ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- VŨ HUYỀN TRANG NHẬN DIỆN RÀO CẢN TRONG VIỆC HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF TRONG CÁC CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ HUYỀN TRANG
NHẬN DIỆN RÀO CẢN TRONG VIỆC HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF TRONG CÁC CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM (Nghiên cứu trường hợp: Đại học Bách Khoa Hà Nội và
Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội-2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ HUYỀN TRANG
NHẬN DIỆN RÀO CẢN TRONG VIỆC HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF TRONG CÁC CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM (Nghiên cứu trường hợp: Đại học Bách Khoa Hà Nội và
Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60 34 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Huy Tiến
Hà Nội-2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Phạm Huy Tiến, người hướng dẫn khoa học của tôi vì sự dìu dắt của thầy trong suốt thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ Thầy đã dành cho tôi những lời nhận xét giá trị, đóng góp những ý kiến xác đáng và khơi gợi cho tôi những ý tưởng hay từ những trang viết đầu tiên đến khi luận văn được hoàn thành
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Thầy Vũ Cao Đàm và Thầy Đào Thanh Trường Các thầy đã cho tôi những định hướng từ khi có ý tưởng sơ khai của đề cương cho đến khi tôi chọn được hướng đi phù hợp cho đề tài của mình
Luận văn của tôi sẽ không thể hoàn thành được nếu không có sự hỗ trợ và quan tâm chân thành của gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả mọi người vì đã luôn ở bên và động viên tôi
Trang 41
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do nghiên cứu 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 9
6 Câu hỏi nghiên cứu 9
7 Giả thuyết nghiên cứu 9
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 9
9 Nội dung nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG RÀO CẢN TRONG VIỆC HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF Ở CÁC CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO 11
1.1 Hệ khái niệm 11
1.1.1 Tổ chức Khoa học và Công nghệ 11
1.1.2 Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ 13
1.1.3 Doanh nghiệp spin-off 14
1.2 Vai trò của doanh nghiệp spin-off 17
1.3 Khái niệm rào cản 19
1.4 Điều kiện hình thành doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo 20
Tiểu kết chương 1 25
Trang 52
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ NHU CẦU HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 26
2.1 Tổng quan thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ và hình thành spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo tại Việt Nam hiện nay 26
2.1.1 Thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ 26
2.1.2 Thực trạng về doanh nghiệp spin-off 27
2.2 Thực trạng tại hoạt động khoa học và công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Vietnam Academy of Science and Technology, viết tắt là VAST) 28
2.3 Thực trạng hoạt động KH&CN ở Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 38
Tiểu kết chương 2 42
CHƯƠNG 3 CÁC RÀO CẢN ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF TRONG CÁC CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM 43
3.1 Rào cản về môi trường thể chế 43
3.1.1 Môi trường kinh tế thị trường 43
3.1.2 Hành lang pháp lý cho doanh nghiệp spin-off 46
3.1.3 Hỗ trợ về tài chính 51
3.2 Rào cản về năng lực và chính sách vi mô của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo 54
3.2.1 Chính sách về nhân lực 56
3.2.2 Chính sách về Tài sản Trí tuệ 57
3.2.3 Chính sách tài chính 60
3.2.4 Chính sách về quyền sở hữu cổ phần và quản trị doanh nghiệp 61
Trang 63
3.3 Rào cản về năng lực của nhà sáng lập spin-off và ý chí của người lãnh
đạo cơ sở nghiên cứu và đào tạo 63
3.3.1 Người sáng lập spin-off thiếu năng lực kinh doanh và khả năng thích ứng với quá trình thương mại hóa 63
3.3.2 Tinh thần kinh thương của nhà sáng lập 64
3.3.3 Ý chí của người lãnh đạo 66
3.4 Giải pháp khắc phục rào cản 67
3.4.1 Giải pháp về môi trường thể chế 67
3.4.2 Chính sách hỗ trợ của bản thân cơ sở nghiên cứu và đào tạo 68
Tiểu kết chương 3 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 1 79
Trang 74
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
1 Hình 1.1: Các giai đoạn hình thành spin-off trong trường đại học
2 Hình 2.1 Số lượng nhân lực khoa học đạt trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ/TSKH và PGS/GS từ năm 2014 đến năm 2018
3 Hình 2.2 Tổng kinh phí hoạt động hàng năm của Viện Hàn lâm giai đoạn 2013-2018
4 Hình 2.3 Cơ cấu kinh phí hoạt động hàng năm của Viện Hàn lâm giai đoạn 2013-2018 (kinh phí giao đầu năm)
5 Hình 2.4 Tổng quan về tình hình phát triển các doanh nghiệp off ở Viện Hàn lâm KH&CN VN
spin-6 Hình 2.5 Trình độ cán bộ, viên chức tại Trường ĐHBKHN
giai đoạn 2017-2018
7 Bảng 2.1 Kinh phí thực hiện hoạt động KH&CN giai đoạn 2011 -
2015 của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
8 Bảng 3.1 Một số chương trình tài trợ của Chính phủ
Trang 8Đây là xu thế phát triển hiện nay của nhiều trường đại học hàng đầu tại các nước phát triển trên thế giới Tuy nhiên tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi này còn chưa có những bước tiến rõ nét Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ ở khu vực nghiên cứu và đào tạo vẫn chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao, thúc đẩy phát triển xã hội Nền giáo dục đại học ở Việt Nam đang phải đối mặt với sự thay đổi mạnh mẽ cả về tư duy, cơ cấu kiến thức, kỹ năng và phương pháp, đòi hỏi Nhà trường cần đẩy cao hơn sự chủ động và đóng góp của mình vào xã hội, bằng việc đưa những sản phẩm tri thức mình tạo ra gần hơn nữa với nhu cầu thực tiễn và thúc đẩy nhanh chóng khả năng ứng dụng của những sản phẩm đó
Các viện nghiên cứu và trường đại học là hai thành phần quan trọng trong việc tạo ra và tích lũy kiến thức trong xã hội Họ tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao cho doanh nghiệp, khu vực công và tạo ra kiến thức mới thông qua các hoạt động nghiên cứu Hai chức năng này nên được liên kết với nhau, đặc biệt bao gồm việc chuyển giao kiến thức hiệu quả từ nghiên cứu vào thực tiễn kinh tế Chức năng này rất quan trọng đặc biệt là đối với nguồn nhân lực và đảm bảo tiến bộ công nghệ của nền kinh tế Thành lập các công ty spin-off trong môi trường học thuật là một cách để đưa kiến thức và công nghệ từ môi trường nghiên cứu vào thực tiễn Các doanh nghiệp spin-off có thể được định nghĩa hẹp là các công ty khai thác tài sản trí tuệ hoặc các sáng chế được tạo ra từ nghiên cứu của tổ chức nghiên cứu (trường đại học hoặc
Trang 9Doanh nghiệp spin-off đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường liên kết giữa cơ sơ nghiên cứu - đào tạo và doanh nghiệp Số lượng bằng sáng chế công nghệ và spin-offs bắt nguồn từ nghiên cứu trong trường đại học/viện nghiên cứu có tác động đáng kể đến sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước và khu vực Tuy vậy, tại Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp spin-off còn chưa phổ biến, việc hình thành các doanh nghiệp spin-off còn gặp nhiều rào cản do chưa có thể chế tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc phát triển, mở rộng quyền tự chủ cho một số lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, phối hợp đào tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Xuất phát từ lý do trên, đề tài này sẽ nhận diện rào cản trong việc hình thành doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài về doanh nghiệp spin-off trong cơ sở nghiên cứu và đào tạo
Tác giả Trần Văn Dũng (2008) đã trình bày một số khái niệm, quá trình, nguồn gốc và ba điều kiện hình thành doanh nghiệp spin-off trong các trường đại học bao gồm: công nghệ có bản quyền, đội ngũ khoa học có tinh thần kinh doanh và vốn đầu tư [7, tr.20]
Tác giả Đỗ Thị Thanh Nga (2014) đã có bài nghiên cứu về "Hoàn thiện các thiết chế nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của Spin-off trong các trường đại học của Việt Nam", trong đó tác giả nhấn mạnh việc hoàn thiện thiết chế chính sách cho spin-off ở cả cấp độ vĩ mô (chính phủ) và vi mô (trường đại học) sẽ tăng cường hiệu quả hoạt động cho loại hình tổ chức này [15, tr.61]
Trang 107
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Quang Tuấn (2016) đã cung cấp một cái nhìn chi tiết về những điều kiện cần và đủ để hình thành các doanh nghiệp công nghệ-vệ tinh Trong đó tác giả phân tích điều kiện cần bao gồm môi trường kinh tế thị trường và môi trường chính sách, còn điều kiện đủ bao gồm tiềm lực của tổ chức mẹ, sản phẩm hoạt động khoa học có thể thương mại hóa, điều kiện phát triển các hướng nghiên cứu mới, và môi trường nghiên cứu khoa học [21, tr.70]
Cuốn sách Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ của các tác giả Mai Hà, Đào Thanh Trường, và Phạm Văn Tuyên (2015) đã tổng hợp và phân tích nhiều khía cạnh khác nhau, cả lý luận và thực tiễn liên quan đến doanh nghiệp KH&CN Việt Nam [9, tr.25]
Vai trò thương mại hóa kết quả nghiên cứu của doanh nghiệp spin-off tại Việt Nam trong thập niên 90 đã được làm rõ trong bài báo
"Commercialization of Research through Spin-off Enterprises in Vietnam during the 1990s" của nhóm tác giả Erik Baark, Mai Hà, Phạm Tuấn Huy và Phạm Thị Bích Ngọc (2019) [26] Trong đó, nhóm tác giả đã chỉ ra những khó khăn mà các doanh nghiệp spin-off của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia lúc bấy giờ) phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế của Việt Nam sau Đổi mới
Tác giả Pinaki N Pattnaik và Satyendra C Pandey (2014) đã có bài nghiên cứu về "University Spinoffs: What, Why, and How?" [42, tr.44-50] Nhóm tác giả đã xem xét các tài liệu có sẵn về spin-offs đại học và trình bày một cái nhìn tổng quan toàn diện về định nghĩa spin-offs trong trường đại học, tại sao chúng quan trọng, điều gì làm cho chúng trở nên quan trọng và chúng
có thể được tạo ra như thế nào Ngoài việc xem xét các mô hình hình thành hiện tại của spin-offs đại học, nhóm tác giả cũng đề xuất một mô hình mới có nhiều giai đoạn và toàn diện hơn
Tác giả Fini và cộng sự (2016) đã có một nghiên cứu xuyên quốc gia về các yếu tố thể chế quyết định tới số lượng và chất lượng của các spin-offs của
Trang 118
trường đại học [34, tr.370] Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã phân tích các doanh nghiệp spin-offs trong trường đại học ở ba nước châu Âu và chỉ ra rằng những thay đổi trong khung thể chế có ảnh hưởng tích cực đến số lượng spin-offs được tạo ra, tuy nhiên tác động này chỉ mang tính chất biểu tưởng hơn là có tính lâu dài, nghĩa là không thể cải thiện tác động kinh tế tiềm tàng của các doanh nghiệp này
Ndonzuau, Pirnay và Surlemont (2002) phân tích quá trình hình thành DN spin-off dưới góc độ chuyển giao kết quả nghiên cứu từ tổ chức R&D vào thị trường, hình thành DN khoa học là hình thức chuyển giao CN có hiệu quả [41, tr.285] Hàng loạt các vấn đề đặt ra khi hình thành DN spin-off được đề cập đến như sự cần thiết hình thành vốn đầu tư mạo hiểm cho các nhà khoa học có tinh thần kinh thương, vai trò của khu CN cao trong việc tạo điều kiện cho các spin-off hoạt động trong giai đoạn đầu Theo nghiên cứu của các tác giả, quá trình hình thành DN khoa học spin-off gồm 4 giai đoạn: (1) Tạo nên
ý tưởng kinh doanh từ kết quả nghiên cứu; (2) Hình thành những dự án đầu tư dựa trên những ý tưởng kinh doanh; (3) Thành lập DN spin-off từ những dự
án đầu tư trên; (4) Tiếp tục hoàn thiện và khẳng định sự phát triển của DN
3 Mục tiêu nghiên cứu
1) Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:
- Làm rõ rào cản trong việc hình thành các doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam
2) Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý luận về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, mô hình doanh nghiệp spin-off, khái niệm rào cản và điều kiện để hình thành doanh nghiệp spin-off;
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành các doanh nghiệp spin-offs trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam;
- Tìm hiểu hiện trạng những rào cản trong việc hình thành các doanh nghiệp spin-offs trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam;
Trang 123) Giới hạn phạm vi không gian: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
5 Mẫu khảo sát
- Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Những rào cản trong việc hình thành các doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo tại Việt Nam là gì?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Các rào cản chính ảnh hưởng đến sự hình thành các doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam bao gồm môi trường thể chế chưa sẵn sàng, thiếu các chính sách hỗ trợ từ bản thân cơ sở nghiên cứu
và đào tạo, và năng lực kinh thương của nhà sáng lập spin-off
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích và tổng hợp tài liệu về doanh nghiệp spin-off, điều kiện hình thành doanh nghiệp spin-off, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo
- Phỏng vấn sâu chuyên gia: nghiên cứu đã phỏng vấn 15 chuyên gia trong lĩnh vực chính sách, các nhà khoa học, nghiên cứu viên trong các trường đại học, viện nghiên cứu, các chuyên gia về spin-off
9 Nội dung nghiên cứu
1) Luận cứ lý thuyết:
Khái niệm:
Trang 1310
- Tổ chức khoa học và công nghệ
- Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
- Doanh nghiệp spin-off
- Khái niệm Rào cản
- Điều kiện hình thành các doanh nghiệp spin-off
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành doanh nghiệp spin-off
2) Luận cứ thực tế:
- Nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin về thực trạng việc hình thành spin-off trong các trường ĐH, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành spin-off, các chính sách của chính phủ và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo đối với doanh nghiệp spin-off;
- Tại Việt Nam, mô hình spin-off chưa được phát triển Ở nhiều trường đại học và cơ sở nghiên cứu, các kết quả có tính ứng dụng thường được chuyển giao một cách vội vã hoặc bị bỏ qua vì không được đầu tư thương mại hóa;
- Phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực phân tích chính sách, quản
lý khoa học và công nghệ, các nhà khoa học, nghiên cứu viên trong các trường đại học, viện nghiên cứu
10 Kết cấu luận văn:
Chương 1 Cơ sở lý luận về những rào cản trong việc hình thành doanh nghiệp spin-off ở các cơ sở nghiên cứu và đào tạo
Chương 2 Thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ và nhu cầu hình thành doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo tại việt nam hiện nay
Chương 3 Các rào cản đối với sự hình thành doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo tại việt nam
Trang 14- Các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ được tổ chức dưới dạng viện hàn lâm, viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và một số hình thức khác (gọi chung là tổ chức R&D);
- Các cơ sở giáo dục đại học được tổ chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học, bao gồm: các đại học quốc gia, các đại học vùng (gọi chung
là đại học); các trường đại học (xem thêm luật đại học), học viện; các trường cao đẳng; các viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ;
- Các tổ chức dịch vụ KH&CN được tổ chức dưới hình thức trung tâm, văn phòng; phòng thí nghiệm và các hình thức khác do Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định
a Tổ chức nghiên cứu triển khai công lập
Hệ thống các tổ chức nghiên cứu và triển khai công lập của Việt Nam bao gồm:
Các viện hàn lâm khoa học thuộc Chính phủ: Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam;
Các tổ chức R&D do Chính phủ, Thủ tướng hoặc Bộ trưởng thành lập, trực thuộc các Bộ, tổ chức ngang bộ, tổ chức thuộc Chính phủ (không kể hai viện hàn lâm);
Các tổ chức R&D thuộc UBND cấp tỉnh;
Trang 1512
Các tổ chức R&D do các tổ chức Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thành lập theo thẩm quyền;
Các tổ chức R&D thuộc các tập đoàn và tổng công ty Nhà nước
b Đại học, trường đại học, học viện và cao đẳng
Các đại học, trường đại học, học viện và cao đẳng có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D), kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ KH&CN theo quy định của Luật KH&CN, Luật Giáo dục đại học và các quy định khác của pháp luật Trường đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước và nghiên cứu khoa học về giáo dục Trong nhiều trường đại học có thành lập các tổ chức R&D (các viện, trung tâm nghiên cứu)
Theo Luật Giáo dục đại học (2012) các cơ sở giáo dục đại học bao gồm [17, Điều 7]:
Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học);
Trường đại học, học viện;
Trường cao đẳng;
Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ
Theo Nghị định số 186/2013/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ, Đại học Quốc gia là cơ sở giáo dục công lập bao gồm tổ hợp các trường đại học, viện nghiên cứu, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp để đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, được Nhà nước ưu tiên đầu tư [4, Điều 2]
Hiện nay, ở Việt Nam, Chính phủ đã thành lập 2 đại học quốc gia là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
c Tổ chức dịch vụ KH&CN
Tổ chức dịch vụ KH&CN được tổ chức dưới hình thức trung tâm, văn phòng, phòng thử nghiệm và hình thức khác, có chức năng chủ yếu là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động R&D; hoạt động liên quan đến
sở hữu công nghiệp và CGCN, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ hạt nhân, năng lượng nguyên tử;
Trang 1613
dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu KH&CN trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội
1.1.2 Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ
Trên thế giới, khái niệm doanh nghiệp KH&CN xuất hiện từ khoảng giữa thế kỷ 20 tại các nước công nghiệp phát triển, dưới các tên gọi khác nhau
như doanh nghiệp dựa trên tri thức (knowledge-based firm); doanh nghiệp dựa trên khoa học (science-based firm), doanh nghiệp dựa trên công nghệ (technology-based firm), doanh nghiệp spin-off
Tại Việt Nam, thuật ngữ doanh nghiệp KH&CN được nhắc đến trong kết luận của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2002) như sau: “Từng bước chuyển các tổ chức KH&CN thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang cơ chế tự trang trải kinh phí, hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp”
Ngày 01 tháng 02 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc
đã ký ban hành Nghị định số 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/3/2019, để thay thế Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ Theo Nghị định này, doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ từ kết quả khoa học và công nghệ [5] Trong đó, kết quả khoa học và công nghệ được thể hiện dưới một trong các hình thức sau:
a) Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng đã được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ hoặc được công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; chương trình máy tính đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả;
b) Giống vật nuôi mới, giống cây trồng mới, giống thủy sản mới, giống cây lâm nghiệp mới, tiến bộ kỹ thuật đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận;
Trang 1714
c) Kết quả thực hiện nhiệm vụ đã đạt được các giải thưởng về khoa học
và công nghệ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ trì, phối hợp tổ chức xét tặng giải thưởng hoặc đồng ý cho tổ chức xét tặng giải thưởng theo quy định của pháp luật về giải thưởng khoa học và công nghệ;
d) Các kết quả khoa học và công nghệ được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, công nhận theo quy định của pháp luật;
đ) Công nghệ nhận chuyển giao được cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định của pháp luật
Theo Mai Hà, Hoàng Văn Tuyên và Đào Thanh Trường (2015), doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp thỏa mãn hai yếu tố sau [9, tr 15]:
- Thứ nhất, sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào việc áp dụng kỹ năng hoặc tri thức KH&CN, áp dụng đó là một áp dụng mới đầu tiên (novel) của công nghệ tiên tiến hoặc sử dụng công nghệ không phải tiên tiến nhưng theo cách đổi mới (innovative) để đưa ra sản phẩm hoặc một dịch vụ hoàn toàn mới (new);
- Thứ hai, các hoạt động của doanh nghiệp theo đuổi yếu tố công nghệ như một nguồn lực chính cho lợi thế cạnh tranh
1.1.3 Doanh nghiệp spin-off
Shane định nghĩa một spin-off trong trường đại học/cơ sở nghiên cứu là một doanh nghiệp mới được thành lập để khai thác tài sản trí tuệ được tạo ra trong một tổ chức học thuật [45, tr.4] Định nghĩa của Shane bao gồm ba khía cạnh quan trọng của một spin-off Đầu tiên, sự thành lập của một doanh nghiệp mới và độc lập, tức là, một thực thể pháp lý mới phải được thành lập Thứ hai, các sản phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp dựa trên sở hữu trí tuệ Shane lưu ý rằng phần sở hữu trí tuệ này không cần phải được bảo
vệ (ví dụ: bằng sáng chế hoặc bản quyền) hoặc được cấp phép [45, tr.6] Nhiều spin-off khai thác tài sản trí tuệ mà không có bất kỳ sự bảo vệ nào Cuối cùng, tài sản trí tuệ được khai thác phải được tạo ra trong một tổ chức học thuật
Trang 1815
Bianchi (2006) giới thiệu một định nghĩa rộng về doanh nghiệp spin-off
dựa trên khoa học và công nghệ (science and technology-based-spin-off) như
sau: các doanh nghiệp mới được thành lập mà đáp ứng một trong các tiêu chí sau: (a) sự tồn tại của một tổ chức mẹ (viện nghiên cứu/trường đại học) hoặc một công ty mẹ mà ít nhất một người sáng lập của doanh nghiệp spin-off đang làm việc trong vai trò nhà khoa học hoặc nhân viên kỹ thuật; (b) doanh nghiệp
mới chủ yếu dựa vào kiến thức công nghệ hoặc bí quyết kỹ thuật (know-how)
(không nhất thiết phải ở dạng cấp phép hoặc bằng sáng chế): (c) tổ chức mẹ
đã đầu tư vốn vào doanh nghiệp hoặc trực tiếp thành lập doanh nghiệp mới [27, tr.195]
Theo khái niệm của Đại học Alberta ở Canada: “Một công ty spin-off của Đại học Alberta là một doanh nghiệp mà hoạt động sản xuất kinh doanh của nó chủ yếu khởi nguồn từ sự ứng dụng hoặc sử dụng một công nghệ và/hoặc một Know-how do một chương trình nghiên cứu của Đại học Alberta
đã hoặc đang phát triển ra Doanh nghiệp mới này được lập ra nhằm (1) chuyển giao một bản quyền sáng chế; (2) để tài trợ nghiên cứu phát triển tiếp một công nghệ hoặc sáng chế mà công ty sẽ chuyển giao, hoặc (3) để cung cấp một dịch vụ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của Đại học tạo ra”
Theo Robert và Malone (1996), spin-off được thành lập do 4 nhóm tác
nhân: (1) Người tạo ra công nghệ (technology originator): người hoặc tổ chức
tạo ra công nghệ từ công đoạn nghiên cứu cơ bản đến triển khai thực nghiệm
và có thể chuyển giao công nghệ; (2) Tổ chức mẹ (parent organization): Tổ
chức NC&TK có vai trò hỗ trợ hoặc ngăn cản quá trình thành lập bằng cách kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ (SHTT); (3) Nhà nghiên cứu hoặc một nhóm
nghiên cứu có tinh thần kinh thương (the entrepreneur or entrepreneurial
team): người sử dụng công nghệ do tổ chức mẹ tạo nên và có ý định thành lập
doanh nghiệp mới dựa trên công nghệ đó; (4) Nhà đầu tư mạo hiểm (the
venture investor): cung cấp tài trợ cho việc thành lập doanh nghiệp mới và đổi
lại được cổ phần trong doanh nghiệp [44, tr 30]
Trang 1916
Trong nghiên cứu của mình, bên cạnh việc định nghĩa một spin-off là một công ty mới được thành lập (1) bởi các cá nhân là cựu thành viên của tổ chức mẹ và với (2) một công nghệ cốt lõi được chuyển giao từ tổ chức mẹ, Steffensen và cộng sự còn xác định hai loại spin-offs: loại thứ nhất (1) được lên kế hoạch, khi mà công ty mới là kết quả từ sự nỗ lực có tổ chức của tổ chức mẹ; loại thứ hai (2) xảy ra một cách tự nhiên, khi nhà sáng lập đã phát hiện ra cơ hội thị trường và thành lập một công ty spin-off với rất ít sự khích
lệ (thậm chí là không khuyến khích) từ tổ chức mẹ [48]
Ở Việt Nam, thuật ngữ spin-off mặc dù không còn mới mẻ tuy nhiên cũng chưa được phổ biến như start-up Theo Phạm Huy Tiến (2006), doanh nghiệp spin-off là doanh nghiệp được hình thành do một (hoặc nhóm) nhà khoa học – sáng lập viên có tinh thần kinh thương tách khỏi “tổ chức mẹ" (trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm) để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh độc lập mới Tổ chức mẹ hỗ trợ cho doanh nghiệp spin-off bằng cách cho phép chuyển giao tri thức, năng lực hoặc các phương tiện trực tiếp [19, tr.29]
Theo tác giả Vũ Cao Đàm (2006), doanh nghiệp KH&CN, tức xí nghiệp spin-off là đơn vị có chức năng làm triển khai, có thể bắt đầu từ giai đoạn chế tác vật mẫu, làm pilot, ươm tạo, và cuối cùng là “sản xuất” ra các công nghệ
và bán (chuyển giao) các công nghệ đó cho các xí nghiệp công nghiệp [8] Theo Thạch Anh (2006), doanh nghiệp spin-off là một bộ phận hữu cơ của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo (viện hay trường đại học) nhưng hoạt động theo Luật Doanh nghiệp [2] Song "hàm lượng chất xám" chính là điều kiện tiên quyết của DN spin-off và khiến nó khác biệt với các DN khoa học khác DN spin-off là một khối gắn kết cố định phòng thí nghiệm - nhà khoa học - nhà sản xuất, nó vừa tạo quyền chủ động cho nhà khoa học, vừa giúp nhanh chóng đưa sản phẩm công nghệ cao ra thị trường Ngoài spin-off, còn một loại hình DN khoa học nữa là DN start-up (hay "DN khởi nghiệp") Nhưng khác với DN spin-off, DN start-up chỉ nằm trong khu vực "vườn ươm"
(technology park) và không nhất thiết phải gắn với cơ sở nghiên cứu Công
Trang 20là DN spin-off [2]
Cernescu và Dungan (2015) cũng cho rằng Spin-offs chắc chắn rất khác với các công ty khởi nghiệp công nghệ cao khác, sự khác biệt quan trọng nhất giữa spin-off và start-up là nguồn gốc của công ty Nếu một spin-off được sinh ra trong một tổ chức (một trường đại học, một công ty hoặc một viện nghiên cứu), một start-up được sinh ra từ một ý tưởng, một doanh nghiệp sáng tạo hoặc kết quả đổi mới [29, tr.35] Một spin-off được tạo ra bởi các trường đại học thì đội ngũ nhân sự và công nghệ bắt nguồn từ các trường đại học, cũng như nguồn tài trợ và đội ngũ quản lý đến từ các trường đại học Trong doanh nghiệp start-up, trường đại học cũng tham gia nhưng chỉ đóng vai trò gián tiếp như giáo dục các nhà sáng lập khởi nghiệp hoặc chiếm quyền
sử dụng bằng sáng chế hoặc kết quả nghiên cứu
Các tài liệu cho thấy có rất là nhiều cách định nghĩa, khái niệm khác nhau trên thế giới và ở Việt Nam về doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo, trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm doanh
nghiệp spin-off như sau: Doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu
và đào tạo là doanh nghiệp mới được tạo ra để khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được phát triển trong trường đại học và viện nghiên cứu dựa trên thỏa thuận tài chính giữa doanh nghiệp và trường/viện,
và được sáng lập bởi nhà khoa học, học viên, sinh viên đang học tập và công tác tại cơ sở đấy
1.2 Vai trò của doanh nghiệp spin-off
Các doanh nghiệp spin-off đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế và đóng góp vào sự phát triển của nền khoa học và công nghệ Tạ Hải
Trang 21ĐH và đặc biệt là bản thân nhà khoa học, những chuyên gia công nghệ, người hiểu hơn ai hết về “đứa con” của mình sẽ nâng cao tỷ lệ thành công của việc thương mại hóa sản phẩm NCKH
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội: ngoài nghĩa vụ về thuế, cũng như thu hút lao động, doanh nghiệp spin-off ra đời sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới, khác biệt về công nghệ, qua đó trực tiếp và gián tiếp đóng góp vào sự phát triển của xã hội cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống Ngoài ra, doanh nghiệp spin-off còn đóng vai trò hình thành các liên kết thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt tại địa phương nơi doanh nghiệp hình thành Trên thế giới, vai trò này của các spin-off đã được thể hiện thông qua một loạt nghiên cứu và chính sách của các chính phủ Roberts và Malone (1996) đã xem xét rằng tất cả các công ty con của MIT hàng năm đóng góp 10 tỷ đô la Mỹ cho nền kinh tế [44, tr.32] Báo cáo của McQueen và Wallmark (1991) đã đưa ra rằng 10-15 công ty có nguồn gốc từ Đại học Chalmers, Thụy Điển, đã đóng góp hơn 100 triệu đô la Mỹ hằng năm cho nền kinh tế từ năm 1964 đến 1991 [40]
- Thúc đẩy sự phát triển của hoạt động đào tạo và NCKH: các doanh nghiệp spin-off sẽ góp phần tạo ra làn sóng khởi nghiệp sáng tạo trong trường
ĐH, qua đó hỗ trợ phát triển NCKH đặc biệt trong các lĩnh vực có khả năng
Trang 2219
ứng dụng và tiềm năng thương mại hóa cao, đưa khoa học đến gần hơn với thực tiễn đa dạng của đời sống Ngoài ra, doanh nghiệp spin-off tạo ra môi trường lý tưởng để học viên, sinh viên, đặc biệt là nghiên cứu sinh, tham gia các hoạt động R&D và được đào tạo bổ sung các kỹ năng thực tiễn cần thiết,
để sau này có thể chính họ cũng sẽ là những hạt nhân khởi nghiệp sáng tạo cho xã hội Thêm vào đó, sự thành công của hoạt động spin-off sẽ mang lại thêm thu nhập cho những người tham gia, qua đó tạo điều kiện cho trường đại học thu hút và “giữ chân” các giảng viên, các nhà khoa học có trình độ cao, phục vụ cho mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững Cuối cùng, câu chuyện thành công của các spin-off còn thể hiện một phần trách nhiệm giải trình của các trường ĐH đối với sự đầu tư của xã hội, và qua đó, thu hút thêm được nguồn lực xã hội hóa vào phát triển các cơ sở giáo dục đại học trình độ cao, với định hướng nghiên cứu rõ nét, và là trung tâm của đổi mới sáng tạo
1.3 Khái niệm rào cản
Theo từ điển Cambrigde, rào cản được định nghĩa là những thứ (có cấu trúc vật chất hoặc yếu tố phi vật chất) được sử dụng hoặc hành động để ngăn chặn hành động của một ai đó hoặc ngăn chặn điều gì đó xảy ra Trong lĩnh vực thương mại, từ điển Cambrigde định nghĩa rào cản là những thứ ngăn chặn một điều khác xảy ra hoặc làm cho nó khó khăn hơn Tương tự, theo từ
điển Collins, một rào cản là có thể là một quy tắc (a rule), điều luật (a law) hoặc chính sách (a policy) làm cho việc thực hiện một việc gì đó trở nên khó
khăn hơn hoặc không thể xảy ra được
Thông qua việc xem xét các điều kiện hình thành và tiến hành điều tra phỏng vấn sâu, các rào cản được đề cập đến trong nghiên cứu này bao gồm: rào cản về môi trường thể chế, rào cản về năng lực của cơ quan nghiên cứu,
và rào cản cản về ý chí của người lãnh đạo và tinh thần kinh thương của nhà khoa học
Trang 23Hunady, Orviska và Isar (2019) đã phân tích quá trình thực tế của việc tạo ra các spin-off trong các trường đại học, được minh họa chi tiết trong Hình 1.1 [35, tr.145] Theo đó, điều kiện tiên quyết cơ bản cho các bước tiếp theo là xác định các năng lực chính ở cấp độ tổ chức Một yếu tố thiết yếu khác là vốn tài trợ cho nghiên cứu, có thể từ chính trường đại học hoặc thông qua các nguồn tài trợ công cộng hay tư nhân bên ngoài Kết quả của nghiên cứu có thể là một phát minh hoặc đổi mới, sau đó có thể được cấp bằng sáng chế trong các điều kiện nhất định Giai đoạn tiếp theo thuộc thẩm quyền của các Trung tâm Chuyển giao công nghệ tại trường đại học (nếu có) Trong giai đoạn này, công nghệ sẽ được quyết định để cho thuê ra bên ngoài hoặc tạo ra spin-off trong các trường đại học Kết quả của toàn bộ quá trình sẽ tạo ra giá trị kinh tế và xã hội trong tương lai cho trường đại học, doanh nghiệp, cũng như cho toàn xã hội
Trang 2421
Hình 1.1: Các giai đoạn hình thành spin-off trong trường đại học
Theo Phạm Quang Tuấn (2016), các điều kiện cần và đủ để hình thành
và phát triển spin-off như sau [21, tr.66]:
1.4.1 Điều kiện cần cho hình thành và phát triển Spin-off
Điều kiện cần cho hình thành và phát triển Spin-off là môi trường kinh
tế thị trường và hệ thống chính sách đảm bảo cho Spin-off hình thành và phát triển
Kiến thức và kỹ năng chuyên môn
Xác định các năng lực cốt lõi
Quỹ doanh nghiệp
Quyết định về bằng sáng chế
Trung tâm chuyển giao công nghệ
Tạo ra các Spin-off trong trường đại học
Cho thuê công nghệ
Tạo ra giá trị kinh tế
và xã hội
Trang 2522
Môi trường kinh tế thị trường
Môi trường kinh tế thị trường là môi trường trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Kinh tế thị trường tác động đến Spin-off thông qua môi trường tự do kinh doanh, sự hoạt động của các loại thị trường như thị trường vốn, thị trường nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Môi trường tự do kinh doanh
Môi trường tự do kinh doanh là quyền của doanh nghiệp được tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm, tự chủ kinh doanh
và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh Luật Đầu tư năm 2014 cũng ghi nhận nhà đầu tư được đầu tư trong tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm Môi trường tự do kinh doanh có tác động lớn tới Spin-off
Thị trường vốn
- Những rủi ro nội tại của Spin-off:
Nhu cầu tài chính của Spin-off thay đổi trong suốt chu kỳ/vòng đời phát triển của doanh nghiệp Nhu cầu tài chính của Spin-off và những khó khăn trong quá trình tiếp cận các nguồn tài chính có nhiều thay đổi khi doanh nghiệp trải qua các bước phát triển khác nhau
Ở giai đoạn đầu, tính không chắc chắn xuất phát từ khả năng chuyển một ý tưởng hoặc một giả thuyết sang thiết kế hoặc làm vật mẫu Ở giai đoạn tiếp theo rủi ro liên quan đến năng lực thay đổi vật mẫu thành sản phẩm sản xuất quy mô lớn Ở giai đoạn cuối, rủi ro xuất phát từ phản ứng của khách hàng tiềm năng và sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng dự báo và thị trường thực sự
- Nhu cầu tài chính cho Spin-off
Có thể nói Spin-off có nhu cầu tài chính rất khác với nhu cầu tài chính của các doanh nghiệp thông thường Như doanh nghiệp thông thường, Spin-
Trang 2623
off cũng trải qua bốn giai đoạn chính trong quá trình phát triển: giai đoạn ươm tạo; giai đoạn thành lập doanh nghiệp; giai đoạn tăng trưởng sớm; giai đoạn phát triển và mở rộng
- Những nguồn vốn thông dụng
Spin-off không nhất thiết cần nhiều vốn hơn doanh nghiệp nhỏ và vừa thông thường nhưng nhiều Spin-off cần những khoản tài chính đặc biệt cho loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
Vì vậy, hầu hết các Spin-off cần có các kênh nguồn vốn đa dạng, là sự kết hợp cả vốn mạo hiểm và vốn vay, nhấn mạnh hơn vào nguồn vốn mạo hiểm ở giai đoạn ban đầu và nguồn vốn vay ở giai đoạn sau
Thị trường nguyên liệu
Do đặc thù các Spin-off được hình thành và ứng dụng các nhiệm vụ của Nhà nước với các kết quả thiết thực hầu hết sử dụng nguyên liệu từ các thế mạnh trong nước Tuy nhiên, với đặc thù các Spin-off đa phần là các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì vậy việc đầu tư vùng nguyên liệu gặp rất nhiều khó khăn, nguyên liệu chủ yếu thu thập từ thiên nhiên từ đó làm cho việc sản xuất không được ổn định dẫn đến khó có thể thực hiện được những hợp đồng lớn hay giữ được chất lượng sản phẩm ổn định Từ hệ quả này việc tiếp cận nguồn vốn của các đơn vị cũng gặp nhiều khó khăn, vòng luẩn quẩn này đến nay vẫn hầu như chưa có biện pháp khắc phục Nhà nước xây dựng chính sách hợp lý về tài chính, đất đai để các nhà khoa học và doanh nghiệp có điều kiện tiến hành quy hoạch, phát triển các vùng nguyên liệu tập trung
Thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Thị trường công nghệ
Thị trường công nghệ là nơi diễn ra các giao dịch mua bán các sản phẩm công nghệ (bản quyền, patent, bí quyết, sáng kiến và các dịch vụ liên quan đến hoạt động KHCN) Thị trường công nghệ có 5 yếu tố cơ bản để hình thành bao gồm: Khung pháp lý cho các giao dịch trên thị trường, bên mua, bên bán, cơ sở hình thành giá cả và các hoạt động hỗ trợ dịch vụ xúc tác giữa người mua và người bán
Trang 2724
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm KHCN
Trên cơ sở các sản phẩm KHCN ngày một phát triển đa dạng về lĩnh vực cũng như chủng loại đã tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm KHCN của Việt Nam từ đó tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp KHCN nói chung, Spin-off nói riêng
Môi trường chính sách
Hệ thống các chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế thị trường, chính sách và chiến lược phát triển KHCN của Nhà nước cho đến các chính sách cụ thể về Doanh nghiệp KHCN Các chính sách vĩ mô của các cơ quan KHCN nhằm phát triển và quản lý Spin-off tạo nên môi trường chính sách cho các Spin-off hình thành và phát triển
1.4.2 Điều kiện đủ cho hình thành Spin-off
Tiềm lực của đơn vị
Tiềm lực về cơ sở vật chất: Phòng làm việc, xưởng mẫu, xưởng sản
xuất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị, máy móc, thư viện
Tiềm lực về con người:
- Các cán bộ của đơn vị: cán bộ khoa học, cán bộ quản lý có hiểu biết
về thị trường, kinh doanh, luật pháp;
- Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh do cán bộ của đơn vị đào tạo;
- Đội ngũ giàu kinh thương
Tiềm lực về sản phẩm KHCN:
- Các sản phẩm khoa học có tính ứng dụng cao;
- Các sản phẩm có thể chuyển giao công nghệ hoặc thương mại hóa, bao gồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, bí mật thương mại và những sản phẩm KHCN cụ thể;
- Các dịch vụ tư vấn, phân tích, kiểm tra, đo đạc, tính toán
Tiềm lực về tin lực: Hệ thống thư viện, thư viện số, nguồn dữ liệu
KHCN, xuất bản sách, tạp chí
Trang 2825
Tiềm lực về tài chính: Nguồn ngân sách nhà nước, nguồn thu từ bán
sản phẩm, nguồn thu từ dịch vụ, các quỹ hỗ trợ, các nguồn tài trợ trong nước
và quốc tế, nguồn thu về đầu tư nghiên cứu của các tập đoàn, doanh nghiệp
Ngoài các tiềm lực nêu trên Lãnh đạo Viện cần có tài, có đức, có tinh
thần doanh thương, có trách nhiệm với cộng đồng và tạo lập môi trường nghiên cứu khoa học dân chủ, minh bạch
Trong luận văn này, tác giả sẽ phân tích các rào cản dựa trên các điều kiện hình thành của doanh nghiệp spin-off được chia thành 03 nhóm chính:
1 Rào cản về môi trường thể chế bao gồm nền kinh tế thị trường, hành lang pháp lý và các chính sách hỗ trợ tài chính;
2 Rào cản về chính sách của chính cơ sở nghiên cứu và đào tạo;
3 Rào cản về ý chí của người lãnh đạo và tinh thần kinh thương của nhà sáng lập ra doanh nghiệp spin-off
Tiểu kết chương 1
Doanh nghiệp spin-off đóng vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy hoạt động KH&CN, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo nói riêng và góp phần phát triển nền KHCN và kinh tế-
xã hội của đất nước nói chung Trong Chương 1, tác giả đã làm rõ hệ thống khái niệm của tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp spin-off, cũng như khái niệm rào cản Theo đó, tác giả trình bày các điều kiện hình thành của doanh nghiệp spin-off tổng hợp từ các nghiên cứu trong nước và quốc tế, từ đó xây dựng khung phân tích các rào cản đối với sự hình thành doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở nghiên cứu
và đào tạo ở Việt Nam hiện nay
Trang 2926
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ NHU CẦU HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tổng quan thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ và hình thành spin-off trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo tại Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ
Hiện nay, nước ta đã hình thành được một hệ thống các tổ chức KH&CN bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động KH&CN Theo báo cáo của Đoàn giám sát - Ủy ban thường vụ Quốc hội thì đến năm 2016, cả nước có gần 2.500 tổ chức khoa học và công nghệ, tăng 11,15 lần so với năm 1996 [11]1
Cụ thể, có 1.111 tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập gồm 594 tổ chức thuộc trung ương, 507 tổ chức thuộc địa phương, 02 viện Hàn lâm (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm KH&XH Việt Nam), 02 đại học quốc gia (Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia
Tp Hồ Chí Minh), hơn 207 trường đại học
Trong đó có 642 tổ chức KH&CN công lập thuộc diện phải chuyển sang hoạt động theo hình thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm (gồm 473 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 169 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) Đến ngày 31/12/2014, có 488 tổ chức đã được phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (đạt 76%), trong đó có 380 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 108 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong 488 tổ chức đã được phê duyệt Đề án có 295 tổ chức thuộc loại hình tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên (223 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 72 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) và 193 tổ chức thuộc loại hình tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, nghiên cứu xây
1
https://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/ca-nuoc-co-gan-2500-to-chuc-khoa-hoc-va-cong-nghe-20161008093639427.htm
Trang 3027
dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, phục vụ quản lý nhà nước và được ngân sách nhà nước tiếp tục hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán (trong đó, 157 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 36 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)
Số liệu Bộ KH&CN cho thấy đến năm (2016) về cơ bản các tổ chức KH&CN công lập đã được phê duyệt đề án thực hiện cơ chế tự chủ
Có 1.389 tổ chức KH&CN ngoài công lập (665 tổ chức thuộc khối trung ương, 724 tổ chức thuộc khối địa phương), chiếm hơn 52% tổng số tổ chức KH&CN
Có 09 cơ sở ươm tạo CNC và ươm tạo doanh nghiệp CNC đã được xây dựng và đi vào hoạt động Mặc dù đã có một số doanh nghiệp được ươm tạo thành công, tuy nhiên nhiều cơ sở ươm tạo CNC và doanh nghiệp CNC hoạt động như một đơn vị cho thuê phân xưởng và máy móc Nhiều dịch vụ quan trọng khác như đào tạo, tư vấn, kết nối nhà đầu tư, kết nối với các doanh nghiệp lớn vẫn chưa được cung cấp Điều này hạn chế các cơ sở ươm tạo CNC và ươm tạo doanh nghiệp CNC phát huy vai trò trong việc hỗ trợ việc phát triển CNC và hình thành doanh nghiệp CNC ở Việt Nam
Năm 2016, cả nước có 164.744 người tham gia hoạt động nghiên cứu
và phát triển công nghệ (14 người/10.000 dân), trong đó số cán bộ nghiên cứu
có trình độ cao đẳng và đại học trở lên là 128.997 người Nếu quy đổi toàn thời gian (FTE), số lượng cán bộ nghiên cứu và phát triển công nghệ (R&D) của Việt Nam chỉ đạt 7 người/10.000 dân Trong khi đó mục tiêu của chiến lược nhân lực R&D đạt 9-10 người/10.000 dân vào năm 2015 và 11-12 người/10.000 dân vào năm 2020
2.1.2 Thực trạng về doanh nghiệp spin-off
Những năm gần đây, xu hướng tự chủ tài chính thông qua việc thành lập doanh nghiệp riêng vẫn còn khá mới trong giáo dục đại học Thay vào đó,
từ trước đến nay, các trường thường chỉ có những trung tâm trực thuộc nội bộ, hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự hạch toán như trung tâm
Trang 3128
ngoại ngữ, trung tâm tin học Tuy vậy, dựa theo nhu cầu của Nhà trường và các chính sách khuyến khích của nhà nước, các trường đại học và viện nghiên cứu ở Viện Nam đã bắt đầu hình thành các doanh nghiệp trong đơn vị để làm cầu nối giữa đào tạo và sản xuất
Đến đầu tháng 12 năm 2018, ĐH Bách Khoa (ĐH Quốc gia TP HCM)
đã tiên phong công bố quyết định đưa vào hoạt động Công ty Cổ phần Khoa học và công nghệ Bách khoa TP HCM với vốn điều lệ hơn 4 tỷ đồng
Ngay sau đó, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP HCM) cũng ra mắt Công ty TNHH Dịch vụ Khoa học và Du lịch Văn Khoa với vốn điều lệ gần 2 tỷ đồng Công ty định hướng kinh doanh 7 nhóm ngành, nghề liên quan đến lĩnh vực khoa học nhân văn, điều hành tour và các dịch vụ
hỗ trợ du lịch
Ngoài ra, còn có nhiều trường như ĐH Công nghiệp Thực phẩm TP HCM đã thành lập trung tâm Ngoại ngữ, Tin học, Viện Chiến lược và Quản trị doanh nghiệp, Công ty tư vấn kế toán – kiểm toán, Trung tâm dịch vụ du lịch và lữ hành
2.2 Thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Vietnam Academy of Science and Technology, viết tắt là VAST)
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ; cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế,
xã hội; đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao theo quy định của pháp luật
a/ Cơ cấu tổ chức:
Viện Hàn lâm KH&CN VN có 52 đơn vị trực thuộc bao gồm: 06 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập; 34 đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học (28 đơn vị do Thủ tướng Chính phủ thành lập và
Trang 3229
06 đơn vị do Chủ tịch Viện thành lập); 07 đơn vị sự nghiệp khác; 04 đơn vị tự
trang trải kinh phí và 01 doanh nghiệp Nhà nước (Xem Phụ lục 1: Sơ đồ cơ
cấu tổ chức)
Các đơn vị của Viện đóng tập trung tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Một
số đơn vị đóng tại Phú Thọ, Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Đà Lạt Ngoài ra, Viện còn có hệ thống trên 100 đài trạm trại thuộc 17 Viện nghiên cứu chuyên ngành, phân bố tại 35 tỉnh, thành phố đặc trưng cho hầu hết các vùng địa lý của Việt Nam (đồng bằng, ven biển, trung du, miền núi và hải đảo) để khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên và thử nghiệm vật liệu Viện Vật lý địa cầu hiện đang quản lý 53 đài, trạm trở thành đơn vị có số đài trạm lớn nhất trong Hệ thống
Trong nhiều năm qua, Viện Hàn lâm KH&CN VN có 4 phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia (PTNTĐ) về Công nghệ Gen; Công nghệ mạng; Vật liệu và linh kiện điện tử; Công nghệ tế bào thực vật, cùng nhiều phòng thí nghiệm nghiên cứu cấp Viện khác Viện có các khu sản xuất thử nghiệm nhằm trực tiếp phục vụ công tác phát triển công nghệ, đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tế
b/ Nhân lực khoa học:
Nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là một trong những thế mạnh của Viện Hàn lâm KH&CN VN Lực lượng cán bộ có trình độ cao của Viện khá đông và đều trên hầu hết các lĩnh vực của khoa học tự nhiên
Theo Báo cáo thường niên năm 2018 của Viện, tính đến cuối năm 2018, Viện có hơn 3,500 cán bộ nhân viên, trong đó số cán bộ có học hàm Giáo sư
và Phó Giáo sư là 237 người (chiếm 6,73%), học vị Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học (TSKH) là 953 người (chiếm 20,32%), và Thạc sĩ là 1.186 người (chiếm
33, 65%)
Trang 33ổn định, đồng đều và có xu hướng tăng dần về trình độ Trong những năm gần đây, lãnh đạo Viện luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo cán bộ có trình độ cao cho các đơn vị của mình nhằm phục vụ chung cho sự phát triển của đất nước Hàng năm có hàng chục tiến sỹ mới bảo vệ và đào tạo hàng trăm thạc
sỹ thuộc các chuyên môn khác nhau trong lĩnh vực khoa học tự nhiên Các đơn vị trong Viện còn cử nhiều cán bộ trẻ của mình đi đào tạo tại nước ngoài nhằm bổ sung lực lượng cán bộ trình độ cao Nguồn nhân lực KH&CN của Viện Hàn lâm có mặt tại cả 3 vùng lãnh thổ: miền Bắc, Trung, Nam, song phân bố về nhân lực KH&CN của Viện chưa thật hợp lý giữa các viện chuyên ngành cả về hướng nghiên cứu và theo khu vực, lãnh thổ Trong khi khu vực phía Nam là địa bàn có nền kinh tế phát triển sôi động thì lực lượng cán bộ KH&CN có trình độ cao của Viện Hàn lâm ở đây lại rất mỏng, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển
Trang 3431
c/ Hoạt động ứng dụng và triển khai công nghệ
Là đơn vị đứng đầu cả nước trong nghiên cứu cơ bản, thực hiện theo Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển khoa học
cơ bản trong lĩnh vực Hoá học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học biển giai đoạn 2017-2025, Viện Hàn lâm KH&CN VN tiếp tục tập trung vào các hướng nghiên cứu ưu tiên gồm:
- Nghiên cứu cơ bản;
- Hướng công nghệ thông tin - điện tử - tự động hóa công nghệ vũ trụ;
- Hướng công nghệ sinh học;
- Hướng khoa học vật liệu;
- Hướng đa dạng sinh học và Các chất có hoạt chất thiên nhiên;
- Hướng khoa học Trái đất;
- Hướng khoa học và Công nghệ biển;
- Hướng Công nghệ môi trường và Năng lượng
Năm 2018, các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm đã triển khai thực hiện
813 nhiệm vụ, đề tài, dự án nghiên cứu các cấp, đẩy mạnh công bố quốc tế với tổng số là 2.096 công trình (tăng 14,5% so với 2017), trong đó có 984 công trình trên các tạp chí quốc tế (tăng 10,8% so với 2017)
Tính đến 30/11/2018, Viện Hàn lâm được Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và công nghệ) cấp 50 bằng Sở hữu trí tuệ gồm: 15 bằng độc quyền Sáng chế, 35 bằng Giải pháp hữu ích (GPHI) Số văn bằng theo các năm tăng dần thể hiện: năm 2011 được cấp tổng số 08 văn bằng; năm 2012 được cấp 15; năm 2013 được cấp 17; năm 2014 được cấp 15; năm 2015 được cấp 18; năm
2016 được cấp 29 bằng (12 sáng chế và 17 GPHI); Năm 2017 được cấp 40 bằng (20 sáng chế, 20 GPHI)
d/ Tài chính cho hoạt động KH&CN
Viện Hàn lâm luôn đổi mới, hoàn thiện việc tổ chức đánh giá nghiệm thu
để phát huy tốt và góp phần đáng kể trong việc thực hiện Luật Ngân sách và
Trang 3532
Luật KH&CN, là công cụ hữu hiệu đáp ứng kịp thời công tác quản lý khoa học, nâng cao trách nhiệm của đơn vị chủ trì và chủ nhiệm đề tài khi thực hiện nhiệm vụ Các đề tài khi kết thúc thời gian thực hiện đều được nghiệm thu và đánh giá Sản phẩm của đề tài sau khi nghiệm thu có thể chuyển giao phục vụ thực tiễn hoặc có những định hướng cho những bước phát triển tiếp theo
Từ năm 2013 đến năm 2018, tổng kinh phí được giao của Viện có xu hướng tăng từ 784 tỷ đồng năm 2013 đến 2.535 tỷ đồng năm 2018 (tăng 3,2 lần)
Hình 2.2 Tổng kinh phí hoạt động hàng năm của Viện Hàn lâm
giai đoạn 2013-2018
Nguồn: [24, tr.94]
Hình 2.3 Cơ cấu kinh phí hoạt động hàng năm của Viện Hàn lâm giai đoạn
2013-2018 (kinh phí giao đầu năm)
Trang 3633
Trong cơ cấu kinh phí hoạt động hàng năm của Viện, nguồn kinh phí chi cho hoạt động đầu tư phát triển có xu hướng tăng từ 205,6 tỷ đồng năm 2013 tăng lên 1.356,8 tỷ đồng năm 2018
Về xu hướng tổ chức trong Viện, bên cạnh các đơn vị thành viên, hiện Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đang phối hợp chặt chẽ các Bộ ngành để triển khai thực hiện các chương trình nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu cũng như hình thành các tổ chức nghiên cứu mạnh, các nhóm nghiên cứu cơ bản mạnh hơn theo đúng mục tiêu của Quyết định số 2133/QĐ-TTg ngày 01/12/2011 KH&CN Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” gồm 35 Viện nghiên cứu chuyên ngành, các tổ chức sự nghiệp trực thuộc; 01 Học Viện KH&CN; phát triển 15 doanh nghiệp KH&CN (doanh nghiệp spin-off) Xây dựng được đội ngũ 3500 biên chế, 1700 lao động hợp đồng, trong
đó 50% là cán bộ khoa học có học vị tiến sỹ, thạc sỹ Phấn đấu đạt tỷ lệ cán
bộ nghiên cứu/cán bộ hỗ trợ nghiên cứu nhỏ hơn 1 để tạo ra cơ cấu vận hành hợp lý của các viện chuyên ngành Số lượng công trình khoa học được công
bố quốc tế, số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ tăng gấp hai lần so với giai đoạn 2011 – 2020
e/ Hoạt động Thông tin KHCN
Công tác thông tin truyền thông khoa học được Viện Hàn lâm KHCNVN tích cực triển khai thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau với mục đích nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của KHCN, giới thiệu và quảng bá
về hoạt động và những thành tựu KHCN nổi bật của Viện Hàn lâm
Ngoài 3 đơn vị có trách nhiệm là đầu mối của những kênh thông tin truyền thông chính của Viện Hàn lâm là Văn phòng, Trung tâm Thông tin –
Tư liệu và Trung tâm Tin học và Tính toán, các đơn vị trực thuộc khác cũng
có bộ phận chuyên trách về công tác thông tin truyền thông, góp phần vào hoạt động quảng bá, truyền thông chung của Viện Hàn lâm
Kênh thông tin truyền thông chính thức của Viện Hàn lâm KHCNVN là Trang thông tin điện tử (website http://vast.ac.vn), cập nhật thường xuyên và
Trang 3734
toàn diện về các mặt hoạt động của Viện Trong năm 2018, lượng độc giả quan tâm truy cập vào website của Viện Hàn lâm càng ngày càng tăng, số lượng truy cập lên tới 5.542.887 lượt với trang tiếng Việt và 1.436.460 lượt với trang tiếng Anh Song hành và bổ sung cho trang thông tin điện tử là các kênh thông tin truyền thông khoa học thông qua các bản tin định kỳ do các đơn vị trực thuộc xuất bản, như Bản tin KHCN điện tử hàng tháng do Trung tâm Thông tin – Tư liệu xuất bản, nhằm cung cấp thông tin chuyên sâu hơn về các hoạt động KHCN nổi bật của Viện Hàn lâm, cập nhật đa chiều về thông tin khoa học trong nước và trên thế giới Nhiều bản tin điện tử chuyên ngành khác như Bản tin Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần của Viện Vật lý địa cầu, Bản tin VNREDSat-1 hàng tháng của Viện Công nghệ vũ trụ; Bản tin IOC Việt Nam của Viện Hải dương học Nha Trang và Ủy ban Hải dương học liên Chính phủ Việt Nam, Bản tin VATLY Newsletter của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam…
Các hoạt động truyền thông khoa học đã được triển khai rầm rộ trong Viện Hàn lâm và các Viện nghiên cứu trực thuộc nhân dịp Kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5, và ngày thành lập Viện Hàn lâm KHCNVN 20/5, như tổ chức ngày mở cửa các Phòng thí nghiệm để đón tiếp sinh viên, học sinh và những người quan tâm tới khoa học và công nghệ đến thăm quan, Hội thảo và Triển lãm sách nhân Ngày Sách Việt Nam 21/4/2018, Hội thảo thường niên và Thông tin KHCN của Trung tâm Thông tin – Tư liệu, Ngày hội Khoa học và Công nghệ Vũ trụ (Space Day 2018) của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam nhằm mục đích khơi gợi và khích lệ niềm đam mê nghiên cứu khoa học, công nghệ vũ trụ đối với các bạn trẻ, Ngày hội toán học 20/5/2018 “Một ngày với Toán học” do Trường ĐHSP Hà Nội 2 phối hợp với Viện Toán học tổ chức, …
Đặc biệt, Viện Hàn lâm và các đơn vị trực thuộc đã tăng cường hỗ trợ, cung cấp thông tin cho cơ quan báo đài, phục vụ tuyên truyền và quảng bá các kết quả hoạt động của Viện Hàn lâm KHCNVN trên các phương tiện thông tin đại chúng như VTV, VOV, và cả trên youtube
Trang 3835
f/ Tổng quan quá trình hình thành các doanh nghiệp spin-off tại Viện
Tại Viện Hàn lâm KH&CN, hình thức thành lập các doanh nghiệp hoặc
tổ chức nhằm triển khai kết quả nghiên cứu vào sản xuất và dịch vụ khoa học,
kỹ thuật đã xuất hiện từ rất sớm Quá trình hình thành và phát triển của các doanh nghiệp spin-off tại Viện được thể hiện trong Hình 2.4
Hình 2.4 Tổng quan về tình hình phát triển các doanh nghiệp spin-off ở Viện
Hàn lâm KH&CN VN
Nguồn: [19, tr.13] Những doanh nghiệp và các tổ chức triển khai ở Viện KHVN hầu hết được thành lập từ năm 1988-1990, trước nhu cầu thực tiễn của đất nước để gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất, nhu cầu của bản thân nhà khoa học
và có chính sách mở đường của Nhà nước Các đơn vị này triển khai các kết quả nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ KHCN, chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất và dịch vụ KHCN, hoạt động theo Quyết định 92-CT của Hội đồng
Bộ trưởng ngày 22/4/1989 và sau này hoạt động theo Quyết định 268-CT
ngày 30/7/1990 (Xem Hộp 1 Công ty cổ phần FPT)
Trang 3936
Được thành lập theo hình thức doanh nghiệp spin-off, các đơn vị này sử dụng các kết quả nghiên cứu của Viện có khả năng triển khai vào sản xuất, tận dụng cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ khoa học của các Viện chuyên ngành để thực hiện các hợp đồng kinh tế, đưa các kết quả nghiên cứu tiên tiến của thế giới cũng như của Việt Nam vào sản xuất Vốn hoạt động của các đơn
vị cũng không dựa vào nguồn vốn của Nhà nước mà chủ yếu do các nhà khoa học trong và ngoài Viện đóng góp, vốn vay ngân hàng hay vốn tài trợ từ nước ngoài; nhân lực chủ yếu là cán bộ khoa học trong và ngoài Viện tham gia theo hình thức kiêm nhiệm hoặc cộng tác viên
Hộp 1: CÔNG TY CỔ PHẦN FPT
Năm 1986, Đại hội Đảng VI khởi xướng Chính sách Đổi Mới, cho phép những mô hình kinh tế mới hoạt động hiệu quả, đồng thời khuyến khích sự năng động, sáng tạo của một thế hệ mới - thế hệ Doanh nhân Việt Nam Rất nhiều công ty có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam hôm nay, trong đó có FPT, là con đẻ của Chính sách này
Tháng 6/1986, trong quá trình làm việc tại Viện Cơ học, trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam, ông Trương Gia Bình quyết định thành lập Nhóm Trao đổi Nhiệt và Chất với mong muốn “kiếm được nhiều tiền nuôi nhau để tiếp tục làm khoa học” Mùa hè năm 1988, để triển khai Hợp đồng Cung cấp máy tính cho Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, ông Trương Gia Bình quyết tâm thành lập một công ty trực thuộc một cơ quan nhà nước cấp bộ hoặc ngang
bộ, có chức năng kinh doanh, xuất nhập khẩu và chuyển giao công nghệ Ông Trương Gia Bình đã xúc tiến ngay việc quan trọng nhất là chiêu mộ nhân tài Khát vọng vươn lên của ông đã thuyết phục được nhiều tài năng với những cá tính khác nhau Có thể nói, ông Trương Gia Bình đã tập hợp được những tài năng xuất chúng nhất trong thế hệ mình
Ngày 13/9/1988, Viện trưởng Viên Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia đã
ký quyết định thành lập Công ty Công nghệ Thực phẩm (tên gọi đầu tiên của FPT) và giao cho ông Trương Gia Bình làm Giám đốc
Trang 4037
Trong giai đoạn này, hàng loạt các doanh nghiệp spin-off đã được thành lập trong các Viện nghiên cứu, thúc đẩy việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn và cải thiện đời sống của cán bộ khoa học Một vài nhà khoa học chuyển hẳn sang hoạt động R&D và tổ chức các hoạt động sản xuất và kinh doanh Thu nhập của họ đến từ các hợp động kinh tế, dịch vụ KH&CN và kinh doanh các sản phẩm tạo ra từ đơn vị R&D, mà không phải phụ thuộc vào nguồn lương hay ngân sách của Nhà nước [26, tr 20]
Tuy nhiên, do không có kinh nghiệm tổ chức sản xuất, thiếu vốn đầu tư, môi trường chính sách đáp ứng được yêu cầu nên phần lớn các công ty hoạt động thiếu hiệu quả Trước tình hình đó, ngày 05 tháng 06 năm 1992, Chính phủ đã ban hành Quyết định 196-CT chấm dứt hoạt động của các cơ sở sản xuất-kinh doanh theo Quyết định 268-CT bằng quy định tổ chức lại, đăng ký theo Luật doanh nghiệp và Luật công ty hoặc giải thể Theo đó, Viện Hàn lâm KH&CN VN đã sắp xếp lại các đơn vị spin-off chuyển sang các loại hình doanh nghiệp mới phù hợp với hệ thống luật pháp, gồm 4 nhóm sau:
(1) Doanh nghiệp Nhà nước;
(2) Tư nhân hóa thành công ty trách nhiệm hữu hạn;
(3) Liên hiệp khoa học sản xuất (KHSX) trực thuộc các Viện chuyên ngành theo Nghị định 35/HĐBT năm 1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (được gọi là các "đơn vị 35" hoạt động như các spin-off);
(4) Một số đơn vị chuyển sang các đơn vị khác (như doanh nghiệp FPT)
và giải thể các đơn vị còn lại
Năm 1998, Viện đã thành lập 02 đơn vị theo Quyết định 68/QĐ-TTg ngày 27/3/1998 của thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm thành lập doanh nghiệp nhà nước trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu khoa học, đó là công ty NETNAM trực thuộc Viện Công nghệ thông tin và Công ty phát triển công nghệ (IMTECH) thuộc Viện Cơ học
Đến năm 2007, theo Quyết định số 1625/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11 năm
2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới công ty