Trên cơ sở đã thực hiện chuyên đề khóa luận tốt nghiệp cử nhân với đề tài“Tái thiết cộng đồng vùng Đông Bắc sau thảm họa kép miền Đông Nhật Bản tháng 3 năm 2011”, người viết mong muốn tì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG THỊ THẢO
THỰC TIỄN QUÁ TRÌNH TÁI HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN TẠI VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN SAU THẢM HỌA KÉP THÁNG 3 NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Hà Nội-2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG THỊ THẢO
THỰC TIỄN QUÁ TRÌNH TÁI HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN TẠI VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN
SAU THẢM HỌA KÉP THÁNG 3 NĂM 2011
Lu ận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60310601
Người hướng dẫn khoa học:
TS Võ Minh Vũ
Hà Nội-2018
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp “Thực tiễn quá trình tái hình thành
cộng đồng cư dân tại vùng Đông Bắc Nhật Bản sau thảm họa kép tháng 3 năm 2011”
là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, không sử dụng bất kì hình thức vay mượn hay sao chép nào
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các nguồn tài liệu, thông tin đươc được đăng tải trên sách, báo, tạp chí và các trang web có ghi trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật Nếu có điều gì sai sót liên quan, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2018
Học viên
Lương Thị Thảo
Trang 4
L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy
giáo TS.Võ Minh Vũ, thầy đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Nhật Bản học, Khoa Đông Phương học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã
có những hỗ trợ về tài liệu tham khảo, ý kiến đóng góp giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp Cảm ơn thầy cô và các anh chị, bạn học viên cùng khóa học đã ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng luận văn tốt nghiệp này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những đánh giá, góp ý từ phía các
thầy, các cô và bạn đọc để luận văn tốt nghiệp này được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2018
Học viên
Lương Thị Thảo
Trang 5M ỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH MINH HỌA 3
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1 THẢM HỌA KÉP THÁNG 3/ 2011 VÀ BIẾN ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VÙNG ĐÔNG BẮC 15
1.1 Khái quát về thảm họa và bối cảnh cộng đồng dân cư vùng Đông Bắc sau thảm họa 15 1.1.1 Th ảm họa kép tháng 3/2011 15
1.1.2 Thi ệt hại sau thảm họa kép tháng 3/2011 18
1.2 Chính sách sơ tán, tái định cư của chính phủ Nhật Bản, chính quyền địa phương và tình hình di cư sau thảm họa 22
1.2.1 Ch ỉ đạo sơ tán và di cư từ chính phủ và chính quyền địa phương 22
1.2.2 Vai trò của chính phủ và chính quyền địa phương trong hành động ứng phó và ph ục hưng sau thảm họa 29
1.3 Những hệ lụy xã hội của thảm họa kép tháng 3/2011 32
Tiểu kết 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁI HÌNH CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ SAU THẢM HỌA KÉP THÁNG 3 NĂM 2011 35
2.1 Khái niệm “cộng đồng” và bối cảnh “tái hình thành cộng đồng” dân cư sau thảm họa 35
2.1.1 Định nghĩa “cộng đồng” và sự cần thiết của “cộng đồng” 35
1.1.2 “tái hình thành cộng đồng” sau thảm họa kép tháng 3/2011 39
2.2 Tái hình thành cộng đồng dân cư tại các nơi cư trú, di cư sau thảm họa kép tháng 3/2011 41
2.2.1 C ộng đồng tại điểm sơ tán, lánh nạn, nhà tạm trú 42
2.2.2 Liên kết cộng đồng trong chuỗi nhà ở xã hội sau thảm họa 47
2.2.3 C ộng đồng tái hình thành sau khi quay về quê hương 49
2.3 Tình hình tái hình thành cộng đồng sau thảm họa qua các cuộc khảo sát định kỳ hàng năm của NHK 50
Trang 62.4 Những vấn đề xã hội liên quan tới hoạt động tái hình thành cộng đồng sau thảm họa
59
2.4.1 K ỳ thị, phân biệt đối xử với người sơ tán từ tỉnh Fukushima 59
2.4.2 Ch ết cô độc tại nhà tạm trú, nhà ở xã hội sau thảm họa 62
2.4.3 Các vấn đề của quá trình tái hình thành cộng đồng qua khảo sát ý hướng của người nạn nhân sau thảm họa 65
Tiểu kết 70
CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH TÁI HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ SAU THẢM HỌA-TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ MINAMISOMA ( TỈNH FUKUSHIMA) 71
3.1 Khái quát về thành phố Mianamisoma và tình hình sau thảm họa 71
3.1.1 Khái quát về thành phố Minamisoma 71
3.1.2 Tình hình thành phố Minamisoma sau thảm họa kép 72
3.1.3 K ế hoạch tái thiết ở thành phố Minamisoma 78
3.2 Diễn tiến quá trình, và các hoạt động tái hình thành cộng đồng ở Minamisoma 7 năm sau thảm họa 81
3.2.1 C ộng đồng tại điểm sơ tán, lánh nạn, nhà tạm trú tại thành phố Minamisoma
81
3.2.2 Tái hình thành cộng đồng trong các nhà ở xã hội ở Minamisoma 83
3.2.3 C ộng đồng tái hình thành sau khi quay về quê hương ở Minamisoma 87
3.3.Thực trạng tái hình thành cộng đồng qua các cuộc khảo sát chí hướng cư dân và một số khó khăn quá trình phục hưng ở Minamisoma 94
3.3.1 Cuộc khảo sát chí hướng dân cư hàng năm bởi chính quyền thành phố Minamisoma 94
3.3.2 Những khó khăn trong quá trình phục hưng ở thành phố Minamisoma 107
Tiểu kết 109
KẾT LUẬN 110
Trang 7DANH M ỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH MINH HỌA
Bảng 1-1: Bảng thống kê thiệt hại thảm họa kép ngày 11/3/2011 tính đến 2018 theo
số liệu tổng kết của Ủy ban ứng phó Hỏa hoạn và Thiên tai 18
Bảng 1-2: Chỉ thị di cư sơ tán từ chính phủ và chính quyền địa phương sau sự cố nhà máy điện hạt nhân (thời gian, địa điểm) 22
Bảng 1-3: Các chỉ thị sơ tán được đưa ra sau sự cố hạt nhân 24
Bảng 1-4: Số người lánh nạn từ 3 tỉnh Fukushima, Miyagi, Iwate bị ảnh hưởng nặng bởi thảm họa kép tháng 3/2011 (Đơn vị: người) 25
Bảng 1-5 : Biến động số điểm và người sơ tán sau thảm họa kép 11/3/2011 so với trận động đất Hanshin Awaji và Chuetsu (Ngày 12/10/2011) 27
Bảng 1-6: Số lượng người chuyển đến, chuyển đi ở 3 tỉnh Fukushima, Miyagi, Iwate (năm 2010, năm 2011- giai đoạn tháng 3 tới tháng 12) (Đơn vị: người) 28 Bảng 2-1: Thông tin cơ bản liên quan tới các cuộc khảo sát của đài NHK 50
Bảng 2-2: Tình hình cư trú sau thảm hoạ kép của người tham gia khảo sát 51
Bảng 2-3: Các loại hình cư trú hiện tại của cư dân sau thảm họa 51
Bảng 2-4: Số lần sơ tán- di cư sau từ sau thảm họa tính đến 2015 52
Bảng 2-5: Bảng hỏi việc thay đổi nơi sống ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình ở mức độ như thế nào? 53
Bảng 2-6: Bảng hỏi: Những biểu hiện của việc thay đổi nơi sống ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình 53
Bảng 2-7: Bảng hỏi- So với trước thảm họa và bây giờ, tần suất đi ra ngoài như thế nào (%) 54
Bảng 2-8: Câu hỏi: Sau thảm họa, cụm từ “gắn kết, gắn bó” được sử dụng rất nhiều, cảm giác về chữ “kizuna” là như thế nào ? (%) 54
Bảng 2-9: Điều tra về tình hình nơi ở trước khi xảy ra thảm họa 56
Bảng 2-10: Bảng hỏi: Sau 5 năm xảy ra thảm họa, bạn suy nghĩ như thế nào về việc trở về quê hương (%) 56
Bảng 2-11: Bảng hỏi : Nơi sinh sống hiện nay là 57
Bảng 2-12: Bảng hỏi: Vấn đề cuộc sống từ khi xóa bỏ khu vực sơ tán sau 1 năm 58
Bảng 2-13: Đối với chỉ thị của chính phủ về tình hình sơ tán của tỉnh Fukushima “xóa bỏ sơ tán kể từ tháng 3/2017 loại trừ vùng khó khăn trở về”, thì suy nghĩ như thế nào? 58
Bảng 2-14: Có sự khác biệt ở hiện tại và hình dung sau thảm họa thì đó là gì ? 65
Bảng 2-15: Trải qua thời gian 7 năm sau thảm họa, cảm giác lúc này là: 66
Bảng 2-16: Biểu hiện ảnh hưởng của thảm họa tới tâm hồn và thể chất là: 66
Bảng 2-17: Bảng hỏi cảm giác về sự phục hưng với các yếu tố tương ứng 67
Trang 8Bảng 2-18: Khảo sát- thời điểm các vấn đề dưới đây được giải quyết 69
Bảng 3-1: Diện tích các khu vực ảnh hưởng của sóng thần tại Minamisoma 73
Bảng 3-2: Số người di cư lánh nạn từ ngày 12 đến 19/3/2011 tại các địa phương của Minamisoma 75
Bảng 3-3: Kế hoạch chuẩn bị nhà ở xã hội thành phố Minamisoma 84
Bảng 3-4: Tình hình cư trú tại thành phố Minamisoma tính tới thời điểm ngày 28/2/2018 88
Bảng 3-5: Tình hình cư trú của cư dân thành phố Minamisoma thời điểm ngày 31/3/2018 89
Bảng 3-6: Thời gian và tỉ lệ người tham gia khảo sát ở Minamisoma 95
Bảng 3-7: Bảng hỏi: Lý do chọn nơi sinh sống sau thảm họa 96
Bảng 3-8: Khảo sát yếu tố cần thiết khích lệ cuộc sống sau thảm họa 97
Bảng 3-9: Các yếu tố được kỳ vọng khi trở về Minamisoma 97
Bảng 3-10: Sự thay đổi chỗ ở của cư dân thành phố Minamisoma (2015-2018) 98
Bảng 3-11: Loại hình nhà đang ở của cư dân thành phố Minamisoma (2015-2018) 99
Bảng 3-12: Đánh giá hoạt động phát triển cộng đồng 100
Bảng 3-13: Khảo sát chi tiết độ hài lòng của phát triển cộng đồng sau thảm họa 100
Bảng 3-14: Khảo sát yếu tố được cho là cần chú trọng để phát triển cộng đồng 101
Bảng 3-15: Điều tra về chi tiết về những lo lắng của dân cư Minamisoma 102
Bảng 3-16: Câu hỏi khảo sát nguyện vọng tiếp tục sinh sống ở Minamisoma 104
Bảng 3-17: Điều tra về mức độ hài lòng về công cuộc phục hưng 105
Bảng 3-18: Các chính sách được cho là quan trọng nhằm hướng tới cải thiện cuộc sống đời thường 105
Bảng 3-19: Khảo sát về tầm quan trọng của các chính sách, kế hoạch phục hưng tổng hợp của Minamisoma 106
Danh m ục sơ đồ minh họa Sơ đồ 1-1: Kế hoạch phục hưng đô thị (thành phố, thị trấn, làng) và tái thiết mối quan hệ tương trợ 32
Sơ đồ 2-1: Các loại hình cư trú và luồng di cư sau thảm họa kép tháng 3/2011 41
Sơ đồ 2-2: Mô hình trung tâm hỗ trợ tại các cứ điểm tạm trú [70, tr 2] 46
Sơ đồ 2-3:Vai trò nhà ở xã hội trong mối quan hệ với các thành tố xã hội khác [63, tr 17] 49
Sơ đồ 2-4: Mô hình hợp tác hỗ trợ người sơ tán sau thảm họa thành phố Sendai 64
Trang 9Danh m ục hình ảnh minh họa
Ảnh 1-1: Vị trí 3 tỉnh Iwate, Miyagi và Fukushima trên bản đồ Nhật Bản 20
Ảnh 2-1: Hỗ trợ sơ tán người già trong các cơ sở chăm sóc 45
Ảnh 2-2 Khám bệnh tại các điểm sơ tán (Trung tâm y tế Kajima) 46
Ảnh 3-1: Vị trí thành phố Minamisoma và nhà máy điện hạt nhân số 1 Fukushima 71
Ảnh 3-2: Một điểm lánh nạn ở quận Haramachi vào ngày 12/3 [68, tr 32] 76
Ảnh 3-3: Chỉ thị sơ tán trong vòng bán kính 30 km từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 77
Ảnh 3-4: Nhận nhà tạm trú khẩn cấp tại Kashima vào ngày 28/05 [68, tr 95] 81
Ảnh 3-5: Lễ hội đua ngựa Kacchu keiba ngày 29/7/2012 [68, tr 155] 93
Ảnh 3-6: Lễ hội bắt ngựa bằng tay không ngày 30/7/2012 [68, tr 155] 93
Viết
tắt
Sử dụng trong Giải nghĩa
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Nhật Bản là một quần đảo ở phía Đông Bắc lục địa Á-Âu Quần đảo Nhật Bản dài gần 3.000 km, gồm bốn nghìn đảo lớn nhỏ chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Bốn hòn đảo lớn nhất của Nhật Bản lần lượt từ trên xuống dưới là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu Theo lý thuyết đĩa lục địa (Plate tectonics), Nhật Bản
nằm trên ranh giới giữa 4 mảng kiến tạo là mảng lục địa Á-Âu (Eurasian Plate),
mảng Bắc Mỹ (North American Plate), mảng Thái Bình Dương (Pacific Plate) và
mảng Philippines (Philippines Plate) Các quần đảo của Nhật Bản hình thành là do
rất nhiều đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm [7, tr 8] Xét về mặt địa chất học, như vậy là rất trẻ Vì vậy, cho tới nay vẫn diễn ra quá trình
vận động của mảng Thái Bình Dương tiến về phía mảng lục địa Á-Âu và có khuynh hướng đâm chúi xuống bên dưới mảng này Chuyển động này diễn ra không mấy
êm ả và có thể dẫn tới những xung động đột ngột mà kết quả của nó là động đất
Ở Nhật Bản động đất xảy ra thường xuyên Các hoạt động địa chấn này đặc
biệt tập trung vào vùng Kanto, nơi có thủ đô Tokyo Thảm họa kép miền Đông xảy
ra vào ngày 11/3/2011 với cường độ 9 độ M1, cùng với thảm họa sóng thần, sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima I đe dọa tính mạng buộc hàng trăm ngàn người
phải sơ tán đã trở thành một mốc biến cố thiệt hại lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản
kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2
Sau mỗi thảm họa, vấn đề luôn được đặt ra là làm thế nào để nhanh chóng
khắc phục hậu quả của động đất và phục hưng khu vực chịu thiệt hại Thảm họa kép tháng 3/2011- khác với những trận động đất trước đây trong lịch sử Nhật Bản - do
sự tàn phá của sóng thần và hệ quả sự cố hạt nhân làm chất phóng xạ rò rỉ ra ngoài môi trường, nên nhiều cộng đồng dân cư tại khu vực chịu ảnh hưởng của thảm hoạ
đã buộc phải di chuyển phân tán đến sống tại các khu vực khác nhau Những hệ lụy
Trang 11thảm họa kép tháng 3/2011 gây ra cho Nhật Bản không chỉ diễn ra trên một phạm vi
rộng về mặt không gian mà còn kéo dài về thời gian Cho tới thời điểm hiện tại 7 năm sau thảm họa, các địa phương trong vùng thiệt hại đã phục hưng và phát triển
trở lại Để có được những thành quả phục hưng như ngày hôm nay công cuộc tái thiết đã được diễn ra trên mọi mặt với sự chung tay của Chính phủ, chính quyền địa phương, lực lượng tình nguyện viên, và đặc biệt là người dân trong khu vực chịu ảnh hưởng bởi thảm họa Một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hưng là sự tương trợ, liên kết, tái hình thành cộng đồng giữa những người dân trong khu vực Trên cơ sở đã thực hiện chuyên đề khóa luận tốt nghiệp
cử nhân với đề tài“Tái thiết cộng đồng vùng Đông Bắc sau thảm họa kép miền Đông Nhật Bản tháng 3 năm 2011”, người viết mong muốn tìm hiểu quá trình tái
hình thành cộng đồng sau thảm họa kép tại một mốc thời điểm mới 7 năm sau thảm
họa, trên cơ sở nghiên cứu một trường hợp cụ thể để có cái nhìn chính xác, chân
thực về toàn bộ quá trình cộng đồng cư dân đã bị phá vỡ sau thảm họa được tái hình thành qua mỗi giai đoạn với những đặc trưng nổi bật và diễn biến cụ thể
Với lý do đó, người viết đã chọn đề tài “Thực tiễn quá trình tái hình thành
c ộng đồng cư dân tại vùng Đông Bắc Nhật Bản sau thảm họa kép tháng 3 năm 2011”
là chuyên đề nghiên cứu lần này
2 Mục đích nghiên cứu
Trong luận văn này, người viết mong muốn làm sáng tỏ những những câu hỏi đã
tự đặt ra trong khi tiếp cận với nội dung nghiên cứu: vấn đề thay đổi chỗ ở và tái hình thành các mối quan hệ trong cộng đồng cư dân diễn ra trong bối cảnh sau thảm họa được quyết định dựa trên chỉ đạo của chính phủ chính quyền địa phương, hay mang tính chất tự phát; cũng như đặc điểm các hình thái của quá trình được diễn ra như thế nào; có sự khác biệt nào quá trình tái hình thành cộng đồng sau thảm họa
kép tháng 3/2011 với các trận động đất trước đây
Cụ thể, thông qua luận văn này, người viết mong muốn dựa trên những số liệu
thống kê về thay đổi chỗ ở, chính sách của chính phủ và chính quyền địa phương và
Trang 12kết quả các cuộc khảo sát thực tiễn ý hướng cư dân sau thảm họa là cơ sở để tìm
hiểu về đặc trưng quá trình hình thành cộng đồng cư dân tại vùng Đông Bắc Nhật
Bản sau thảm họa kép Xuất phát từ yếu tố vị trí địa lý, ảnh hưởng của thảm họa tới các địa phương trong vùng Đông Bắc ở mức độ và phương diện khác nhau mà diễn
tiến quá trình tái hình thành cũng như cộng đồng dân cư sau thảm họa cũng mang
những đặc trưng khác nhau Ở khu vực gần nhà máy Fukushima, có những địa phương người dân buộc phải di chuyển phân tán đến các khu vực mới, hình thành nên cộng đồng cư dân hoàn toàn mới Bên cạnh đó, tại một số khu vực khác, cộng đồng dân cư không thực hiện di tản, công cuộc tái hình thành diễn ra trên mối quan
hệ cộng đồng từ trước đó Trong trường hợp đầu, nhóm người ở khu vực sinh sống mới vừa phải đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống ở khu nhà tạm vừa phải xây dựng mối quan hệ cộng đồng mới Còn trong trường hợp thứ hai, quá trình tái hình thành cộng đồng được thực hiện dựa trên những mối quan hệ truyền thống
Từ những đặc trưng của cộng đồng tái hình thành sau thảm họa quan sát được qua các số liệu thống kê, người viết mong muốn dựa vào nhận thức mối quan hệ
giữa chính sách từ chính phủ và chính quyền địa phương với thực tiễn hành động,
giữa nhiệm vụ xây dựng lại các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư và tái thiết cơ
sở vật chất hạ tầng nơi ở, giao thông bước đầu lý giải đặc trưng quá trình tái thiết của mỗi địa phương ở mỗi giai đoạn phục hưng sau thảm họa
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho tới nay, nghiên cứu về thảm họa động đất chủ yếu được thực hiện với trọng tâm là các ngành tự nhiên với hoạt động nghiên cứu dựa trên quan trắc, dự báo
Những nghiên cứu này tập trung giải thích cơ chế phát sinh thảm họa và cùng với
việc dự đoán những phát sinh đó, công nghệ giảm thiểu thảm họa cũng đã được phát triển Nghiên cứu dự báo động đất Nhật Bản được bắt đầu từ năm 1880 – gắn với
trận động đất Yokohama (5,8 độ M) 2
2
https://www.seis.nagoya-u.ac.jp/~kyamaoka/outreach/books/history.html (03/12/2018)
Trang 13Tuy nhiên những nghiên cứu về mặt tự nhiên chỉ có thể góp phần đưa cảnh báo
về thảm họa, hạn chế tối đa mức thiệt hại mà không thể ngăn chặn sự xảy ra hay
“tránh được thiệt hại xuống mức bằng không” Trong bối cảnh đó, Theo Yamamoto Hiroyuki sự phát triển nghiên cứu sau thảm họa về mặt xã hội là hết sức cần thiết
“Trong việc giảm thiểu thiệt hại thảm họa, bên cạnh phát triển kỹ thuật chống rung
chấn, sự đóng góp từ phương diện mang tính xã hội là cần thiết và những hiểu biết
của nhóm ngành xã hội nhân văn là không thể thiếu được” Điều này đã được tác giả đề cập tới trong bài viết “Tái thiết sau thảm họa bắt nguồn từ khu vực - Hướng đến dòng chủ lưu trong “nghiên cứu khu vực ứng phó thảm họa”- “Thảm họa và
Phục hưng” (2015) [10;29]
Liên quan trực tiếp tới chủ đề hoạt động tái hình thành cộng đồng sau thảm họa, Oyane Jun đã thực hiện một loạt điều tra thực tế tại các địa phương và viết bài nghiên cứu chủ đề liên quan hướng tới, mở rộng và phát triển xã hội học của phục hưng cộng đồng, tái thiết cuộc sống sau thảm họa (2013 – 2014) Cụ thể các bài viết
có thể kể tới như “Tái thiết cuộc sống- tái hình thành cộng đồng sau thảm họa miền Đông Nhật Bản ở Kobuchihama thuộc thành phố Ishinomaki qua dữ liệu điều tra
thực địa tỉnh Miyagi” đăng trong quyển 2 Tuyển tập khoa học nhân văn của đại học Senshu tháng 3/2012; “Tái thiết cuộc sống, phục hưng thành phố ở Oshika- Ishinomaki qua góc nhìn xã hội học thảm họa - trong “Bước tiến khó khăn trong
việc tái sinh, phục hồi khu vực ảnh hưởng thảm họa sóng thần 500 ngày - Otsuchi, Ishinomaki, và Kamaishi- tháng 4/2013”; “Tiếp cận vấn đề phục hưng cộng đồng và tái thiết cuộc sống- Nghiên cứu dài hạn xã hội học khu vực thảm họa”- “Tập lý thuyết thực địa thảm họa” của nhà xuất bản Kokonshoin tháng 9/2014 và đặc biệt là các bản ghi khảo sát thực địa lần thứ 3-4-5-6-7 hướng tới thực hành nghiên cứu xã
hội học thảm họa của tái thiết cuộc sống, tái hình thành cộng đồng được thực hiện định kỳ hàng năm vào tháng 3 từ 2013 tới 20183
Trong tập bài giảng chuyên đề nghiên cứu Nhật Bản “Thảm họa và Phục hưng”, Oyane Jun cũng có bài viết nghiên
3
https://researchmap.jp/read0201934/?lang=japanese (03/12/2018)
Trang 14cứu “Hình ảnh - thực tế về phục hưng thảm họa và Chu trình "Phục hưng trước -
giảm thiểu thiệt hại sau thảm họa" tại Nhật Bản: quan điểm, luận điểm về sửa đổi
“Luật cơ bản đối phó thảm họa” (2003)
Liên quan tới đề tài “liên kết cộng đồng” và “thảm họa” hội thảo lý thuyết chính trị địa phương tại Đại học Irabaki đã công bố tài liệu “Thảm họa và cộng đồng- sức
mạnh, giới hạn và tính khả năng”4tháng 3/2015 với mục đích làm sáng tỏ giới hạn,
mức độ ảnh hưởng và độ trễ của phục hưng cộng đồng sau thảm họa kép tháng 3/2011
Với mục đích tìm hiểu về tình hình phục hưng thông qua việc thực thi ứng dụng các chính sách phục hưng từ chính phủ và chính quyền địa phương tại thời điểm 2 năm sau thảm họa, nhóm tác giả Onishi Riku, Kikikoro Tetsuo, Seta Fumihiko đã
xuất bản: “Đại động đất miền Đông Nhật Bản - Phục hưng cộng đồng: ưu tiên hàng đầu” 5vào tháng 3/2013
Đề cập tới vấn đề di cư sau thảm họa hạt nhân, nhà chính trị học Imai Akira đã
có những bài viết phân tích về việc thực hiện lánh nạn theo cộng đồng làng, tái thiết chính quyền địa phương qua nghiên cứu “Tái thiết chính quyền địa phương- lánh
nạn sự cố hạt nhân và “làng di cư””6
- tháng 2/2014) Trong bối cảnh cần thiết thay đổi nơi ở do ảnh hưởng sự cố hạt nhân có tính chất diễn ra trên phạm vi rộng và thời gian dài, tác giả đã nhấn mạnh vai trò của việc di cư theo cộng đồng làng và mối liên hệ giữa chính sách chính phủ và chính quyền địa phương với ý hướng di cư của
cư dân vùng chịu ảnh hưởng của thảm họa
Trong tạp chí “Nghiên cứu chính sách khu vực” - số phát hành tháng 2/2013,
của Đại học kinh tế Takasaki, Tsuneya Sakurai đã có một bài viết về vấn đề “hình thành cộng đồng trong quá trình phục hưng sau động đất và những nhiệm vụ, thách
thức” Bài viết đã dựa trên kinh nghiệm trong việc tái hình thành cộng đồng các vấn
Trang 15đề liên quan như sự cứu trợ từ chính quyền địa phương qua trận động đất lịch sử Hanshin (Kobe -1995) để đối chiếu với trường hợp động đất vùng Đông Bắc Nhật
xã hội, ảnh hưởng của Khổng giáo, ảnh hưởng của tinh thần Samurai trong lối sống người Nhật Bản, và vai trò của giáo dục
Nguyễn Tuấn Khôi (2016) đã thực hiện một chuyên đề nghiên cứu “Lý giải từ góc độ xã hội học hoạt động tương trợ của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản trong
thảm họa kép tháng 3 năm 2011”- đề cập tới phản ứng ứng phó người dân trong và sau thảm họa trong mối quan hệ tương trợ - giúp đỡ lẫn nhau, coi đây là một biểu
hiện quan trọng cho sự hình thành quá trình tái hình thành cộng đồng sau thảm họa
Tháng 3/2016, Phan Cao Nhật Anh đã có bài viết “5 năm sau thảm họa sóng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của bài nghiên cứu là thực tiễn quá trình tái hình thành cộng đồng của
cư dân vùng thiệt hại sau thảm họa kép tháng 3/2011 với những yếu tố bối cảnh,
7
http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=570 (15/1/2019)
8 http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1026 (15/1/2019)
Trang 16thực trạng và đặc điểm đặc trưng của liên kết cộng đồng trong từng loại hình cư trú, thay đổi chỗ ở ứng với mỗi giai đoạn ứng phó và phục hưng sau thảm họa Những hành động hướng tới tăng cường liên kết cộng đồng được thực hiện trên nền tảng
những chính sách của chính phủ và chính quyền địa phương thông qua chỉ đạo di cư
và thành lập các khu tạm trú lánh nạn, tuy nhiên cũng bao gồm những hoạt động mang tính chất tự phát của người dân địa phương Dù chủ thể của quá trình là
những cư dân vùng thiệt hại ở lại tại địa phương hay di cư tới một môi trường mới thì gắn liền với việc xây dựng, khôi phục lại cơ sở vất chất là thiết lập nên một cộng đồng mới - đảm bảo cuộc sống sau thảm họa vẫn giữ được mối liên hệ chặt chẽ trong một tập thể Đây là một yếu tố đóng vai trò quan trong trong công cuộc phục hưng sau thảm họa
Về phạm vi nghiên cứu của luận văn, vùng Đông Bắc Nhật Bản gồm 6 tỉnh, trong
đó có 3 tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất sau thảm họa kép là Iwate, Miyagi, Fukushima Đặc biệt tại Fukushima - nơi xảy ra sự cố nhà máy điện hạt nhân nên cùng với vấn đề di chuyển nơi ở, quá trình thay đổi cấu trúc cộng đồng cư dân xảy
ra rõ rệt Do vậy trong chuyên đề luận văn lần này người viết tập trung vào vấn đề tái hình thành cộng đồng dân cư thông qua dữ liệu thống kê, khảo sát của cả 3 tỉnh vùng Đông Bắc là Iwate, Miyagi, Fukushima
Tuy nhiên với phạm vi ảnh hưởng trực tiếp từ thảm họa kép là toàn vùng Đông
Bắc, mỗi địa phương với bối cảnh về thiệt hại ở mức độ khác nhau, có những chính sách tái thiết và phục hưng khác nhau, do vậy quá trình tái hình thành cộng đồng cũng mang những hình thái đa dạng và có mang những đặc trưng riêng Chuỗi biến
cố đại động đất, sóng thần và sự cố nổ nhà máy điện hạt nhân diễn ra vào ngày 11/3/2011 - tạo ra một thảm họa phức hợp thay đổi toàn bộ cuộc sống cư dân vùng thảm họa Từ đặc trưng này, người viết chọn phân tích trường hợp thành phố Minamisoma thuộc tỉnh Fukushima- với vị trí địa lý giáp biển ở khu vực phía Bắc
tỉnh Fukushima, cách tâm chấn trận động đất khoảng 130 km, cách nhà máy điện
Trang 17nguyên tử số 1 Fukushima 25,5km9 vì thành phố Minamisoma giống như một vùng Đông Bắc Nhật Bản thu nhỏ xét trên khía cạnh chịu ảnh hưởng rõ rệt tính chất phức
hợp của thảm họa từ động đất, sóng thần tới sự cố nhà máy điện hạt nhân, để có một góc nhìn chung nhất về diễn biến quá trình, các loại hình tái hình thành cộng đồng sau thảm họa trên toàn khu vực Đồng thời, chọn phân tích trường hợp Minamisoma,
bằng việc đối chiếu lại nội dung “Kế hoạch tái thiết ở Minamisoma” đã đề cập tới trong khóa luận tốt nghiệp cử nhân - “Tái thiết cộng đồng vùng Đông Bắc sau thảm họa kép miền Đông Nhật Bản tháng 3 năm 2011”, người viết mong muốn tìm hiểu
về thực trạng tái hình thành cộng đồng và phục hưng sau thảm họa ở Minamisoma
tại thời điểm hiện tại - trải qua hơn 7 năm kể từ sau thảm họa Cũng bằng nghiên cứu trường hợp này, có thể phát hiện ra sự khác biệt đặc trưng của quá trình tái hình thành cộng đồng ở Minamisoma so với các địa phương khác trong cùng tỉnh hay vùng Đông Bắc, lý giải nguyên nhân và thông qua đó tìm hiểu về vai trò cũng như
mối liên hệ giữa chính sách chính phủ và chính quyền địa phương trong quá trình tái thiết và phục hưng sau thảm họa
5 Phương pháp nghiên cứu
Do trong thời gian thực hiện luận văn này, người viết không có điều kiện thực tế
tại Nhật Bản nên các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để hoàn thiện bài luận văn này là tổng hợp phân tích tài liệu từ những mẫu điều tra thực tế, sử dụng số liệu
thống kê của Cục Thống kê Nhật Bản và các tổng kết kháo sát thực tế trong báo cáo
của các tổ chức NGO, NPO Đồng thời, luận văn cũng sử dụng phương pháp tổng
hợp phân tích trường hợp Cụ thể ở đây là trường hợp thành phố Minamisoma thuộc
tỉnh Fukushima Để có thể đạt được mục tiêu nghiên cứu là thực tế quá trình tái hình thành cộng đồng sau thảm họa, người viết còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu hoạt động tái hình thành cộng đồng giữa các địa phương theo chiều không
gian và so sánh quá trình đó của thảm họa kép tháng 3/2011 với các trận động đất
xảy ra trước đây trong lịch sử Nhật Bản – như là trận động đất Kobe năm 1995
9
http://www.fukushima-plant.com/ (03/12/2018)
Trang 18Ngoài các số liệu từ các bảng thống kê người viết còn khai thác, sử dụng những tư
liệu phỏng vấn của các kênh truyền thông chính thống như Đài phát thanh NHK, báo Ashahi làm dẫn chứng các trường hợp cụ thể
6 Cấu trúc luận văn
Với những nội dung đó, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn sẽ được triển khai theo cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Thảm họa kép tháng 3/2011 và biến động cộng đồng dân cư vùng
Đông Bắc: trình bày thông tin sơ lược về thảm họa kép và những hậu quả để lại cho
3 tỉnh Đông Bắc Nhật Bản và những thiệt hại và thay đổi trong đời sống tâm lý xã
hội cư dân trong vùng
Chương 2: Thực trạng tái hình thành cộng đồng dân cư sau thảm họa: từ
việc làm sáng tỏ lý thuyết cộng đồng, những yếu tố hỗ trợ công cuộc tái hình thành
cộng đồng khu vực tới tìm hiểu, phân tích thực trạng đặc điểm tái hình thành cộng đồng tại các loại hình cư trú sau thảm họa Thông qua số liệu khảo sát thực tế hàng năm của đài NHK làm sáng tỏ đặc điểm, chuyển biến của quá trình tái hình thành
cộng đồng và những hạn chế phát sinh
Chương 3: Quá trình tái hình thành cộng đồng dân cư sau thảm họa -
trường hợp thành phố Minamisoma (tỉnh Fukushima) tập trung phân tích quá
trình tái hình thành cộng đồng trường hợp thành phố Minamisoma Thực hiện đối chiếu với chính sách từ chính quyền địa phương để bước đầu lí giải được ảnh hưởng
của điều kiện riêng từng khu vực tới quá trình tái hình thành cộng đồng và phục
hưng sau thảm họa
Trang 19CHƯƠNG 1 THẢM HỌA KÉP THÁNG 3/2011 VÀ BIẾN ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VÙNG ĐÔNG BẮC
Hậu quả mà thảm họa kép ngày 11/3/2011 gây ra cũng giống như các thảm họa thiên tai tự nhiên khác trong lịch sử Nhật Bản, không chỉ thể hiện ở những con số thiệt hại về tính mạng con người, nhà cửa vật chất mà còn thể hiện ở sự biến động, xáo trộn về đời sống trong cư dân trong vùng chịu ảnh hưởng Tuy nhiên, với tính
chất phức hợp của một thảm họa kép động đất- sóng thần, đặc biệt là sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima xảy ra ngay sau đó đã khiến cho biến động về cấu trúc dân
cư vùng Đông Bắc diễn trên phạm vi rộng, lâu dài và phức tạp hơn nhiều so với các
thảm họa khác
Trong chương 1, thông qua việc tổng hợp, phân tích các số liệu về thiệt hại và
biến động đổi nơi cư trú, người viết sẽ phân tích tình hình dân cư và những hệ lụy
xã hội liên quan tới cộng đồng dân cư sau khi xảy ra thảm họa kép
1.1 Khái quát về thảm họa và bối cảnh cộng đồng dân cư vùng Đông Bắc
của trận động đất này ước tính sâu khoảng 24 km, khu vực tâm chi có phạm vi rộng, khoảng 500 km theo chiều Nam Bắc và 200 km theo chiều Đông Tây, với diện tích
là khoảng 100.000 km² với thời gian rung chấn liên tục trong 160 giây Về cơ chế động đất, Ide Satoshi đã chỉ ra rằng thảm hoạ kép động đất và sóng thần ngày 11/3/2011 có nguyên nhân từ sự dịch chuyển các mảng địa tầng kiến tạo xung
10 Theo thang phân cấp độ động đất của Cục Khí tượng Nhật Bản dựa trên độ rung lắc khi xảy ra động đất Thang đo hiện tại được phân loại 10 cấp độ : 0,1, 2, 3, 4, 5 yếu, 5 mạnh, 6 yếu, 6 mạnh và
c ấp độ 7
Trang 20quanh Nhật Bản Ông cho rằng trận động đất bắt đầu với mảng địa tầng Bắc Mỹ trượt tương đối chậm dọc theo đường tiếp giáp với địa tầng Thái Bình Dương cách
bờ biển Nhật Bản ở độ sâu 20km “Sự chuyển động trượt lan truyền theo bờ biển trong khoảng 40 giây đã tạo nên đợt trấn động mạnh dọc theo vùng Đông Bắc Nhật
Bản Khoảng 1 phút sau khi động đất bắt đầu, sự dịch chuyển tiến nhanh đến gần Rãnh Nhật Bản làm cho mảng địa tầng Bắc Mỹ trượt khoảng 30 mét Ide cho rằng
hiện tượng này đã nâng một khối lượng nước biển khổng lồ tạo nên đợt sóng thần khủng khiếp” [2, tr 77] Theo Cơ quan Khảo sát địa chất Hoa Kỳ, đây được ghi
nhận là trận động đất có cường độ lớn thứ bảy trong lịch sử nhân loại, lớn thứ tư trong vòng 100 năm nay và lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản [6, tr 3]
Những diễn biến tiếp theo trận động đất là các cơn dư chấn và sóng thần Ba ngày sau trận động đất chính, các quan trắc đã cho thấy hơn 200 dư chấn đã xảy ra.Sau khi động đất xảy ra, dựa trên cường độ trận động đất, để tối đa hóa thời gian cho sơ tán, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã ban hành cảnh báo sóng thần vào 14 giờ 49 phút - tức là 3 phút sau khi động đất xảy ra và đúng như cảnh báo, toàn bộ
bờ biển Nhật Bản, đặc biệt là vùng Đông Bắc, đã ghi nhận phát sinh sóng thần mức
độ nhẹ Tuy nhiên tới khoảng 15 giờ, tức 15 phút sau động đất, các đợt sóng nhẹ bắt đầu chuyển thành cơn sóng cao ập vào bờ Tiếp sau đó khoảng 10 phút đã xuất hiện các đợt sóng thần khổng lồ, càn quét trên diện tích rộng khu vực ven biển Đông Bắc
Nhật Bản Tại thành phố Minamisoma (Fukushima) đã xuất hiện sóng thần cao trên 9,3 m, tại thành phố Ishinomaki (Miyagi) có sóng thần cao trên 8,6 m Ngoài khu
vực bờ biển Đông Bắc có sóng thần cao gây hại mức độ nghiêm trọng, bờ biển từ Hokkaido tới tỉnh Kagoshima và quần đảo Ogasawara đều ghi nhận sóng thần cao trên 1 m Tại các thành phố ven biển, sóng thần đã cuốn nhiều tàu, thuyền vào khu
vực bờ biển, đồng thời cuốn trôi nhiều ô tô trên các tuyến đường tại thị trấn Sóng cũng đã cuốn trôi nhiều thành phố, làng mạc ra biển Các tổ hợp công nghiệp ven
biển như nhà máy hóa dầu đã bốc cháy, hệ thống cầu đường bị sập hoặc ngập sâu trong nước biển Sóng thần lan dọc bờ biển Thái Bình Dương của Nhật Bản và ảnh hướng tới ít nhất 20 quốc gia, bao gồm cả bờ biển phía Tây của Bắc và Nam Mỹ
Trang 21Ngay sau thảm họa động đất và sóng thần, Nhật Bản phải đương đầu với chuỗi
sự cố nhà máy điện hạt nhân bắt đầu vào chiều ngày 12/3/2011 Thị trấn Naraha, Tomikoka, Okuma và thị trấn Futaba - những khu vực có nhà máy điện hạt nhân
của công ty Điện lực Tokyo (TEPCO) - đã xảy ra rung chấn cấp độ 6, cùng với ảnh hưởng của sóng thần, nhà máy điện hạt nhân số 111đã bị ngập nước 15m, nhà máy điện số 2 bị ngập nước 7m Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I có 6 tổ máy với
tổng công suất lên đến 4.696 MW, lớn gấp gần 3 lần công suất nhà máy thủy điện Hòa Bình của Việt Nam, được xây dựng từ những năm 1970 Theo báo cáo của Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO), khi xảy ra động đất và sóng thần, ba lò phản ứng số 4, 5, 6 của nhà máy điện hạt nhân số 1 đang trong quá trình sửa chữa, chỉ có
lò phản ứng 1, lò phản ứng số 2 và lò phản ứng số 3 hoạt động [6, tr 4] Các lò phản ứng đều tự động ngừng hoạt động sau khi động đất xảy ra Tuy nhiên, do trận sóng
thần tràn đến đã làm hư hỏng hệ thống làm mát chính và dự phòng nên tại các lò
phản ứng đã phát sinh hiện tượng gia tăng nhiệt, tích tụ khí hydro Ba lò phản ứng
số 1, 2, 3 đã phát nổ và xảy ra cháy ở lò phản ứng số 4 Hậu quả là một khối lượng
lớn chất phóng xạ đã bị rò rỉ ra ngoài môi trường
Cơ quan Khí tượng Nhật Bản xác định đây là trận động đất quy mô lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, gọi tên là “Đại Động đất Đông Bắc ”(東北大震災) Dựa vào phạm vi ảnh hưởng của thảm họa, ngày 1/4/2011, Nội các Nhật Bản đặt tên là
“Đại động đất miền Đông Nhật Bản” (東日本大震災) Trong tiếng Việt, “thảm họa” được định nghĩa là những “tai họa lớn, gây nhiều cảnh đau thương, tang tóc”12 Với
diễn biến là sự phát sinh liên tiếp của động đất - sóng thần và sự cố nhà máy điện
hạt nhân, gây ra những thiệt hại lớn về người và tài sản cho vùng Đông Bắc Nhật
Bản, người viết đã chọn sử dụng cách gọi “thảm họa kép tháng 3/2011” trong chuyên đề luận văn này
11 Nhà máy điện hạt nhân số 1 nằm ở ven bờ biển Thái Bình Dương của tỉnh Fukushima, giữa thị
tr ấn Okuma và Futaba thuộc quận Futaba, cách Tokyo 220 km về phía Đông Bắc
12
Hoàng Phê (2017) “Từ điển tiếng Việt”- trung tâm từ điển học Vielex, NXB Đà Nẵng, tr 904
Trang 221.1.2 Thiệt hại sau thảm họa kép tháng 3/2011
Đến ngày 7/3/2018, theo số liệu tổng kết báo cáo lần thứ 157 của Ủy ban Ứng phó Hỏa hoạn và Thiên tai, Bộ Nội vụ Nhật Bản, thiệt hại luỹ kế sau thảm họa kép được thống kê như bảng dữ liệu dưới đây
Thiệt hại Tỉnh
Iwate
Tỉnh Miyagi
Tỉnh Fukushima Tổng 3
tỉnh vùng Đông
Bắc
Toàn
Nhật Bản
Thành phố Minamisoma
(Nguồn: Người viết tự lập dựa trên số liệu thống kê báo cáo lần thứ 157 của Trụ sở
Ứng phó Hỏa hoạn và Thiên tai, Bộ Nội vụ Nhật Bản) 13
13
http://www.fdma.go.jp/bn/higaihou/pdf/jishin/157.pdf
(03/12/2018)
Trang 23Theo bảng thống kê trên, tính tới thời điểm ngày 1/3/2018, tổng số người chết
và mất tích sau thảm họa kép trên toàn đất nước Nhật Bản là 22.199 người Số nhà
bị thiệt hại toàn bộ là 121.781 nhà, số nhà thiệt hại một nửa là 280.962 nhà, thiệt hại
một phần là 744.530 căn Đối với Nhật Bản, thảm họa kép tháng 3/2011 đã trở thành một mốc biến cố thiệt hại lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2
Ba thành phố Minamisanriku (tỉnh Miyagi), Kesennuma (tỉnh Iwate), và Rikuzentakata (tỉnh Iwate) của Nhật gần như bị xóa sổ Nhiều công trình, cơ sở vật
chất, kĩ thuật hạ tầng và nhà máy thuộc các ngành công nghiệp quan trọng như ôtô, hóa dầu, nguyên tử tại vùng Đông Bắc Nhật Bản đều bị tàn phá, thiệt hại nặng nề
bởi trận thảm hoạ kép Đến thời điểm ngày 22/3/2011, Nhật Bản đã ước tính sơ bộ thiệt hại kinh tế lên đến 20.000 tỉ yên (khoảng hơn 248 tỉ đô la Mỹ), cao hơn so với thiệt hại trận động đất Kobe năm 1995 [6, tr 3]
Thảm họa động đất, sóng thần và sự cố hạt nhân đã gây thiệt hại lớn về người,
về của cho Nhật Bản, gây ra tâm lý bất ổn trong người dân, làm gia tăng gánh nợ
vốn đã rất lớn của Nhật Bản do nhu cầu tái thiết
Dựa vào bảng 1-1 trên, chúng ta cũng có thể nhận thấy 3 tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất sau thảm họa kép thuộc vùng Đông Bắc Nhật Bản là Iwate, Miyagi và Fukushima Thiệt hại về người chết và mất tích ở 3 tỉnh Iwate, Miyagi và Fukushima đã chiếm tới 99%, thiệt hại về nhà cửa chiếm gần 65% trên tổng sổ thiệt
hại của toàn quốc Tuy nhiên, sự khác biệt yếu tố vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội mà thiệt hại do thảm họa gây ra cùng với các vấn đề phát sinh ở mỗi
tỉnh, khu vực cũng không giống nhau
Trang 24Ảnh 0-1: Vị trí 3 tỉnh Iwate, Miyagi và Fukushima trên
14
http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=104 (03/12/2018)
Trang 25Diện tích bị ngập do sóng thần ở thành phố Kesennuma là 18,6 km2
chiếm 5,6 % diện tích toàn thành phố Tổng số tòa nhà bị tàn phá bao gồm cả nhà riêng, văn phòng, công trường, tòa nhà cao tầng là 22.359 căn tương đương với 35 % các kiến trúc của thành phố Số gia đình bị thiệt hại là 9.500 hộ, chiếm 35,7 % [19, tr 338]
Phòng công tác chuẩn bị khu nhà ở tạm thời của tỉnh Miyagi đã công bố kế
hoạch xây dựng 15.484 căn nhà ở tạm thời công cộng sau thảm họa tại 21 thành phố,
thị trấn và đến thời điểm cuối tháng 1/2015 đã có 2.692 căn nhà được xây dựng [23,
tr 29]
Sau Miyagi, Iwate là tỉnh đứng thứ 2 về thiệt hại người và vật chất do thảm
họa kép gây ra Số lượng người chết và mất tích là 6.256 người, trong đó thành phố Rikuzentakata bị ảnh hưởng nặng nề nhất Rikuzentakata là một thành phố cảng
sầm uất với 23.700 người Do vị trí ven biển gần tâm chấn nên sau khi trận động đất
xảy ra, trong khi người dân chưa kịp sơ tán thì sóng thần cao trên 10m đã ập tới Thiệt hại về người của thành phố là 2.144 người Trong đó 1.727 người chết trực
tiếp ngay tại khi thảm họa xảy ra, 417 người chết vì những lí do liên quan như là bị thương, tai nạn Số tòa nhà bị thiệt hại là 3.368 tòa, trong đó 3.159 tòa bị phá hủy hoàn toàn Số lượng các hộ gia đình ở thành phố vào thời điểm ngày 31/1/2011 là 8.068 hộ, thì tới ngày 21/6/2011 có 3.803 hộ bị thiệt hại hoàn toàn trên tổng số 4.465 hộ thiệt hại [19 ,tr 354]
Khác với Iwate và Miyagi là hai tỉnh chủ yếu bị thiệt hại do ảnh hưởng của
thảm họa tự nhiên là động đất và sóng thần, ở tỉnh Fukushima sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima I để lại hậu quả nặng nề nhất Số lượng người chết, mất tích và thiệt hại vật chất của tỉnh Fukushima không lớn như hai tỉnh Miyagi và Iwate Tuy nhiên do sự cố rò rỉ hạt nhân, đã khiến biến động di cư ở tỉnh Fukushima thành vấn đề mất rất nhiều thời gian để có thể giải quyết về sau Trong những năm trước thời điểm xảy ra thảm hoạ kép, về cơ bản đặc trưng biến đổi dân số của tỉnh Fukushima là nhập cư nhiều, xuất cư ít Tuy nhiên, do thảm hoạ kép động đất và hạt nhân, số người dân đi sơ tán gia tăng, dân số tỉnh Fukushima liên tục giảm Ngày 23/5/2015, tỉnh Fukushima đã công bố báo cáo về tình hình thay đổi dân số trong
Trang 26vòng 1 năm Số dân tại thời điểm 2016, số dân của tỉnh là 1.932.329 người So với năm 2014, số dân của tỉnh đã giảm 10.646 người [40, tr 28] Điều đó cho thấy vấn
đề ô nhiễm phóng xạ từ sự cố nổ nhà máy điện nguyên tử còn ảnh hưởng mạnh tới đời sống của cư dân trong vùng cho tới rất lâu sau này Số người đi sơ tán của tỉnh Fukushima do sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 đến thời điểm ngày 10/3/2015 đã lên tới 119.000 người [16, tr 02]
1.2 Chính sách sơ tán, tái định cư của chính phủ Nhật Bản, chính quyền địa
phương và tình hình di cư sau thảm họa
1.2.1 Chỉ đạo sơ tán và di cư từ chính phủ và chính quyền địa phương
Liên tiếp các chuỗi thiên tai động đất và sóng thần và sự cố hạt nhân xảy ra,
việc sơ tán ra khỏi khu vực nguy hiểm là đối ứng cấp bách nhất tại thời điểm xảy ra
thảm họa Có thể phân loại thành hai loại hình tản cư là sơ tán tự chủ và sơ tán theo
chỉ đạo của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương Sơ tán tự chủ là người dân tự nhận thấy nguy hiểm hoặc nhà ở bị tàn phá hoàn toàn sau thảm họa động đất và sóng thần nên chủ động di cư hoặc sơ tán trong các nhà tạm trú Còn về
sơ tán theo chỉ đạo của chính phủ và chính quyền địa phương, đối tượng chủ yếu là khu vực nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của sự cố nhà máy điện hạt nhân
8h ngày 12: sơ tán toàn thành phố
17h39’ ngày 12/3 sơ tán cách nhà máy số 2: 10km 18h25’ ngày 12/3 sơ tán cách nhà máy số 1: 20km (một phần tp)
Thị trấn Fukuoka, 5h44’ ngày 12/3 sơ tán
Trang 27Fukushima
(川内村)
18h25’ ngày 12/3 sơ tán cách nhà máy số 1: 20km (tản cƣ một phần làng)
Ngày 15 khuyến cáo tự chủ sơ tán 7h ngày 16 sơ tán toàn bộ làng
Thị trấn Okuma,
Fukushima
(大熊町)
21h23’ ngày 11/3 sơ tán cách nhà mày số 1: 3km 6h21’ ngày 12 sơ tán toàn thành phố 5h44’ ngày 12/3 sơ tán
cách nhà máy số 1: 10km 18h25’ ngày 12/3 sơ tán cách nhà máy số 1: 20km Thị trấn Futaba,
Fukushima
(双葉町)
21h23’ ngày 11/3 sơ tán cách nhà máy số 1: 3km 7h30’ 12/3 chỉ thị sơ tán toàn thành phố 5h44’ ngày 12/3 sơ tán
cách nhà máy số 1: 10km 18h25’ ngày 12/3 sơ tán cách nhà máy số 1: 20km (toàn bộ thành phố)
Thị trấn Namie,
Fukushima
(浪江町)
5h44’ ngày 12/3 sơ tán cách nhà máy số 1: 10km 11h ngày 12 sơ tán 20km 18h25’ ngày 12/3 sơ tán
cách nhà máy số 1: 20km 9h ngày 15 sơ tán toàn bộ thành phố Làng Katsurao,
Fukushima
(葛尾村)
18h25’ ngày 12/3 sơ tán cách nhà máy số 1: 20km (một phần làng)
21h15’ ngày 14 sơ tán toàn bộ làng
(Ngu ồn: 15, tr 39)
Chính sách sơ tán của chính phủ Nhật Bản là xác định khu vực cƣ dân cần sơ tán
với trung tâm là hai nhà máy điện nguyên tử, phân chia thành các khu vực sơ tán cách xa cự ly vùng trung tâm 3km, 10km, 20km và 30km Tuy nhiên, các thành phố,
trị trấn, làng trong khu vực sơ tán mà chính phủ quy định chỉ tiếp nhận chỉ thị nhƣng không xử lý theo đúng chỉ thị mà trái lại đƣa ra những cách ứng phó riêng cho từng khu vực
Trang 28Các khu vực sơ tán được chỉ định và hành động đối ứng từng khu vực được
đề ra như sau:
1 Khu vực cảnh báo: Khu vực nằm trong bán kính 20km từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 Cụ thể đây là khu vực yêu cầu dời đi ngay lập tức và
cấm đi vào Đối với những người không liên quan tới nghiệp vụ xử lý khẩn
cấp tình hình nhiễm xạ, trừ trường hợp nhận được sự cho phép tạm thời của
thị trưởng
2 Khu vực sơ tán theo kế hoạch: Khu vực trong vòng bán kính 20-30km từ nhà máy điện Fukushima số 1, một năm sau sự cố lo ngại có khả năng chỉ số lượng phóng xạ tích lũy đạt 20mSv15
Về nguyên tắc, việc sơ tán tới khu vực ngoài tương tứng được thực hiện tuần tự trong khoảng 1 tháng
3 Khu vực chuẩn bị sơ tán trường hợp khẩn cấp: Khu vực thực hiện sơ tán tại
chỗ 16
(trong phạm vi bán kính 20 km tới 30km), loại trừ khu vực chuẩn bị sơ tán theo kế hoạch Đối ứng cho khu vực này là cần tiến hành chuẩn bị cho việc dời đi trong trường hợp khẩn cấp 17
Ngày Giờ Chỉ thị sơ tán
11/3 20h50 Di dời khỏi bán kính 2km
21h23 Chỉ thị sơ tán khoảng cách 3km từ nhà máy điện Fukushima số 1/
Bán kính 3-10km thực hiện sơ tán tại chỗ
12/3 5h44 Chỉ thị sơ tán mở rộng ra phạm vi 10 km
15 Sievert, ký hiệu: Sv, theo Hệ đo lường quốc tế là đơn vị đo lượng hấp thụ bức xạ ion hóa có tác
d ụng gây tổn hại Đơn vị được đặt tên theo tên của Maximilian Rolf Sievert, một nhà vật lý y tế
Th ụy Điển nổi tiếng với công việc đo liều lượng phóng xạ và nghiên cứu về ảnh hưởng sinh học
17
http://www.city.minamisoma.lg.jp/index.cfm/10,15930,c,html/15930/20160608-092514.pdf (03/12/2018)
Trang 297h45 Tuyên bố tình trạng khẩn cấp nhà máy điện Fukushima số 2
Chỉ thị sơ tán khoảng cách 3km từ nhà máy điện Fukushima số 2 Bán kính 3-10km thực hiện sơ tán tại chỗ
17h39 Chỉ thị sơ tán phạm vi 10 km từ nhà máy số 2
18h25 Chỉ thị sơ tán phạm vi 20 km từ nhà máy số 2
15/3 11h00 Từ nhà máy số 1 chỉ thị sơ tán trong nhà bán kính 20-30km
25/3 Yêu cầu tự chủ sơ tán trong phạm vi từ 20-30km từ nhà máy
Fukushima số 1 21/4 Thiết lập khu vực cảnh báo trong phạm vi 20 km từ nhà máy điện
hạt nhân Fukushima số 1 Thu nhỏ phạm vi sơ tán từ nhà máy số 2 từ 10km xuống 8km 22/4 Xóa bỏ khu vực sơ tán 20-30km từ nhà máy số 1(trừ trường hợp
thành phố Iwaki) Thiết lập khu vực lánh lạn theo kế hoạch/ thiết lập khu vực chuẩn
số này là 138.000 người Trong đó, số người sơ tán theo yêu cầu của chính quyền là
84.000 người, người tự chủ sơ tán 54.000 người Về địa điểm sơ tán, số người ở nhà
tạm là 29.000 người, người ở tại nhà người thân là 13.000 người, người ở nơi được cho là tạm thời là 96.000 người Số người đi sơ tán trong tỉnh là 88.000 người, đi sơ tán ngoài tỉnh là 50.000 người [14, tr 72]
Ngu ồn: Người viết tổng hợp trên cơ sở số liệu trong [38, tr 15]
Trang 30Bi ểu đồ 0-1: Thống kê về lượng người nhập cư theo tháng ở 3 tỉnh thiệt hại
Iwate, Miyagi và Fukushima (từ tháng 1/2009 đến tháng 12/2011)
Ngu ồn: [33, tr 21]
Từ biểu đồ 1-1 trên, chúng ta có thể thấy rằng thời điểm ngay sau khi xảy ra
thảm họa là thời điểm di cư ra khỏi 3 tỉnh Đông Bắc đạt mức cao nhất Trong tháng 3/2011, tổng số người di cư ra khỏi 3 tỉnh là hơn 12.000 người, tháng 4/ 2011 con
số này đã tăng lên hơn 14.000 người Trong đó, tỉnh Fukushima chiếm số lượng lớn
nhất với gần 8.000 người Tỉnh Miyagi có số lượng di cư lớn thứ 2 với khoảng
4.000 người Con số này của tỉnh Iwate tại thời điểm tháng 4 là khoảng 2.000 người Trong các tháng về sau, số lượng người chuyển đi đã giảm và đa số là người dân
tỉnh Fukushima với nguyên nhân chủ yếu là nỗi lo sợ về vấn đề rò rỉ chất phóng xạ Song, từ thời điểm tháng 7/2011, ở tỉnh Iwate và Miyagi còn có lượng người chuyển đến tăng cao hơn cả thời kì trước thảm họa Nguyên nhân là do những người dân trong tỉnh đi sơ tán quay trở về và có một bộ phận dân cư từ tỉnh Fukushima
tiếp tục đến sơ tán
Trang 31B ảng 0-5 : Biến động số điểm và người sơ tán sau thảm họa kép 11/3/2011 so
Thời
điểm Thảm hoạ kép vùng Đông Bắc (11/3/2011)
Động đất Chuetsu (23/10/2004)
Đại động đất Hanshin Awaji (17/01/1995)
Số người
sơ tán tại các điểm
sơ tán
Số người
sơ tán (*2)
Số khu vực sơ tán
Số người
sơ tán
Số khu vực sơ tán
Số người sơ tán Ngày
Sau 2
tuần 1.935 1.335
246.190 216.936
Sau 3
tuần 2.214 1.240
167.919 141.882
Sau 1
tháng 2.344 1.063
147.538 124.450
Sau 2
tháng 2.417 897
115.098 94.199
Sau 3
tháng 1.459 799
88.361 67.073
41.143 38.598
101.640 75.215
Trang 32 Số liệu liên quan tới động đất tháng 3/2011 do hai nguồn: Số điểm sơ tán và
số người sơ tán: (*1) là thống kê theo số liệu cục cảnh sát; số người tại điểm
sơ tán và số người sơ tán; (*2) là theo điều tra thống kê của cục phục hưng
Số liệu người sơ tán của cục cảnh sát chỉ tập trung vào các điểm sơ tán tạm trú công cộng và quán trọ; số người sơ tán theo điều tra của cục phục hưng bao gồm cả những người di cư tới nhà người thân, người quen
Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy rằng thời điểm số người sơ tán về 0 sau động đất Chuetsu là 2 tháng và 7 tháng đối với động đất Hanshin Awaji thì con số các điểm sơ tán và số người sơ tán tới thời điểm 7 tháng sau thảm họa kép xảy ra
vẫn ở mức trên 20.000 người sơ tán Điều đó đã cho thấy mức độ biến động cộng đồng dân cư vùng Đông Bắc sau thảm họa kép ở mức nghiêm trọng hơn nhiều lần
so với các trận động đất trong quá khứ Sự biến động này chủ yếu xảy ra ở 3 tỉnh Iwate, Miyagi và Fukushima- những địa phương chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh
mẽ nhất từ thảm họa
Iwate (năm 2010, năm 2011- giai đoạn tháng 3 tới tháng 12) (Đơn vị: người)
So sánh tăng giảm 2 năm
Dựa vào kết quả thống kê, chúng ta có thể nhận thấy số người chuyển đi di
tản ra khỏi 3 tỉnh Đông Bắc sau khi thảm họa xảy ra đã tăng một cách đột biến Các hướng chuyển đi di tản rộng và đặc biệt sau thảm họa, tỉ lệ chuyển xuống Osaka hay Nagoya vượt lên hơn 60% Dù vậy tỉ lệ di cư đến khu vực Tokyo vẫn chiếm tỉ lệ lớn
do vị trí kề cận, giao thông nhanh chóng và thuận lợi so với các khu vực khác
Trang 33Tỉnh Miyagi cũng đã được chính quyền tỉnh Kochi và các tỉnh khác cam kết
tiếp nhận các nạn nhân sóng thần sau khi tỉnh này kêu gọi người dân di chuyển đến các vùng khác do gặp khó khăn trong việc xây dựng nhà tạm Do đó, kết quả là số lượng người sống ở nhà tạm tại tỉnh Miyagi đã thay đổi từ 126.948 người (thời điểm cao nhất tháng 3/2012) xuống còn 69.188 người (tháng 1/2015) Đồng thời, số lượng người lánh nạn ở ngoại tỉnh cũng giảm từ tháng 4/2012 là 9.026 người xuống còn 7.458 người vào tháng 1/2015 Theo kết quả của cuộc điều tra sức khỏe cư dân
cư trú thì tỉ lệ người cao tuổi trong nhà ở tạm thời tại tỉnh có xu hướng tăng lên Năm 2012 tỉ lệ người cao tuổi ở các nhà tạm trú là 34,3 % và đã tăng lên 43,8 % vào năm 2014 [23, tr 29]
Ngay từ ngày 19/3/2011, hoạt động xây dựng các căn nhà tạm cho nạn nhân động đất đã bắt đầu ở thành phố ven biển này Tại thời điểm đó đã có 200 căn nhà đúc sẵn, mỗi căn rộng 30m2, được xây trên nền một trường tiểu học cũ làm nơi tạm trú cho dân cư Mỗi căn có thể chứa 2-3 người Ở thành phố Kamaishi cũng thuộc tỉnh Iwate, chính quyền đã tiến hành kế hoạch xây nhà tạm ở một sân bóng chày
Tổng cộng tỉnh Iwate dự kiến xây dựng 8.800 căn nhà tạm cho các nạn nhân động đất, sóng thần Chính quyền tỉnh đã sơ tán người sống sót từ vùng ven biển về các khu vực ít bị tàn phá hơn Việc lạnh nạn, tập trung lại trong các cơ sở tạm trú là điều
kiện cơ bản, tất yếu dẫn tới xuất hiện những liên kết liên hệ mới giữa cư dân, hình thành một, tập thể cộng đồng mới
1.2.2 Vai trò của chính phủ và chính quyền địa phương trong hành động ứng phó
và phục hưng sau thảm họa
Các hành động của chính phủ Nhật Bản sau thảm họa kép được tóm tắt lại trong bản “Đánh giá các hoạt động của Văn phòng Nội Các trong động đất Thái Bình Dương tháng 3 năm 2011”18
Nội dung cụ thể như sau:
1/ Thông qua chính phủ Nhật Bản tiếp nhận viện trợ cho khu vực thảm họa sau thiên tai Xuất phát từ yêu cầu cần có một bộ phận tiếp nhận viện trợ của chính phủ
18
http://www8.cao.go.jp/hyouka/h23hyouka/shinsai/shinsai-hontai.pdf (01/10/2018)
Trang 34để có thể tiếp cận rộng rãi tới dân cư vùng chịu thiệt hại, ngày 5/4/2011, chính phủ
Nhật Bản lần đầu tiên đã thành lập bộ phận tiếp nhận viện trợ trực thuộc chính phủ
Ban đầu thời gian tiếp nhận viện trợ là từ ngày 5/4/2011 tới cuối tháng 9/2011, nhưng sau đó vì có yêu cầu từ các phía, thời gian hoạt động của bộ phận này đã được gia hạn hai lần và kết thúc vào tháng 9/2012 Tính tới thời điểm ngày 27/4/2012, tổng số tiền viện trợ tiếp nhận và được chuyển tới các khu vực chịu thiệt
hại cụ thể như sau: Số lần tiếp nhận: 8.547 lần Tổng số tiền tiếp nhận: 3.315.593.710 yên; số tiền chuyển tới địa phương bị thiệt hại: 3.212.375.000 yên
Với vai trò, vị trí của mình, chính phủ Nhật Bản đã nhanh chóng bắt tay vào việc thiết lập tài khoản, bộ phận liên hệ, chuẩn bị hệ thống tiếp nhận viện trợ một cách linh hoạt và đưa vào hoạt động có hiệu quả
2/ Phái cử nhân viên hành chính tới các vùng thảm họa Tổng cộng đã có 427 nhân viên hành chính được cử tới tỉnh Iwate (37 người), tỉnh Miyagi (172 người), tỉnh Fukushima (118 người) Ngoài ra, một nhân viên đã được cử làm phó thị trưởng của thành phố Rikuzentakata Báo cáo hoạt động của các nhân viên phái cử được tổng
hợp lại và đăng lên thông báo của Nội các
Sau hoạt động phái cử, những kinh nghiệm ứng phó, cứu trợ thảm họa của nhân viên phái cử đã được chia sẻ rộng rãi những nhân viên chính phủ khác để có những kinh nghiệm ứng phó thảm họa sau này
3/ Trong điều kiện cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề sau thảm họa, người dân thực
hiện di cư sơ tán ra khỏi địa phương, để người dân có thể nắm bắt được những thông tin chính xác và có liên hệ với chính quyền địa phương, phòng thông tin chính phủ đã thực hiện một loạt các chính sách, chương trình, hướng tới đối tượng
là người bị hại sau thảm họa như phát thanh những thông tin chính thức về thảm họa từ chính phủ, phát hành báo tường, sổ tay hướng dẫn địa phương để đăng thông tin về các trung tâm sơ tán, các thông tin tạm thời hữu ích cho việc tái thiết cuộc
sống và sinh hoạt hàng ngày, chương trình tivi hướng tới vùng chịu thiệt hại nhằm đưa tin về các chính sách chính phủ và hoạt động ứng phó, tái thiết của địa phương
và thành lập các trang web đăng tải lại chương trình đài và tivi đã phát…
Trang 35Tập trung hướng tới đối tượng cư dân vùng bị ảnh hưởng, tuy nhiên bên cạnh đó văn phòng thông tin chính phủ còn có các chương trình truyền thông dành cho cư dân toàn quốc và nước ngoài như, bài đăng cảm ơn sự giúp đỡ các quốc gia trong và ngoài khu vực trên các tờ báo quốc tế
4/ Ngày 13/3/2011, các cơ quan về tài chính và kinh tế đã tổ chức cuộc họp xem xét tình hình kinh tế, dựa trên báo cáo về thực trạng và các hoạt động của các ngành,
cục liên quan đã xây dựng chính sách cơ bản để tái thiết và tăng cường quản lý tài chính trong thời gian ngắn, trung và dài hạn
Bằng sơ đồ 1-1 “Kế hoạch phục hưng đô thị (thành phố, thị trấn, làng) và tái thiết mối quan hệ tương trợ” dưới đây, chúng ta có thể nhận thấy mối liên hệ các
cấp hành chính trong công cuộc phục hưng Các cơ quan hành chính như chính phủ
và chính quyền địa phương không chỉ đóng vai trò quan sát ra chỉ đạo mà còn là đơn vị trực tiếp đưa xuống các khoản kinh phí góp phần xây dựng cơ sở vật chất là tiền để quan trọng của cuộc sống Dựa trên hạ tầng đó, đời sống được ổn định mối liên kết giữa cư dân dần dần được tái hình thành
Trang 36Sơ đồ 0-1: Kế hoạch phục hƣng đô thị (thành phố, thị trấn, làng) và tái thiết
Ngu ồn: [19, tr 292]
1.3 Những hệ lụy xã hội của thảm họa kép tháng 3/2011
Thảm họa kép tháng 3/2011, với tính chất phức hợp của một chuỗi các thảm
họa tự nhiên là động đất sóng thần và sự cố nổ nhà máy điện hạt nhân đã gây ra
t ỉnh
K ế hoạch phục hưng (tp,tt, làng)
Ph ạm vi: tp, tt, làng Đặc trưng : hỗ trợ công cộng
Ch ủ thể tạo lên : tp, tt, làng
Ch ủ thể thực địa : hành chính
Tái thi ết sự tương trợ
Ph ạm vi : Phạm vi mang ý
th ức chỉ định Đặc trưng : sự tương trợ
Ch ủ thể tạo lên : người dân khu v ực
Ch ủ thể thực địa: tái thiết xã
h ội
Ra quy ết định
Ra quy ết định
1 Kế hoạch tái thi ết
1 Tiêu chuẩn tái thi ết thành phố
Trang 37những thiệt hại nặng nề và để lại hệ quả nghiêm trọng cho một phạm vi rộng lớn vùng Đông Bắc Nhật Bản
Sau thảm họa kép tháng 3/2011, cấu trúc cộng đồng dân cư vùng Đông Bắc đặc biệt là 3 tỉnh Iwate, Miyagi, Fukushima bị phá vỡ và thay đổi Với thực trạng đổi nơi cư trú, sơ tán như đã trình bày ở trên, bối cảnh khu vực sau thảm họa mang
những hệ lụy đặc trưng khác với các thảm họa trước đây trong lịch sử
Hệ lụy đầu tiên cần kể tới là quá trình biến động sơ tán và di cư diễn ra trên một phạm vi rộng lớn Do thảm họa kép đã tàn phá một phần rộng lớn toàn vùng Đông Bắc Nhật Bản, kết hợp với ảnh hưởng của sự cố nhà máy điện hạt nhân đã khiến cho quá trình di cư không chỉ diễn ra trong nội bộ tỉnh hay khu vực mà như
đã dẫn chứng ở phần trên, hướng di chuyển nơi ở hầu hết là các khu vực còn lại trên đất nước Nhật Bản Quá trình sơ tán dù xuất phát điểm là tự phát hay theo sự
chỉ đạo của nhà nước và chính quyền địa phương cũng đều dẫn tới hệ quả là sự xáo
trộn, thay đổi cấu trúc cộng đồng Việc sơ tán tự chủ thường mang tính chất cá nhân hay hộ gia đình nhỏ lẻ, khác với sơ tán theo chỉ đạo từ nhà nước là di cư toàn khu
vực Như vậy, có thể thấy quá trình di cư sau thảm họa kép ở vùng Đông Bắc diễn
ra với hình thức đa dạng, phạm vi rộng tạo nên những biến động phức tạp cho cộng đồng dân cư khu vực
Hệ quả của việc sơ tán, thay đổi nơi cư trú sau thảm họa là sự ly tán gia đình
và liên kết cộng đồng dân cư khu vực Theo kết quả khảo sát của báo Fukushima Minyu (Những người bạn dân Fukushima), số hộ gia đình tại các thị trấn làng thuộc
tỉnh Fukushima đều tăng từ khoảng 20%, đặc biệt ở làng Katsurao và Iitate, số hộ gia đình còn tăng lên lần lượt là 50 và 60% [63, tr 5] Con số đó đã cho thấy sự phân tán gia đình diễn ra mạnh mẽ sau thảm họa Cùng với sự ly tán về gia đình là
vấn đề về tỉ lệ cần người chăm sóc cũng tăng lên Theo kết quả cuộc khảo sát tại
tỉnh Fukushima, tỉ lệ số người cần chăm sóc điều dưỡng tại khu vực thảm họa tăng
từ 6.036 người tại thời điểm tháng 1/2011 lên 8.259 người vào tháng 9/2013, tăng lên 36,8% Cùng khoảng thời gian đó, tỉ lệ người nhận những dịch vụ về chăm sóc tăng từ 2.872 người lên 6.406 người [62, tr 7] Như vậy, có thể thấy sự biến động về
Trang 38dân cư vùng Đông Bắc sau thảm họa còn bao hàm trong nó những vấn đề như thiếu nhân lực hỗ trợ những người yếu thế như người già, người bệnh hay trẻ em
Liên quan tới sơ tán sau thảm họa, do đặc thù sự cố nhà máy điện hạt nhân làm dò rỉ lượng lớn phóng xạ ra môi trường đã khiến một bộ phận không nhỏ người dân khu vực gần nhà máy điện hạt nhân phải chấp nhận cuộc sống sơ tán lâu dài,
thậm chí là buộc phải thay đổi nơi cư trú vì có những khu vực khó có thể trở về
Với những đặc thù như trên có thể nhận thấy quá trình tái hình thành cộng đồng phục hưng sau thảm họa kép dù theo phương hướng như thế nào cũng có nhiều khó khăn cần có sự định hướng đúng đắn phù hợp từ nhà nước, chính quyền địa phương và sự hợp tác của người dân trong và ngoài khu vực chịu ảnh hưởng thảm họa trong mối tương trợ, liên kết với nhau
Ti ểu kết
Có thể nói, khu vực Đông Bắc Nhật Bản sau thảm họa kép tháng 3/2011 gần như đã bị phá hủy hoàn toàn bởi động đất và sóng thần, để lại cho chính quyền và người dân Nhật Bản những khó khăn chồng chất khó có thể khắc phục ngay được
Đó là vấn đề cứu hộ, cứu nạn, tìm kiếm hàng ngàn người còn bị chôn vùi trong các đống đổ nát, là vấn đề thu xếp cư trú cho hàng trăm ngàn người do nhà cửa, ruộng vườn bị sóng thần tàn phá, là vấn đề dọn dẹp đống đổ nát và xây dựng lại cơ sở hạ
tầng và các nhà máy xí nghiệp, thu xếp việc làm ổn định đời sống nhân dân ở các vùng bị thiên tai Một loạt hệ lụy xã hội liên quan tới cộng đồng dân cư xuất hiện sau thảm họa Một yêu cầu được đặt ra ngay sau thời điểm thảm họa xảy ra, có mối liên hệ với tất cả các vấn đề ở trên chính là hoạt động tái hình thành cộng đồng
Hoạt động này còn gắn liền với mọi quá trình nhập cư và di cư từ vùng này sang vùng khác Việc thích nghi tái xây dựng cuộc sống ở một địa phương hoàn toàn mới hay cũng có thể ở ngay tại địa phương nhưng diễn ra trong một điều kiện sinh thái
tự nhiên và xã hội hoàn toàn mới do hậu quả của thiên tai để lại có những đặc trưng
và khó khăn như thế nào sẽ được làm sáng tỏ trong chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁI HÌNH CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ SAU
Thảm hoạ kép 11/3/2011 xảy ra đột ngột kéo theo nhiều cơn rung chấn, dư chấn và sóng thần khổng lồ đã gây thiệt hại nghiêm trọng trên phạm vi rộng lớn vùng Đông Bắc Nhật Bản Do ảnh hưởng của thảm họa cuộc sống của toàn bộ dân
cư trong khu vực đã bị xáo trộn và thay đổi Đặc biệt do phát sinh sự cố nhà máy điện hạt nhân, một lượng lớn chất phóng xạ đã rò rỉ ra ngoài môi trường đã khiến người dân khu vực lân cận nhà máy điện rơi vào tình trạng buộc phải di cư và di cư lâu dài Ngay sau khi xảy ra sự cố nhà máy điện hạt nhân, người dân các địa phương
nhận chỉ thị sơ tán đã sơ tán ra ngoài thị trấn, khu vực Từ động đất tới sau khi phát sinh sự số nhà máy điện hạt nhân có nhiều hình thái sơ tán khác nhau: một bộ phận
sơ tán theo chỉ thị của chính quyền địa phương tới các địa điểm sơ tán như nhà thể
chất, trường học; một bộ phận sơ tán tại nhà người thân quen, có những người sơ tán xa hơn sang tỉnh khác Như nội dung đã đề cập tới trong chương 1, khác với các trận động đất khác trước đây trong lịch sử, sơ tán sau thảm họa kép mang tính chất lâu dài và phức tạp Ở mỗi hình thái sơ tán ứng với các giai đoạn ứng phó, phục hưng sau thảm họa, liên kết con người, quá trình tái hình thành cộng đồng lại mang đặc trưng khác nhau Bằng những dẫn chứng cụ thể, người viết sẽ làm sáng tỏ điều
đó trong nội dung chương 2 này
2.1.1 Định nghĩa “cộng đồng” và sự cần thiết của “cộng đồng”
Chúng ta dù không mang một ý thức chính xác thì cũng sống trong nhiều
mối quan hệ Có gia đình, tới trường có thầy cô bạn bè, tới cơ quan có các mối quan
hệ đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới; hơn vậy trong các sinh hoạt đời sống thường
nhật còn gặp gỡ giao lưu với hàng xóm hay những người xung quanh Con người không chỉ tham gia vào một “cộng đồng” duy nhất mà cuộc sống thường ngày còn
trải qua trong nhiều mối quan hệ “cộng đồng” khác nhau Vậy các “cộng đồng” đó
Trang 40nên được hiểu chung nhất theo nghĩa nào? Tính liên kết cộng đồng yếu sẽ gây ảnh hưởng như thế nào?
Trước hết, chúng ta cần làm rõ khái niệm “cộng đồng” Khái niệm đầu tiên
về “cộng đồng” được định nghĩa bởi nhà xã hội học Robert M MacIver (1917) MacIver cho rằng: “Cộng đồng là cuộc sống có sự gắn kết diễn ra trong khu vực
nhất định”. 19Còn trong đại từ điển tiếng Nhật của nhà xuất bản Kodansha, khái
niệm “cộng đồng” được định nghĩa là: “コミュニティ(Cộng đồng) là phiên âm từ Community trong tiếng Anh, là xã hội được xây dựng dựa trên tính khu vực và tính liên kết (hỗ trợ) Đây là định nghĩa của nhà xã hội học người Anh tên là MacIver Đôi khi nó mang ý nghĩa tính đoàn kết của khu vực xã hội như làng xã, thị trấn,
quốc gia”20
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, cộng đồng xã hội là “một tập đoàn người
rộng lớn, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp,
về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao
gồm cả một dòng họ, một sắc tộc, một dân tộc Như vậy, cộng đồng xã hội bao gồm
một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, về địa lý, về ngôn ngữ, về văn hóa, về tín ngưỡng, về tâm lý, về lối sống
Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của
một cộng đồng xã hội Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên một quy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc của các cộng đồng xã hội trên những quy mô nhỏ hơn.” 21
Một cách định nghĩa khác đơn giản hơn về “cộng đồng” trong từ điển tiếng
Việt là: “Toàn thể những người cùng sống, có những đặc điểm giống nhau, gắn bó
19 「一定の地域において営まれる共同生活」と規定している。[12, tr 71]
20
「コミュニティ: 地域性と共同性を基礎にする社会。マッキーバー社会類型の理念と してとられた概念。国家・都市・町村など帰属意識と連帯性をもつ地域社会をさすこと