sống qua ngày Có thể hoạt động không tiếc sức, căng thẳng để đảy lùi sự bất an, che dấu sự mất mát,
trống rỗng do sức khỏe suy giảm, ghen tức với người trẻ tuổi
Đạt được trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần cũng giúp có những quyết định sáng suốt và hợp lý hơn trong các tình huống Cuộc sống luôn chứa đựng những thử thách và khó khăn đòi hỏi mỗi người phải đối mặt Chăm sóc sức khoẻ tâm thần nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp tận hưởng cuộc sống một cách tốt nhất trong hoàn cảnh của họ, ngay cả khi hoàn cảnh đó là rất khắc
nghiệt khó khăn
Tiểu kết chương
Ở chương 1, chúng tôi đã điểm qua một số công trình, đề tài nghiên cứu về người cao tuổi trên thế giới cũng như ở trong nước, đồng thời chúng tôi cũng đưa ra định nghĩa về người cao tuổi làm cơ sở lựa chọn đối tượng người cao tuổi dùng để nghiên cứu trong luận văn này Dựa trên việc nghiên cứu cơ sở lý luận về sức khỏe tinh thần của người cao tuổi chúng tôi đã đưa ra được định nghĩa về sức khỏe tinh thần của NCT và chỉ ra biểu hiện sức khỏe tinh thần của NCT bao gồm: Lo âu, trầm cảm, mất kiểm soát hành vi/cảm xúc, các mối liên hệ xúc cảm, cảm xúc tích cực nói chung và mãn nguyện với cuộc sống Ở Việt Nam hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của người cao tuổi, do vậy đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu thực trạng sức khỏe tinh thần của người cao tuổi nhằm vẽ được một bức tranh tổng thể về trạng thái tinh thần của người cao tuổi, cách người cao tuổi cảm nhận về cuộc sống, từ đó có thể đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần NCT
Trang 33Nội dung nghiên cứu
- Khái quát lịch sử các nghiên cứu trong và ngoài nước về những vấn đề
liên quan đến sức khỏe tinh thần của NCT Từ đó, xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Xác định các khái niệm công cụ như sức khỏe, sức khỏe tinh thần , NCT
2.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.2.1 Giới thiệu chung về thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam từ năm 1946 đến nay,là thành phố lớn nhất Việt Nam về diện tích với 3328,9 km2, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với 6.699.600 người (2011) Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam Năm 2009, sau khi mở rộng, GDP của thành phố tăng khoảng 6,67%, tổng thu ngân sách khoảng 70.054 tỷ đồng Hà Nội cũng là một trung tâm văn hóa, giáo dục với các nhà hát, bảo tàng, các làng nghề truyền thống, những cơ quan truyền thông cấp quốc gia và các trường đại học lớn
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh
độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km²
Trang 34Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với
độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng
Về dân số Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây Dân số trung bình tính đến năm 2010 là 6.561.900 người Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân số cao nhất là
ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km²
Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9% Năm 2009, người Kinh chiếm 98,73% dân số, người Mường 0,76% và người Tày chiếm 0,23 %
Số liệu các tổng điều tra dân số cho thấy Hà nội có tỷ lệ NCT cao (10,4%) hơn mức trung bình của cả nước (2009) Tại thời điểm 1/4 năm 2009 toàn thành phố có 670.679 người cao tuổi, nam chiếm 41,2%, NCT là nữ chiếm 58,8% Về độ tuổi, trong tổng số NCT ở Hà Nội, gần một nửa (47,5%) NCT từ 60 – 69 tuổi, 34,3% từ 70 – 79, 10,1% từ 80 – 84, và 8% NCT từ 85 tuổi trở lên
Các chính sách NCT đang được hưởng
+ Hưu trí, mất sức: 233.144 người (37,8%)
+ Trợ cấp người có công: 61.227 người (10,0%)
+ Trợ cấp xã hội theo NĐ/67 – CP: 47.901 người (7,8%)
+ Bảo hiểm y tế: 305.127 người (49,5%)
Nguồn: Hệ thống cơ sở phúc lợi xã hội cho người cao tuổi, Ủy ban DS-GĐ-TE Hà Nội, 2006
Bảng 2.2.1: Thống kê số lượng người cao tuổi theo nhóm tuổi
Trang 35Trong 173 NCT được nghiên cứu ở một số quận huyện thành phố Hà Nội, có
73 NCT nằm trong độ tuổi từ 60 – 65, chiếm 42,2% 51 người cao tuổi nằm trong
độ tuổi 66 – 74, chiếm 29,5% và 49 NCT nằm trong độ tuổi trên 75 -80 tuổi, chiếm 28,3% Như vậy chúng ta có các độ tuổi với số lượng tương đối đồng đều nhau trong nghiên cứu này
Bảng 2.2.2: Thống kê người cao tuổi theo nhóm nghề nghiệp
Nhìn vào bảng 1.2 ta thấy: 30.1% NCT trong số 173 NCT được khảo sát ở
Hà Nội là những NCT lao động tự do, với 52 người Xếp ở vị trí thứ hai, là NCT thuộc nhóm nghỉ ở nhà, với 35 người, chiếm 22,2 % NCT làm nông nghiệp là 28 người, chiếm 16,2 %, nhóm NCT nghỉ hưu là 27 người, chiếm 15,6%, nhóm người cao tuổi thuộc nhóm nghề kinh doanh buôn bán chiếm 11,6% với 20 người, người cao tuổi lao động ở các tổ chức tư nhân chiếm 4,6%, với 8 người, và cuối cùng là nhóm NCT làm ở cơ quan đoàn thể là 3 người, chiếm 1,7%
Bảng 2.2.3 Thống kê số lượng NCT theo giới tính
Trang 36Về NCT ở Hà Nội ngoài những đặc điểm chung, còn có một số đặc điểm riêng như: có trình độ học vấn cao và đã tham gia các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và thành phố Đảm bảo phúc lợi xã hội cho NCT cũng là thể hiện đạo lý của người Việt Nam Mặc dù đã nghỉ hưu nhưng NCT Hà Nội vẫn tiếp tục tham gia các hoạt động xã hội, vẫn có những đóng góp nhất định cho xã hội, đảm bảo an sinh xã hội cho NCT cũng là một phần đảm bảo cho các hoạt động này
2.3 Nghiên cứu thực tiễn
Điều tra thực tiễn: chúng tôi sử dụng phương pháp trắc nghiệm với một Bảng kiểm kê sức khỏe tinh thần MHI-38 và phiếu phỏng vấn sâu gồm 10 câu hỏi
Đề tài được tiến hành từ tháng 05/2012 đến 7/2014 Trong đó từ tháng 01/2013 đến 01/2014 chúng tôi đã tiến hành tìm kiếm, dịch thuật thang đo, thực hiện khảo sát, hoàn thiện luận văn
Trong đề tài chúng tôi thực hiện điều tra một lần theo lát cắt ngang cả ở định lượng (thang đo MHI-38) và ở định tính (phỏng vấn sâu)
Kết quả khảo sát thực tế: Chúng tôi phát ra 200 phiếu, thu về 187 phiếu, trong đó có 14 phiếu không hợp lệ Như vậy còn lại 173 phiếu hợp lệ
2.3.1 Phương pháp trắc nghiệm (Test)
Việc lựa chọn phương pháp này vì thủ tục thực hiện đơn giản, trắc nghiệm không có các quy định buộc người được nghiên cứu tự phân tích theo hướng nào
đó Những đối tượng tham gia trả lời câu hỏi bằng lời nói theo các phương án đã soạn sẵn vì NCT thường khó khăn tri giác, diễn đạt bằng văn bản Người nghiên cứu ghi lại câu trả lời của NCT Họ mất 20 phút để hoàn thành nhiệm vụ Mục đích nhằm sẽ vẽ ra được một bức tranh tổng thể về sức khỏe tinh thần của một nhóm người đại diện cho lớp người cao tuổi đang sinh sống tại địa bàn một số quận huyện thành phố Hà Nội Chúng tôi thu lại phiếu, kiểm tra, loại bỏ những phiếu thiếu thông tin, xử lý thông tin bằng SPSS 16.0
Giới thiệu thang đo MHI-38
C T Veit và J E Ware (1983), tác giả người Australia, làm việc cho tổ chức phi lợi nhuận RAND (Một công ty quy tụ các nhà tâm lý học, xã hội học, các
Trang 37nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới chuyên hoạt động với mục đích nhằm tăng cường sức khỏe cộng đồng, tăng cường cung cấp dịch vụ, cải thiện hiệu suất
hệ thống y tế) của thang đo này, đã nghiên cứu dữ liệu từ hơn 5000 người tham gia trong các nghiên cứu về bảo hiểm y tế thuộc tổ chức phi lợi nhuận RAND, họ sử dụng phương pháp thăm dò và khẳng định phương pháp phân tích nhân tố Họ kết luận rằng phản ứng với các MHI có thể khái niệm ở nhiều cấp độ khác biệt Ở cấp
độ chung nhất mà họ mô tả là một yếu tố sức khỏe tinh thần tổng quát Ngoài ra, họ trình bày hai yếu tố tổng quát (Sự đau khổ tâm lý và hạnh phúc nói chung) và xây dựng sáu yếu tố phản ứng sức khỏe tinh thần (Lo âu, trầm cảm, mất kiểm soát hành
vi / cảm xúc, các mối liên hệ xúc cảm, cảm xúc tích cực nói chung và mãn nguyện với cuộc sống)
Thang đo MHI-38 đã được dịch ra 13 ngôn ngữ khác nhau (Ả Rập, Bahasa Indonesia, Trung Quốc, Croatia, Farsi, Hy Lạp, Ý, Khmer, Samoa, Serbia, Tây Ban Nha, Tagalog và Việt Nam) Dự án dịch ra 13 ngôn ngữ này kéo dài trong 6 tháng Các thành viên (185 thành viên) trong các cộng đồng tham gia dịch thuật đã được đảm bảo phải hiểu từng ý nghĩa của câu hỏi và các vấn đề thích hợp về ngôn ngữ, văn hóa cũng như nền tảng sức khỏe tinh thần để đảm bảo sự thông suốt và chính xác của thang đo Các điều khoản cần thiết của thang đo được đảm bảo rằng được xúc tích và không chứa từ lóng hay thành ngữ
Ứng dụng của thang đo - Độ hiệu lực và sự tin cậy
Trong thử nghiệm thực địa cho các MSQLI , MHI cho thấy thang đo này có hội tụ và phân biệt tốt, thang đo sức khỏe tinh thần có một báo cáo đánh giá 0,93 Cronbach’s alpha trong khi phiên bản rút gọn của nó đạt 0,82 Cronbach’s alpha Thử nghiệm nổi tiếng này đã được thử nghiệm ở các quần thể rộng lớn Ngoài ra, thang sức khỏe tinh thần cho thấy một đánh giá tương quan cao với MSQLI
Tại Đan Mạch, người ta đã đánh giá hai công cụ sức khỏe tinh thần là thống
kê suy thoái (MDI) và Thống kê Sức khỏe tinh thần (MHI-5) (Một phiên bản rút gọn 5 trong số 38 hạng mục của thang đo MHI) trong một nghiên cứu liên quan đến các dự đoán của bệnh dài hạn Dữ liệu câu hỏi đã được thu thập từ một mẫu ngẫu
Trang 38nhiên của dân số có việc làm Đan Mạch, độ tuổi từ 18-59 tuổi Tham gia có thể trả lời các câu hỏi bằng internet hoặc qua đường bưu điện Nghiên cứu liên Thang đo suy thoái/khủng hoảng (MDI) được phát triển vào cuối những năm 1990 Nó được thiết kế để đo lường các triệu chứng trầm cảm ở theo hướng dẫn triệu chứng được xác định bởi các phân loại của WHO cho trầm cảm đơn cực (ICD-10) và phân loại Hiệp hội Tâm thần Mỹ trầm cảm nặng (DSM-IV) Công cụ bao gồm 12 câu hỏi và
nó bao gồm 2 thuật toán phân loại người tham gia với nguy cơ trầm cảm đơn cực (nhẹ, trung bình hoặc nặng) theo định nghĩa ICD-10 hoặc có nguy cơ trầm cảm nặng theo định nghĩa của DSM-IV Các công cụ này cũng có thể được sử dụng để
đo triệu chứng trầm cảm ghi trên thang điểm từ 0 đến 50, điểm số cao hơn cho thấy một mức độ cao hơn các triệu chứng trầm cảm
Kiểm kê sức khỏe tinh thần (MHI-5) là một thang đo năm câu hỏi của thang
đo sức khỏe nói chung SF-36 Các MHI-5 bao gồm các câu hỏi đề cập đến các khía cạnh tích cực và tiêu cực của sức khỏe tinh thần, và các câu hỏi đề cập đến cả trầm cảm và lo âu Berwick, Cuijpers và Rumph đã xác nhận các MHI-5 như một biện pháp điều trị trầm cảm bằng cách sử dụng các cuộc phỏng vấn lâm sàng là tiêu chuẩn vàng Các MHI-5 cũng đã được thử nghiệm như một biện pháp của sự lo âu,
và rối loạn sử dụng chất kích thích
Kết quả: Với cả hai công cụ bao gồm trong phân tích hồi quy tương tự, MHI-5 vẫn có ý nghĩa và MDI đã trở thành không đáng kể, tức là, MHI-5 được giải thích một phần quan trọng của sự thay đổi trong bệnh vắng mặt dài hạn tốt hơn so với MDI Trong một nghiên cứu trong đó giá trị tiên đoán cho bệnh vắng mặt dài hạn có tầm quan trọng của MHI-5 phải được khuyến cáo như là biện pháp tốt nhất của sức khỏe tinh thần - Nghiên cứu được tài trợ bởi Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Đan Mạch cho môi trường làm việc và một phần Quỹ Nghiên cứu của Đan Mạch môi trường làm việc, số tạp chí 03-2008-09
Tại Bồ Đào Nha đã sử dụng phiên bản MHI-5 cho trẻ từ 10 – 15 tuổi Nghiên cứu này mô tả các đặc tính tâm lý của phiên bản tiếng Bồ Đào Nha Mẫu
Trang 39bao gồm 367 học viên Bồ Đào Nha (độ tuổi 10-15) (MHI-5; Berwick và cộng sự, 1991) Cơ cấu nhân tố, và giá trị tiêu chuẩn liên quan đến ý kiến cho rằng MHI-5 có thể thích hợp sử dụng trong nhóm tuổi này Tác động của phát hiện này được thảo luận Độ tin cậy Cronbach’s alpha đạt 0,82 Tổng quy mô có M = 23,86 và SD = 3,84 Khi điểm số mục có nghĩa là được phiên dịch sang các phản ứng của sinh viên
họ tương đương với sinh viên cảm thấy "thỉnh thoảng" bình tĩnh, thanh thản, và hạnh phúc "hầu hết thời gian"; học sinh "ít khi" cảm thấy lo lắng, buồn bã và chán nản, Các MHI-5 tương quan với tuổi tác là không đáng kể [42, tr 28]
Tại Úc, đã có một nghiên cứu khẳng định sự đáng tin cậy của thang đo sức khỏe tinh thần MHI-38 ở thanh thiếu niên Dự án này đã được hỗ trợ một phần bởi
sự tài trợ của Khối thịnh vượng chung Úc - Bộ Y tế và Chăm sóc người cao tuổi trong Chiến lược Sức khỏe tinh thần Quốc gia Mẫu nghiên cứu gồm 878 (51% nam
và 49% nữ) thanh thiếu niên ở một nước nói tiếng Anh hỗ trợ một mô hình hai yếu
tố của tâm lý hạnh phúc và đau khổ cho trẻ em trai và trẻ em gái trong khoảng thời gian 10 tuần Nam thanh niên sức khỏe tinh thần tốt hơn một chút so với nữ thanh niên, như trong nghiên cứu ban đầu của Mỹ Mặc dù kích thước của nó và đa dạng, mẫu có thể không được tuyên bố là đại diện của học sinh trung học Úc Nghiên cứu này xem xét các yếu tố cấu trúc cơ bản đáp ứng vị thành niên trong một mẫu mới, rút ra từ một quốc gia nói tiếng Anh, đặc biệt chú ý đến tương tự các phản ứng từ nam và nữ Nghiên cứu này cũng đặt ra để xem xét hai khía cạnh của độ tin cậy, sự thống nhất nội bộ của phản ứng với các mục thang đo sức khỏe tinh thần cũng như
sự ổn định của họ trong khoảng thời gian hai tháng rưỡi Nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng mô hình hai yếu tố của trầm cảm tâm lý và Hạnh phúc tâm lý có thể đại diện cho thanh thiếu niên phản ứng với MHI tại Úc cũng như ở Mỹ Hơn nữa, nghiên cứu này cho thấy mô hình này được áp dụng tương đối tốt cho thanh thiếu niên nam và nữ ở Australia, mặc dù các yếu tố nữ có nhiều tương quan so với những người nam Trong nghiên cứu này các MHI đã được chấp nhận và được hiểu
rõ bởi giới nam và nữ thanh thiếu niên Cho độ tin cậy và cơ cấu nhân tố được biết
Trang 40đến của nó, là MHI có thể hữu ích cho nghiên cứu trong các quần thể vị thành niên nói chung và cho các dự án xuyên quốc gia mà tập trung vào các hai yếu tố chính (trầm cảm và hạnh phúc) mà hiện nay đã được nhân rộng trên nhiều nước trên thế giới
Cách tính chỉ số sức khỏe tinh thần của thang đo MHI - 38
Tất cả 38 mục MHI đều tính theo thang 6 điểm (từ 1-6) trừ 2 ngoại lệ là mục
9 và 28 tính theo thang 5 điểm (từ 1-5) Các giá trị tiền mã hóa của mỗi mục được thể hiện trên bản sao công cụ ở các trang trước
MHI có thể được nhóm thành :
o Sáu thang chia - Lo âu, Trầm cảm, Mất kiểm soát hành vi/ cảm xúc, Cảm xúc tích cực nói chung, các mối liên hệ xúc cảm và mãn nguyện với cuộc sống;
o Hai thang mức tổng quát – Sự đau khổ tâm lý và khỏe mạnh về tâm lý;
o Điểm chỉ số sức khỏe tinh thần tổng quát
Việc tính điểm được thực hiện tương đối phức tạp bởi thực tế là các mục bao trùm các thang chia khác nhau và thang tổng quát có thể được ghi (hoặc đảo chiều ghi) khác nhau tùy thuộc vào cách đặt câu ẩn dưới khi đo
Chi tiết của thang chia nhỏ và thang tổng quát được trình bày bên dưới và dựa theo nguồn sau:
Davies AR, Sherbourne CD, Peterson JR and Ware JE (1998) Scoring
manual: Adult health status and patient satisfaction measures used in RAND’s Health Insurance Experiment Santa Monica: RAND Corporation
Các thang chia được được tính theo hai bước: (1) tính điểm mục, và (2) chia thang điểm Trong 38 mục thì có 35 mục được tính theo 6 thang chia sức khỏe tinh thần (mục 2, 22 và 38 không thuộc những thang chia này) Mỗi mục chỉ xuất hiện trong một thang chia Bảng 1 cho thấy sự sắp xếp các mục vào các thang chia khác nhau