PGS.TS Phạm Quốc Sử trong Phát triển du lịch làng nghề nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Tây 2007 cũng có phần viết về các làng nghề ở Thường Tín, đưa ra phân tích về thế mạnh và tiềm năng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ QUANG PHÁP
THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
hướng dẫn của TS Đặng Thị Vân Chi – giảng viên khoa Việt Nam học và
có chú thích rõ ràng
N ếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách
Tác gi ả luận văn
Lê Quang Pháp
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến trường ĐHKHXNH&NV, Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin gửi tri ân tới TS Đặng Thị Vân Chi (giảng viên Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, trường ĐHKHXH&NV) – Người đã trực tiếp chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong và ngoài trường đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn
Tôi xin cảm ơn tới các cấp chính quyền huyện Thường Tín, xã Hòa Bình tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu tại địa phương Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các hộ sản xuất và đặc biệt tới gia đình ông Vũ Văn Hiệu, nghệ nhân Nguyễn Văn Kiến, chị Nguyễn Thị Duyên, bác Nguyễn Văn Anh và rất nhiều người khác tại làng Thụy Ứng, xã Hòa Bình đã giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Trang 5M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 2
1 Lý do ch ọn đề tài 3
2 T ổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 M ục đích nghiên cứu 8
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Các ngu ồn tư liệu 10
7 Dự kiến đóng góp của đề tài 11
8 C ấu trúc luận văn 12
N ỘI DUNG 13
Chương 1: LÀNG NGHỀ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN 13
1.1 Các khái ni ệm 13
1.1.1 Làng nghề 13
1.1.2 Cơ chế thị trường 15
1.2 Khái quát v ề huyện Thường Tín 16
1.2.1 V ị trí địa lý và lịch sử hình thành 16
1.2.2 Điều kiện tự nhiên 18
1.2.3 Dân cư – xã hội 19
1.3 Làng nghề tại huyện Thường Tín 22
1.3.1 Quá trình hình thành và phát tri ển của các làng nghề tại huyện Thường Tín 22
1.3.2 Tình hình làng ngh ề ở Thường Tín 28
1.4 Y ếu tố tác động tới phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín 33
1.4.1 Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền huyện Thường Tín 33
1.4.2 C ơ sở hạ tầng 34
1.4.3 Văn hóa truyền thống 35
TI ỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
Chương 2: LÀNG NGHỀ THỤY ỨNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 41
2.1 Ví trí địa lý và điều kiện tự nhiên 41
2.2 L ịch sử hình thành và quá trình phát triển 42
2.2.1 Làng nghề truyền thống Thụy Ứng trước năm 1954 42
Trang 62.2.2 Làng ngh ề Thụy Ứng trong thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp 1954-1986 53
2.3 Làng nghề Thụy Ứng trong cơ chế thị trường 55
2.3.1 Làng ngh ề Thụy Ứng từ 1986 đến 1992 55
2.3.2 Làng ngh ề lược sừng Thụy Ứng dưới tác động của cơ chế thị trường từ 1993 đến nay 58 2.4 Một số nhận xét về làng nghề Thụy Ứng 66
2.4.1 Quan hệ sản xuất làng nghề 66
2.4.2 Cơ hội và thách thức của làng nghề Thụy Ứng hiện nay 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG – KINH NGHIỆM TỪ LÀNG THỤY ỨNG 78
3.1 Ti ềm năng phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín 78
3.1.1.Dân s ố và lực lượng lao động 78
3.1.2 Nguồn nguyên liệu và các ngành phụ trợ 79
3.1.3 Truyền thống văn hóa làng nghề 80
3.1.4 S ản phẩm và thị trường 80
3.2 Những vấn đề đặt ra cho việc phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín hiện nay – bài học từ làng Thụy Ứng 81
3.2.1 C ạnh tranh thị trường và đầu ra sản phẩm 81
3.2.2 V ấn đề chuyên nghiệp hóa và thương hiệu 83
3.2.3 Nguy cơ mất nghề và mai một nghề truyền thống 84
3.2.4 V ấn đề môi trường 85
3.3 Một số giải pháp cho phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín – Kinh nghiệm từ làng Thụy Ứng 86
3.3.1 Kinh nghi ệm phát triển làng nghề trong cơ chế thị trường từ làng Thụy Ứng 86
3.3.2 M ột số giải pháp cho phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín 87
TI ỂU KẾT CHƯƠNG 3 96
K ẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PH Ụ LỤC 98
Ph ụ lục 1: Danh sách làng nghề huyện Thường Tín 105
Ph ụ lục 2: Một số hình ảnh về các làng nghề ở huyện Thường Tín 112
Ph ụ lục 3 Lục cấp Cửu phẩm bá hộ của nghệ nhân Nguyễn Văn Phòng 121
Trang 7DANH M ỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1: Thu nhập bình quân của một lao động có nghề
truyền thống tại huyện Thường Tin
4 Sơ đồ 2.1: Mô tả cấu trúc không gian tại làng Thụy Ứng 51
5 Bi ểu đồ 2.2: Giá trị thu nhập các ngành kinh tế tại xã Hòa
Bình thời kỳ 2016 – 2018
61
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làng xã t ừ lâu đã là một đề tài được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu bởi làng chính là một bức tranh thu nhỏ của đất nước Việt Nam, là đơn vị cấu thành cơ bản của xã hội nông thôn, mang trong mình tính truyền thống cao nhưng cũng có giá trị mang tính quyết định cho diện mạo xã hội cho đến tận ngày nay Làng là cơ tầng cho sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam từ quá khứ cho đến hiện tại và tiếp nối với tương lai Việc tìm hiểu và nghiên cứu về làng xã chính là làm sáng tỏ hơn các giá trị văn hoá – xã hội cốt lõi để phục vụ cho quá trình định vị bản sắc văn hoá dân tộc, phát triển xã hội, đất nước
Dựa vào đặc điểm tự nhiên, điều kiện lịch sử mà sẽ có những làng đi theo các hướng phát triển khác nhau như làng nông nghiệp, làng thủ công, làng chài, làng buôn Các nghề thủ công truyền thống được tồn tại và bảo lưu dưới mô hình làng nghề có vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế ở khu vực nông thôn xuyên su ốt quá trình lịch sử
Hiện nay cả nước có hơn 3000 làng nghề thủ công [84] trong đó có hơn 40% làng ngh ề có lịch sử tồn tại trên 100 năm Các làng nghề không chỉ đóng vài trò quan trọng đối với sinh kế của người dân, cơ cấu kinh tế chung của đất nước mà nó còn là cơ sở, môi trường tồn tại của các giá trị văn hóa truyền thống Nói cách khác, làng nghề là nơi nắm giữ tinh hoa của sự sáng tạo trong sản xuất của người Việt Nam và bảo tồn các giá trị văn hóa đặc thù
Các làng nghề để có diện mạo như hiện nay đã phải trải qua quá trình hình thành và bi ến đổi liên tục, lâu dài Đó là những biến thiên không ngừng trong tất cả các giai đoạn lịch sử, diễn ra có thể âm thầm từ những cá thể nhỏ nhất cho tới sự chuyển dịch đồng bộ của cả cộng đồng Trên cơ sở đó, đã có không ít những làng nghề mới được sinh ra, mặt khác cũng có nhiều nghề của các làng bị mất đi, mai một hoặc biến đổi Đối với mỗi nghề, làng nghề trong từng giai đoạn lịch sử đều đối diện với những cơ hội và thách thức riêng Vì thế, việc tìm hiểu cụ thể ở mỗi trường
h ợp nghề, làng nghề sẽ mang lại nhiều kết quả có giá trị dựa trên cơ sở thực tiễn đặc
Trang 9thù để từ đó có thể có được bức tranh tổng thể về nghề và làng nghề, từ đó đưa ra được những gợi ý, đóng góp, kiến nghị cho việc phát triển của làng đó
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các làng nghề ngày càng có nhiều cơ hội cũng như thách thức trong việc tiếp tục giữ nghề, làm nghề và phát triển nghề Việc tìm hiểu, nghiên cứu đối với từng trường hợp là một việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết, giúp đi sâu vào các vấn đề nội tại còn đang bị bỏ ngỏ hoặc chưa được quan tâm đúng mức trong các nghề cũng như làng nghề Từ đó sẽ thấy được những gì là ưu thế có thể gìn giữ, bảo tồn và phát triển; những gì chưa phù hợp với thời đại, có thể
kh ắc phục, điều chỉnh lại cho phù hợp để thích ứng với xu thế mới
Huyện Thường Tín, Hà Nội từ lâu đã được mọi người biết đến là “vùng đất
tổ trăm nghề” Tại đây có các làng nghề có lịch sử phát triển qua hàng trăm năm và hiện nay vẫn đang tiếp tục phát triển, nhưng cũng có nhiều làng nghề thay đổi hoặc
đã mất đi nghề truyền thống,… Mỗi làng là một trường hợp mang những đặc thù riêng Làng nghề Thụy Ứng đã trải qua quá trình phát triển, biến đổi liên tục qua các
th ời kì và hiện nay, trong cơ chế thị trường cũng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức Nghiên cứu về làng nghề Thụy Ứng có thể rút ra được nhiều kết quả có đóng góp cho việc phát triển làng nghề nói chung, làng nghề ở huyện Thường Tín nói riêng
Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn “làng nghề truyền thống tại huyện Thường Tín, Hà Nội trong cơ chế thị trường (trường hợp làng Thụy Ứng)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Làng ngh ề trên địa bàn huyện Thường Tín đã xuất hiện khá nhiều trong thư tịch trong đó phải nói tới Dư Địa chí của Nguyễn Trãi từ thế kỉ XV có viết về nghề nấu rượu tiến vua của làng Bình Vọng và các làng Văn thuộc xã Văn Bình hiện nay
Hệ thống địa chí thời Nguyễn cũng để lại tư liệu khá cụ thể về các làng nghề trong
đó phải nói tới Đại Nam Nhất thống chí và Đồng Khánh dư địa chí
Đầu thế kỉ XX, học giả Phan Kế Bính cũng nói về các nghề thủ công và tên
m ột số làng nghề của Thường Tín như bút lông Bạch Liên, thợ tiện gỗ Nhị Khê, thợ
Trang 10m ộc Nhân Hiền trong cuốn Việt Nam phong tục, phần về nghề bách công Địa chí
Hà Tây phần các làng nghề (Tr 571-572) có giới thiệu về nghề làm lược sừng Thụy Ứng, sơ lược quy trình làm nghề và các mặt hàng sản phẩm của làng
Những năm 30, Pierre Gourou trong Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ -
nghiên c ứu địa lý nhân văn ở chương hai về công nghiệp làng xã đã đưa ra một bức
tranh tổng quan về các loại hình sản xuất, phân bố, đặc điểm và tính chất các nghề thủ công ở Bắc kỳ thời điểm đó Đây là một công trình có thể khai thác được lượng
tư liệu lớn, có giá trị nhờ kết quả khảo sát tỉ mỉ và khoa học của tác giả Các làng ngh ề và nghề thủ công ở Thường Tín cũng được ông khảo sát, thống kê, và phân tích cụ thể Đặc biệt là các nhóm nghề mộc, nghề sơn và nghề thêu Nghề sừng ở Thụy Ứng cũng được nói tới tuy không được phân tích kĩ
Một số làng nghề của Thường Tín trong đó có nghề lược sừng cũng được
GS Trần Quốc Vượng viết trong tập Hà Nội như tôi hiểu (2009) Ở cuốn sách này, đặc trưng làng nghề, quan hệ làng nghề - phố nghề; vị trí và quan hệ của vùng làng ngh ề với kinh thành Thăng Long – thủ đô Hà Nội cũng được tác giả phân tích
GS Nguyễn Quang Ngọc trong Kết cấu kinh tế - xã hội làng Việt cổ truyền (2017) đã tổng kết về đặc điểm của thủ công nghiệp trong kinh tế làng xã truyền thống bao gồm nguồn gốc hình thành, vai trò đối với đời sống sản xuất, lịch sử và đặc biệt là quan hệ giữa làng nghề nghề với khu vực đô thị
PGS.TS Phạm Quốc Sử trong Phát triển du lịch làng nghề nghiên cứu
trường hợp tỉnh Hà Tây (2007) cũng có phần viết về các làng nghề ở Thường Tín,
đưa ra phân tích về thế mạnh và tiềm năng phát triển bền vững của các làng này theo hướng kết hợp sản xuất truyền thống với du lịch Từ 1/8/2008, thủ đô Hà Nội
mở rộng địa giới hành chính sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, trên cơ sở này, những nghiên cứu về Thường Tín nói chung, làng nghề ở huyện nói riêng trở thành một bộ phận quan trọng trong mảng nghiên cứu nghề vùng đất Thăng Long – Hà Nội Trong thời điểm này, PGS.TS Phạm Quốc Sử cũng có bài viết Các làng nghề Hà
Trang 11Tây trong khung c ảnh hội nhập thủ đô Hà Nội 8 (2010) v ề những cơ hội và thách thứ của các làng nghề tại Hà Tây trước việc trở thành một phần của thủ đô Hà Nội
Năm 2010, trong dịp Đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, NXB
Hà Nội đã xuất bản cuốn Làng nghề phố nghề Thăng Long – Hà Nội trên đường
phát tri ển do Vũ Quốc Tuấn chủ biên Cuốn sách gồm ba chương: Làng nghề, phố
nghề Thăng Long – Hà Nội trong lịch sử; Thực trạng làng nghề, phố nghề Hà Nội
và Làng nghề, phố nghề Thăng Long – Hà Nội trong thời kì phát triển mới Các tác giả trong phần phụ lục cũng có giới thiệu sơ lược về một số làng nghề tiêu biểu trong đó có bảy làng của Thường Tín bao gồm Thụy Ứng
Một xuất bản gần đây nhất của thành phố Hà Nội là Bách khoa thư Hà Nội
ph ần mở rộng phần kinh tế (2017) có thông tin đầy đủ về các làng nghề trong địa
bàn thành phố nói chung, huyện Thường Tín nói riêng nhưng chỉ dừng lại ở việc thống kê các nhóm làng nghề (gồm 11 nhóm) và mô tả sơ lược về các nghề Huyện
ủy Thường Tín cũng đã nhiều lần tổ chức hội thảo khoa học và biên soạn sách địa
phương trong đó tiêu biểu nhất là 2 cuốn Thường Tín đất danh hương (2004) và Các nhà khoa b ảng trí thức và nghệ nhân tiêu biểu huyện Thường Tín 1075 – 2015
(2017) Ở cả 2 cuốn sách này đều dành một chương để viết về lịch sử hình thành và giới thiệu nhứng nét cơ bản về các làng nghề trên địa bàn huyện
Ngoài ra còn phải nói tới các công trình nghiên cứu là các luận văn, luận án của các tác giả đi trước Tác giả Lê Tuấn Tú với đề tài luận văn Phát triển làng
ngh ề ở huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội9 đã đưa ra thực trạng phát triển làng nghề ở huyện Thường Tín, một số giải phát và phương hướng phát triển làng nghề ở huy ện nói chung dựa trên góc độ nghiên cứu kinh tế chính trị Nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở phát triển thực tế, tác giả không lựa chọn hướng nghiên cứu liên ngành mà chỉ đơn ngành nên chưa đề cập sâu tới lịch sử phát triển, phân hóa và mối quan hệ làng nghề cũng như tìm hiểu đối tượng nghề và làng nghề cụ thể Luận văn thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh của Nguyễn Việt Cường với đề tài Giải pháp phát
8 Tham luận hội thảo
9 Lê Tuấn Tú (2014), Phát triển làng nghề ở huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội (LVThS), Học viện Chính trị, Hà Nội
Trang 12tri ển làng nghề truyền thống huyện Thường Tín10đã đưa ra kết quả khảo sát về thực trạng sản xuất, cơ hội - thách thức đang gặp phải và giải pháp cho các làng nghề
th ủ công nói chung ở trên địa bàn huyện Thường Tín Nghiên cứu về cấu trúc dân
cư – xã hội của làng nghề theo trường hợp có đề tài Cấu trúc xã hội của dân cư đồng bằng sông Hồng hiện nay (nghiên cứu trường hợp hai làng nghề ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội)11 của Nguyễn Ngọc Anh năm 2014 đã tập trung nghiên cứu về đặc điểm và các yếu tố tác động đến cấu trúc dân cư làng nghề; trường hợp làng nghề của hai xã Vạn Điểm và Duyên Thái Luận văn thạc sĩ kiến trúc c ủa Phạm Thị Thu: Đánh giá không gian kiến trúc làng nghề Vạn Điểm, Thường Tín, Hà Nội12 tập trung nghiên cứu theo hướng chuyên ngành về cấu trúc không gian, những đặc điểm và tinh hoa kĩ thuật của người dân làng nghề chạm khắc gỗ Vạn Điểm
Đã có một số công trình nhỏ và một số bài báo, bài viết nghiên cứu và tìm hiểu về làng nghề lược sừng Thụy Ứng, có thể nói tới như Quy hoạch bảo vệ môi
trường làng nghề Thụy Ứng, Thường Tín, Hà Nội đến năm 203013 c ủa Phạm Anh
Đức; nghiên cứu Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt thôn sản xuất chế biến
da Th ụy Ứng – Thường Tín – Hà Nội14… Ngoài ra còn có một số bài báo giới thiệu
nghề thủ công ở Thụy Ứng như Làng nghề lước sừng Thụy Ứng của Nguyễn Thị Hà trên trang Dân Việt, một số bài báo phản ánh về tình trạng môi trường ở Thụy Ứng
như Làng nghề Thụy Ứng: Nào cùng gây ô nhiễm15, báo Hà Nội Mới với bài viết
Ô nhi ễm nhiễm môi trường tại làng nghề Thụy Ứng… Nhìn chung các bài viết,
nghiên cứu này mới chỉ dừng ở mức giới thiệu, tìm hiểu chuyên ngành (chủ yếu là
v ấn đề môi trường) mà chưa khảo sát, phân tích chuyên sâu về làng nghề Thụy Ứng
10 Nguyễn Việt Cường (2016), Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống huyện Thường Tín (LVThS), Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Hà Nội
11 Nguyễn Ngọc Anh (2014), Cấu trúc xã hội của dân cư đồng bằng sông Hồng hiện nay (nghiên cứu trường
hợp hai làng nghề ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội (LATS), Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội
12 Phạm Thị Thu (2018), Đánh giá không gian kiến trúc làng nghề Vạn Điểm, Thường Tín, Hà Nội (LVThS), Đại học kiến trúc Hà Nội, Hà Nội
13 Đồ án tốt nghiệp, Đại học Tài nguyên môi trường Hà Nôi năm 2016
14 Nghiên cứu của nhóm sinh viên Khoa Môi trường, Đại học tài nguyên môi trường Hà Nội năm 2015
15 Xuân Đào (2017), Làng nghề Thụy Ứng: nào cùng gây ô nhiễm, báo điện tử Pháp Luật & xã hội
Trang 13hay đưa ra những giải pháp, những tham vấn để thúc đẩy sản xuất nghề thủ công tại đây
Nghiên c ứu về làng xã Việt Nam nói chung và làng nghề nói riêng, đặc biệt
là các làng nghề ở khu vực ngoại thành Hà Nội như Thường Tín đã có một quá trình lâu dài và mới được quan tâm hơn trong thời gian gần đây Dù các công trình nghiên cứu xuất phát từ các mục đích không giống nhau nhưng cũng đã cung cấp được một nguồn tư liệu cụ thể và những nhận định chuyên môn sâu sắc về làng nghề Mặc dù vậy, đa phần các công trình nghiên cứu đều chỉ tập trung dưới một góc độ chuyên môn nhất định, riêng lẻ và hầu hết là mang tính chất khảo sát, tìm hiểu lịch sử, nghiên cứu xã hội học hoặc kinh tế chính trị mà chưa có công trình nào theo hướng tiếp cận liên ngành về một đối tượng trường cụ thể đó là làng nghề Thụy Ứng
Lu ận văn đưa ra bức tranh tổng thể, phân tích, đánh giá, đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề Thụy Ứng và các làng nghề truyền thống trên địa Huyện Thường Tín, Hà Nội trong cơ chế thị trường
Nghiên cứu hệ thống hoá có bổ sung một số lý luận cơ bản về phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Khảo sát, phân tích, đánh giá đúng quá trình hình thành và thực trạng phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn Huyện Thường Tín, trường hợp làng Thụy Ứng
Từ những kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra phân tích và nêu quan điểm,
đề xuất một số giải pháp phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thường Tín trong cơ chế thị trường hiện nay
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các làng nghề ở huyện Thường Tín, làng ngh ề Thụy Ứng và các nhân tố tác động tới sự phát triển làng nghề trong cơ chế thị trường hiện nay
Giới hạn nghiên cứu và phân tích bao gồm: điều kiện tự nhiên – xã hội tác động tới sự phát triển của làng nghề; sự ra đời, quá trình phát triển và tình hình sản xuất hiện nay của làng nghề; tác động của cơ chế thị trường và các nhân tố từ nội tại tới sự phát triển làng nghề ở huyện Thường Tín và trường hợp làng Thụy Ứng
Lu ận văn nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của làng nghề huyện Thường Tín, làng nghề Thụy Ứng (từ thế kỷ XV) và tập trung tìm hiểu, khảo sát, đánh giá thực trạng giai đoạn từ 1986 tới nay
Để nghiên cứu về vấn đề này, luận văn đã sử dụng hướng tiếp cận liên ngành
(inter – discriplinariti) trong nghiên cứu khu vực học để có thể tận dụng được nhiều
tiêu chuẩn và các kết quả của nghiên cứu chuyên ngành khác nhau Với cách tiếp cận này, luận văn có thể khai thác và xử lý các vấn đề ở nhiều phương diện khác nhau một cách khoa học nhất bởi nghiên cứu làng xã là lĩnh vực vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính thực tiễn cao
Về phương pháp cụ thể, khi xem xét làng nghề là một không gian xã hội –
văn hóa, luận văn đã sử dụng phương pháp khu vực học để có được tri thức đầy đủ
nhất về điều kiện tự nhiên, đời sống xã hội và quan hệ tương tác giữa con người với
tự nhiên ở một không gian cụ thể Luận văn cũng sử dụng phương pháp hệ thống – cấu trúc xem xét làng nghề là một hệ thống riêng gồm các yếu tố hợp thành Từ sự
phát triển đặc thù của các làng nghề, luận văn đã mở rộng phạm vi nghiên cứu, tìm hiểu cả các mối quan hệ trong hệ thống và ngoài hệ thống cấu trúc Cụ thể ở trường hợp này là mối quan hệ giữa các nghề khác nhau và quan hệ giữa các làng nghề
trong địa bàn huyện Phương pháp lịch sử cũng được luận văn sử dụng nhằm tìm
hiểu quá trình phát triển của các làng nghề theo một trình tự liên tục, có hệ thống
Trang 15Ngoài ra, luận văn còn kết hợp sử dụng một số phương pháp, thủ pháp cụ thể
trong giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu như: nghiên cứu tài liệu (xây dựng cơ sở
lý thuyết phục vụ nghiên cứu đề tài), điền dã dân tộc học (nhằm thu thập được những thông tin thực tế nhất), điều tra xã hội học (nhằm thu thập các tài liệu định lượng và định tính), phỏng vấn (nhằm thu thập được thông tin chuyên sâu, đa chiều
về tình hính sản xuất, thực tế thị trường, nhu cầu người tiêu dùng cũng), khung phân tích SWOT trong nghiên c ứu khu vực học (về bao gồm: điểm mạnh - điểm yếu - cơ
hội - nguy cơ của đối tượng là làng nghề)
Luận văn tham khảo và có sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn bao gồm: tư liệu chữ viết, tư liệu truyền miệng và tư liệu thu thập được qua quá trình điền dã
Về tư liệu chữ viết, luận văn đã tham khảo và khai thác tư liệu từ một số bộ
sử cũ như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,… Bên cạnh nguồn tư liệu là các bộ chính sử thì có một nguồn tư liệu quan trọng khác là thư tịch và khảo cứu
c ủa các triều đại phong kiến, các học giả lớn như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn; một số bài viết của Phan
Kế Bính khi tìm hiểu về một số làng nghề của huyện Thường Tín; một số tài liệu của người nước ngoài trong đó có viết về làng nghề thủ công ở Việt Nam như Xứ
Đông Dương của Paul Doumer, Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của Pierre
Gourou…
Luận văn đã tham khảo các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và văn bản chỉ đạo, kế hoạch, sử dụng các số liệu tổng kết từ chính quyền các cấp qua các thời kì Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo và sử dụng tư liệu từ nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, kinh tế - xã hội, nông thôn, làng xã từ một
số tác giả đương đại như: GS Phan Huy Lê (Lịch sử & văn hóa Việt Nam – tiếp cận
b ộ phận, tìm về cội nguồn…), GS Trần Quốc Vượng (Cơ sở văn hóa Việt Nam, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Hà Nội như tôi hiểu…), GS Hà Văn Tấn (M ột số vấn đề lý luận sử học), GS Ngô Đức Thịnh (Văn hóa vùng và phân vùng
Trang 16văn hóa ở Việt Nam), GS Nguyễn Quang Ngọc (Nông thôn và đô thị Việt Nam –
L ịch sử, thực trạng và khuynh hướng biến đổi)…
Lu ận văn cũng đã tham khảo các gia phả, hương ước, bi ký và các chứng tích vật chất ở một số làng thực địa thuộc huyện Thường Tín Bên cạnh đó, nguồn tư liệu dã sử cũng được sử dụng trong luận văn bao gồm các truyền thuyết dân gian về lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của các làng nghề thuộc huyện Thường Tín Đã
có nhiều tài liệu mang tính chất truyền miệng, phản ánh tương đối khách quan về thực trạng của các làng nghề tại huyện Thường Tín nhưng đặc điểm chung của các
tư liệu này thường mang tính ước lệ cao Tuy nhiên, khi đặt nó trong mối tương quan, liên hệ một cách tổng thể, chi tiết với các nguồn tư liệu khác thì dã sử cũng có thể cung cấp một lượng thông tin cơ bản, phong phú để có thể tìm hiểu về các làng nghề ở Thường Tín
Luận văn dựng lại quá trình hình thành, quá trình phát triển, đặc điểm, tình hình và điều kiện hiện nay của các làng nghề tại huyện Thường Tín
Từ nghiên cứu trường hợp làng Thụy Ứng, luận văn đã chỉ ra được những thu ận lợi - khó khăn trong sản xuất thủ công tại đây hiện nay, những kinh nghiệm
và những giải pháp khắc phục khó khăn đối với sản xuất làng nghề trong cơ chế thị trường Thông qua kết quả nghiên cứu về làng nghề ở huyện Thường Tín và trường hợp làng Thụy Ứng, luận văn đã đưa ra những cơ hội, thách thức và các nhóm giải pháp đối với phát triển các làng nghề tại huyện Thường Tín trong cơ chế thị trường hiện nay
K ết quả nghiên cứu có giá trị có tham mưu cho các cấp chính quyền, người dân làm nghề, quản trị HTX, các hội nghề… phục vụ hoạt động qui hoạch, cải tạo
và phát triển sản xuất
Ngoài ra luận văn còn có giá trị tư liệu tham khảo cho các nghiên cứu về làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín và thành phố Hà Nội
Trang 178 C ấu trúc luận văn
Luận văn gồm bốn phần lớn: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và
ph ần phụ lục, tài liệu tham khảo
Phần nội dung gồm 3 chương:
- Chương 1: Làng nghề tại huyện Thường Tín
- Chương 2: Làng nghề lược sừng Thuỵ Ứng trong cơ chế thị trường
- Chương 3: Những vấn đề đặt ra cho phát triền làng nghề tại huyện Thường Tín trong cơ chế thị trường – kinh nghiệm từ làng Thụy Ứng
Trang 18N ỘI DUNG Chương 1: LÀNG NGHỀ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN
Làng nghề có thể hiểu là một không gian cộng cư, một thực thể kinh tế, văn hóa - xã hội mà ở đó phần lớn hoặc tất cả người dân sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủ công Ở các làng này không nhất thiết toàn bộ người dân đều chỉ làm thủ công
mà người nông dân cũng có thể đồng thời là người thợ Nhiều trường hợp làng có
đa số người dân chỉ làm một nghề thủ công những cũng có làng có nhiều nghề cùng tồn tại16 Các nghề thủ công cũng phát triển vượt khỏi ranh giới làng và hình thành các vùng nghề, phường nghề… Làng nghề có thể hình thành bằng nhiều phương thức khác nhau như: làng cổ truyền hình thành trước sau đó có vị tổ nghề truyền dạy hoặc người dân học nghề từ vùng khác về dần dần hình thành làng có thợ, có nghề;
do một hoăc một số người có nghề lập ra theo kiểu phường, trại sau phát triển thành ngh ề mới; làng kết hợp làm nông nghiệp với làm thủ công lúc nông nhàn, dần dần chuyển đổi cơ cấu sản xuất với nghề thủ công chiếm đa số Do vậy, nghiên cứu về ngh ề thủ công và các làng nghề thủ công truyền thống không thể bó buộc không gian trong một đối tượng làng cụ thể cần dựa vào đặc thù nghề nghiệp, điều kiện lịch sử và hiện trạng sản xuất để đưa ra được bức tranh toàn diện và khách quan nhất
Theo Ngh ị định số 66/2006/NĐ - CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính
ph ủ về phát triển ngành nghề nông thôn và Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều
c ủa Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn (năm 2016), nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí
Trang 19- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc
- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng ngh ề
Cũng theo nghị định này, làng nghề được công nhận phải đạt cả 02 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động vào nhóm nghề (để lấy căn cứ đặt tên cho làng nghề khi được công nhận)
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
Như vậy, làng nghề thủ công truyền thống phải đạt đồng thời cả 5 tiêu chí nêu trên để được công nhận
Tóm lại, làng nghề thủ công truyền thống có thể hiểu là một đơn vị dân cư hoàn chỉnh nhỏ nhất của xã hội nông thôn Việt Nam, là trung tâm sản xuất hàng hóa thủ công có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài Ở các làng này có đa số người dân sản xuất thủ công; có lực lượng thợ, nghệ nhân nhiều thế hệ với kinh nghiệm và
k ỹ thuật chuyên nghiệp; có liên kết sản xuất, mua bán, (có cùng Tổ nghề) và có ý thức về nghề và làng nghề của mình Do đó, để tìm hiểu về đối tượng làng nghề truy ền thống không chỉ quan tâm tới các khía cạnh đơn lẻ mà phải chú trọng tới nhiều mặt, nghiên cứu tổng thể về làng nghề đó theo hai chiều không gian và thời gian và xem xét tới các mối quan hệ của đối tượng cả bên trong lẫn bên ngoài
Làng nghề truyền thống có một số đặc điểm chung như sau:
Th ứ nhất, hoạt động sản xuất nghề song song và gắn liền với canh tác nông
nghiệp và xã hội nông thôn
Th ứ hai, sản xuất sản phẩm tại các làng nghề chủ yếu dựa vào kỹ thuật thủ
công
Th ứ ba, các làng nghề có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, có sự kế
thừa, đóng góp công sức của nhiều thế hệ nghệ nhân17
17 Có thể ví dụ một số làng nghề như: làng gốm Bát Tràng đã có hơn 500 năm; làng nghề đúc đồng Ngũ Xã gần 500 năm; nghế sơn son thếp vàng Kiêu Kị gần 300 năm; làng nghề lược sừng Thụy Ứng khoảng 400 năm [58]
Trang 20Th ứ tư, các làng nghề truyền thống đã xây dựng được thương hiệu tên nghề
gắn liền với tên làng; người dân luôn có ý thức về nghề và làng nghề của mình
1.1.2 C ơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là cơ chế hoạt động của nền kinh tế hàng hóa Quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa được điều tiết theo yêu cầu khách quan của các quy luật kinh tế vốn có như quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ Có thể hiểu cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố kinh
tế, giá cả, cung cầu, hàng tiền… trong đó các đối tượng sản xuất và đối tượng tiêu dùng có quan h ệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết ba vấn đề cơ bản: sản xuất gì? Sản xuất thế nào? Và sản xuất cho ai? Cơ chế thị trường là một trật tự kinh tế, là “bộ máy tinh vi phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanh nghiệp” [38] Người bán, người mua và giá cả, hàng hoá và giá cả hàng hoá là các yếu tố gắn liền với thị trường và cơ chế thị trường Hàng hoá bao gồm tất cả hàng tiêu dùng, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, tư bản…Bán các
y ếu tố sản xuất đó mang lại thu nhập thông qua giá cả, và mỗi người lại sử dụng thu nhập đó để mua hàng hoá dịch vụ mình cần Thông qua sự trao đổi cân đối giữa cung và c ầu cơ chế thị trường sẽ có một hệ thống tự cân bằng giữa giá cả và sản xuất, trong đó cung cầu chính là sự tương quan giữa hai lực lượng người bán và người mua trên thị trường Đó cũng là nội dung quy luật cung cầu hàng hoá Cơ chế thị trường tự phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có thị trường và do đó có cơ chế thị trường hoạt động
Theo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thì cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó
Cơ chế thị trường giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là cái gì, như thế nào và cho ai Cơ chế thị trường bao gồm các yếu tố cơ bản là cung, cầu và giá cả hàng hoá
Như vậy, có thể hiểu cơ chế thị trường chính là cơ chế điều chỉnh của nền kinh t ế hàng hoá cho phép xác định các vấn đề cơ bản về quy mô, hình thức sản
Trang 21xu ất, lượng hàng hoá, giá bán cho các thành phần cơ bản tham gia vào nền kinh tế
là người mua và nhà sản xuất Đối với cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước kia của
n ền kinh tế chỉ huy thì rõ ràng cơ chế thị trường là bước phát triển tất yếu và có nhiều điểm ưu việt hơn Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, cơ chế thị trường cũng còn rất nhiều vấn đề, nhược điểm nên cần có những điều chỉnh, tham gia và cơ chế hỗ trợ của Nhà nước về mặt quản lý, chính sách, qui hoạch,…
1.2.1 V ị trí địa lý và lịch sử hình thành
Huy ện Thường Tín cách trung tâm thủ đô Hà Nội 14km về phía nam, có ranh giới tự nhiên với tỉnh Hưng Yên là sông Hồng ở phía Đông, phía Tây là huyện Thanh Oai, phía Bắc và Nam là các huyện Thanh Trì và Phú Xuyên
Nơi đây, từ xa xưa đã là cửa ngõ quan trọng để dẫn vào kinh đô Thăng Long, mảnh đất này cũng gắn liền với những địa danh và con người lịch sử như bãi Tự Nhiên18, chiến thắng Chương Dương – Hàm Tử, chiến thắng Hà Hồi mùa xuân năm
K ỷ Dậu 1789 của vua Quang Trung, quê hương cha con Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi, chí sỹ Lương Văn Can…
Thường Tín có lịch sử hình thành lâu đời, trải qua nhiều lần thay đổi địa giới
và đơn vị hành chính Thời Đinh và Tiền Lê, Thường Tín thuộc đạo Quốc Oai Tới thời Lý, vua Lý Thái Tổ đổi Thập đạo của thời Lê thành 24 lộ và vùng Thường Tín thuộc lộ Quốc Oai Sang thời Trần, Thường Tín là huyện Thượng Phúc, thuộc Châu Quốc Oai, trong lộ Đại La Thành hay Đông Đô Tới thời vua Lê Thái Tổ, Thường Tín thuộc Tây Đạo trong năm đạo cả nước [56, tr 6] Đến năm Bính Tuất, niên hiệu Quang Thu ận thứ 7 (1466) Lê Thánh Tông lại chia đất nước làm 13 đạo Thừa Tuyên Đất Hà Tây thuộc 2 thừa tuyên: Sơn Nam19 và Quốc Oai, Thường Tín thuộc Sơn Nam Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) định lại bản đồ cả nước để thống thuộc các phủ, huyện vào các Thừa Tuyên Vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Phủ Thường Tín được thành lập gồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Đàm (Thanh
1 Theo truyền thuyết là nơi gặp gỡ của Chử Đồng Tử và Tiên Dung
19 Sơn Nam thừa tuyên bao gồm 9 phủ, 36 huyện Các phủ: Thường Tín, Ứng Thiên, Lý Nhân, Khoái Châu, Thiên Trường, Kiến Xương, Thái Bình, Nghĩa Hưng, Tân Hưng [45]
Trang 22Trì) và Phù Vân (Phú Xuyên) Huy ện Thượng Phúc gồm 58 xã và 8 thôn Trong
L ịch triều hiến chương loại chí có đoạn “Phủ Thường Tín ở phía bắc Sơn Nam, địa
gi ới gần trung đô, các huyện đều men theo đường quan lộ, đất bằng rộng rãi, không
có rừng núi ngăn cản Duy có dòng sông Tô Lịch quanh vòng trong hạt…”[10] Năm 1831, thời vua Minh Mạng, Phủ Thường Tín được tách thành ba châu (huyện)
Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên thuộc tỉnh Hà Nội Trong sách Các tổng trấn
xã danh b ị lãm có ghi lại: “huyện Thượng Phúc: 12 Tổng, 81 xã thôn”20 Đồng Khánh dư địa chí có viết: “Huyện hạt phía đông giáp huyện Thanh Trì, phía tây
giáp huy ện Thanh Oai, phía nam giáp huyện Duy Tiên, phía bắc giáp huyện Thọ
Xương Đông tây cách nhau 8 dặm Nam bắc cách nhau 20 dặm 63 trượng” [22, tr 16] Trong Phương Đình Dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu có viết về Phủ Thường
Tín: “Phía nam cách tỉnh 31 dặm, lĩnh 3 huyện (nguyên là trấn Sơn Nam) gồm huyện Thượng Phúc, Thanh Trì và Phú Xuyên Trong đó Huyện Thượng Phúc, vốn
là Thượng Phúc nhà Minh đổi là Bảo Phúc, thuộc châu Phúc Yên, nhà Lê phục tên
cũ, 12 tổng 82 xã thôn [45, tr 368-369] Trong thời Pháp thuộc, phủ Thường Tín thuộc tỉnh Hà Đông Sau Cách mạng Tháng Tám đổi thành huyện Thường Tín thu ộc tỉnh Hà Đông, sau này là một huyện Hà Sơn Bình, Hà Tây Từ ngày 1/8/2008, theo Nghị quyết số 15/2008/QH1221 về mở rộng địa giới Thủ đô Hà Nội, Thường Tín trở thành một huyện của thành phố Hà Nội
Thường Tín hiện nay có 1 thị trấn là huyện lị và 28 xã gồm: thị trấn Thường Tín, các xã Chương Dương, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Nguy ễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự
20 Bao gồm các tổng: Cổ Hiền, Thượng Hồn, La Phù, Hà Hồi, Bình Lăng, Đông Cứu, Triều Đông, Tín Yên, Chương Dương, Thụy Phú, Phượng Dực
21 Quốc hội nước CHXHCNVN (2008), Nghị quyết số 15/2008QH12 "Về việc điều chỉnh địa giới hành chính
TP Hà N ội và một số tỉnh có liên quan”, Hà Nội
Trang 231.2 2 Điều kiện tự nhiên
Huyện Thường Tín có tổng diện tích là 127,59 km² trải dài bên dòng chảy
c ủa ba con sông là sông Hồng, sông Nhuệ và sông Tô Lịch22 Thường Tín có hệ thống giao thông thuận lợi trên cả đường bộ và đường thủy Hai tuyến đường quốc
lộ huyết mạch chạy song song dọc chiều dài của huyện là Quốc lộ 1A và đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ với tổng chiều dài 17km Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn
có các tuyến đường nối, giao cắt giữ hai trục quốc lộ, tuyến đường tỉnh lộ 427 (nối
từ sông Hồng qua quốc lộ 1A, đi qua khu vực phía tây huyện và nối với quốc lộ 21B t ại Thanh Oai); Tỉnh lộ 429 (73 cũ) và các tuyến đường liên xã, dân sinh Đường sắt Bắc – Nam chạy qua và song song với quốc lộ 1A với 3 nhà ga là ga Thường Tín, ga Tía và ga Đỗ Xá Về đường thủy, ven sông Hồng có các cảng Hồng Vân, Vạn Điểm cùng các bến phà ngang làm điểm trung chuyển của tuyến vận tải trên sông Hồng và đi các huyện của Hưng Yên
Đất đai Thường Tín được bồi đắp màu mỡ bởi dòng chảy tự nhiên của sông
H ồng và sông Nhuệ, đặc biệt là sông Hồng Thường Tín “là vùng đất cao ráo bằng phẳng, ruộng thì vào hạng thương thượng, cấy lúa thích hợp, nhân công làm lụng
hơn các lộ khác, các triều phi đụng nuôi quân đều nhờ ở đây”[71] Loại đất chính
của Thường Tín là đất phù sa ít bồi (do hệ thống đê điều hoàn chỉnh), phù sa glây ở một số xã phía tây bắc như Khánh Hà, Nhị Khê, đất phù sa ngoài đê ở các xa ven sông Hồng như Ninh Sở, Tự Nhiên, Chương Dương, Lê Lợi, Thống Nhất, Vạn Điểm, đất pha cát ở các xã vùng giáp với đê sông Hồng
Thường Tín có hệ thống thủy lợi được xây dựng và cải tạo liên tục qua các
th ời kì Đê sông Hồng, sông Nhuệ được thường xuyên tu sửa, ngoài ra còn có nhiều trạm bơm dẫn nước từ sông Hồng vào các kênh mương, máng nổi và mương nội đồng Một số đầm nước, hồ nước khá lớn có nhiệm vụ tích trữ và điều tiết nước như vực Quýt, vực Đô Quan, đầm Xâm Thụy… Nằm ở phía tây, sông Nhuệ đóng vai trò tiêu thoát nước sản xuất và sinh hoạt cho phần lớn diện tích của huyện Nhìn chung,
22 Trước kia, huyện Thường Tín có dòng chảy của 4 con sông: sông Hồng, sông Nhuệ, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu Sau này, sông Kim Ngưu bị san lấp, chỉ một số đầm, hồ nước, dòng chảy nhỏ là các đoạn sông còn lại
Trang 24h ệ thống thủy lợi ở Thường Tín theo hướng đông – tây, dẫn nước mang nhiều phù
sa từ sông Hồng làm nguồn tưới cho các cánh đồng trong huyện, tích trữ tại các đầm nước và chảy ra sông Nhuệ ở phía Tây
Thường Tín có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp Quỹ đất rộng, cơ cấu cây trồng đa dạng cũng tạo cho Thường Tín có nguồn nguyên liệu tại chỗ phù hợp cho phát triển thiểu thủ công nghiệp (như dâu tằm, mây, tre, đay, sợi…)
1.2 3 Dân cư – xã hội
Thường Tín hiện nay bao gồm 28 xã và 1 thị trấn, 126 làng phân thành 169 thôn Tổng diện tích 127,69 km2, dân số khoảng hơn 236 nghìn người (thống kê năm 2017) Mật độ dân cư trung bình 1677 người/km² Về cơ cấu kinh tế: công nghiệp - thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 53,4%; dịch vụ chiếm 32,5%; nông nghiệp chiếm 14,1%24
Về nông nghiệp, điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp người dân Thường Tín
s ớm phát triển sản xuất nông nghiệp với cơ cấu cây trồng đa dạng, năng suất cao Nông sản Thường Tín không những phục vụ nhu cầu tại chỗ mà còn cung cấp cho các th ị trường lân cận đặc biệt là nội thành Hà Nội Nhiều nông sản của các xã đã trở thành thương hiệu nổi tiếng như: khoai tây, bí xanh Hà Hồi, cà chua Vân Tảo, bầu Tự Nhiên… Từ những năm 60 nông sản vụ đông của các xã Hà Hồi, Vân Tảo,
Mễ Sơn… như khoai tây, bí xanh, su hào đã nổi tiếng và trở thành nguyên liệu của nhiều nhà máy chế biến đồ hộp, mứt kẹo, trở thành sản phẩm xuất khẩu đi thị trường Đông Âu
Hi ện nay, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện là 6.538 héc-ta trong đó đất trồng lúa là 5.265 héc-ta, đất trồng cây hàng năm là 916 héc-ta, diện tích nuôi trồng thủy sản là 1.167 héc-ta; mô hình cây trồng, vật nuôi đa dạng Bên cạnh nhiệm vụ đảm bảo lương thực, nông nghiệp ở Thường Tín đang phát triển theo hướng sản xuất chuyên nghiệp qui mô lớn, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
24 UBND huyện Thường Tín (2017), Báo cáo tổng kết tình hình KT-XH huyện Thường Tín năm 2017, Hà Nội
Trang 25xu ất, tiến hành dồn điền đổi thửa và xây dựng những trang trại cỡ lớn, hình thành một số vùng chuyên canh lúa, rau an toàn, cây ăn quả, hoa… Người nông dân ở Thường Tín sở hữu kinh nghiệm trồng trọt và chăn nuôi được đúc kết qua nhiều thế
hệ hình thành một phương thức sản xuất chuyên nghiệp Ở các xã Hà Hồi, Vân Tảo, Nguyễn Trãi, Tự Nhiên, Hồng Vân… có những cánh đồng xanh quanh năm mang lại hiệu quả kinh tế cao Các kỹ thuật xen canh, luân canh, cải tạo đất và phòng trừ sâu bệnh được người dân áp dụng triệt để vừa khai thác, vừa cải tạo môi trường, giúp tăng năng xuất và giảm chi phí, công sức chăm sóc cho người nông dân Kho ảng mười năm trở lại đây, nông dân tại Thường Tín đã mạnh dạn đầu tư xây dựng hệ thống nhà lưới, nhà kính để trồng rau sạch, cà chua, hoa quanh năm Nhiều HTX và các công ty thực phẩm đã khuyễn khích hỗ trợ người dân sản xuất rau sạch, nông sản hữu cơ; bao tiêu sản phẩm cho người nông dân Sản xuất nông nghiệp tại đây đang có sự chuyển dịch mạnh từ mô hình truyền thống sang mô hình sản xuất hiện đại, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hướng tới phát triển nông nghi ệp xanh, bền vững
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế huy ện Thường Tín với 48 làng nghề (đã được công nhận) và hơn 100 làng có nghề thủ công Huyện cũng đã xây dựng 3 khu công nghiệp là: Bắc Thường Tín, Phụng Hiệp và KCN thuộc đô thị vệ tinh Phú Xuyên Ngoài ra còn có 6 cụm công nghiệp gồm: Duyên Thái, Hà Bình Phương, Liên Phương, HABECO, Quất Động, Lưu Xá
và một Nhà máy Bia Châu Á Thái Bình Dương và các lĩnh vực công nghiệp phụ trợ như công nghệ sinh học, điện tử, cơ khí chế biến nông sản…với các cơ sở sản xuất, nhà máy phân b ố rải rác
Nhờ hệ thống giao thông đường thủy – bộ thuận lợi, nông sản và các sản phẩm của Thường Tín dễ dàng vận chuyển và tiêu thụ ở nhiều thị trường trong nước
và nước ngoài, thương lái và người mua hàng cũng rất dễ dàng tới đây để thực hiện giao dịch mua bán Huyện Thường Tín cũng có hệ thống thương mại – dịch vụ phát triển với nhiều chợ đầu mối, các chợ dân sinh, siêu thị và các cửa hàng đa dạng Ở đây chợ đầu mối gia cầm Hà Vĩ – Lê Lợi, chợ đầu mối nông sản Liên Phương, chợ
Trang 26V ồi (chợ đầu mối nông sản – tổng hợp) Các chợ đầu mối này có vai trò quan trọng đối với thị trường khu vực và thành phố Hà Nội, là điểm trung chuyển, giao dịch
c ủa nông sản và nhiều loại mặt hàng của các tỉnh phía nam trước khi tới với thị trường Hà Nội Tại các làng xóm còn có các chợ dân sinh ở nhiều qui mô như chợ Hôm (Hà Hồi), chợ Bằng (Văn Bình), chợ Kệ (Ninh Sở), Chợ Giường (Duyên Thái)….và các siêu thị, trung tâm giải trí như Lan Chi, Long Bình, Trường Việt…thuận tiện cho việc mua bán và sinh hoạt hàng ngày của người dân
Người dân Thường Tín nổi tiếng cần cù chịu khó cùng khả năng sáng tạo và bàn tay tài hoa t ừ sớm đã biết chế tác các sản phẩm thủ công không chỉ phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình mà còn là nơi cung cấp các sản phẩm thủ công phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong khu vực và cả nước Chính vì vậy mà Thường Tín còn nổi tiếng với số sự đa dạng của các nghề thủ công cùng mật độ làng nghề dày đặc
Nhờ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã
h ội, Thường Tín sớm mang những đặc điểm của một huyện ven đô Truyền thống văn hóa làng xã được người dân bồi đắp và giữ gìn qua nhiều đời, nhiều làng còn
gi ữ được hương ước, các qui ước bất thành văn, hệ thống gia phả, gia huấn trong các dòng họ… Trong đời sống sinh hoạt, sản xuất, người dân đã cùng nhau chắt chiu, cố gắng xây dựng cảnh quan nông thôn, cổng làng, đường làng, ngõ xóm, các công trình đình, đền, chùa… các căn nhà ngói, biệt thự khang trang, có giá trị lịch
sử và giá trị thẩm mỹ cao Trên toàn huyện 385 điểm di tích lịch sử, văn hóa, trong
đó 89 di tích được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia như: chùa Đậu (xã Nguy ễn Trãi), lăng đá Quận Vân (xã Vân Tảo), khu Giá ngự (xã Tự Nhiên), chùa Pháp Vân (xã Văn Bình), đình Hà Hồi (xã Hà Hồi), đình – chùa Khê Hồi, chùa Mui, khu di tích đền Nguyễn Trãi (xã Nhị Khê)… Ngoài ra còn có các quần thể công trình tâm linh tín ngưỡng như: đền thờ Thánh Lê Tùy (xã Ninh Sở), quần thể đền Đại Lộ (xã Ninh Sở), đình – đền – nghè Bằng (xã Văn Bình)… Gắn liền với các di tích lịch sử là các sinh hoạt văn hóa, các lễ hội lớn diễn ra quanh năm, thu hút hàng
Trang 27v ạn khách hành hương tham gia như: lễ hội chùa Đậu, lễ hội Tự Nhiên, lễ hội Tổng
Hà Hồi, lễ hành hương đền Thành Lê Tùy, lễ hội đền Đại Lộ, lễ giỗ tổ nghề mộc…
Mễ Hoà26chẻ nứa đan mành ta mua
Quýt Đức27 thêu quạt, thêu cờ
Nhị Khê tiện gỗ đền thờ chạn hoa
Làng Giai28 tơi lá che mưa
Trát Cầu bông sợi chẳng thua gì người Lược thưa Thụy Ứng chàng ơi
Trăm nghề quê thiếp, thiếp mời chàng mua"
“Thợ nề khéo đồn rằng thợ Cống (Cống Xuyên)
Xã Nhân Hiền thợ mộc nổi danh”
“Đồ sừng Thụy Ứng làm ra Thêu thì thợ Võ, khảm thì thợ Chuôn29” Các làng nghề ở Thường Tín từng được nhắc tới trong nhiều thư tịch cổ và các công trình nghiên cứu qua các thời kì Từ thế kỉ XV Dư Địa chí của Nguyễn Trãi có vi ết “Đông Thái có rượu nếp, Bình Vọng có rượu sen, rượu nếp cúc… các thứ ấy đều dâng lên để tiến lễ bốn mùa…” [22, tr 347] Đồng Khánh dư địa chí có các mục phong tục, sản vật,… của huyện Thượng Phúc trong đó có đoạn: “lúa thu, lúa hè ngang nhau Dâu trồng ở đất bãi Các xã Hà Hồi, Đức Trạch, Phú Cốc, Khê
26 Mễ Sơn – xã Nguyễn Trãi
27 Quýt Đức (Quất Động – Đức Trạch) xã Quất Động
28 Làng Văn Trai, xã văn Phú
29 Làng thuộc xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên
Trang 28H ồi, Phương Quế làm nghề nấu rượu Xã Đình Tổ dệt vải, nộp sản vật” [22, tr
349]
T ừ đầu thế kỷ XX, các sản phẩm lược sừng Thụy Ứng được tham gia Hội chợ tại Hà Nội và ở Pháp Báo Nam Phong số 30 tháng 12 năm 1919 có thống kê các gian hàng tại Hội chợ Hà Nội năm 1919 trong đó có các loại hàng thêu ren; đồ xương, sừng, đồi mồi; mây tre đan; trạm gỗ, khảm trai… của các làng nghề ở tỉnh
Hà Đông [41, tr 129-130] Tới những năm 1930 – 1935, “hàng tre đan Bằng Sở (Ninh Sở) nổi tiếng ở các hội chợ Hà Nội và triển lãm thuộc địa Pháp ở Pari năm
1931, v ới những làn, vali, bồ đựng giấy ”[46]
Về sự xuất hiện các nghề và làng nghề ở Thường Tín có thể lý giải bằng ba nguyên nhân chủ yếu là: người dân tận dụng nguyện liệu và thời gian để sản xuất phục vụ nhu cầu tại chỗ và tăng thêm thu nhập; người dân sáng tạo, học nghề và phát triển sản xuất chuyên nghiệp; nghề thủ công đã có là tiền đề ra đời của một hay nhiều nghề mới
Nguyên nhân th ứ nhất là việc tận dụng nguyên liệu tại chỗ, tranh thủ thời gian nông nhàn và giải quyết nhu cầu sử dụng các sản phẩm thủ công của người dân Hi ện tượng này ở các trường hơp: làng nghề mây tre đan Ninh Sở, làng nghề đan dụng cụ đánh bắt thủy sản Địa Mãn, nghề bện chổi Vân Tảo
Cuộc sống truyền thống của người dân Việt Nam, đặc biệt ở Bắc Bộ vốn gắn liền với cây tre Mây, tre, nứa… từ khởi thủy đã trở thành nguyên liệu thiếu yếu của đời sống hàng ngày, từ nhà tre, chõng tre, mành tre, chạn tre đến rổ, rá, nong, nia… hay nói cách khác tre trở thành nguyên liệu bách dụng Nghề đan lát ra đời trước hết
ph ục vụ nhu cầu sử dụng của chính người làm ra Đến những năm 90 ở nhiều làng thuần nông hoặc buôn bán vẫn có nhiều gia đình chuyên làm việc đan lát, làm chế tác và sửa chữa đồ gia dụng và nông cụ Trong một số trường hợp, nghề truyền thống gắn với trao đổi giao thương phát triển đã hình thành nhiều gia đình làm nghề chuyên nghiệp và dần hình thành các xóm nghề, phường nghề, làng nghề Ở Thường Tín, các làng Ninh Sở, Đại Lộ, Mễ Sơn… từ lâu đã nổi tiếng với nghề đan mây tre Điểm chung của các làng này đều rất gần sông (sông Hồng đối với các làng
Trang 29thu ộc Ninh Sở và sông Nhuệ đối với Mễ Sơn) với quỹ đất bãi trồng tre rộng, việc vận chuyển tre nứa thuận tiện Đối với nghề đan lưới và làm dụng cụ đánh bắt cá ở làng Địa Mãn, khu vực này có nhiều đầm nước khá lớn, nhiều cánh đồng trũng, sau này còn có con sông đào nối sông Hồng với sông Nhuệ nên người dân ở đây sớm phát triển khai thác thủy sản do đó thúc đẩy nhu cầu sử dụng dụng cụ chài lưới Ngoài ra, với nhiều cánh đồng trũng, các loại cây gai, cây đay nhiều, người dân có nguồn nguyên liệu tốt để làm thành các loại sợi, dây gai người dùng để dệt lưới Người dân Địa Mãn đã sản xuất không chỉ phục vụ cho mình mà nhanh chóng còn đáp ứng nhu cầu của các làng lân cận Nghề bện chổi ở Vân Tảo khởi điểm xuất phát cũng từ việc tranh thủ thứ phẩm từ nông nghiệp như rơm rạ được họ đan thành chổi để dùng và bán Sau này, người dân cập nhật thêm những kĩ thuật và nguyên liệu mới như chít, sơ dừa và sợi nhựa để làm chổi
Nguyên nhân thứ hai là việc người dân sáng tạo hoặc học được những nghề mới và phát triển hoạt động sản xuất của mình Nhờ thị trường phát triển (đặc biệt là
t ừ nhu cầu của khu vực đô thị) nghề thủ công mang lại nguồn thu nhập ổn định, dần hình thành một bộ phận thợ sản xuất chuyên nghiệp, các phường nghề và làng nghề
Có th ể coi đó là sự phát triển của kinh tế hàng hóa mà theo GS Phan Huy Lê trong
S ự phát triển của các hinh thái kinh tế - xã hội trong lịch sử Việt Nam thì từ TK X
đến TK XV, “một số thành thị (như Thăng Long) và thương cảng (như Vân Đồn) xuất hiện, nhiều chợ mọc lên ở nông thôn Một tầng lớp thợ thủ công và thương nhân dần dần tách ra khỏi nông nghiệp” [26, tr 308] Sự hình thành các nghề có thể độc lập ở những thời điểm, địa điểm khác nhau nhưng cũng có thể là sự tiếp nối lẫn nhau
Đây là nguyên nhân xuất hiện của nhiều làng nghề như: làng thêu Quất Động, làng nghề lược sừng Thụy Ứng, làng nghề tiện gỗ Nhị Khê Đặc điểm chung của các nghề này thường là nghề được truyền bá rộng rãi từ các vị Tổ nghề hoặc ra đời từ những sự kiện lịch sử như: nghề sơn thếp ở làng Bình Vọng do ông tổ nghề Trần Lư – người đỗ tiến sỹ khoa Nhâm Tuất (1502) truyền từ thế kỉ XVI30; nghề
30 Bình Vọng Trần Thị Gia phả
Trang 30làm lược sừng ở làng thụy ứng từ thế kỉ XVI [22, tr 395]; nghề thêu và làm lọng tại khu vực Quất Động có từ thế kỉ XVII với sự truyền nghề của ông Tổ nghề Lê Công Hành…[22, tr 359] Mặc dù nhiều nghề không rõ thời gian xuất hiện chính xác nhưng ở mỗi làng đều có những cách lý giải nguồn gốc xuất hiện nghề của làng mình
Nguyên nhân thứ ba đó là những nghề mới hình thành từ nền tảng nghề đã
có Từ nhu cầu của thị trường và sự sáng tạo không giới hạn, người thợ thủ công ở các làng nghề ở Thường Tín không chỉ học nghề, chuyên nghiệp hóa việc sản xuất
mà còn bi ến đổi nghề của mình Điều này thể hiện rất rõ đối với trường hợp nghề thêu ở khu vực Quất Động Xuất phát từ nghề thêu ở Quất Động, người dân các làng Ba Lăng, Cổ Chất, Đông Cứu (xã Dũng Tiến) lựa chọn hướng thêu các đồ trang trí, sản phẩm cung đình, tâm linh như nghi môn, khăn chầu áo ngự, áo kiệu, võng lọng…, người dân các làng Hướng Dương, Đống Xung (xã Thắng Lợi) lại chuyên may – thêu các loại quạt, cơ, chướng… Như vậy, chỉ từ nghề thêu nhưng
m ỗi làng lại lựa chọn cho mình một thị trường thế mạnh để tập trung sản xuất Nghề làm vàng mã ở Văn Hội, Văn Giáp, Văn Bình cũng là một xuất hiện tương tự Trước kia, tổng Văn Bình vốn nổi tiếng với các làng sơn thếp, vẽ tranh Tuy nhiên tới những năm 40, nghề sơn thếp vẽ tranh do nhiều yếu tố không còn phát triển tại đây (đặc biệt từ sự xuất hiện của chụp ảnh và in ấn), người dân vùng này vận dụng những kĩ thuật mình đã có vào việc sản xuất vàng mã, đặc biệt in vàng mã và nghề này vẫn đang tiếp tục phát triển cho tới ngày nay Hiện tượng này cũng xảy ra với trường hợp làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), làng tranh sơn mài Duyên Trường, Hạ Thái Th ậm chí trong cùng một nghề, người thợ sản xuất và các cơ sở cũng có sự chuyển đổi theo hướng chuyên nghiệp hóa giống như các làng nghề Điển hình là trường hợp gia đình nghệ nhân Hoàng Văn Tại – Trần Thị Khóa ở Thụy Ứng xuất phát điểm với nghề sừng, họ đã lựa chọn hướng đi riêng đó là sản xuất quạt sừng (nan quạt, sống quạt)…Từ đó có thể thấy quá trình hình thành, thay đổi và phát triển nghề và làng nghề mới từ những nghề có sẵn thể hiện đặc tính linh hoạt và
Trang 31sáng t ạo của người dân làm nghề nói riêng, phù hợp với quan điểm về sự mềm dẻo trong ứng biến của văn hóa Việt truyền thống nói chung
M ối quan hệ giữa các nghề và các làng nghề cũng góp phần lý giải quá trình
ra đời của chúng Sợi dây liên kết trong sản xuất sớm hình thành tạo ra một hệ thống cung ứng khá lớn đối với các làng nghề Thông thường các làng gần nhau sẽ
có sự mở rộng của nghề vượt qua ranh giới địa lý tạo thành nhóm làng hoặc vùng nghề từ một làng có nghề gốc Giữa các làng nghề còn có quan cung ứng trong một chuỗi sản xuất, cụ thể như làng chuyên về sơ chế, làng chuyên về nguyên liệu, làng chuyên v ề sản xuất – hoàn thiện, làng chuyên về đầu ra sản phẩm Quan hệ liên làng31 được gia tăng thông qua kết nối cung cầu hoặc tương hỗ của sinh kế rõ ràng
Có thể thấy ở trường hợp làng Vạn Điểm, nhờ nghề mộc phát triển mà một số làng lân cận rất phát triển nghề buôn gỗ, xẻ gỗ và sơ chế gỗ như Đỗ Xá, phố Guột; nghề khảm trai Hà Vỹ, Từ Vân… Hoặc các làng Liễu Viêm, Cống Xuyên, Đặng Thôn, Khôn Thôn gần vùng các làng thêu của Quất Động, Dũng Tiến thì có nghề nuôi
t ằm, ươm tơ, nhộm chỉ, dệt đũi Làng Bạch Liên chuyên làm bút lông ở gần làng sơn vẽ Bình Vọng…
Quá trình hình thành các ngh ề thủ công ở đây diễn ra liên tục trong thời gian dài và ở nhiều dạng thức Một số nghề trải qua quá trình hình thành tự nhiên lâu dài như các nghề bện chổi, đan lát, nghề mộc… nhưng một số nghề lại hình thành trong một thời gian ngắn và nhanh chóng phát triển (nghề thêu, nghề làm lược, nghề làm chăn ga gối đệm, nghề làm vàng mã) Ở các làng nghề, lớp lớp nghệ nhân cha truyền con nối giữ gìn mạch nghề hàng trăm năm Kĩ thuật tạo tác, bí quyết nghề nghi ệp được tiếp nối và hun đúc lâu dài để đạt tới mức tinh xảo, mẫu mực Không chỉ trong khuôn khổ vốn có, người nghệ nhân ở đây còn luôn sáng tạo để thế hệ sau được phát triển hơn thế hệ trước
31 Hà Văn Tấn (2007), Làng, liên làng và siêu làng (Mấy suy nghĩ về phương pháp), Một số vấn đề lý luận sử
học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 41-51
Trang 32Không ch ỉ phát triển nghề ở quê hương mà những người thợ Thường Tín còn mang nghề của mình đi đến những vùng đất mới và đạt được nhiều thành tựu, thậm chí còn hình thành các phường nghề, làng nghề mới Quá trình mở rộng nghề có thể xuất phát đơn thuần là việc di dân tự nhiên, hôn nhân, nhưng cũng có thể rộng hơn
là sức hút từ thu nhập khiến dân các vùng lân cận tới học nghề và mang nghề về quê mình (trường hợp nghề thêu, nghề mộc…) Thăng Long – Kẻ Chợ ngoài đặc điểm
là kinh đô, trung tâm chính trị thì luôn là trung tâm kinh tế - xã hội của Miền Bắc Theo GS.Nguyễn Quang Ngọc: “Những làng chuyên thủ công nghiệp thường đóng vai trò m ột trung tâm sản xuất hàng hóa ở nông thôn Những trung tâm này không những chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của địa phương mà còn mở ra cả một vùng rộng lớn và có quan hệ thường xuyên, trực tiếp với các trung tâm sản xuất và trao đổi hàng hóa trong khu vực Hầu như tất cả các làng thủ công nghiệp nổi tiếng trong khu vực châu thổ sông Hồng đều có quan hệ ít nhiều với Thăng Long hay các làng công nghiệp chủ yếu ở miền Trung đều có quan hệ với Hội An.”32 Có thể nói đây là quan điểm phù hợp với các nghiên cứu các làng nghề ở khu vực huyện Thường Tín bởi vị trí địa lý của địa phương, lịch sử hình thành làng và thị trường, quan hệ liên làng V ới vị trí gần kinh đô Thăng Long, nhiều thế hệ thợ tại Thường Tín đã rời quê hương mang theo nghề của mình góp phần xây dựng những phường nghề, phố nghề Tiêu biểu nhất là những người thợ sơn thếp, đóng đồ gia dụng đã đặt nền móng hình thành phố Hàng Hòm33 Nghề thêu Quất Động được phát triển ở các phố Hàng Thêu, Hàng Trống, Hàng Bông34 Các nghề: chạm, khắc, tiện, thêu ren, may
cờ phướn… cũng đươc các nghệ nhân sản xuất và đưa ra bán ở các phố Hàng Khay, Hàng Đào, Hàng Lọng, Hàng Bông… Cũng vì thế mà Thường Tín được coi là
“vùng đất Tổ trăm nghề”
32 Nguyễn Quang Ngọc, Kết cấu kinh tế - xã hội làng Việt cổ truyền [33, tr 40]
33 Tương truyền khoảng giữa thế kỷ XVII, những người thợ mộc, thợ sơn làng Hà Vỹ ra Hà Nội lập nghiệp ở phố này Ban đầu họ mở một số cửa hiệu làm và bán hòm gỗ, rương, tráp sau này, họ đã lập ra đình Hà Vĩ (số nhà 11), để thờ ông tổ nghề sơn Trần Lư và gợi nhớ về quê hương bản quán của mình
34 “Ngôi đình Tú Đình Thị ở số 2 ngõ Yên Thái của dân Hàng Thêu (phố Hàng Thêu xưa kia ở đầu Hàng Hòm đến đầu Hàng Thiếc) cho biết gốc gác dân làng nghề thêu ở Hàng Thêu, Hàng Trống cũng như dân Hàng Lọng là người Hướng Dương, Quất Động, Đào Xá huyện Thường Tín (Hà Tây).” [70, tr 110 – 111]
Trang 331.3.2 Tình hình làng ngh ề ở Thường Tín
Hiện nay, huyện có 126 làng, trong đó 48 làng nghề được công nhận là làng ngh ề truyền thống, 01 làng nghề truyền thống tiêu biểu Thành phố; có 26 nghệ nhân được công nhận trong đó 02 nghệ nhân nhân dân, 04 nghệ nhân ưu tú và 20 nghệ nhân Hà Nội; có 02 Hiệp hội cấp thành phố, 12 Hội trong đó 01 hội cấp huyện, 04 hội cấp xã và 07 hội hoạt động nghề nghiệp; huyện có 04 cụm công nghiệp làng nghề và quy hoạch đến 2020 có xét đến 2030 tổng số cụm đưa vào quy hoạch mới
là 12 cụm công nghiệp
Tuy nhiên trên th ực tế, Thường Tín có hơn 80% làng có nghề thủ công trong
đó hơn 80 làng có trên 30% người làm nghề Nếu xét theo tiêu chí làng nghề của Giáo sư Trần Quốc Vượng35 thì phải có tới gần 100 làng nghề Việc nhận diện, phân loại và khoanh vùng làng nghề không thể tuyệt đối bởi có những làng đa số người dân thoát ly nông nghiệp và làm một nghề, cũng có thể một người làm nhiều nghề hoặc một nghề có sức phổ biến len lỏi vào nhiều làng thậm chí là khắp huyện (trường hợp nghề thêu, nghề làm vàng mã…) Có những nghề tồn tại trong một thời gian dài ở các làng, một số làng phát triển nghề mới song song với nghề cũ nhưng cũng nhiều tên nghề mới được gắn với tên làng cũ, nghề cũ mai một hoặc biến mất (trường hợp làng Thụy Ứng, làng Duyên Trường – Hạ Thái) Do vậy nghề và các làng nghề có thể nhận diện một cách tương đối dựa vào lịch sử hình thành, tỉ lệ người dân làm nghề (khoảng trên 30% hộ gia đình36), giá trị sản phẩm và vai trò đối với kinh tế, văn hóa của người dân và địa phương sở tại
35 “làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả cùng một
số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước
ngoài” [71]
36 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 116/2006/TT- BNN Hướng dẫn thực hiện một
s ố nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội
Trang 34Khác v ới một số vùng “dĩ nghệ thế điền”37, đất đai ở Thường Tín rộng và phì nhiêu, người dân ở đây rất thuận lợi trong phát triển nông nghiệp Nhiều người đã tranh th ủ thời gian nông nhàn đó để làm nghề vừa phục vụ đời sống, vừa tăng thêm thu nhập Cũng có nhiều gia đình phát triển nghề và sớm thoát ly nông nghiệp, thuê người làm ruộng hoặc cho thuê thầu Từ yêu cầu đầu ra sản phẩm cùng phẩm chất tháo vát, nhiều người trở thành những đầu mối thu gom và kinh doanh sản phẩm Như vậy, kinh tế làng xã ở Thường Tín phát triển đa dạng và sớm hình thành cả bốn loại làng: làng nông nghiệp, làng thủ công nghiệp, làng buôn và làng nông –
công – thương38. Đối với các làng nghề cũng có sự phân hóa của ba lực lượng thợ thủ công: thợ thủ công thuần túy, người thợ - nông dân và người thợ - nhà buôn
Dựa vào đặc điểm ngành nghề và phân bố địa lý – dân cư, làng nghề ở Thường Tín có thể phân chia theo các nhóm chính như sau:
1 Nhóm nghề thêu: khoảng gần 30 làng ở các xã Quất Động (Quất Động, Quất Lâm, Quất Tỉnh, Đức Trạch, Nguyên Bì, Đô Quan), Dũng Tiến (Ba Lăng, Cổ
Ch ất, Đông Cứu), Thắng Lợi (Đào Xá, Khoái Cầu, Mai Xá, Bình Lăng, Hạ Giáp, Một Thượng, Phương Cù) Nguyễn Trãi) Lộc Dư, Gia Khánh) cùng với các ngh ề phụ trợ như nhuộm chỉ, dệt đũi, ươm tơ Địa Mãn, Khôn Thôn; nghề làm quạt lọng ở Đông Cứu, Hướng Dương…
2 Nhóm nghề mộc khoảng 10 làng ở khu vực xã Vạn Điểm (Đỗ Xá, Vạn Điểm, Đặng Xá), xã Thống Nhất (Hoàng Xá, Giáp Long, Bộ Đầu, Phúc Trạch, Thượng Giáp), xã Văn Tự (Nguyên Hanh, Đinh Xá) cùng với các nghề phụ trợ như xẻ gỗ, sơ chế gỗ
3 Nhóm nghề chạm khảm mỹ nghệ (chạm, khảm, tiện, chế tác sừng) khoảng 15 làng ở các xã Vạn Điểm, Thụy Ứng, Thống Nhất, Nhị Khê, Hiền Giang, Duyên Thái, Khánh Hà…
4 Nhóm nghề sơn thếp bao gồm nghề vẽ tranh, in ấn và làm vàng mã ở xã Bình Vọng, (Bình Vọng, Văn Hội, Văn Giáp) xã Duyên Thái; nghề sơn mài (Duyên Trường, Hạ Thái, Phúc Am)
37 (lấy nghề thủ công thay thể việc làm ruộng) Nguyễn Quang Ngọc [33]
38 Phan Huy Lê (2014), Làng xã c ổ truyền của người Việt, tiến trình, lịch sử và kết cấu xã hội [26, tr 420]
Trang 355 Nhóm nghề đan lát khoảng gần 20 làng gồm các làng ở xã Ninh Sở (Ninh
Xá, Xâm Dương, Đại Lộ, Bằng Sở, Sở Hạ), làng Mễ Sơn (làm mành tre), Phúc Tr ại (đan võng gai), các làng Nỏ Bạn, Đông Thai, Xâm Hồ, Xâm Động, Dương Tảo, Vân La (bện chổi) làng Văn Trai (làm áo tơi lá) và các làng Khôn Thôn, Địa Mãn (đan lưới, giỏ, đó, nơm…)
6 Nhóm nghề chế biến thực phẩm bao gồm sản xuất bánh kẹo (làng Mễ Sơn); bánh dày (làng Thượng Đình – Quán Gánh); nấu rượu (các làng Văn Xá, Đỗ
Hà, Bình Vọng…)
7 Nhóm làng làm bông, sợi bao gồm các làng làm nghề dệt bông, làm chăn đệm ở xã Tiền Phong (Ngọc Động, Phác Động, Trát Cầu, Thượng Cung, Định Quán)
8 Nhóm làng làm nghề kim khí: rèn, tiện, nguội, chế tác máy móc ở khu vực các xã Văn Tự, Minh Cường
9 Nhóm các nghề tiểu thủ khác như làm bút lông Bạch Liên; đóng bè tre nứa ở
T ự Nhiên; làm thùng ở Bình Vọng, thợ nề Cống Xuyên…
Hiện nay, ở Thường Tín có khoảng 12.700 cơ sở sản xuất, hàng nghìn doanh nghi ệp tư nhân, hộ gia đình sản xuất trong lĩnh vực nghề truyền thống Số lao động tham gia làm nghề khoảng 31.000 lao động Toàn huyện có 04 cụm công nghiệp làng nghề đang hoạt động (Duyên Thái, Vạn Điểm, Ninh Sở và Tiền Phong) Năm
2017, giá trị thu nhập từ công nghiệp – thủ công nghiệp đạt 9.976 tỷ đồng39
Với vị trí địa lý thuận lợi cùng sự nhạy bén của người dân vùng cửa ngõ Kinh Kỳ - Kẻ Chợ, người Thường Tín luôn tìm tòi, sáng tạo nhằm cải tiến phương
th ức sản xuất; mẫu mã, chất lượng sản phẩm cũng như hoạt động tiêu thụ Người thợ ở đây luôn có tư duy mở trước tri thức mới, thậm chí không ngại đổi mới mình Điều này ta có thể thấy trong việc cập nhật nguyện liệu mới, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào qui trình sản xuất hay sáng tạo sản phẩm để bắt kịp nhu cầu thị trường Nếu trước kia người dân Dũi Tiện (Nhị Khê) chỉ tiện mâm, lọ thì từ những năm 80
họ bắt đầu tiện chuỗi hạt mành, con tiện gỗ và các đồ dùng xuất khẩu Người dân
39 Tô Quý (2017), Thường Tín thực hiện chính sách ưu tiên phát triển làng nghề, Cổng thông tin điện tử
huyện Thường Tín
Trang 36Quán Gánh cũng mạnh dạn đầu tư dàn máy giã bánh dày hiện đại công xuất lớn Làng Ninh Sở trước kia chỉ đan rổ, rá, nong, nia… thì giờ đây họ đan túi mây, chụp đèn… với hoa văn cầu kì và giá trị cao gấp nhiều lần Người dân Thụy Ứng ngày nay cũng chỉ có một bộ phận nhỏ làm lược sừng xuất khẩu, còn lại họ chuyển sang điêu khắc sừng, chế tác cúc áo, đồ lưu niệm, các phụ kiện thời trang… Người dân các làng nghề cũng sử dụng thành thạo trang thiết bị hiện đại, thiết kế mẫu mã trên
đồ họa máy vi tính, đầu tư và ứng dụng công nghệ tiên tiến, đặc biệt là khai thác mạng xã hội để quảng bá sản phẩm của mình
Trên th ực tế cũng có một số nghề đã mai một hoặc mất đi, chỉ còn lại trong những lời kể và tài liệu như: sơn vẽ Văn Bình, bút lông Bạch Liên, áo tơi lá Văn Trai, tơ đũi Khôn Thôn… Những nghề này mất đi bởi nhiều lý do như nhu cầu thị trường không còn; nhiều sản phẩm thay thế hoặc đơn giản vì thu nhập từ nghề không đủ đáp ứng cho cuộc sống của người dân Tuy nhiên ở Thường Tín, với truyền thống cần cù và sự ứng biến linh hoạt của người dân, cứ một nghề biến mất thì s ẽ có một hoặc thậm chí nhiều nghề mới được sinh ra Ở trường hợp nghề sơn vẽ
ở các làng Bình Vọng, Văn Hội, Văn Giáp sau khi mai một, người dân tiếp nối bằng ngh ề sản xuất vàng mã, nhanh chóng phát triển và làm giàu nhờ nghề này Làng Bạch Liên trước kia nổi tiếng bởi làm bút lông thì giờ đây trù phú nhờ việc buôn bán rau quả Người Duyên Trường ngày nay cũng không còn nhiều gia đình làm sơn mài, chế biến ớt bột mà thay vào đó họ đan khung của đồ vàng mã như voi, ngựa, hình nhân, các loại thuyền rồng, nhà cửa, tháp…
Trang 37Bảng 1.1: Thu nhập bình quân của một lao động có nghề truyền thống40
nh ập
BQ
Làm ngh ề truy ền thống T thu ổng
nh ập
BQ
Làm ngh ề truy ền thống Thu
nh ập
BQ
(%)
so v ới thu
Trang 381.4 Y ếu tố tác động tới phát triển làng nghề tại huyện Thường Tín
Thường Tín
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước và hội nhập hội nhập quốc tế, phát triển làng nghề vị trí quan trọng và luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Nghị quyết Đại hội VIII của ĐCSVN đã xác định: “Phát triển các ngành nghề, LNTT và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu …” Đại hội IX của ĐCSVN tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển mạnh công nghi ệp và dịch vụ nông thôn, hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với thị trường xuất khẩu …” Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định “Phát triển bền vững các làng nghề” trong điều kiện mới gắn chặt với yêu cầu phát triển nông thôn mới Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và luật pháp có liên quan đến phát triển làng nghề như Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật Doanh nghi ệp, Luật Đầu tư, quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn Để cụ thể chủ hóa chủ trương của Đảng, Nhà Nước về phát triển làng nghề, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2006/NĐ - CP ngày 07 tháng 7 năm
2006 v ề phát triển ngành nghề nông thôn và Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều
c ủa Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn (năm 2016) với những nội dung chủ yếu sau: Nhà nước xây dựng quy hoạch
tổng thể và định hướng phát triển ngành nghề nông thôn dài hạn của cả nước và
t ừng vùng kinh tế gắn liền với việc thực hiện CNH, HĐH nông thôn; chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch; Xây dựng cụm tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tập trung; hỗ trợ xử lý môi trường, tiếp cận tín dụng; thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu; khuyến khích ứng dụng KHCN; hỗ trợ kinh phí đào tạo nhân lực phục vụ ngành nghề
Năm 2014, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 31/2014/QĐ-UBND về quy định chính sách khuyến khích phát triển các làng nghề
Trang 39thành ph ố Hà Nội với 6 nội dung hỗ trợ: đào tạo nghề và truyền nghề; tập huấn nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp cho các chủ cơ sở sản xuất; xúc tiến thương
m ại và đầu tư xây dựng thương hiệu làng nghề; đầu tư hạ tầng và hỗ trợ xử lý ô nhiễm Căn cứ quyết định số 31/2014/QĐ-UBND, UBND huyện Thường Tín đã thực hiện kế hoạch về đẩy mạnh phát triển nghề thủ công tại huyện bao gồm việc xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu làng nghề UBND huyện đã phối hợp với các xã hỗ trợ xây 2 thương hiệu “nghề mộc cao cấp Vạn Điểm” và “điêu khắc
gỗ đá Nhân Hiền”, xây dựng nhãn hiệu tập thể chăn ga gối đệm Tiền Phong Đặc
bi ệt, bộ phận khuyến công của huyện đã mở 72 lớp đào tạo nghề, truyền nghề, nhân cấy nghề sử dụng nguồn kinh phí khuyến công của huyện cho 2200 lao động toàn huyện với kinh phí hỗ trợ 2,2 tỉ đồng Trong giai đoạn 2019 – 2020, ĐU – UBND huyện Thường Tín cũng có kế hoạch hỗ trợ xây dựng thương hiệu làng nghề cho làng nghề lược sừng Thụy Ứng xã Hòa Bình, tiện gỗ thôn Nhị Khê xã Nhị Khê, cơ khí mộc Nguyên Hanh xã Văn Tự, hoa cây cảnh Hồng Vân và làng nghề mộc mỹ ngh ệ Phúc Trạch xã Thống Nhất41
Tầm nhìn tới năm 2030, huyện Thường Tín phấn đấu phát triển khoảng 50 làng ngh ề truyền thống và đặt mục tiêu 95% làng có nghề tại các xã nông thôn; phát triển sản xuất song hành cùng du lịch làng nghề [62]
1.4.2 Cơ sở hạ tầng
Trong những năm gần đây, HU – UBND huyện Thường Tín đã có nhiều cố gắng trong công tác quy hoạch và nâng cấp cơ sở hạ tầng cho sản xuất công nghiệp nói chung, các làng nghề nói riêng Từ năm 2014-2018, huyện đã làm mới và cải
t ạo các tuyến đường liên xã, tác động trực tiếp tới việc sản xuất và đi lại của các làng nghề như: trục đường đê sông Nhuệ đoạn Cầu Chiếc - Cầu Xém, nâng cấp đường 427 đoạn Thường Tín – Cầu Chiếc, mở các đường liên xã Hòa Bình – Nhị Khê – Quán Gánh, nâng cấp đường liên thôn tại xã Văn Bình… Các tuyến đường liên huyện, liên xã, và đường làng ngõ xóm đều có đèn chiếu sáng và hệ thống tiêu thoát nước
41 UBND TP Hà Nội (2015), Quyết định phê duyệt qui hoạch chung về xây dựng huyện Thường Tín đến năm
2030, Hà Nội
Trang 40ĐU – UBND huyện Thường Tín chủ trương hình thành các cụm sản xuất từ các làng nghề truyền thống theo hướng tập trung, hiện đại giữ gìn văn hóa truyền
th ống và thân thiện với môi trường Ngoài ra chính quyền các cấp cũng có những điều chỉnh trong hoạt động sản xuất của một số làng nghề Cụ thể là di chuyển ra khỏi khu dân cư các nghề, các cơ sở gây ô nhiễm, gây ồn; chuyển đổi quỹ đất nông nghiệp để tạo thêm không gian sinh hoạt và sản xuất Quy hoạch một số cụm dân cư sản xuất chuyên biệt như cụm dân cư mới Tiền Phong (chuyên sản xuất chăn đệm), cụm sản xuất cơ khí Khánh Hà, các khu vườn sinh vật cảnh Vân Tảo… mới hình thành v ới hạ tầng đồng bộ và hiện đại
Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề cũng được các cấp chính quyền
và người dân chú ý Huyện đã cho xây dựng hệ thống cồng gom nước thải công nghiệp và bể chứa rác tại các thôn, cụm dân cư; hỗ trợ kinh phí cho các thôn, cụm dân cư tổ chức thu gom rác, xây dựng địa điểm chứa, xử lý rác theo công nghệ hợp
vệ sinh Năm 2017, huyện Thường Tín đã hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng nhà máy c ấp nước sạch tại thị trấn Thường Tín, triển khai chương trình nước sạch
vệ sinh môi trường tại mười xã dọc sông Nhuệ nơi có nguồn nước nhiễm a-sen cao, xây d ựng hệ thống cống ngầm hút bụi tại các thôn Thụy Ứng, Nhị Khê, Vạn Điểm
Trên địa bàn huyệnThường Tín có nhiều di tích lịch sử văn hóa như: chùa Đậu, lăng đá Quận Vân, bãi Tự Nhiên, bến Chương Dương, đền thờ Nguyễn Trãi, chùa Hội Xá, quần thể Đền Đại Lộ, đền thánh Lê Tùy….với nhiều lễ hội truyền thống diễn ra trong năm như hội Lộ, lễ hội Tổng Hà Hồi, hội chùa Bà, hội Lộ, hội
Ch ử Đồng Tử… cùng hệ thống nhà vườn, cảnh quan đẹp thu hút hàng chục nghìn khách hành hương, du lịch mỗi năm Do đó, hình thành kết nối giữa các địa điểm du lịch với thăm quan, trải nghiệm làng nghề là một hướng đi rất tiềm năng và bền vững Hướng đi này không chỉ giúp tăng hiệu quả khai thác du lịch tại các địa điểm, quảng bá sản phẩm thủ công mà còn hình thành một hệ sinh thái liên ngành trong phát triển kinh tế gồm công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ Việc phát triển sản
xu ất kết hợp du lịch trải nghiệm còn giúp tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người