1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: HỆ THỐNG BƠM NUỚC VÀ ĐÓNG NẮP CHAI TỰ ĐỘNG

95 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,1 MB
File đính kèm mo hinh dong nut chai tu dong.rar (7 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời đại ngày nay, việc tự động hoá trong quá trình sản xuất và ứng dụng mang một ý nghĩa hết sức to lớn, có thể nói ngành tự động hoá là ngành đánh giá sự phát triển công nghiệp của thế giới nói chung và một quốc gia nói riêng. Sự tự động hoá trong sản xuất làm tăng năng suất, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm và tiếp cận thâu tóm thị trường. Những chỉ số đó là những mục tiêu mà các doanh nghiệp luôn muốn hướng đến và cải thiện. Vì tầm quan trọng quá to lớn như vậy nên là sinh viên chuyên ngành tự động hoá, chúng tôi càng phải trau dồi kiến thức cho mình để có nền tảng phát huy tính sáng tạo sau này phát triển đất nứơc. Chính vì thế mà sau khi tìm hiểu kĩ và cuối cùng, chúng tôi quyết định chọn đề tài : “ HỆ THỐNG BƠM NUỚC VÀ ĐÓNG NẮP CHAI TỰ ĐỘNG”. Với mô hình này sẽ cho chúng ta hình dung một khía cạnh nhỏ trong lĩnh vực tự động hóa qua đó cũng tư duy cho chúng ta về một hệ thống lớn, một băng chuyền được điều khiển logic thông minh là như thế nào. Chúng tôi là sinh viên của trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, là chủ nhân tương lai của đất nước, chúng tôi sẽ cố gắng học hỏi, nâng cao tính sáng tạo và tư duy để không phụ lòng mong mỏi của thầy cô, của đất nước. Chúng em cũng xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:  Thầy Trần Văn Trinh đã hết sức giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm thực hiện tốt đề tài.  Thầy trưởng khoa, các giáo viên bộ môn cũng đã giúp đỡ nhóm chúng em thực hiện đề tài này. Tuy nhiên, trong khi thực hiện đề tài vẫn không tránh khỏi thiếu sót vì những nguyên nhân khách quan nên mong quý thầy cô bỏ qua và đóng góp ý kiến để chúng em hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn CHƯƠNG I LÝ THUYẾT CÁC THÀNH PHẦN LIÊN QUAN 1 Động cơ DC: Động cơ DC là động cơ điện hoạt động với dòng điện một chiều. Động cơ điện một chiều ứng dụng rộng rãi trong các ứng dụng dân dụng cũng như công nghiệp. Thông thường động cơ điện một chiều chỉ chạy ở một tốc độ duy nhất khi nối với nguồn điện, tuy nhiên vẫn có thể điều khiển tốc độ và chiều quay của động cơ với sự hỗ trợ của các mạch điện tử cùng phương pháp PWM. Động cơ điện một chiều trong dân dụng thường là các dạng động cơ hoạt động với điện áp thấp, dùng với những tải nhỏ. Trong công nghiệp, động cơ điện một chiều được sử dụng ở những nơi yêu cầu moment mở máy lớn hoặc yêu cầu thay đổi tốc độ trong phạm vi rộng. ở đây ta chỉ nghiên cứu động cơ DC trong dân dụng chỉ hoạt động với điện áp 24V trở xuống .

Trang 1

hỗ trợ của các mạch điện tử cùng phương pháp PWM

Động cơ điện một chiều trong dân dụng thường là các dạng động cơ hoạt động với điện áp thấp, dùng với những tải nhỏ Trong công nghiệp, động cơ điện một chiều được sử dụng ở những nơi yêu cầu moment mở máy lớn hoặc yêu cầu thay đổi tốc độ trong phạm vi rộng ở đây ta chỉ nghiên cứu động cơ DC trong dân dụng chỉ hoạt động với điện áp 24V trở xuống

Hình 1.1 Một số loại động cơ trên thực tế

1.1 Cấu tạo:

Một động cơ DC có 6 phần cơ bản:

 Phần ứng hay Rotor (Armature)

 Nam châm tạo từ trường hay Stator (field magnet)

 Cổ góp (Commutat)

 Chổi than (Brushes)

 Trục motor (Axle)

 Bộ phận cung cấp dòng điện DC

Trang 2

Stator bao gồm vỏ máy, cực từ chính, cực từ phụ, dây quấn phần cảm (dây quấn kích thích) Số lượng cực từ chính ảnh hưởng tới tốc độ quay Đối với động cơ công suất nhỏ, người ta có thể kích từ bằng nam châm vĩnh cửu

Hình 1.2: Cấu tạo động cơ điện một chiều

Rotor ( còn gọi là phần ứng ) gồm các lá thép kỹ thuật điện ghép lại có rãnh để đặt các phần tử của dây quấn phần ứng Điện áp một chiều được đưa vào phần ứng qua

hệ thống chổi than – vành góp

Chức năng của chổi than – vành góp là để đưa điện áp một chiều và đổi chiều dòng điện trong cuộn dây phần ứng Số lượng chổi than bằng số lượng cực từ (một nửa

có cực từ âm, một nửa có cực từ dương)

Phương trình cơ bản của động cơ 1 chiều:

E = K Φ W (1)

V = E + Ru.Iu (2)

M = K Φ Iu (3) Với:

 E: sức điện động cảm ứng (V)

 Φ: Từ thông trên mỗi cực( Wb)

 Iu: dòng điện phần ứng (A)

 V : Điện áp phần ứng (V)

 Ru: Điện trở phần ứng (Ohm)

 W : tốc độ động cơ (rad/s)

Trang 3

 K: hằng số, phụ thuộc cấu trúc động cơ

1.2 Nguyên lý hoạt động:

Khi có một dòng điện chảy qua cuộn dây quấn xung quanh một lõi sắt, cạnh phía bên cực dương sẽ bị tác động bởi một lực hướng lên, trong khi cạnh đối diện lại bị tác động bằng một lực hướng xuống theo nguyên lý bàn tay trái của Fleming Các lực này gây tác động quay lên cuộn dây, và làm cho rotor quay Để làm cho rotor quay liên tục và đúng chiều, một bộ cổ góp điện sẽ làm chuyển mạch dòng điện sau mỗi vị trí ứng với 1/2 chu kỳ Chỉ có vấn đề là khi mặt của cuộn dây song song với các đường sức từ trường Nghĩa là lực quay của động cơ bằng 0 khi cuộn dây lệch 90o so với phương ban đầu của nó, khi đó rotor sẽ quay theo quán tính Tương tác giữa dòng điện phần ứng và từ thông kích thích tạo thành momen điện từ Do đó phần ứng sẽ được quay quanh trục

Hình 1.3: Nguyên lý hoạt động của động cơ DC

1.3 Điều khiển tốc độ động cơ DC:

Thông thường, tốc độ quay của một động cơ điện một chiều tỷ lệ với điện áp đặt vào nó, và ngẫu lực quay tỷ lệ với dòng điện Có nhiều phương pháp để thay đổi tốc độ động cơ DC, ở đây ta sử dụng phương pháp điều khiển thông dụng nhất là kiểu điều biến độ rộng xung (PWM), có nghĩa là ta cấp áp cho động cơ dưới dạng xung với tần

số không đổi mà chỉ thay đổi Ton và Toff

Từ (1),(2) (3) suy ra:

W = V/(K.Φ) – Ru.Iu/(K.Φ) (4)

Trang 4

Theo (4) : khi Iu không đổi (tức Moment không đổi) và Φ không đổi thì W thay đổi "tuyến tính" theo V (thực tế thì không hoàn toàn tuyến tính theo đường thẳng được)

Hình 1.4: Điều khiển động cơ bằng PWM

Khi tỷ lệ thời gian "on" trên thời gian "off" thay đổi sẽ làm thay đổi điện áp trung bình (VAV) Tỷ lệ phần trăm thời gian "on" trong một chu kỳ chuyển mạch nhân với điện áp cấp nguồn sẽ cho điện áp trung bình đặt vào động cơ Như vậy với điện áp nguồn cung cấp là 100V, và tỷ lệ thời gian ON là 25% thì điện áp trung bình là 25V

VAV thay đổi từ VL đến VH tùy theo các độ rộng Ton và Toff

Như vậy, tốc độ động cơ sẽ thay đổi "tuyến tính" theo % độ rộng xung

2 Băng tải:

2.1 Cách lắp đặt vận hành băng chuyền tải:

- Đặt hệ thống băng tải vào đúng vị trí cần lắp đặt

- Dùng thước thủy để căn theo chiều ngang dây tải

- Siết chặt các buloong nền và buloong chân

- Điều chỉnh sơ bộ các bass căng dây ở vị trí căng dây tương đối

- Khởi động động cơ băng tải chạy thử

- Điều chỉnh cho dây băng tải cân chính giữa

- Siết ốc kỹ, tỳ ren điều chỉnh lại đúng vị trí

- Cho hệ thống chạy trong 1 giờ rồi kiểm tra, nếu thấy dây bị sàng thì điều chỉnh lại

Trang 5

2.2 Nguyên tắc kiểm tra băng tải tốt xấu:

- Băng tải đen bóng, cứng mềm không quan trọng

- Cắt một băng vải nhỏ dài chừng 5cm, kéo dãn đến khi đứt, băng càng tốt kéo dãn càng nhiều

- Ngửi băng tải thấy có mùi thơm, nếu băng tải có mùi thơm khó chịu thì bỏ ngay

- Lấy mũi nhọn đâm thử, băng tải mà kém thì thủng ngay một lỗ, loại tốt thì khó thủng và có đàn hồi

- Băng tốt thì bề mặt ít lồi lõm và không bị vá, sữa chữa

- Đừng tin vào những chữ in trên mặt băng tải

2.3 Các loại băng tải:

 Đặc điểm

Cường lực chịu tải lớn: chịu lực gấp 5 lần sợi Cotton

Chịu lực va đập lớn: sợi Nylon là loại sợi tổng hợp chịu sự va đập rất tốt nên các tác động ngoại lực hầu như không ảnh hưởng đến chất lượng bố

Chịu axit, chịu nước và một số loại hóa chất khác

Chống được lão hóa do gấp khúc, uốn lượn nhiều trong sử dụng

Trang 6

Tăng cường sự bám dính giữa sợi và cao su, đồng thời giảm thiểu việc tách tầng giữa các lớp bố

Rất bền nếu phải hoạt động trong môi trường nhiệt độ thấp

Độ dai cực lớn,nhẹ và làm tăng lên sức kéo của motor dẫn đến giảm tiêu thụ điện

Trang 7

2.3.2 Băng tải con lăng

Hình 2: Băng tải con lăng

 Băng tải có thể nâng lên hạ xuống để làm đổi hướng vận chuyển

Lớp cáp thép sẽ được liên kết với nhau bằng một phương pháp đặt biệt,

sự liên kết này giúp cho băng tải không có bất kỳ sự cố nào xảy ra trong suốt quá trình

sử dụng, cao su mặt và cao su bao phủ cáp thép được chế tạo theo những tính chất riêng

Ký hiệu thông thường các loại băng tải cáp thép: ST-500,ST-630,ST-800

và cao nhất tới ST-7000, độ dày có thể lên tới 50mm Băng tải cáp thép thường rất

Trang 8

nặng như loại ST-1000, khổ 1 mét có thể lên tới 25Kg/m Vì vậy thường chỉ dài 150m/cuộn

 Đặc điểm

Băng tải cáp thép chủ yếu sử dụng tại các hệ thống truyền tải có chiều

dài lớn trên 300m, do có thể chịu được cường lực rất cao

Hình 3: Băng tải cáp thép

Các sợi cáp thép được bố trí song song đều nhau theo chiều dọc băng tải

và rải đều trên toàn mặt băng tải

Băng tải cáp thép có tỷ lệ dãn dư cực thấp dưới 1% kể cả trong điều kiện

toàn tải

 Băng tải cáp thép có độ bền tuyệt hảo nhất trong các loại băng tải

Toàn bộ cáp thép trước khi lưu hóa phải được xử lý tráng ngoài tạo bám dính với lớp cao su bao quanh và đây là yếu tố quang trọng nhất khi chọn băng tải Lớp cao su mặt được chế tạo đặc biệt để chống lại các lực xé rách từ mọi hướng

Có những băng tải thép có tuổi thọ tới 15- 20 năm trong điều kiện vận hành liên tục hiệu quả kinh tế là rất lớn

Trang 9

2.3.4 Băng tải bố EP

 Cấu tạo và đặc điểm

EP ký hiệu là băng tải có vải bố chịu lực bằng sợi tổng hợp

Polyester làm sợi dọc và sợi Nylon làm sợi ngang

Độ dãn băng tải rất nhỏ làm cho hành trình khởi động ngắn hơn do vậy tiết kiệm điện hơn Băng chuyền khởi động êm, đặc biệt là đối với băng chuyền có độ dài lớn

Chịu ẩm tốt hơn các loại bố khác, vì sợi Polyester có đặc điểm chịu ẩm, nước rất tốt do đó tuổi thọ băng kéo dài hơn đặc biệt khi gặp ẩm cao, chịu nhiệt rất tốt khi dưới 1500C , chịu hóa chất cực tốt

Với :

N1 : là số vòng quay của buli băng tải

N2: là số vòng quay của động cơ

θ1: là đường kính của buli băng tải

θ2: là đường kính của buli động cơ

Trang 10

3 Encoder:

Encoder mục đích dùng để xác định vị trí góc của một đĩa quay, để đo tốc độ và chiều quay của thiết bị, đĩa quay có thể là bánh xe, trục động cơ, hoặc bất kỳ thiết bị quay nào cần xác định vị trí góc Dựa trên nguyên tắc cảm biến ánh sáng với một đĩa

có khắc vạch sáng tối quay giữa nguồn sáng và phototransistor (đối với encoder quang) hoặc là hiện tượng cảm ứng điện từ (đối với encoder từ) Ở đây ta chỉ đề cập tới encoder quang Encoder được chia làm 2 loại, là encoder tuyệt đối và encoder gia tăng

Ở đây ta chỉ nghiên cứu về loại gia tăng

Hình 1.5: Một số loại encoder trên thị trường

3.1 Cấu tạo chính của Encoder:

Gồm 1 bộ phát ánh sáng (thường là LED), một bộ thu ánh sáng nhạy với ánh sáng từ bộ phát ( thường là photodiotde hoặc phototransistor), 1 đĩa quang được khoét

lỗ gắn trên trục quay đặt giữa bộ phát và thu, thông thường trục quay này sẽ được gắn với trục quay của đối tượng cần đo tốc độ hay vị trí

Hình 1.6: Cấu tạo thực tế của encoder

Trang 11

Hình 1.7: Cấu trúc đĩa và mắt đọc

Một encoder thường có các dây sau:

 Dây cấp nguồn (+5V) cho encoder

Hình 1.8: Dạng sóng ngõ ra của LED thu

Ngoài ra một số encoder còn có dây pha z, ta thu được một xung từ pha z khi đĩa encoder quay 1 vòng

3600

A

B

Z

Trang 12

Hình 1.9: Cấu tạo đĩa quay trong encoder

3.2 Nguyên lý cơ bản:

Encoder thực chất là một đĩa tròn xoay, quay quanh trục Trên đĩa có các lỗ (rãnh) Dùng một đèn led để chiếu lên mặt đĩa Khi đĩa quay, chỗ không có lỗ (rãnh), đèn led không chiếu xuyên qua được, chỗ có lỗ (rãnh), đèn led sẽ chiếu xuyên qua Khi

đó, phía mặt bên kia của đĩa, đặt một con mắt thu Với các tín hiệu có, hoặc không có ánh sáng chiếu qua, ta ghi nhận được đèn led có chiếu qua lỗ hay không Cứ mỗi lần đi qua một lỗ, chúng ta phải lập trình để thiết bị đo đếm lên 1 Số lỗ trên đĩa sẽ quyết định

độ chính xác của thiết bị đo Ví dụ có 1 lỗ tức là khi quay được 1 vòng thì bộ thu sẽ thu được 1 xung, nếu đĩa khoét N lỗ có nghĩa 1 vòng thu được N xung Như vậy khi đo tốc

độ, ta đếm số xung trong 1 đơn vị thời gian, từ đó tính được số vòng trên 1 đơn vị thời gian (hoặc có thể đo chu kì xung) Nếu đo tốc độ cao thì số lỗ khoét càng nhiều càng chính xác

Hình 1.10: Quá trình đọc Encoder

4 Các phần tử khí nén:

4.1 Máy nén khí:

Máy nén khí là thiết bị tạo ra áp suất khí, ở đó năng lượng cơ học của động

cơ điện hoặc động cơ đốt trong được chuyển đổi thành năng lượng khí nén và nhiệt

Trang 13

Phân làm 2 loại :

 Máy nén khí áp suất thấp p <= 15 bar

 Máy nén khí áp suất cao p>= 15 bar

 Máy nén khí áp suất rất cao p>= 300 bar

 Máy nén khí theo nguyên lý trao đổi thể tích: Máy nén khí kiểu pittong, máy nén khí kiểu cách gạt, máy nén khí kiểu root, máy nén khí kiểu trục vít

 Máy nén khí tuabin: Máy nén khi ly tâm và máy nén khí theo chiều trục

4.2 Bình trích chứa khí nén:

Khí nén sau khi ra khỏi máy nén khí và được xử lý thì cần phải có một bộ phận lưu trữ để sử dụng Bình trích chứa khí nén có nhiệm vụ cân bằng áp suất khí nén

từ máy nén khí chuyển đến trích chứa, ngưng tụ và tách nước

Kích thước bình trích chứa phụ thuộc vào công suất của máy nén khí và công suất tiêu thụ của các thiết bị sử dụng, ngoài ra kích thước này còn phụ thuộc vào phương pháp sử dụng: ví dụ sử dụng liên tục hay gián đoạn

4.3 Mạng đường ống dẫn khí nén:

Mạng đường ống dẫn khí nén là thiết bị truyền dẫn khí nén từ máy nén khí đến bình trích chứa rồi đến các phần tử trong hệ thống điều khiển và cơ cấu chấp hành

Mạng đường ống dẫn khí nén có thể phân thành 2 loại:

* Mạng đường ống được lắp ráp cố định (mạng đường ống trong nhà máy)

* Mạng đường ống được lắp ráp di động (mạng đường ống trong dây chuyền hoặc trong máy móc thiết bị)

4.4 Van đảo chiều:

Van đảo chiều có nhiệm vụ điều khiển dòng năng lượng bằng cách đóng mở hay thay đổi vị trí các cửa van để thay đổi hướng của dòng khí nén

Trang 14

Hình 1.26: Trạng thái khi OFF và ON của van đảo chiều

* Ký hiệu của van đảo chiều

Vị trí của nòng van được ký hiệu bằng các ô vuông liền nhau với các chữ cái o,a ,b ,c ,… hay các chữ số 0, 1, 2, …

Vị trí ‘không’ là vị trí mà khi van chưa có tác động của tín hiệu bên ngoài vào Đối với van có 3 vị trí, thì vị trí ở giữa, ký hiệu ‘o’ là vị trí ‘không’ Đối với van

có 2 vị trí thì vị trí ‘không’ có thể là ‘a’ hoặc ‘b’, thông thường vị trí bên phải ‘b’ là vị trí ‘không’

Trang 15

Trường hợp a là cửa xả khí không có mối nối cho ống dẫn, còn cửa xả khí

có mối nối cho ống dẫn khí là trường hợp b

Bên trong ô vuông của mỗi vị trí là các đường mũi tên biểu diễn hướng chuyển động của dòng khí nén qua van Khi dòng bị chặn thì được biểu diễn bằng dấu gạch ngang

Hình 1.28: Ký hiệu và tên gọi của van đảo chiều Hình trên là ký hiệu của van đảo chiều 5/2

Trong đó: 5 : chỉ số cửa

2 : chỉ số vị trí

Cách gọi tên và ký hiệu của một số van đảo chiều:

Van đảo chiều 2/2

Van đảo chiều 4/2

Van đảo chiều 5/2

1

0

Cửa xả khí không có mối nối cho ống dẫn

2(A) 4(B)

14(Z)

Cửa 1nối với cửa 2 Cửa 1nối với cửa 4

Trang 17

Tác bằng khí nén

Trực tiếp bằng dòng khí nén vào

Trực tiếp bằng dòng khí nén ra

Trực tiếp bằng đường khí nén vào với 2

đầu nòng van có đường kính khác nhau

Gián tiếp bằng dòng khí nén ra có van

phụ trợ

Tác động bằng cơ

Đầu dò

Cừ chặn bằng con lăn tác động 2 chiều

Cừ chặn bằng con lăn tác động 1 chiều

Lò xo

Nút nhấn có rãnh định vị

Trang 18

Tác động nam châm điện

Bằng nam châm điện và van phụ trợ

Tác động theo hướng dân cụ thể

Van đảo chiều có vị trí ‘không’ là loại van tác động bằng cơ – lò xo và ký hiệu lò xo nằm ngay vị trí bên cạnh ô vuông phía bên phải của ký hiệu van Tác động lên phía đối diện nòng van là tín hiệu tác động bằng cơ, khí nén hay bằng điện Khi chưa có tín hiệu tác động, vị trí của các cửa nối được biểu diễn trong ô vuông phía bên phải đối với van đảo chiều 2 vị trí Còn đối với van đảo chiều 3 vị trí thì vị trí ‘không’ nằm ở giữa

Ví dụ : Van đảo chiều 2/2 tác động bằng nam châm điện:

Van có 2 cửa P và R, 2 vị trí 0 và 1 Tại vị trí 0, cửa P và R bị chặn Khi cuộn Y có điện, từ vị trí 0 van chuyển sang vị trí 1, cửa P nối với cửa R Khi cuộn Y mất điện, do tác động của lò xo phía đối diện, van sẽ quay trở về vị trí ban đầu

R

1 0

P

Y

Trang 19

4.5 Van tiết lưu

Van tiết lưu có nhiệm vụ thay đổi lưu lượng dòng khí nén, có nghĩa là thay đổi tốc độ của cơ cấu chấp hành

Van tiết lưu có tiết diện không đổi:

Khe hở của van có tiết diện không thay

đổi do đó lưu lượng dòng khí chảy qua

cũng không thay đổi

Van tiết lưu có tiết diện thay đồi:

Lưu lượng dòng khí nén chảy qua van

thay đổi nhờ một vít điều chỉnh làm

thay đổi tiết diện khe hở

Ký hiệu chung:

Có mối nối ren:

Không có mối nối ren:

Van tiết lưu điều chỉnh bằng tay:

Dòng khí nén chỉ có thể đi theo chiều

từ A qua B mà không thể đi theo chiều

ngược lại

Van tiết lưu 1 chiều điều chỉnh bẵng cữ

chặn:

Dòng khí nén chỉ có thể đi 1 chiều từ A

qua B Tuỳ vào vị trí của cữ chặn mà

tiết diện khe hở của van thay đổi làm

cho lưu lượng dòng chảy thay đổi

Trang 20

4.6 Cơ cấu chấp hành

4.6.1 Nhiệm vụ

Cơ cấu chấp hành có nhiệm vụ biến đổi năng lượng khí nén thành năng lượng cơ học Cơ cấu chấp hành có thể chuyển động thẳng (xilanh) hoặc chuyển động quay (động cơ khí nén)

Hình 24 Chiều tác động ngược lại do ngoại lực (a) và do lo xo (b)

Xilanh tác động 2 chiều (xilanh tác động kép)

- Khí nén được đưa vào 2 phía của xilanh, do yêu cầu điều khiển mà xilanh đi vào hay đi ra sẽ tuỳ thuộc vào việc đưa khí nén vào phía nào của xilanh

Trang 21

Xilanh quay

- Hình biểu diễn tượng trưng của xilanh quay Hai ngõ vào điều khiển

để điều khiển pittong có răng di chuyển qua lại Khi cần pittong di chuyển sẽ

ăn khớp với 1 bánh răng làm bánh răng quay Trục bánh răng sẽ được gắn với

cơ cấu chuyển động

Ưu nhược điểm của khí nén:

Ưu điểm:

 Không gây ô nhiễm môi trường

 Có khả năng truyền tải năng lượng đi xa do độ nhớt động học của khí nén nhỏ, tổn thất trên dọc đường thấp

 Hệ thống phòng ngừa quá áp suất giới hạn được đảm bảo

Nhược điểm:

 Khi tải trọng thay đổi, vận tốc truyền cũng thay đổi

 Dòng khí nén thoát ra gây tiếng ồn lớn

- Tốc độ của trục quay phụ thuộc trực tiếp giá trị tần số của các xung nhập điều khiển và bề dài của chuyển động quay phụ thuộc số xung điều khiển

Trang 22

5.2 Ưu điểm của động cơ bước

- Góc quay của động cơ tỉ lệ thuận với số xung điều khiển

- Động cơ đạt được momen toàn phần (full torque) tại lúc đứng yên (khi dây quấn động cơ còn được cung cấp năng lượng)

- Chuyển động có khả năng lập lại các trạng thái một cách ổn định tin cậy, điều khiển vị trí chính xác Với những động cơ bước có cấp chính xác cao

có sai số từ 3% đến 5% trong mỗi bước và sai số này không gia tăng ở bước điều khiển kế tiếp

- Các đáp ứng khởi động, dừng và đảo chiều tối hảo

- Có độ tin cậy cao vì động cơ không sử dụng chổi than ; như vậy tuổi thọ của Góc quay của động cơ tỉ lệ thuận với số xung điều khiển

-Động cơ đạt được momen toàn phần (full torque) tại lúc đứng yên (khi dây quấn động cơ còn được cung cấp năng lượng)

- Chuyển động có khả năng lập lại các trạng thái một cách ổn định tin cậy, điều khiển vị trí chính xác Với những động cơ bước có cấp chính xác cao có sai số từ 3% đến 5% trong mỗi bước và sai số này không gia tăng ở bước điều khiển kế tiếp

- Các đáp ứng khởi động, dừng và đảo chiều tối hảo

- Có độ tin cậy cao vì động cơ không sử dụng chổi than ; như vậy tuổi thọ của động cơ chỉ phụ thuộc vào tuổi thọ của phần truyền động cơ khí : bạc đạn

- Các động cơ bước đáp ứng với các tín hiệu xung điều khiển cung cấp từ

bộ điều khiển vòng hở, do đó đễ dàng điều khiển động cơ và giá thành điều khiển thấp

- Động cơ có khả năng quay với tốc độ đồng bộ có giá trị rất thấp khi mang tải trực tiếp trên trục

- Động cơ có thể đạt được một phạm vi rộng giá trị tốc độ quay tỉ lệ với giá trị tần số của xung điều khiển động cơ chỉ phụ thuộc vào tuổi thọ của phần truyền động cơ khí : bạc đạn

Trang 23

- Các động cơ bước đáp ứng với các tín hiệu xung điều khiển cung cấp từ

bộ điều khiển vòng hở, do đó đễ dàng điều khiển động cơ và giá thành điều khiển thấp

- Động cơ có khả năng quay với tốc độ đồng bộ có giá trị rất thấp khi mang tải trực tiếp trên trục

- Động cơ có thể đạt được một phạm vi rộng giá trị tốc độ quay tỉ lệ với giá trị tần số của xung điều khiển

5.3 Nhược điểm của động cơ bước

- Có thể xãy ra trạng thái cộng hưởng nếu không được điều khiển thích hợp

- Không điều khiển dễ dàng để động cơ hoạt động tại các giá trị tốc độ rất cao

5.4 Phân loại động cơ bước

Theo các tài liệu kỹ-thuật hiện nay, chúng ta có 3 loại động cơ bước

- Động cơ bước với rotor là nam châm vĩnh cửu (PM stepper motor – Permanent Magnet Stepper Motor )

- Động cơ bước từ dẫn thay đổi (VR stepper motor – Variable Reluctance Stepper Motor)

- Động cơ buớc đa hợp (Hybrid Stepper motor)

Trang 24

5.5 Cấu tạo chung của đông cơ bước

- Gồm một thanh nam châm vĩnh cửu; đường sức từ trường (từ phổ) do thanh nam châm tạo ra tạo thành hệ thống đường sức kín có hướng đi ra từ cực bắc và đi vào ở cực nam

- Tính chất lưởng cực của thanh nam châm vỉnh cửu có thể được cảm ứng trong từ trường tạo bởi dòng điện khi đi qua cuộn dây quấn Cực tính của

từ trường tạo bởi dòng điện (khi đi qua dây quấn) phụ thuộc vào hướng dòng điện đi vào dây quấn Tính chất của cục từ thay đổi khi đổi hướng dòng điện qua cuộn dây dẫn

- Khi bố trí thanh nam châm vỉnh cửu có thể quay tự do như phần ứng của máy điện; phần ứng này được đặt trong từ trường tạo bởi phần dây quấn phần cảm stator

Hình trên cho ta thấy lực tương tác tạo thành momen quay kéo phần ứng về vị trí cân bằng (tại vị trí trục từ trường của phần cảm và trục từ trường phần ứng thẳng hàng)

Momen quay được tính theo công thức sau :

M = 2R.Fn

Trang 25

Có thể xem động cơ bước hoạt động tương tự như động cơ đồng bộ, với từ trường quay tạo bởi hệ thống xung điện áp cấp tuần tự vào các dây quấn trên các cặp cực từ bố trí liên tiếp lân cận trên stator

5.6 Nguyên tắc hoạt động

- Đa số các động cơ bước là động cơ một pha, hai pha hoặc nhiều pha Khác với động cơ đồng bộ thông thường là roto của nó không có cuộn dây khởi động (lồng sóc mở máy ) mà nó được khởi động bằng phương pháp tần số Roto của động cơ có thể được kích thích hoặc không được kích thích

Sơ đồ động cơ bước m pha

Xung điện áp cấp cho cuộn dây stator

a Xung một cực ; b Xung hai cực

Trang 26

Khi cung cấp bởi xung một cực, điện áp sẽ biến đổi từ 0 đến +U, còn khi cung cấp bởi xung hai cực điện áp sẽ biến đổi từ +U đến –U

Chuyển mạch điện tử có thể cung cấp điện áp điều khiển cho các cuộn dây stator theo từng cuộn riêng lẻ hay theo từng nhóm các cuộn dây Trị số và chiều của sức từ động tổng F của động cơ và do đó vị trí của rotor trong không gian hoàn toàn phụ thuộc vào phương pháp cung cấp điện cho các cuộn dây Ví

dụ : nếu các cuộn dây của động cơ trên hình cung cấp cho từng cuộn dây riêng

lẻ theo trình tự 1,2,3 m bởi các xung một cực thì rotor động cơ sẽ có m vị trí

ổn định trùng với trục của các cuộn dây (hình (a))

Trong thực tế để tăng cường sức từ động tổng của stator do đó làm tăng

từ thông và momen đồng bộ , người ta thường cung cấp đồng thời cho hai hoặc nhiều cuộn dây Lúc đó rotor của động cơ bước sẽ có vị trí cân bằng trùng với vectơ sức từ động tổng F

Trên hình (b) sức từ động F khi cung cấp đồng thời cho một số chẵn cuộn

dây (trường hợp này hai hay nhiều cuộn dây được cung cấp điện một cách đồng thời )

Trên hình (c) sức từ động tổng F khi cung cấp đồng thời cho ba cuộn dây (một số lẻ cuộn dây) Trong cả hai trường hợp (cung cấp cho một số chẵn cuộn dây và cung cấp cho một số lẻ cuộn dây ), rotor động cơ bước sẽ có m vị trí cân bằng

Góc xê dịch giữa hai vị trí liên tiếp của rotor được tính :

- Nếu cung cấp theo thứ tự một số chẵn cuộn dây, rồi một số chẳn cuộn dây,

Ví dụ : 1&2 – 2 – 2&3 – 3 – m thì số vị trí cân bằng của rotor sẽ tăng gấp đôi là 2m

- Nếu số lượng cuộn dây được điều khiển luôn luôn không đổi (một số chẵn cuộn dây hay một số lẻ cuộn dây) được gọi là đối xứng

Trang 27

- Nếu số lượng cuộn dây luôn luôn thay đổi (ví dụ : điều khiển theo trình

tự chẵn – lẽ – chẵn … ) được gọi là không đối xứng

Số bước trong khoảng từ 0 đến 360o là :

K = m n1 n2 p

Trong đó : p : là số đôi cực của rotor

m : làsố cuộn dây điều khiển trê stator n1: là hệ số ( n1 = 1 ứng với điều khiển đối xứng ,

n1 = 2 ứng với điều khiển không đối xứng) n2 : là hệ số ( n2 = 1 ứng với điều khiển bằng xung một

cực)

n2 = 2 ứng với điều khiển bằng xung hai cực)

Với bước quay của rotor trong không gian thì :

α = 360o

6.Cảm Biến:

6.1 Các khái niệm về cảm biến:

Trong các hệ thống đo lường và điều khiển, mọi quá trình điều khiển đặc trưng bởi các biến trạng thái Các biến trạng thái này thường là các đại lượng không điện như: nhiệt độ , áp suất, lưu lượng, tốc độ…

Để thực hiện quá trình đo lường và điều khiển cần phải thu thập thông tin, đo đạc, theo dõi sự biến thiên của các trạng thái của quá trình thực hiện chức năng trên là các thiết bị cảm biến Để hiểu rõ về cảm biến ta cần nắm được một

số khái niệm và định nghĩa sau :

6.1.1.Phần tử nhạy:

Là khâu đầu tiên của thiết bị đo chịu trực tiếp của đại lượng đo Phần tử nhạy không có đặc tính riêng Sai số được hạn chế bởi sai số của thiết bị mà nó tham gia

6.1.2.Chuyển đổi đo lường:

Là một khâu cùa thiết bị đo, tín hiệu vào là hàm số của tín hiệu ra

Trang 28

Cơ sở vật lý của chuyển đổi đo lường là biến đổi và truyền đạt năng lượng ( biến đổi từ dạng năng lượng này sang dạng năng lượng khác)

6.2 Cảm biến đo lường:

Là phương tiện ( thiết bị) đo thực hiện biến đổi ở đầu vào thành tín hiệu ra thuận lợi cho việc biến đổi tiếp theo hoặc truyền đạt, gia công bằng thiết bị tính hoặc lưu trữ số liệu (nhưng không quan sát được)

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và ứng dụng kỹ thuật đo lường, điều khiển, số lượng và chủng loại các cảm biến tăng nhanh và đa dạng Với mục dích nghiên cứu và ứng dụng có thể phâm loại cảm biến theo các phương pháp sau:

6.2.1 Phân loại cảm biến theo đại lượng vào và ra

Cảm biến điện _ điện : trong đó các đại lượng vào và ra là các thông số điện

Cảm biến không điện _ điện: là cảm biến thực hiện chức năng biến đổi các đại lượng không điện là áp suất, nhiệt độ , lưu lượng ,… Thành các hông

số như điện trở, điện cảm, điện dung, điện áp, dòng điện, sức điện động …

Cảm biến khí nén _ điện : được ứng dụng nhiều trong các nhà máy Hóa chất, các hệ thống đo và điều khiển cần chống cháy nổ

6.2.2 Phân loại theo tính chất vật lý

Cảm biến điện trở

Cảm biến điện từ

Cảm biến tĩnh điện

Cảm biến nhiệt điện

Cảm biến điện tử_ion

Cảm biến hóa điện

Cảm biến y sinh

6.2.3 Phân loại theo tính chất nguồn điện

Cảm biến phát điện (Active)

Cảm biến thụ động (Passive)

Trang 29

6.2.3 Phân loại theo phương pháp đo

Cảm biến biến đổi trực tiếp

Ánh sáng có hai tính chất cơ bản là sóng và hạt Dạng sóng của ánh sáng

là sóng điện từ phát ra khi có sự chuyển điện giữa các mức năng lượng của nguyên tử của nguồn sáng Ánh sáng lan truyền trong chân không với tốc độ v

= 299792 km/s Trong vật chất ánh sáng có vận tốc v=c/n, (n là chiết suất của môi trường)

Tính chất hạt của thể hiện qua sự tương tác của nó với vật chất Trong vật chất, các điện tử liên kết trong nguyên tử để trở thành điện tử tự do

Nói chung, loại điện tích được giải phóng do chiếu sáng phụ thuộc vào bản chất vật liệu chiếu sáng.Khi chiếu sáng vào chất điện môi và bán dẫn tinh thiết, các điện tích được giải phóng là cặp điện tử _ lỗ trống Với bán dẫn pha tạp khi bị chiếu sáng nó sẽ giải phóng điện tử và lỗ trống tùy thộc vào chất pha tạp

Hiện tượng giải phóng các hạt dẫn dưới tác dụng của ánh sáng do hiệu ứng quang điện sẽ gây nên sự thay đổi tính chất điện của vật liệu Đó là nguyên

lý cơ bản của các cảm biến quang

Các đơn vị đo quang:

Các đơn vị đo năng lượng:

 Năng lượng bức xạ Q: Là năng lượng phát xạ , lan truyền hoặc hấp thu dưới dạng bức xạ được đo bằng Jun (J)

 Quang thông : là công suất hấp thụ lan truyền hoặc hấp thụ, đo bằng oát ( W) là đại lượng đặc trưng cho nguồn sáng :

Trang 30

 Cường độ sáng I : là nguồn năng lượng phát ra theo một hướng cho trước dưới một đơn vị góc khối, có đơn vị là oát/steradian:

 Độ chói năng lượng (L) : là tỷ số giữa cường độ ánh sáng phát ra bởi một phần tử bề mặt dA theo một hướng xác dịnh và diện tích hình chiếu vuông góc với phần tử bề mặt dAn; có đơn vị là oát/steradian.m2

 Độ rọi năng lượng (E): là tỷ số giữa luồng năng lượng thu được bởi một phần tử bề mặt và diện tích của bề mặt đó Độ rọi năng lượng được đo bằng oat/m2

Đơn vi đo thị giác:

 Mắt người cảm nhận ánh sáng có phổ từ 0,38um đến 0.76um với

độ nhạy tương đối phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng

 Độ nhạy của mắt cực đại ở bước song = 0.555um và giảm về hai

phía , như Hình 9:

Hình 9: Đường cong độ nhạy tương đối của mắt người

Trang 31

Nguồn sáng:

 Nguồn sáng quyết định mọi đặc tính của bức xạ Việc sử dụng các chuyển đổi quang chỉ có hiệu quả khi nó phù hợp với bức xạ ánh sáng ( phổ, quang thông , tần số)

Quang thông của LED nhỏ ( cỡ mW) và nhạy với nhiệt độ , do đó hạn chế phạm vi sử dụng của đèn

 Lazer :

Laze là nguồn sáng đơn sắc có định hướng và đặc biệt là tính liên kết mạnh ( cùng phân cực, cùng pha) vì vậy khi chồng chéo lên nhau chúng tạo thành một sóng duy nhất và xác định

Laze có bước sóng đơn sắc , thông lượng lớn độ định hướng cao và truyề đi xa với khoảng cách lớn

6.3.2.Cảm biến quang điện

Cảm biến quang điện thực chất là các linh kiện quang điện, chúng thay đổi tính chất khi có ánh sáng thích hợp chiếu vào bề mặt cùa chúng

Tế bào quang dẫn ( quang điện trở):

Nguyên lý làm việc của quang điện trở là sự phụ thuộc của điện trở vào thông lượng bức xạ và phổ bức xạ đó

Trang 32

Tế bào quang dẫn là càm biến quang điện có độ nhạy cao Cơ sở vật lý của tế bào quang điện là hiện tượng quang dẫn do hiệu ứng quang điện trong

Đó là hiện tượng giải phóng các hạt tải điện trong vật liệu dưới tác dụng của ánh sáng làm tăng độ dẫn điện của vật liệu

Vật liệu chế tạo cảm biến quang điện

Cảm biến quang thường được chế tạo bằng các bán dẫn đa tinh thể đồng nhất hoặc đơn tinh thể, bán dẫn riêng hoặc bán dẫn pha tạp, thí dụ:

Đa tinh thể: CdS, CdSe, CdTe

PbS, PbSe, PbTe

Đơn tinh thể : Ge, Si tinh khiết hoặc pha tạp Au, Cu, Sb, In

SbIn, AsIn, Pin, CdHgTe

Các tính chất cùa cảm biến quang điện

Điện trở tối R0 phụ thuộc vào dạng hình học, kích thước , nhiệt độ và bản chất của vật liệu

Ví dụ: PbS, CdS, CdSe có điện trở tối từ 104 đến 109 ở 250C

SbIn, SbAs có điện trở tối từ 10 đến 103 ở 250C

Độ nhạy: Độ nhạy phổ của tế bào quang dẫn được định nghĩa theo biểu thức:

Ví dụ: Điện áp đặt U=10v , diện tích bề mặt tế bào bẳng 1cm2

Độ nhạy phổ khoảng 0.1 đến 10A/W

Trang 33

Hình 10 : Cấu tạo của photo diot

Khi đặt một điện áp lên diot, vói điện áp ngược đủ lớn Ud >> , chiều cao của hàng rào thế tăng lên và tên diot chỉ còn dòng điện ngược Ir = I0 (I0 – dòng điện tối)

Khi chiếu sáng diot bằng bức xạ có bước sóng sẽ xuất hiện các cặp điện tử _ lỗ trống, dưới tác dung của điện truong các cặp điện tử _ lỗ trống chuyển động và dòng điện ngược Ir tăng lên rất nhanh

Các vật liệu dùng chế tao Photo diot là Si, Ge (vùng ánh sáng nhìn thấy)

và GaAs, InAs, InSb ( vùng hồng ngoại)

Chế độ hoạt động:

Chế độ quang dẫn : sơ đồ nối photo diot gồm nguồn E , phân cực ngược

diot và điện trở R như Hình 11

Hình 11 : sơ đồ nối photo diot

Từ hình vẽ ta có : E = UR - Ud

Chế độ quang thế : trong chế độ này không có điện áp ngoài đặt vào diot Photo diot hoạt động như một nguồn dòng

Trang 34

Hình 12 : Mạch đo ở chế độ quang thế

Đặc điểm của chế độ làm việc này là không có dòng tối do không có nguồn điện phân cực ngoài, do đó có thể giảm nhiễu và cho phép đo quang thông nhỏ

6.3.4 Photo transitor

Photo transitor là các transitor silic loại npn mà vùng bazơ được chiếu sáng, không có điện áp đặt trên bazơ, chỉ có điện áp trên C, đồng thời

chuyền tiếp B-C phân cực ngược như Hình 13 Điện áp đặt chủ yếu là phần

chuyển tiếp B-C ( phân cực ngược) trong khi đó sự chênh lệch điện thế giữa E

và B thay đổi không đáng kể

Khi phần chuyển tiếp B_C được chiếu sáng , sự hoạt động của photo transitor giống như photo diot ở chế độ quang dẫn với dòng điện ngược:

Ir = I0 + Ip Với : Ir : dòng điện ngược

I0 : dòng điện tối

Ip : dòng điện sang

HìHình 13: Photo transitor

Trang 35

6.3.5.Cảm biến phát xạ ( Tế bào quang điện)

Nguyên lý hoạt động:

Cảm biến phát xạ là biến hiệu quang thành tín hiệu điện nhờ hiện tượng phát xạ điện tử ở điện cực catot khi có thông lượng ánh sáng chiếu vào

Số lượng điện tử phát xạ tỷ lệ với số photon chiếu vào cực cactot

Cảm biến phát xạ được phân thành:

 Tế bào quang điện chân không

 Đèn ion khí

 Bộ nhân quang điện

Cơ chế hoạt động cùa tế bào quang điện như sau:

Khi có thông lượng ánh sáng chiếu vào, catot hấp thụ photon và giải phóng điện tử , các điện tử này di chuyển lên bề mặt và thoát ra ngoài

Các vật liệu dùng làm photon cactot là:

 AgOCs nhạy với vùng hồng ngoại

 Cs2Sb, K2CsSb nhạy với vùng ánh sáng nhìn thấy và vùng tử ngoại

Tế bào quang điện chân không

Tế bào quang điện chân không là một ống

hình trụ được hút chân không tới áp suất 10-6 đến

10-8 mmHg Trong ống đặt một cactot có khả

năng phát xạ khi được chiếu sáng và một anot như

Hình 14 Hình 14 : Tế bào quang điện

Tế bào quang điện có khí:

Tế bào quang điện có khí cấu tạo tương tự như chân không , bên trong đèn được điền đầy khí trơ (argon), với áp suất cỡ 10-1 đến 10-2 mmHg

Bộ nhân quang:

Khi bề mặt chất rắn bị bắn phá bởi các điện tử có năng lượng đủ lớn, nó

có thể phát xạ các điện tử (phát xạ thứ cấp)

Trang 36

Hình 15 : Sơ đồ thiết bị nhân quang

Nếu số điện tử phát xạ thứ cấp lớn hơn số điện tử tới sẽ có khả năng khuếch đại tín hiệu Sự khuếch đại này ứng dụng làm thiết bị nhân quang

Các điện tử tới ( điện tử sơ cấp) được phát xạ từ một photo catot đặt trong chân không bị chiếu sáng Chúng được tiêu thụ trên điện cực thứ nhất của dãy các điện cực Bề mặt các điện cực phủ vật liệu có khả năng phát xạ thứ cấp Các điện cực mắc nối tiếp nhau với điện thế tăng dần thông qua các điện trở sao cho các điện tử bị hút lien tiếp bởi các điện cực tiếp theo làm số điện tử thứ cấp tăng lên

Cáp quang:

Dạng cáp quang đơn giản bao gồm một lõi có chiết suất , bán kính và vỏ Vật liệu chế tạo cáp quang là:

 SiO2 tinh thiết hoặc pha tạp

 Thủy tinh , thành phần của SiO2 và phụ gia Na2O3 , B2O3.

 Polime

Ứng dụng của cảm biến quang:

Dùng tế bào quang dẫn để điều khiển rơle:

Sơ đồ Hình 16a dùng điều khiển trực tiếp rơle , hình 16b điều khiển

thông qua transitor khuếch đại.Nguyên lý làm việc của hệ thống điều khiển là

Trang 37

rơle rất nhỏ chưa đủ để rơle tác động Khi bị chiếu sáng , điện trờ của quang dẫn giảm đi rất nhanh dòng điện qua quang dẫn tăng lên đủ lớn để rơle tác động

Hình 16: Dùng tế bào quang dẫn để điều khiển rơle

Ứng dụng photodiot và transitor trong điều khiển:

Tùy thuộc vào mục đích sử dụng photo diot và photo transitor ta có thể thực hiện các đại lượng khác nhau hoặc điều khiển trong quá trình sản xuất như: quay tốc độ quay cùa động cơ đếm số lượng vật , đo cường độ ánh sáng, điều khiển đóng mở các rơle…

Hình 17 : Ứng dụng transitor quang đóng mở các rơle

điều khiển

Trong trường hợp này người ta sử dụng thông tin dưới dạng nhị phân :

có hay không có ánh sáng hoặc ánh sáng lớn hơn hoặc nhỏ hơn ngưỡng chiếu sáng Transitor khóa hoặc thông cho phép điều khiển trực tiếp hoặc qua khuếch

Trang 38

đại như một rơle, điều khiển cổng logic hoặc thyristor Hình 18 ứng dụng cáp

quang và càm biến quang đo di chuyển và tốc độ quay

Hình 18 : Ứng dụng cáp quang và càm biến quang đo di chuyển và tốc độ quay

Ngoài ra có thề ứng dụng photo transitor đề chế tạo ra dụng cụ đo ánh

từ thông hoặc độ từ thẩm của lõi thép và cuộn dây

Cảm biến điện từ được phân thành: cảm biến điện cảm, cảm biến kiểu biến áp và cảm biến cảm ứng

Trang 39

Cảm biến điện cảm là một cuộn dây bằng đồng có đường kính từ 0,02mm đến 0,1mm được quấn trên lõi thép có khe hở không khí( mạch từ hở) với các dạng khác nhau

Dưới tác động của đại lượng đo (Xv) phần ứng 3 dịch chuyển làm cho khe hở không khí D thay đổi kéo theo từ trở của mạch từ ( Rm) thay đổi và điện cảm L( hoặc tổng trở Z) cũng thay đổi theo Mạch từ được làm bằng thép dẫn

D thay đổi và từ trở Rm thay đổi do đó từ thông φ móc vòng qua cuộn dây thứ cấp tạo nên sức điện động hỗ cảm

Hình 21: Cảm biến hỗ cảm

Cảm biến hỗ cảm có đặc tính phi tuyến khi D thay đổi và tuyến tính khi tiết diện S thay đổi Ngoài ra độ nhạy cảm của cảm biến tăng khi tần số nguồn cung cấp tăng Sai số của cảm biến gây nên do nguồn cung cấp điện áp không

Trang 40

ổn định, điện áp thay đổi 1% gây sai số 1% Tần số nguồn cung cấp thay đổi cũng gây sai số Với sự thay đổi tần số 1% gây sai số 0,2%

Đặc tính của cảm biến điện cảm và hỗ cảm phụ thuộc vào hệ thống cơ nối phần động Tần số làm việc khá rộng từ 500Hz đến vài KHz

6.4.2.Ứng dụng của cảm biến điện cảm vả cảm biến hỗ cảm

Do đặc điểm của cảm biến điện cảm và cảm biến hỗ cảm giống nhau nên chúng được ứng dụng đo các đại lượng vật lý như nhau

Đo độ dịch chuyển:

điện áp cho mạch sơ cấp cảm biến là một máy phát hình sin tần số 1,5Khz Điện

áp ra của cảm biến được khuếch đại xoay chiều sau đó qua chỉnh lưu nhạy pha lọc thông thấp để được điện áp một chiều

Hình 22: sơ đồ khối mạch ứng dụng cảm biến hỗ cảm đo dịch chuyển

Tín hiệu một chiều được khuếch đại để tăng độ lớn với điện áp đưa ra chỉ thị Analog Nếu thể hiện kết quả dưới dạng số, tín hiệu ra được đưa qua mạch chuẩn hóa đến bộ biến đổi A/D và hiển thị dưới dạng số, mặt khác có thể gửi tín hiệu đo được qua một hệ thống khác với mạch giao tiếp BCD Bộ so sánh thực hiện điều khiển “dịch chuyển hay không dịch chuyển” với hai giới hạn điều chỉnh được cho hệ thống

Ngày đăng: 20/08/2020, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w