Biện pháp 5: Thực hiện đổi mới mục tiêu, cấu trúc, nội dung giáo trình và cách thức thực hiện chương trình môn Xác suất - Thống kê theo hướng hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh
Trang 1============
MAI VĂN THI
DẠY HỌC XÁC SUẤT – THỐNG KÊ HỖ TRỢ NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ, KĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2MAI VĂN THI
DẠY HỌC XÁC SUẤT – THỐNG KÊ HỖ TRỢ NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ, KĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 9.14.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS TRẦN KIỀU
2 TS PHẠM VĂN TRẠO
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả, được hoànthành với sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của nhiều nhà khoa học Các số liệu, kếtquả được trình bày trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận ánchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đó
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2020
Tác giả luận án
Mai Văn Thi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong và ngoài Viện Khoa họcgiáo dục Việt Nam, Phòng Quản lý khoa học, Đào tạo và Hợp tác quốc tế - Viện Khoahọc giáo dục Việt Nam đã hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tácgiả làm nghiên cứu sinh cũng như đã đưa ra những góp ý quý báu trong quá trình tácgiả thực hiện luận án
Nhân dịp này, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáoPGS.TS Trần Kiều và Thầy giáo TS Phạm Văn Trạo những người đã tận tình hướngdẫn, dìu dắt tác giả trong suốt thời gian qua
Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ từ phía Ban Giám hiệu, Khoa
Cơ sở - Cơ bản, Bộ môn Toán, các chuyên gia, giảng viên và sinh viên trường Đại họcHàng hải Việt Nam đã giúp đỡ tác giả tổ chức khảo sát, thực nghiệm để kiểm tra tínhkhả thi của các biện pháp được nêu ra trong luận án
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình luônđộng viên, giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận án này
Do điều kiện chủ quan và khách quan, bản luận án chắc chắn còn thiếu sót Tácgiả rất mong nhận được những ý kiến phản hồi để tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chấtlượng luận án
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2020
Tác giả
Mai Văn Thi
Trang 5MỤC LỤC
1.1 Năng lực, năng lực nghề nghiệp và năng lực nghề kinh tế, kĩ thuật
15
hàng hải
1.2 Hỗ trợ nghề nghiệp đối với người lao động ngành kinh tế, kĩ thuật
22
hàng hải
Trang 61.2.2 Quan niệm về hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế, kĩ
Đại học Hàng hải Việt Nam nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa, vai trò của dạy học Xác suất - Thống kê trong quá trình
26
đào tạo nguồn nhân lực ở bậc đại học
1.3.3 Mục tiêu và một số xu hướng đổi mới dạy học Xác suất - Thống
27
kê ở trường đại học nói chung và Đại học Hàng hải Việt Nam nói riêng
1.4 Dạy học Xác suất - Thống kê hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên các
29
ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải
1.4.2 Quan niệm, đặc trưng, yêu cầu và các khả năng của quá trình
dạy học Xác suất - Thống kê hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên các 31
ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải
1.4.2.1 Quan niệm về dạy học Xác suất - Thống kê hỗ trợ nghề nghiệp 31
1.4.2.2 Các đặc trưng của dạy học Xác suất - Thống kê hỗ trợ nghề
31
nghiệp cho sinh viên các ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải
1.4.2.3 Khả năng hỗ trợ nghề nghiệp của quá trình dạy học Xác suất
-32
Thống kê đối với sinh viên các ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải
1.4.2.4 Yêu cầu của dạy học Xác suất - Thống kê hỗ trợ nghề nghiệp
39
cho sinh viên các chuyên ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải
1.5 Đặc điểm chương trình Xác suất - Thống kê và chuẩn đầu ra của
40
kĩ sư hàng hải ở trường Đại học Hàng hải Việt Nam
1.5.1 Vị trí của Xác suất - Thống kê trong chương trình đào tạo kĩ sư
Trang 71.5.3 Chuẩn đầu ra của sinh viên các chuyên ngành kinh tế, kĩ thuật
42
hàng hải tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam
1.6 Đặc điểm của sinh viên kinh tế, kĩ thuật trường Đại học Hàng hải
46
Việt Nam
1.7 Khảo sát thực trạng dạy học Xác suất - Thống kê theo hướng hỗ
trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành hàng hải ở trường Đại học Hàng 49
hải Việt Nam
1.7.5 Xử lý và phân tích kết quả của thực trạng dạy học Xác suất
-Thống kê theo hướng hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế, 50
kĩ thuật hàng hải
1.7.5.1 Thực trạng việc giảng dạy Xác suất - Thống kê cho sinh viên
51
ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải theo hướng hỗ trợ nghề nghiệp
1.7.5.2 Thực trạng về trình độ kiến thức, kĩ năng và nhận thức của sinh
viên ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải sau khi học xong học phần Xác suất 53
- Thống kê theo hướng hỗ trợ nghề nghiệp
1.7.5.3 Tình hình sử dụng kiến thức, kĩ năng Xác suất - Thống kê trong
57
thực tiễn nghề nghiệp của kĩ sư hàng hải
1.7.5.4 Thực trạng về bài giảng Xác suất - Thống kê cho đối tượng sinh
viên các ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải tại trường Đại học Hàng hải 58
Việt Nam
1.7.5.5 Thực trạng sử dụng kiến thức Xác suất - Thống kê của các môn
61
cơ sở ngành, môn chuyên ngành trong quá trình đào tạo kĩ sư hàng hải
1.7.5.6 Đánh giá của các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động các ngành
64
kinh tế, kĩ thuật hàng hải
Trang 8CHƯƠNG II CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ NGHỀ NGHIỆP CHO
SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ, KĨ THUẬT HÀNG HẢI THÔNG
69
QUA VIỆC DẠY HỌC XÁC SUẤT - THỐNG KÊ Ở TRƯỜNG ĐẠI
HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
sinh viên ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải
2.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức dạy học Xác suất - Thống kê nhằm trang
bị cho sinh viên vốn tri thức, kỹ năng cơ bản về môn học, đảm bảo mục
69
tiêu và chuẩn đào tạo của chương trình đào tạo cử nhân, kĩ sư hàng
hải theo hướng hỗ trợ nghề nghiệp
2.2.2 Biện pháp 2: Thiết kế các tình huống thực tiễn gắn với đặc thù
nghề hàng hải trong quá trình dạy học Xác suất - Thống kê tại trường 77
Đại học Hàng hải Việt Nam cho sinh viên
2.2.3 Biện pháp 3: Rèn luyện năng lực mô hình hóa toán học cho sinh
viên ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải nhằm góp phần giải quyết những 85
vấn đề trong thực tiễn nghề nghiệp qua học tập Xác suất - Thống kê
Trang 92.2.3.3 Cách thức thực hiện biện pháp 87
2.2.4 Biện pháp 4: Rèn luyện cho sinh viên khả năng biểu diễn, xử lý
các số liệu thống kê theo hướng hỗ trợ nghề nghiệp trong quá trình 94
dạy học Xác suất - Thống kê tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam
2.2.5 Biện pháp 5: Thực hiện đổi mới mục tiêu, cấu trúc, nội dung giáo
trình và cách thức thực hiện chương trình môn Xác suất - Thống kê
theo hướng hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế, kĩ thuật
101
hàng hải đồng thời liên kết với các bộ môn chuyên ngành để giúp sinh
viên sử dụng kiến thức Xác suất - Thống kê cho những học phần tiếp
theo
đánh giá của quá trình thực nghiệm
3.5.1 Khai thác, xây dựng các bài toán thực tiễn trong nghề hàng hải 113
3.5.2 Thực hiện các biện pháp đề xuất trong dạy học Xác suất - Thống
113
kê hỗ trợ nghề nghiệp
3.5.3 Quy trình và các hình thức triển khai nội dung thực nghiệm 116
Trang 103.6 Tiến trình thực nghiệm 119
3.6.1 Thực nghiệm vòng 1 từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017 119
3.6.2 Thực nghiệm sư phạm vòng 2 từ tháng 02 đến tháng 07 năm 2018 126
3.7.1 Đánh giá về xây dựng các tình huống thực tiễn trong ngành kinh
133
tế, kĩ thuật hàng hải
3.7.3 Đánh giá sự phát triển kỹ năng nghề hàng hải của sinh viên 136
ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
PHỤ LỤC 1 Phiếu hỏi: "Về việc giảng dạy môn Xác suất - Thống kê
cho sinh viên các ngành hàng hải của các Thầy, Cô giáo thuộc Bộ môn 151
Toán tại trường Đại học Hàng hải" Việt Nam
PHỤ LỤC 2 Phiếu hỏi: "Thực trạng về kiến thức, kĩ năng và nhận
thức của sinh viên ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải sau khi học xong
Thống kê trong thực tiễn nghề nghiệp của kĩ sư hàng hải"
PHỤ LỤC 4 Một số bài toán thực tiễn trong nghề hàng hải 159
PHỤ LỤC 5 Giáo án thực nghiệm: Quy trình tìm kì vọng toán của
171
biến ngẫu nhiên (tiết 1)
PHỤ LỤC 6 Bản nhận xét của giảng viên dạy thực nghiệm 177
Trang 11PHỤ LỤC 8 Danh mục các môn học sử dụng Xác suất - Thống kê 182
PHỤ LỤC 9 Phiếu đánh giá kết quả giờ dạy Xác suất - Thống kê theo
185
hướng hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên
PHỤ LỤC 10 Yêu cầu và nội dung chi tiết của học phần (Kinh tế
năng hỗ trợ của Xác suất - Thống kê
PHỤ LỤC 13 Báo cáo về ứng dụng của Xác suất - Thống kê trong các
193
môn chuyên ngành
Trang 12DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
1 Bảng 1.1 Cước cho thuê tàu container các cỡ (không quá 10 tuổi 20
và có thiết kế hiện đại) giai đoạn 2017-2020
2 Bảng 1.2 Chuẩn đầu ra của ngành kinh tế hàng hải liên quan tới 44
6 Bảng 1.6 Kết quả khảo sát số ví dụ và bài tập trong bài giảng 61
7 Bảng 1.7 Kết quả đánh giá mức độ áp dụng kiến thức vào thực 67
11 Bảng 3.3 Bảng phân bố tần số điểm bài kiểm tra số 2 nhóm thực 126
nghiệm và đối chứng (Thực nghiệm sư phạm vòng 1)
Bảng 3.4 Phân bố điểm kiểm tra chất lượng xét tuyển đầu vào ĐH
12 của nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng vòng 2, tại trường 128
Trang 1415 Bảng 3.7 Bảng đánh giá mức độ đạt được sau giờ dạy 137
16 Biểu đồ 2.1 Tổng hợp lượt tàu của Công ty hoa tiêu hàng hải khu 76
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020” đã được thông qua vàotháng 2 năm 2007 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 - khoá X, đây làChiến lược đầu tiên của Việt Nam về biển và cũng là kim chỉ nam để định hướng pháttriển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiệnnay Cùng với việc thực hiện các cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới,việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các ngành hàng hải, các lĩnh vực kinh tế biển gắnvới xây dựng và phát triển “Thương hiệu biển Việt Nam” theo định hướng Chiến lượcbiển có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta “Tiến nhanh ra biển, trở thành Quốcgia mạnh về biển và làm giàu từ biển”, như tinh thần Nghị quyết 4 về “Chiến lược biểnViệt Nam đến 2020” đã yêu cầu
Đánh giá sau hơn 10 năm triển khai và thực hiện Nghị quyết về "Chiến lược biểnViệt Nam đến 2020", Hội nghị Trung ương 8 khoá XII (10/2018) đã tổng kết các kết quảkhả quan đối với 5 lĩnh vực ưu tiên phát triển là khai thác, chế biến dầu khí; khai thác vàchế biển hải sản; phát triển kinh tế hàng hải; phát triển du lịch và nghỉ dưỡng biển; tăngcường xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp Trong đó, lĩnh vực kinh tế hàng hải đã
có bước phát triển đáng kể, giá trị sản lượng của ngành vận tải biển, dịch vụ cảng biển vàđóng tàu đã liên tục gia tăng, với tốc độ tăng trong giai đoạn 2007 - 2010 là 22%/năm, giaiđoạn 2011 - 2015 là 13%/năm Đội tàu biển trong nước tính đến hết tháng 11/2017 cótổng trọng tải khoảng 7,8 triệu tấn, đứng thứ 4 trong ASEAN và thứ 30 trên thế giới Sảnlượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển tăng đều theo các năm (năm 2015 đạt 427,3triệu tấn thì đến năm 2017 đạt khoảng 511,6 triệu tấn) Sau 10 năm thực hiện Chiến lượcbiển, toàn ngành đã có những nỗ lực rất lớn trong công tác đầu tư phát triển kết cấu hạtầng và dịch vụ logistics, đảm bảo nhu cầu lưu thông hàng hóa bằng đường biển với mứctăng trưởng hàng hóa hàng năm từ 10% - 20%, nhiều cảng biển có khả năng tiếp nhận tàutrọng tải 200.000 tấn Tuy vậy, tỷ trọng đóng góp chung của kinh tế hàng hải vào GDP cảnước còn rất nhỏ và có xu hướng giảm, với mức 1,05% vào năm 2010; 0,98% vào năm
2015 và 0,97% vào năm 2017 Đây cũng là tình trạng chung của việc đóng góp của kinh tếbiển và ven biển vào GDP cả nước từ 48% năm 2005, giảm xuống còn 40,73% năm 2010
và năm 2017 ước đạt 30,19% theo Tổng
Trang 16cục Biển và Hải đảo Việt Nam phối hợp với Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầutư) để tính toán các chỉ số GDP trong 10 năm thực hiện "Chiến lược biển Việt Namđến 2020" [83]
Phân tích kết quả và những hạn chế, Hội nghị Trung ương 8 cũng nêu rõ: việcthực hiện Nghị quyết vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, khó khăn và thách thức trongphát triển bền vững kinh tế biển Phát triển kinh tế biển chưa gắn kết hài hoà với pháttriển xã hội và bảo vệ môi trường, trong đó việc thực hiện chủ trương phát triển một sốngành kinh tế biển mũi nhọn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra Khoa học và côngnghệ, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển chưa trở thành nhân tố then chốttrong phát triển bền vững kinh tế biển [85]
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan, song nguyênnhân chủ quan là chủ yếu Trong đó, theo đánh giá của Tổng cục Biển và Hải đảo ViệtNam một nguyên nhân chủ quan có tầm ảnh hưởng nhiều nhất tới thực trạng đó là pháttriển nguồn nhân lực biển Nhân lực biển Việt Nam còn thiếu về số lượng và yếu về
môn, nghiệp vụ Lực lượng thuyền viên vừa chỉ đáp ứng nhu cầu hạn chế trong nước,vừa chưa có khả năng xuất khẩu như Philippines, Indonesia, Hàn Quốc, Trung Quốc…Đội ngũ nhân lực nghiên cứu sáng tạo còn ít, chất lượng chưa cao nên thành quả khoahọc về biển và công nghệ phục vụ các hoạt động liên quan đến biển chưa đáp ứngđược yêu cầu
Nguyên nhân chính là do đầu tư cho việc phát triển nhân lực biển còn chưatương xứng; đội ngũ GV còn thiếu và yếu; cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu, phươngtiện trang thiết bị, trình độ cán bộ phục vụ công tác đào tạo, phát triển nhân lực vừathiếu, vừa yếu, trong khi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo về biển chưa được thúcđẩy mạnh mẽ [85]
Khắc phục những khó khăn đó, trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, công tácphát triển nguồn nhân lực biển tại nước ta đã được quan tâm, đầu tư hiệu quả Chính phủ
đã giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triểnkhai rà soát các đề án phát triển nguồn nhân lực, trong đó chú trọng phát triển nguồn nhânlực biển thông qua đào tạo (ĐH và trên ĐH), dạy nghề, xây dựng cơ sở đào tạo và cácchương trình đào tạo nhân lực cho quản lý, khai thác biển [85] Việc chú trọng
Trang 17phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo tại các trường ĐHthể hiện bởi quá trìnhHTNN cho người lao động ngay khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường Đào tạo trong nhàtrường được thực hiện qua các hoạt động giáo dục, trong đó hoạt động DH đóng vai tròchủ yếu Và như vậy, việc DH các môn học bao gồm các phân môn Toán ở trường ĐH,đặc biệt là các môn Toán ứng dụng, trong đó có XSTK đều phải thực hiện mục đíchHTNN trong tương lai cho người học Đây không chỉ là một yêu cầu cấp thiết và chínhđáng của TT mà còn liên quan đến vấn đề về lý luận của quá trình DH XSTK cho đốitượng là SV và chuẩn bị cho quá trình HTNN cho họ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Để thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu trên trước tiên phải thực hiện một số vấn đềliên quan như việc định hướng rõ mục tiêu DH, tiêu chí chọn lựa nội dung và đặc biệt
là những PPDH được chọn lựa để truyền tải nội dung đó Ngoài ra còn phải tính đếncách thức tổ chức hoạt động DH hay trang bị cơ sở vật chất trong nhà trường Vấn đềnày cần được nghiên cứu trước hết là về mặt lý luận đối với việc đào tạo nhân lựcngành hàng hải
Thực tế DH XSTK ở trường ĐHHHVN đang đặt ra yêu cầu đào tạo SV nhằmHTNN cho họ Đã có một số ít kinh nghiệm cho quá trình này nhưng chính những kinhnghiệm đó cần được soi sáng bằng lý luận khoa học Để phục vụ TT tốt nhất là tìmnhững giải pháp cụ thể giúp cho việc đào tạo SV ngành hàng hải theo định hướngHTNN đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy XSTK Nhìn lại mối liên quan giữa DHXSTK với quá trình HTNN thì chưa có công trình nào nghiên cứu tương đối đầy đủ vàtoàn diện vấn đề đó ở nước ta một cách hệ thống
Vì những lý do nói trên mà chúng tôi đã lựa chọn đề tài:
“DẠY HỌC XÁC SUẤT - THỐNG KÊ
HỖ TRỢ NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ, KĨ THUẬT
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM” 2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Do phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài nên trong phần tổng quan này luận
án chỉ nghiên cứu việc DH XSTK gắn với NL, NLNN trong nhà trường từ cấp trunghọc trở lên
2.1 Trên thế giới
2.1.1.Dạy học Xác suất - Thống kê ở bậc trung học
Trang 18Trong quá trình DH TH nói chung và XSTK nói riêng trên thế giới hiện nay cómột xu thế chung là: giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường thực hành và vận dụng vào
TT Vì có rất nhiều công trình bàn về chủ đề DH XSTK nhưng trong khuôn khổ có hạncủa đề tài và với nguồn tư liệu có được, đề tài chỉ điểm qua dưới đây một số tác giả vàcông trình đại diện Trước tiên phải kể đến các nghiên cứu liên quan đến các cấp họctrung học như:
Henry M (1994), [69], có nhiều bài viết về chủ đề DH XSTK Các công trìnhcủa ông tập trung bàn đến các khái niệm và tính toán XS ở bậc trung học từ ba quanđiểm: lịch sử, tri thức luận và didactic Cách tiếp cận của ông nhằm mục đích giúpngười học nắm được nghĩa của khái niệm, tránh việc dạy những kiến thức hình thức
Coutigno C (2001), [65], trong khuôn khổ luận án tiến sĩ của mình đã xem xétvấn đề đưa vào ngay từ bậc trung học cơ sở các tình huống ngẫu nhiên, trong đó có sự
tác động của mô hình hóa và giả lập với phần mềm Cabri-géomètre 2.
Briad J (2005), [62], nghiên cứu vấn đề tiếp cận các luật ngẫu nhiên ở bậc trunghọc phổ thông Tình huống đó giúp người học nhận ra những yếu tố thiết lập nên quan hệgiữa XS với TK, xây dựng các tình huống đưa XS vào giáo trình toán phổ thông
Wozniak F (2005), [82], với luận án tiến sĩ "Ưu điểm và hạn chế của quá trình giảng dạy TK ở trường trung học cơ sở", nghiên cứu việc DH TK ở lớp đầu cấp trung
học cơ sở của Pháp Thừa nhận rằng đào tạo tư duy TK là một vấn đề mấu chốt, tác giảxem xét những điều kiện và những ràng buộc mà người giáo viên phải chịu trong thựchành DH các nội dung của TK Câu hỏi mà tác giả đặt ra để nghiên cứu là "tại sao cácđiều kiện, các ràng buộc rất khác nhau trong nhiều thể chế mà thực tế DH thì hầu nhưđều thiên về việc rút gọn TK vào các tính toán số học?"
Định nghĩa suy luận TK và sáu loại hình suy luận TK do Garfield và Gal đềxuất được nghiên cứu và áp dụng cho các đối tượng học sinh phổ thông, còn đối với
SV chuyên nghiệp những nghiên cứu như vậy còn ít được quan tâm đến [68] Người tarất ít đề cập tới cách thức mà SV suy luận như thế nào khi các em đối mặt với dữ liệu
TK chuyên ngành nói riêng và dữ liệu TK nói chung Những loại hình suy luận TKnào là phù hợp với SV; SV cần được giảng dạy như thế nào để phát triển NL suy luận
TK là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và nghiêm túc
2.1.2 Dạy học Xác suất - Thống kê ở bậc Cao đẳng, Đại học
Trang 19Ngoài việc giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường thực hành và vận dụng vào TT thì
DH XSTK trên thế giới hiện nay rất chú ý đến việc HTNN, việc chuẩn bị cơ sở cho hìnhthành và phát triển NL của người học trong đó có NLNN cho SV ở bậc CĐ và ĐH
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, nhiều Hội nghị quốc tế TH đã thảo luận về
DH XSTK ở bậc ĐH và CĐ như: năm 1956 ở Genever (Thụy Sĩ), năm 1966 ởMatxcơva (Liên Xô cũ), năm 1969 ở Lyon (Pháp), năm 1976 ở Karsrube (Đức), năm
1980 ở Berkley (Hoa Kỳ), năm 2005 ở Petaling Jaya (Malaysia), Các Hội nghị đều
đi tới thống nhất về việc đưa XSTK vào các loại hình nhà trường cùng với các yêu cầu
cụ thể như mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện thực hiện
Trong nghiên cứu của Wilbert J McKeachie (Anh) và các cộng sự [56] đã trìnhbày các chiến lược, các kết quả nghiên cứu về lý thuyết DH XSTK Công trình này đãđưa ra các kết luận về chiến lược tối ưu dành cho việc DH XSTK ở các trường CĐ,
ĐH, trong đó có các trường ĐH kinh tế, kĩ thuật bao gồm mục tiêu, nội dung, phươngpháp, cách thức tổ chức DH và các điều kiện cần thiết, trong đó khẳng định ý nghĩa vàyêu cầu làm rõ các ý nghĩa đó của XSTK đối với các lĩnh vực trong đời sống TT
Susan Miles [79], với bài báo "Giảng dạy TK tại trường Y: Ý kiến của bác sĩ lâm sàng", đã điều tra quan điểm của bác sĩ lâm sàng và cho ta thấy có rất ít bác sĩ sử dụng
được những kiến thức và kĩ năng TK mà họ đã được học ở bậc ĐH Hơn nữa, nhu cầuđào tạo TK cho bác sĩ đã thay đổi do những tiến bộ trong công nghệ thông tin và sự giatăng tầm quan trọng của phương pháp y học dựa trên chứng cứ Từ đó tác giả khuyếncáo phải cải tiến PPDH cho tương lai
Trong [59] tác giả Artaud M với luận án tiến sĩ "TH trong kinh tế như là một vấn đề mô phạm – Một nghiên cứu khám phá" đã thực hiện một phân tích lịch sử TH và kinh tế học để chỉ ra rằng việc tạo ra các tri thức kinh tế thường gắn liền với những
cuộc điều tra TH (được thực hiện một cách thỏa đáng), sau đó là truyền bá các kết quảđiều tra, và công việc thứ hai này không phải là đơn giản Nghiên cứu đó cho thấyquan hệ mật thiết giữa kinh tế học với TH, đặc biệt là với lý thuyết XSTK Từ ghi nhậnnày, tác giả xem xét lại công tác đào tạo ở các trường ĐH kinh tế ở Pháp, xét từ gócnhìn của lý thuyết "Chuyển hóa sư phạm"
Một số nhà khoa học Bailar [60]; Moore [74]; Snee [76], [77], [78] đều cho rằngphương pháp giảng dạy truyền thống tập trung vào việc phát triển các kỹ năng, quy trình
Trang 20tính toán TK đã không mang lại những thành công như mong đợi Vì vậy, họ kêu gọihãy tập trung nhiều hơn cho tư duy TK "Thông thường mọi người tìm hiểu phươngpháp, nhưng không biết làm thế nào để áp dụng chúng hoặc không biết làm thế nào đểgiải thích các kết quả" [73] Một giải pháp được cung cấp để thay đổi tình trạng này làviệc sử dụng đa dạng các phương pháp giảng dạy và học tập ở cấp ĐH, cuốn hút SVtrải nghiệm tư duy TK bằng cách đối phó với các vấn đề của TT Tuy nhiên, điều đócũng gặp không ít khó khăn, trở ngại và hiệu quả sư phạm thấp khi đội ngũ giáo viên
có kiến thức hạn chế về tư duy TK [60]
Ngoài một số công trình trên, còn có dự án LOE bắt đầu được triển khai ở ĐHJoseph Fourier của Cộng hòa Pháp từ năm 2011 Mục đích của dự án là thiết kế mộttrang web dùng cho việc đào tạo ở trường ĐH Y (thuộc ĐH Joseph Fourier), nhằmhình thành ở SV NLTH một nghiên cứu y học thông qua kiến thức XSTK (từ bước xácđịnh vấn đề nghiên cứu, xây dựng phương pháp nghiên cứu, đến thu thập dữ liệu, phântích dữ liệu, rồi viết bài báo khoa học) và NL đọc có phê phán một bài báo của y học
Những nghiên cứu trên cho thấy nhiều công trình bàn về chủ đề DH XSTK đềunhấn mạnh yêu cầu phải quan tâm tới tính TT, nâng cao nhận thức của người học vềứng dụng của XSTK trong đời sống, xác lập quan hệ giữa việc DH XSTK với đào tạocác ngành kinh tế, kĩ thuật, y học gắn liền với việc phát triển NL sử dụng XSTK củangười học đối với nghề nghiệp trong tương lai
Hiện nay, theo sự đa dạng của các chuyên ngành được đào tạo, do vai trò công cụcủa TH đối với các khoa học khác nên nhiều chuyên ngành đào tạo ở ĐH có môn Toántrong chương trình học Có thể phân loại ra ba dạng chủ yếu về toán ở ĐH: TH cho cácchuyên ngành kĩ thuật; TH cho các chuyên ngành kinh tế; TH cho những người
Trang 21sẽ đi dạy toán hoặc nghiên cứu toán chuyên nghiệp Ở các trường ĐH kinh tế, kĩ thuậtcác môn Toán được dạy cho SV thuộc dạng thứ nhất và thứ hai Và theo [47], dạy và
học toán ở ĐH là “dạy và học kiến thức toán cùng với văn hoá TH” Do đó, việc DH
Toán ở trường ĐH cần đảm bảo cho người học tiếp cận TH trên cả hai phương diện:
TH với cấu trúc logic và TH với tính cách nhận thức hiện thực Ngoài ra, tăng cườngmối liên hệ giữa TH và TT trong DH góp phần tích cực hoá hoạt động học tập và khaithác tiềm năng sáng tạo của SV bởi vì ngoài việc tiếp thu một cách khoa học các trithức TH, vấn đề khai thác mặt ứng dụng TT của TH đòi hỏi người học thực hiệnnhững khám phá mới Do đó, tự thân vấn đề đặt ra yêu cầu cao hơn về tích tích cựchoạt động và sáng tạo trong học toán của người học để thực hiện mục tiêu học tập [45]
Trong [53], tác giả Đặng Văn Uy đã đưa ra những tiêu chí về công tác đào tạo
và huấn luyện nhân lực ngành hàng hải nhằm phát huy hết khả năng về chuyên môn,NLNN chuyên biệt của ngành và thái độ làm việc chuyên nghiệp Nghiên cứu đã chỉ
rõ, trong số các yếu tố làm nên “Thương hiệu biển Việt Nam” thì NLNN của đội ngũnguồn nhân lực hàng hải chất lượng cao là nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự pháttriển chung đó Để hình thành và phát triển những NLNN cho người lao động cần phảitrải qua cả một quá trình dài mà trước hết là quá trình đào tạo trong nhà trường Đàotạo trong nhà trường thể hiện ở mọi hoạt động giáo dục, trong đó hoạt động DH đóngvai trò chủ yếu Và như vậy, việc DH các môn học không chỉ các môn học chuyênngành mà các môn học đại cương, cơ sở cũng vô cùng quan trọng trong quá trình hìnhthành và phát triển NLNN cho người học
Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn “Lí luận và dạy học đại học”
[10], đã khẳng định: “Quá trình học tập ở CĐ, ĐH không những giúp SV nắm vững hệthống tri thức cơ bản, hiện đại có liên quan đến nghề nghiệp tương lai mà còn rènluyện được những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp và sự say mê, tìm tòi sáng tạo trong lĩnhvực nghề nghiệp chuyên môn của mình, để sau khi tốt nghiệp họ thực sự có khả nănghoạt động, cống hiến nhiều cho ngành nghề mình đã lựa chọn”
Đã có nhiều nhà khoa học giáo dục và các nhà khoa học cơ bản quan tâmnghiên cứu về vấn đề này như:
Trong [43], tác giả Nguyễn Chiến Thắng đã chỉ rõ vai trò to lớn của môn Toán
sơ cấp và PPDH môn Toán đối với việc hình thành và phát triển KNNN cho SV Sư
Trang 22phạm Toán Tác giả đã hệ thống hóa được một số vấn đề về đào tạo SV ngành sư phạmToán học ở bậc ĐH, đưa ra một quan niệm về KNNN cần hình thành cho SV ngành sưphạm Toán học đồng thời đề xuất được các thành phần cơ bản của KNNN cần rènluyện cho SV ngành sư phạm TH thông qua dạy học các môn Toán sơ cấp và Phươngpháp DH Toán ở bậc ĐH Qua đó, luận án đã xây dựng được sáu BPSP rèn luyệnKNNN cho SV ngành sư phạm TH thông qua dạy học các môn Toán sơ cấp và Phươngpháp dạy học TH bậc ĐH để từng bước hoàn thiện NLNN của mình trong quá trìnhđược đào tạo tại nhà trường.
Trong bài viết “Tăng cường liên hệ với TT nghề nghiệp trong DH Toán cơ bản cho SV trường ĐH Công nghiệp”, tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Lê Bá Phương đã xây
dựng một quy trình bốn bước để tổ chức cho SV tiếp cận tình huống TT nghề nghiệp,xây dựng bài toán thực tế và sử dụng công cụ toán để giải quyết [51]
Trong [50], tác giả Đỗ Thị Trinh đã đề xuất được những NL cụ thể cần đạt đượcđối với SV Toán các trường Sư phạm: NL liên hệ những tri thức TH phổ thông vớinhững tri thức TH hiện đại có liên quan; NL giải toán phổ thông; NL vận dụng Lý luận
và PPDH môn Toán vào DH môn Toán ở trường phổ thông; Từ đó, luận án đã đềxuất được bảy biện pháp phát triển NL DH trên lớp cho SV Toán các trường Sư phạmtheo ba nhóm: Nhóm phát triển NL giải toán phổ thông cho SV; Nhóm phát triển NLvận dụng lý luận và PPDH môn Toán vào TT dạy học ở phổ thông; Nhóm phát triển
NL tổ chức, thực hiện, điều hành giờ dạy ở trên lớp Các nhóm biện pháp này có mốiquan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, bổ sung cho nhau, thể hiện sự toàn diệngóp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên toán bậc Trung học phổ thông
Một số bài giảng, giáo trình và bài tập như: “Bài giảng XSTK – ngành hànghải” [10]; “Tập bài toán ứng dụng hàng hải” [46]; “Cơ sở đánh giá độ tin cậy” [25], cũng đã có xu hướng đưa ra một số kiến thức lý thuyết và bài tập cụ thể vận dụng cáckiến thức XSTK liên hệ với các kiến thức chuyên ngành hàng hải sau mỗi chươngnhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở các thuật ngữ, khái niệm chuyên ngành
2.2.2 Một số nghiên cứu về dạy học Xác suất - Thống kê theo hướng hỗ trợ nghề nghiệp ở bậc Cao đẳng, Đại học thông qua phát triển năng lực nghề nghiệp
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến trang bịNLNN, mối liên hệ giữa Toán ĐH, đặc biệt là môn XSTK với quá trình HTNN thông
Trang 23qua việc hình thành và phát triển NLNN đã được quan tâm rất nhiều, trong đó phải kể đến những công trình như:
• Đối với SV khối ngành sư phạm:
Trong [21], tác giả Ngô Tất Hoạt đã nghiên cứu đặc điểm của kiến thức XSTK
và vị trí, vai trò của môn học này ở Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật; xác định rõ vai tròcủa việc nâng cao NL nhận thức tích cực cho SV thể hiện thông qua việc DH XSTK;tích hợp thêm một số luận điểm, quan điểm về PPDH theo lý thuyết kiến tạo và đềxuất, xây dựng được các NL theo hướng áp dụng lý thuyết kiến tạo vào DH học phầnXSTK trong chương trình ĐH Sư phạm Kỹ thuật Từ đó tác giả đề xuất được sáu biệnpháp cụ thể có thể áp dụng được trong quá trình DH học phần XSTK ở các trường ĐHnói chung và ĐH Sư phạm Kỹ thuật nói riêng, đồng thời đề xuất quy trình DH theoquan điểm của lý thuyết kiến tạo giúp cho việc dạy học XSTK ở các trường ĐHSPKTđạt hiệu quả cao hơn
Trong [48], Phạm Văn Trạo đã hệ thống hoá và đi sâu nghiên cứu các vấn đề lýluận có liên quan đến DH XSTK ở ĐH Sư phạm, sự cần thiết phải xây dựng các chuyên
đề hỗ trợ cho DH XSTK ở ĐH Sư phạm nhằm nâng cao chất lượng DH XSTK ở trung họcphổ thông Đồng thời đề xuất các yêu cầu và nguyên tắc để xây dựng các chuyên đề tựchọn minh hoạ tương ứng theo hướng tiếp cận mô đun DH đối với môn XSTK Từ đó, đềxuất các phương án sử dụng những mô đun đã xây dựng trong TT DH XSTK cho SV toán
ở ĐH Sư phạm theo hướng tiếp cận, hỗ trợ NL nghề giáo viên cho SV
• Đối với SV khối ngành kinh tế, ngành y và cảnh sát:
Tác giả Phạm Thị Hồng Hạnh với luận án: “DH XSTK cho SV ngành kế toán của các trường CĐ Công nghiệp theo hướng phát triển NLNN” đã tổng quan và phân tích tổng hợp được những vấn đề lý luận và TT có liên quan đến NL nghề kế toán, đặc
biệt luận án cũng phân tích làm rõ đặc điểm của SV ngành kế toán Thông qua điều trathực trạng, luận án cũng đã làm rõ tình hình DH XSTK, từ đó đề xuất được các biệnpháp cho SV ngành kế toán theo hướng phát triển NLNN.[14]
Đào Hồng Nam [34] với luận án “DH XSTK ở Đại học Y” đã góp phần làm rõ
các yếu tố đặc trưng tri thức luận và thể chế của một đối tượng tri thức quan trọng luônhiện diện trong hoạt động nghề nghiệp và nghiên cứu của các bác sĩ – kiểm định giảthuyết TK Qua đó, luận án cũng đã chỉ ra ảnh hưởng của sự lựa chọn của thể chế đến
Trang 24hiệu quả DH XSTK cho cán bộ y tế.
Tác giả Võ Thị Huyền với luận án: “DH TK ở trường ĐH Cảnh sát nhân dân theo hướng gắn với TT nghề nghiệp” đã nghiên cứu về NLNN Cảnh sát nhân dân, vai
trò của TK đối với TT nghề nghiệp của người Cảnh sát nhân dân và yêu cầu của DH
TK theo hướng gắn với TT nghề nghiệp Qua tìm hiểu thực trạng DH TK ở trường ĐHCảnh sát nhân dân, luận án đề xuất một số biện pháp DH TK theo hướng gắn với TTnghề nghiệp [24]
Trong [13], tác giả Hoàng Nam Hải với đề tài “Phát triển NL suy luận TK cho
SV CĐ chuyên nghiệp” đã góp phần làm rõ nội hàm của khái niệm suy luận TK; đề xuất 10 loại hình suy luận TK mà SV CĐ chuyên nghiệp thường sử dụng khi tham gia
vào một quá trình hoạt động TK Các kết quả nghiên cứu của luận án đã tạo cơ sở choviệc đưa ra các BPSP góp phần phát triển NL suy luận TK cho SV CĐ chuyên nghiệp
SV có khả năng áp dụng những loại hình suy luận TK để phục vụ các môn cơ sở, cơ sởchuyên ngành, đồng thời giải quyết các tình huống liên quan đến nghề nghiệp củamình sau khi ra trường cũng như khả năng ứng phó với các vấn đề bắt gặp trong TTcuộc sống Qua đó, bồi dưỡng tư duy phê phán, khả năng suy xét, phản biện khi các
em đối diện với tập số liệu TK
Như vậy, các nghiên cứu trong nước về DH XSTK theo hướng HTNN ở bậc CĐ,
ĐH thông qua phát triển NLNN ở trên cho thấy các tác giả cũng đã bước đầu gắn kết đượcXSTK với các môn chuyên ngành, với nghề nghiệp của SV trong quá trình DH môn này
Cụ thể là: bằng cách nêu bật vai trò của XSTK với nghề nghiệp, với các môn học chuyênngành (như [13], [24], [14]) cùng với thực trạng việc giảng dạy XSTK tại các trường CĐ,
ĐH để đưa ra các giải pháp DH hiệu quả hơn, giúp cho SV sử dụng kiến thức XSTK nhưmột công cụ hữu hiệu để làm nghề (như [24], [14], [21], [34]) Ngoài ra, để việc DHXSTK ở các trường ĐHSPKT đạt hiệu quả hơn, nghiên cứu của tác giả Ngô Tất Hoạt [21]
đã đề xuất quy trình DH theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo Đây là hai cách tiếp cận, làhướng đi tốt mà đề tài có thể phát triển Tuy nhiên, việc chỉ ra mối quan hệ giữa HTNNvới phát triển NLNN hay các quan niệm, các đặc trưng, yêu cầu và các khả năng có thể hỗtrợ cho SV của quá trình DH XSTK trong các nghiên cứu trên là chưa rõ ràng, chưa hệthống Đặc biệt với đối tượng SV ngành kinh tế, kĩ thuật nói chung, KTKTHH nói riêngcòn chưa có nghiên cứu cụ thể nào cho vấn đề này Đây
Trang 25chính là cơ hội đồng thời cũng là thách thức để đề tài này tiếp tục phát triển và hoàn thiện hơn quá trình DH XSTK HTNN tại các trường CĐ, ĐH.
Nhận xét chung:
Từ các kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét khái quát như sau:
- DH theo hướng HTNN là vấn đề được khá nhiều các tác giả trên thế giới đisâu nghiên cứu và đã có những thành tựu quan trọng Ở Việt Nam, vấn đề DH nóichung và DH XSTK nói riêng theo hướng HTNN thông qua phát triển NLNN hiệnđang là mối quan tâm lớn của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong định hướng đổimới giáo dục
- Ở các trường ĐH, CĐ, GV dạy các môn khoa học cơ bản là một trong những đốitượng đóng vai trò quan trọng trong việc HTNN cho SV khi còn ngồi trên ghế nhà trườngqua việc chuyển hóa sư phạm từ các tri thức khoa học cơ bản sang các tri thức khoa họcchuyên ngành Để làm được điều đó thì phải làm cho mục tiêu, nội dung, phương phápgiảng dạy các môn khoa học cơ bản thấm nhuần tính nghề nghiệp cho SV
- Những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và trong nước
đã phân tích đặc trưng của môn XSTK và quán triệt các đặc trưng đó vào hoạt độngđào tạo nhằm HTNN cho SV, đồng thời đưa ra được một số giải pháp phù hợp với đốitượng đào tạo khi dạy XSTK với những mục đích cụ thể khác nhau Từ đó góp phầnhình thành nên nền tảng lý luận quan trọng đối với vấn đề DH XSTK theo hướng pháttriển NLNN hay KNNN bằng nhiều PPDH khác nhau
- Tuy nhiên, những vấn đề nghiên cứu về DH theo hướng HTNN vẫn còn là vấn
đề tương đối mới và đang trong quá trình bổ sung và hoàn thiện Cho đến nay chưa có
đề tài nào trực tiếp nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ và toàn diện về vấn đềHTNN cho SV các ngành kinh tế, kĩ thuật nói chung và SV ngành KTKTHH nói riêng
Ngoài ra cũng có thể nhận thấy một số vấn đề có liên quan đến luận án cần được tiếp tục nghiên cứu như:
- Yêu cầu của TT nghề nghiệp của SV ngành KTKTHH gắn với môn học XSTK
- Vai trò của môn học XSTK với TT nghề nghiệp của SV ngành KTKTHH
- Dạy học XSTK góp phần HTNN cho SV ngành KTKTHH
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 26Trên cơ sở làm sáng tỏ về quan niệm, mục đích, yêu cầu của hỗ trợ nghề hànghải; mối quan hệ giữa HTNN với phát triển NLNN nói chung, NL nghề hàng hải nóiriêng mà SV cần được chuẩn bị và những đặc điểm của quá trình DH môn XSTK theohướng HTNN mà đề xuất một số biện pháp DH môn học này góp phần HTNN cho SVcác ngành KTKTHH trong bối cảnh hiện nay.
4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình DH môn XSTK theo hướng HTNN cho SV các ngành KTKTHH
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình đào tạo SV các ngành KTKTHH ở trường ĐHHHVN
5 Giả thuyết khoa học
Nếu trên cơ sở làm sáng tỏ được các yêu cầu chuẩn bị cho việc HTNN màngười lao động được đào tạo ở bậc ĐH trong lĩnh vực hàng hải cần có với tiềm năng
có thể khai thác của quá trình DH XSTK, qua đó đề xuất được các biện pháp hợp lý,khả thi trong DH XSTK thì sẽ góp phần đổi mới DH XSTK ở ĐH theo hướng phục vụtốt hơn cho hoạt động đào tạo kĩ sư, cử nhân hàng hải
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của DH theo định hướng HTNN cho người học ởtrường ĐH; nghiên cứu khái niệm, cấu trúc, đặc trưng, yêu cầu và các khả năng hỗ trợcủa quá trình DH XSTK HTNN cho SV các ngành KTKTHH
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa HTNN với phát triển NLNN ngành hàng hải cầnchuẩn bị cho SV
- Nghiên cứu vai trò của môn XSTK trong việc góp phần chuẩn bị cơ sở cho việc HTNN cho SV ở ĐHHHVN
- Tìm hiểu thực trạng DH XSTK theo định hướng HTNN cho SV ngànhKTKTHH
- Đề xuất một số biện pháp liên quan tới điều chỉnh mục tiêu, cải tiến nội dung,đổi mới phương pháp khi DH XSTK tại trường ĐHHHVN theo định hướng HTNNcho SV các ngành KTKTHH
- Tiến hành TN sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học, tính hợp lý và khả thi của một số biện pháp đã đề xuất
Trang 277 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc giảng dạy XSTK HTNN cho SV các ngành: kinh tế vận tải biển,logistics và chuỗi cung ứng hàng hải, kinh tế hàng hải và toàn cầu hoá, điều khiển tàubiển, đảm bảo hàng hải, khai thác máy tàu biển, công trình thuỷ trong trường ĐHHHVN
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tài liệu (sách, giáo trình, tạp chí, …) về giáo dục, đào tạo nói chung,
về HTNN, HTNN trong lĩnh vực hàng hải, DH HTNN, về NL và phát triển NL, về cácyêu cầu NLNN của người lao động ngành hàng hải, về vai trò của môn XSTK ở trườngĐHHHVN trong quá trình hình thành và phát triển NLNN hàng hải
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, quan sát: Tìm hiểu thực trạng DH XSTK ở trườngĐHHHVN (nhận thức, quá trình dạy học, kết quả học tập ) với các đối tượng như
GV, SV, các chuyên gia và các đơn vị sử dụng lao động hàng hải
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các đơn vị sửdụng lao động hàng hải về các vấn đề liên quan
- Phương pháp TN sư phạm: Kiểm nghiệm tính khả thi và hợp lý các biện pháp được đưa ra, minh hoạ tính đúng đắn của giả thuyết khoa học
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: đối với một lớp liên thông sử dụng XSTK sau khi học xong trong quá trình vừa học vừa làm
9 Nơi thực hiện đề tài nghiên cứu
- Khoa Hàng hải, khoa Máy tàu biển, khoa Kinh tế vận tải biển, khoa Công trình thuỷ, khoa Cơ sở - Cơ bản tại trường ĐHHHVN
- Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
10 Các đóng góp mới của luận án
Trang 28các khả năng hỗ trợ của quá trình DH này làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp
DH XSTK HTNN cho SV hàng hải sau này
cơ sở khoa học và khả thi
- Vai trò của môn XSTK trong việc góp phần chuẩn bị cơ sở cho việc HTNN cho
SV ĐHHHVN
- Các BPSP được đề xuất trong luận án có tính khoa học và khả thi trong quá trình DH XSTK cho SV các ngành KTKTHH theo hướng HTNN
12 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương II Các biện pháp HTNN cho SV ngành KTKTHH thông qua việc DH mônXSTK ở trường ĐHHHVN
Chương III Thực nghiệm sư phạm
Trang 29Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Năng lực, năng lực nghề nghiệp và năng lực nghề kinh tế, kĩ thuật hàng hải
1.1.1 Năng lực
Năng lực là một thuộc tính quan trọng của nhân cách con người và từ lâu kháiniệm NL đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học NL còn là mộtthuật ngữ được dùng phổ biến cả trong khoa học và cuộc sống hàng ngày Khái niệmnày cho đến nay có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau trên thế giới cũng nhưtại Việt Nam, chẳng hạn như:
- NL là những đặc điểm cá nhân của con người đáp ứng yêu cầu của một loạihoạt động nhất định và là điều kiện cần thiết để hoàn thành xuất sắc một số loại hoạtđộng nào đó [30]
-NL là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy [50]
- NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêucầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quảtốt trong lĩnh vực hoạt động ấy [21]
-NL là khả năng bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái độ thực hiện một cách thành công theo chuẩn xác định [13]
- Theo Xavier Roegiers [57]: NL là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách
tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn
đề do tình huống này đặt ra
-Qua một tìm hiểu khá rộng rãi, công phu, nhằm đến gần ngoại diên hẹp hơn làNLNN, Trần Khánh Đức [9] đã tổng hợp đưa ra định nghĩa: NL có thể được xem như
là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người(tri thức, thái độ, kinh nghiệm, thể lực, niềm tin, ) để thực hiện có chất lượng côngviệc hoặc xử lý với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao độngnghề nghiệp
- Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: NL là thuộc tính cá nhân đượchình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép conngười huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như
Trang 30hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kếtquả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [4].
Chúng tôi cùng quan điểm này của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Tuy có nhiều cách phát biểu, diễn đạt khác nhau nhưng ta thấy NL biểu hiện bởicác đặc trưng là:
- Cấu trúc của NL là tổ hợp của nhiều kỹ năng thực hiện những hoạt động thànhphần có liên hệ chặt chẽ với nhau
- NL tồn tại và phát triển thông qua hoạt động; nói đến NL là gắn với khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó của cá nhân
- NL được nảy sinh và quan sát được trong hoạt động giải quyết những yêu cầu mới và do đó nó gắn liền với tính sáng tạo tư duy có khác nhau về mức độ
- NL có thể rèn luyện và phát triển được
- Cá nhân khác nhau thì NL khác nhau
Vì được hiểu là khả năng huy động những tiềm năng từ tri thức – kỹ năng tới tháiđộ/ phẩm chất, nên việc lập một danh mục các NL có thể có ở mỗi cá nhân là khả thinhưng lại chưa chắc đã có nhiều ý nghĩa Các học giả có thể ghép rất nhiều danh/ động/tính từ khác nhau với "năng lực" để thu được những thuật ngữ có nghĩa Tuy nhiên chúngđan xen một cách phức tạp với nhau nên khó có thể đưa ra một phân loại thực sự logic
Liệt kê NL/ nhóm NL bằng tính chất, tầm quan trọng, bình diện có thể kể tới một
số khái niệm thông dụng như: NL chung, NL chuyên biệt, NL chìa khóa, NL cốt lõi
Tác giả Climôv E A định nghĩa: Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức laođộng vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho con người
Trang 31có khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết choviệc tồn tại và phát triển [5]
Qua một số quan điểm về nghề và nghề nghiệp ta có thể hiểu: Nghề và nghềnghiệp là hai khái niệm “chứa đựng” lẫn nhau, trong nghề có ẩn chứa nghiệp và đã cónghiệp nhất định phải có nghề, cho nên người ta thường dùng thuật ngữ “nghề nghiệp”bởi sự song hành giữa chúng
Năng lực nghề nghiệp:
Crick định nghĩa “Một NL được mô tả như là một sự kết hợp phức tạp của kiếnthức, kĩ năng, sự hiểu biết, các giá trị, thái độ và mong muốn dẫn đến hiệu quả, thểhiện hành động của con người trong một lĩnh vực cụ thể” [66]
Dưới góc độ đào tạo nghề Y Dược, Epstein và Hundert [67] dựa trên một số căn
cứ tiêu biểu như "Guide to Evaluation of Residents in Internal Medicine" củaAmerican Board of Internal Medicine (1999), công bố của Norman GR (1985) và Tàiliệu dự án "Accreditation Council for Graduate Medical Education" để đi tới mô tảNLNN bởi khả năng vận dụng nhuần nhuyễn, đúng đắn những kết nối, kiến thức, kỹnăng kỹ xảo, phương pháp suy luận, xúc cảm, những giá trị của bản thân và nghềnghiệp, sự phản chiếu nhân cách đặc trưng, trong hoạt động nghề nghiệp thườngngày, mang lại lợi ích cho các cá nhân và cho cộng đồng
Theo Nguyễn Đức Trí [49], khái niệm NLNN được hầu hết mọi người tươngđối thống nhất là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trongnghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó
Tác giả Phạm Tất Dong [7] cho rằng: NLNN là sự tương ứng giữa những đặcđiểm tâm sinh lý con người với những yêu cầu do nghề đặt ra
Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường [6], NLNN là khả năng thực hiện cóhiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc cáclĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinhnghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động Mô hình cấu trúc NLNN bao gồm 4 thànhphần cơ bản: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội và NL riêng hay nói cáchkhác, bốn thành phần NL này "gặp nhau" tạo thành NLNN
Trang 32Các khái niệm về NLNN được nêu trên hầu hết đều gắn với sự thực hiện thànhcông các công việc cụ thể của một nghề theo các chuẩn được quy định trước và NLNN
có thể nhận biết được qua một số đặc trưng sau:
- NLNN đáp ứng được tiêu chuẩn đầu ra của công việc và nó là cơ sở quan trọng cho quá trình thiết lập tiêu chuẩn đào tạo
- Nội dung của NLNN mang tính thực tế và có thể đánh giá, đo lường được
- Ngoài kiến thức, kĩ năng và thái độ của người lao động, NLNN còn chứa đựngcác nguyên tắc cần thiết để thực hiện toàn bộ một hoặc một số nội dung lao động nghềnghiệp cụ thể nào đó
NLNN được xác định bao gồm các thành tố cơ bản sau:
Một là, tri thức về nghề: là những hiểu biết cơ bản và chuyên sâu về nghề nghiệp để có thể thực hiện các hoạt động cần thiết của nghề nghiệp đó
Hai là, kỹ năng nghề: là khả năng vận dụng kiến thức thu nhận được vào thực tếnghề nghiệp một cách có hiệu quả
Ba là, thái độ với nghề: là thể hiện sự tích cực hay tiêu cực của người lao động
về môi trường làm việc của họ, thể hiện sự thoả mãn với công việc, sự gắn bó với côngviệc và sự tích cực, sự nhiệt tình với tổ chức
Bốn là, kết quả thực hiện các hành động nghề (hành nghề): là thước đo NLNN của cá nhân đó
Bản thân người lao động ban đầu không có sẵn NLNN mà NLNN được hìnhthành và phát triển thông qua quá trình học tập, lao động trong hoạt động nghề nghiệp
và được tiếp tục phát triển, hoàn thiện trong quá trình làm việc
1.1.3 Năng lực nghề kinh tế, kĩ thuật hàng hải
1.1.3.1 Năng lực nghề kinh tế hàng hải
Thai V.V và cộng sự [80], [81] đã điểm gần 20 công trình quan trọng về NLNNđược công bố rải rác trong gần 40 năm (1973 – 2009), một con số tương tự các công trìnhriêng trong lĩnh vực kinh tế hàng hải công bố trong hơn 20 năm (1990 – 2011) cho thấy
NLNN kinh tế hàng hải liên quan tới cả ba lĩnh vực thương mại, hậu cần – cung ứng và quản lý với 71 NL thành phần cả chung và đặc thù (Phụ lục 7), trong đó những NL có sự
tương thích với khả năng hỗ trợ của của XSTK gồm 21 NL thuộc nhóm NL liên quan đếnhoạt động thương mại, liên quan tới lĩnh vực cung ứng (Cảng vụ, tàu biển),
Trang 33liên quan tới lĩnh vực Quản lý hàng hải (Phụ lục 12) Chẳng hạn, đối với nhóm NL liênquan đến hoạt động thương mại có một trong NL chung là (2) NL phân tích dữ liệu TK
có một số biểu hiện mà XSTK có thể tác động như:
- Khả năng lựa chọn thông tin dữ liệu: xác định rõ những dữ liệu nào cần thu thập, thứ tự ưu tiên của các dữ liệu này
- Khả năng trình bày dữ liệu
- Khả năng mô hình hóa những thông tin TK qua công thức, bảng biểu và cácdạng biểu đồ TK để rút ra kết luận và phát hiện xu hướng phát triển của hiện tượngnghiên cứu
- Khả năng đọc hiểu dữ liệu TK, thông tin TK từ các mô hình TH biểu diễn thông tin TK như là công thức bảng biểu và các dạng biểu đồ TK
- Khả năng quan sát thông tin TK để rút ra các kết luận TK
- Khả năng phân tích, diễn giải dữ liệu và kết luận [14]
Ví dụ 1.1 (Khả năng đọc hiểu dữ liệu TK, phân tích, diễn giải số liệu và kết luận)
TK và dự báo cước cho thuê tàu container giai đoạn 2017 - 2020 của Bộ giao
thông vận tải cho kết quả như bảng dưới đây:
Bảng 1.1 Cước cho thuê tàu container các cỡ (không quá 10 tuổi và có thiết kế hiện
đại) giai đoạn 2017-2020
(Trích nguồn:
http://mt.gov.vn/vn/tin-tuc/59047/du-bao-thi-truong-van-tai-bien-the-gioi-giai-doan-2018 -2020.aspx)
Với việc đọc hiểu số liệu của bảng trên, SV có thể dùng các kiến thức của XSTK(kiến thức về XS, kỳ vọng, phương sai ) để tính tỉ lệ phần trăm tăng theo năm về cướccho thuê của các loại tàu container tính được mức cước cho thuê trung bình từng loại tàu.Đồng thời có thể đánh giá được xem loại tàu nào có mức cước tăng tích cực từ đó
Trang 34phân loại và có những kết luận dự báo tốt hơn Cụ thể, qua bảng trên với việc tính toánbằng XSTK có thể thấy phân khúc tàu từ 1.200 đến 2.000 TEU không có nhiều dấuhiệu tích cực, giá cước dao động từ 4.500–6.300 USD/ngày Thị trường thuê tàu trong
3 năm tới tiếp tục có xu hướng ổn định và tích cực hơn đối với cỡ tàu nhỏ (dưới 1.100TEU) và không thuận lợi đối với các gam tàu cỡ lớn do sự kém linh hoạt trong hoạtđộng khai thác, đặc biệt trên các tuyến ngắn và khó đạt được tỷ suất sử dụng cao
1.1.3.2 Năng lực nghề kĩ thuật hàng hải
Do khá khó khăn về các tài liệu nghiên cứu quốc tế khi tiếp cận trực tiếp tới NL
kĩ thuật hàng hải từ góc độ sự tương thích với tiềm năng hỗ trợ của XSTK nên mộthướng khác được lựa chọn là trước tiên sẽ tìm hiểu cấu trúc NL cần hình thành trongđào tạo bậc CĐ, ĐH đối với nhóm lao động ngành kĩ thuật nói chung
Một số nhóm NL cần được nhấn mạnh trong đào tạo kĩ thuật:
Cùng với những thành tố quan trọng khác trong một chương trình đào tạo thuộccác nhóm ngành Khoa học ứng dụng, Máy tính, Kĩ thuật, Công nghệ, NL mong đợicủa lao động được đào tạo được quy định trong các bộ chuẩn của ABET (AccreditationBoard for Engineering and Technology) là tổ chức chuyên về đánh giá kiểm định cácchương trình đào tạo nghề nghiệp – chủ yếu tại Mỹ (đã tới 32 quốc gia trong đó cóNga, Trung Quốc, Singapore và cả Việt Nam, chứng nhận cho 4005 chương trình đàotạo tại 793 trường ĐH)
Trong nghiên cứu mới nhất, Passowa H.J and Passow C.H [70] đã tổng hợp 27nghiên cứu có đề cập tới phân tích định lượng trên yêu cầu "xếp hạng theo thứ tự quantrọng các NL thành phần" – rút ra từ các chuẩn NL đầu ra của ABET – được thực hiệnbởi 14429 người tình nguyện tham gia, đều đã tốt nghiệp một nhóm ngành kĩ thuật Từdanh mục các NL thành phần quan trọng được trình bày chi tiết trong [66, bảng 1, tr.493-494-495], có thể rút ra:
- Nhóm Ứng dụng các nền tảng công nghệ đòi hỏi các NL: Thể hiện dữ liệu;
Vận dụng kiến thức; Thực hành; Đánh giá chính xác
- Nhóm Ứng biến trong phạm vi nhiệm vụ có các NL: Sáng tạo; Giải quyết vấn
đề; Thiết kế giải pháp; Ra quyết định
Một số yêu cầu đặc thù của lao động kĩ thuật hàng hải:
Trang 35Do tính chất đặc thù của ngành hàng hải, một bộ tiêu chuẩn, quy ước quốc tế dànhcho lao động kĩ thuật trong ngành là hết sức cần thiết nên Công ước quốc tế về Tiêu chuẩnđào tạo, Chứng thực và Kiểm soát đối với lao động hàng hải STCW (The InternationalConvention on Standard of Training, Certification and Watchkeeping for Seafarers) đãđược thông qua từ tháng 07/1978 bởi ICTCS (International Conference on Training andCertification of Seafarers – Hiệp hội đào tạo và chứng thực cho lao động hàng hải) vàđược luật hóa (entered into force) vào năm 1984 Công ước hiện hành đã được Hiệp hộiđiều chỉnh, bổ sung 3 lần vào các năm 1991, 1994 và 1995 (Phụ lục 11).
Năng lực nghề kĩ thuật hàng hải:
Như vậy, qua phân tích những yêu cầu đặc thù lao động kĩ thuật hàng hải củaSTCW, nhóm NL cần được nhấn mạnh trong đào tạo kĩ thuật của ABET và chuẩn đầu
ra của trường ĐHHHVN [3], thấy rằng XSTK có khả năng hỗ trợ tới NL nghề kĩ thuậthàng hải bao gồm 11 NL thuộc nhóm NL chung, nhóm NL liên quan đến cung ứng,nhóm NL liên quan đến quản lý, kiểm định (Phụ lục 12)
Ví dụ 1.2 (6) NL vận dụng TH, cụ thể là XSTK trong việc sử dụng, vận hành các thiết bị hàng hải trong Phụ lục 12
Thuyền trưởng chỉ đạo sỹ quan hàng hải dùng sextant tiến hành đo 20 lần độcao đến một thiên thể và nhận thấy rằng trong 20 lần đo có 9 lần sai số vượt quá giớihạn cho phép Tính xác suất để trong 7 lần đo độ cao thiên thể có 1, 2, 3, 4, 5 lần sai sốvượt quá giới hạn cho phép (Bài tập 15 -Phụ lục 4)
Trong TT hàng hải, việc sử dụng sextant để đo độ cao thiên thể dễ mắc sai số.Với trường hợp cụ thể của tình huống này, để đáp ứng yêu cầu của thuyền trưởngngười sỹ quan phải sử dụng công thức Bernoulli: Pn(k) = Cn k pk qn-k để tính xác suấttrong đó: n = 7; p = 0,45; q = 1-p = 0,55; k = 1, 2, 3, 4, 5
Nhận xét chung: Như vậy, người lao động của hai nhóm ngành kinh tế và kĩ
thuật hàng hải có một số NL chung có thể được tác động bởi XSTK như đối với nhóm
NL chung có NL phân tích dữ liệu TK (thu - nhận, xử lý thông tin); đối với nhóm NLcung ứng có NL tổ chức cơ giới hoá ở cảng; khai thác, điều khiển lưu thông cảng;quản lý chuỗi cung ứng (tổ chức quản lý và khai thác kho hàng; lựa chọn phương ánkhai thác có hiệu quả nhất); đối với nhóm NL quản lý như NL giải quyết vấn đề (NLquản lý, tổ chức đội ngũ trên tàu để khắc phục xử lý sự cố)
Trang 361.2 Hỗ trợ nghề nghiệp đối với người lao động ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải
Như đã trình bày ở trên, nghề nghiệp là khái niệm chung dành để chỉ những côngviệc sẽ gắn với bản thân của mỗi người trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quantrọng trong cuộc đời Kiến thức chuyên ngành mà trường ĐHHHVN cung cấp cho SVtrong quá trình học tập là yếu tố quyết định giúp SV có thể lập nghiệp trong tương lai Tuynhiên câu hỏi đặt ra là những kiến thức chuyên ngành đó đã đủ để cho SV có thể vượt quanhững khó khăn và thử thách trong một thế giới đang thay đổi từng ngày Và vấn đề ở đây
là SV trường ĐHHHVN nói chung và SV ngành KTKTHH nói riêng khi ra trường thiếurất nhiều các hoạt động HTNN, đây là trách nhiệm từ phía nhà trường
1.2.1 Quan niệm về hỗ trợ nghề nghiệp
Hỗ trợ theo từ điển tiếng Việt là giúp đỡ nhau, là giúp thêm vào [40]
HTNN trước hết phải định hướng nghề nghiệp cho SV Với một SV, địnhhướng nghề nghiệp trong tương lai giúp họ hiểu được nghề, đặc điểm của ngành nghềmình đang học, vị trí việc làm sau khi ra trường, từ đó đưa ra được những hoạt độngcho bản thân nhằm trau dồi kiến thức chuyên môn cũng như các kỹ năng bổ trợ đểmang lại thành công trong công việc mình lựa chọn sau này
Khi đã có định hướng rõ ràng, việc cần làm tiếp theo là thiết lập mục tiêu phùhợp, không nên đặt mục tiêu quá cao so với khả năng và điều kiện thực tế, cũng khôngnên đặt cùng một lúc nhiều mục tiêu trong khoảng thời gian hạn chế Trong quá trìnhgiảng dạy, GV là người giúp SV đặt ra mục tiêu phù hợp cho từng ngành nghề, từngmôn học cụ thể, đồng thời cũng cần cho SV thấy được việc thiết lập mục tiêu thườngkhó khăn hơn và đòi hỏi nhiều nỗ lực, kiên trì hơn
Và như vậy, HTNN trong nhà trường CĐ, ĐH được quan niệm là tạo các cơhội, các điều kiện để SV tiếp cận và thực hiện (làm việc) với nghề nghiệp tương lai của
họ thông qua việc tiếp nhận, rèn luyện kiến thức, kỹ năng môn học, qua các hoạt độngrèn nghề, thực tập nghề …
1.2.2 Quan niệm về hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải
HTNN cho SV ngành KTKTHH với mục đích giúp SV có sự chuẩn bị tốt về kiếnthức, kỹ năng và thái độ nghề hàng hải ngay trong trường ĐH, để sau khi ra trường những
kĩ sư KTKTHH tương lai có NL làm việc tốt đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp
Trang 37Cụ thể, quá trình hỗ trợ này thực hiện ba mục đích sau: Một là, cung cấp cho SV nền
kiến thức khoa học của chuyên ngành hàng hải, đồng thời làm cho SV thấy được
những kiến thức đó được dùng trong nghề hàng hải như thế nào, vào việc gì Hai là,
giúp cho SV tiếp cận được với các tình huống nghề hàng hải trong đó sử dụng các kiến
thức khoa học chuyên ngành đã được cung cấp Ba là, nâng cao khả năng giải quyết
các tình huống nghề nghiệp thực tế, giả thực tế cho SV bằng cách đưa họ tham gia vàotình huống, hỗ trợ để họ thực sự giải quyết các tình huống này
Như vậy, có thể quan niệm rằng: HTNN cho SV ngành KTKTHH là hỗ trợ họtrong quá trình đào tạo nghề hàng hải, có thể hiểu là trong toàn bộ hoạt động giảng dạycủa nhà trường đều hướng tới việc giúp cho SV tiếp cận, làm quen và thậm trí hànhnghề hàng hải khi còn đang học tập tại trường
1.2.3 Mối quan hệ giữa hỗ trợ nghề nghiệp và phát triển năng lực nghề nghiệp
Vì NL hình thành và phát triển qua hoạt động, đó là một trong những nguyêntắc chung, nói đến một NL nào đó thì có một hoạt động nghề nghiệp tương ứng, nhưvậy NLNN chỉ được hình thành và phát triển khi con người tham gia hoạt động nghềnghiệp Do đó, khi nói đến việc hình thành và phát triển NLNN cho SV khi đang học ởtrường thực chất là các hoạt động có tính chuẩn bị để HTNN cho SV, có nghĩa là cóthể tạo các cơ hội, các thuận lợi để góp phần dần hình thành và phát triển những yếu tốcủa NLNN trong luận án gọi là HTNN
Theo quan niệm và mục đích của HTNN được trình bày như trên thì HTNN vàphát triển NLNN có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau bởi phát triển NLNN làphát triển ba thành tố: tri thức nghề, kĩ năng nghề và thái độ với nghề cho người học,
đó cũng là ba yếu tố mà HTNN có thể tác động trực tiếp và mạnh mẽ trong quá trìnhđào tạo nghề cho SV Cụ thể là:
- HTNN trước tiên là hỗ trợ tri thức về nghề, HTNN trong nhà trường sẽ cungcấp cho SV nền kiến thức khoa học của chuyên ngành thông qua các môn học, SV sẽnhận biết được những kiến thức đó thuộc lĩnh vực nào của nghề, được sử dụng ra saotrong nghề
- Tiếp theo, HTNN giúp SV bước đầu hình thành và phát triển KNNN, tức là giúpcho SV hình thành, phát triển khả năng của mình để thực hiện công việc nghề nghiệp mộtcách có hiệu quả trong một thời gian thích hợp, với các điều kiện nhất định thông
Trang 38qua việc tiếp cận với các tình huống nghề Hơn thế nữa, HTNN còn hỗ trợ cho SV trựctiếp tham gia giải quyết các tình huống đó (tình huống TT hoặc giả TT nghề) bằngcách sử dụng các kiến thức khoa học chuyên ngành đã được cung cấp.
- Cuối cùng, qua việc hỗ trợ trang bị tri thức nghề, tiếp cận và tham gia giảiquyết một số các tình huống nghề mà HTNN sẽ hình thành cho SV thái độ tích cực vớinghề nghiệp tương lai của mình Khi được hiểu hơn về nghề nghiệp sau này trong quátrình học tập, SV sẽ có cơ hội, có đủ kiến thức để đánh giá tốt hơn về lựa chọn củamình từ đó SV có thể kịp thời tự điều chỉnh nhận thức, tư duy để hình thành động cơhọc tập đúng đắn và hiệu quả hơn
Ví dụ 1.3 NL lập và trình bày báo cáo là một trong những NL quan trọng hàng
đầu của người kĩ sư, cử nhân nói chung và kĩ sư, cử nhân hàng hải nói riêng Để hỗ trợcho việc hình thành và phát triển NL này trong nhà trường đối với XSTK là hoàn toànkhả thi Bởi vì, NL này có các biểu hiện khi rèn luyện là: Khả năng TK dữ liệu; Khảnăng phân tích và xử lí thông tin dữ liệu; Khả năng mô tả số liệu bằng bảng biểu, biểuđồ; Khả năng trình bày số liệu theo chuẩn mẫu báo cáo quy định, nên khi DH HTNNngoài các kiến thức về XSTK thì SV sẽ được trang bị thêm các tri thức về các loại báocáo nghề hàng hải mà SV có thể tiếp cận, thực hành như: báo cáo sau mỗi chuyến đibiển, báo cáo về luồng lạch an toàn khi dẫn tàu, báo cáo thuỷ văn, địa văn khu vực, báocáo bốc xếp tại cảng, báo cáo về dịch vụ vận tải biển, Với các mức độ có thể tácđộng của XSTK là:
Mức độ 1: Có hiểu biết ban đầu về cách báo cáo của một công ty, từ đó chú trọng đến các kiến thức TK, tư duy TK cần thiết để phục vụ cho việc làm báo cáo.
Mức độ 2: Cho bảng báo cáo và yêu cầu SV cho một số số liệu giả định để hoàn
thiện
Qua các ví dụ, bài tập trong quá trình DH, SV được trang bị tri thức và dần hìnhthành kĩ năng đọc hiểu, trình bày một số loại báo cáo liên quan đến nghề hàng hải củamình, xác định được người kĩ sư, cử nhân hàng hải cần thiết phải làm gì trong các báocáo, và xác định được kiến thức XSTK liên quan, phục vụ cho báo cáo: kiến thức về
TK số liệu, dữ liệu; phân tích và xử lí thông tin dữ liệu; mô tả số liệu bằng bảng biểu
Từ đó SV sẽ thấy tự tin, hứng thú với nghề nghiệp tương lai của mình để có thái độ vàđộng cơ học tập tích cực hơn
Trang 391.3 Dạy học Xác suất - Thống kê trong trường đại học nói chung và Đại học Hàng hải Việt Nam nói riêng
1.3.1 Đặc điểm, ý nghĩa của Xác suất - Thống kê
Thống kê học có nguồn gốc phát triển từ thời cổ đại Qua quá trình hình thành
và phát triển từ giản đơn đến phức tạp, mà có được khoa học TK ngày càng hoàn thiện:
“TK học chính là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý vàphân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất vàtính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện, địa điểm và thời gian
cụ thể” [41] hay “TK học là khoa học, kĩ thuật hay nghệ thuật của việc rút thông tin từ
dữ liệu quan sát nhằm giải quyết các bài toán từ thực tế cuộc sống” [44] TK học làmôn khoa học có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng Đối tượng nghiên cứucủa TK là mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng kinh tế,
xã hội, tự nhiên với đặc trưng số lớn trong thời gian và không gian cụ thể Có quanniệm cho rằng TK học là một ngành khoa học xã hội
Lý thuyết XS xuất hiện từ thế kỷ XVII, các giai đoạn chủ yếu của quá trình hìnhthành và phát triển của lý thuyết XS bắt nguồn từ sự việc hai nhà TH Pháp là BlaisePascal (1623 – 1662) và Pierre de Fermat (1601 – 1665) trao đổi thư từ để bàn vớinhau về một số bài toán liên quan đến trò chơi may rủi đến sự ra đời của cuốn sách
“Nền tảng của lý thuyết XS" (1933) của Kolmogorov A.H đã đưa lý thuyết XS trởthành bộ môn TH với cơ sở lý thuyết TH chặt chẽ, với nhiều ứng dụng trong các lĩnhvực hoạt động khác nhau của con người [58]
TK TH với cơ sở TH là lý thuyết XS có mục đích là phát hiện cái ổn định trongcái bất định, cái tất yếu trong cái ngẫu nhiên bằng phương pháp TH [11] “TK TH làmột ngành của TH ứng dụng, sử dụng các phương pháp của Lý thuyết XS để xử lý cáckết quả thực nghiệm Việc nghiên cứu một bài toán TK có thể chia thành các bước nhưsau: Thu thập dữ liệu dựa trên các kết quả thực nghiệm, phân loại dữ liệu, chế biến vàphân tích dữ liệu nhằm gắn chúng vào các mô hình XS, dự báo” [26]
Ngày nay, Lý thuyết XS và TK toán (hay còn gọi tắt là Xác suất - Thống kê) là mộtngành khoa học có vị trí quan trọng và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạtđộng của con người như kinh tế, y tế, kĩ thuật, khoa học dự báo, công nghệ thông tin XSTK đã được đưa vào DH và trở thành giáo trình cơ sở của nhiều ngành học
Trang 40trong các trường ĐH Một trong những người đầu tiên có ý định đưa XSTK vào nhàtrường là Thomas Varga người Hungari với một báo cáo tại Đại hội TH thế giới lầnthứ XI ở Paris về việc đưa XSTK vào trong nhà trường, trong đó ông dự kiến đưa từbậc Tiểu học không chỉ TK mà cả XS với nội dung học sinh có thể chấp nhận được.
1.3.2 Ý nghĩa, vai trò của dạy học Xác suất - Thống kê trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực bậc ở đại học
Trong các môn Toán ở trường ĐH, XSTK là môn học có nhiều ứng dụng rộng rãitrong các ngành khoa học, kĩ thuật như: Kinh tế, Quản trị, Điện, Tin học, Công trình, Yhọc, … XSTK là một bộ phận của TH, nghiên cứu các hiện tượng ngẫu nhiên – là các hiệntượng mà ta không thể nói trước là nó xảy ra hay không khi thực hiện một lần quan sát.Nghiên cứu XSTK nhằm tìm ra tính quy luật trong những hiện tượng TT mà “tưởngchừng” như không có quy luật XS và TK kể cả lý thuyết XS cổ điển cũng như hiện đạiđược cho là một môn học khó Hơn nữa, nội dung của môn học này phong phú, có tínhliên môn, có tính ứng dụng cao Do đó, để đạt được hiệu quả cho quá trình dạy học mônXSTK, người GV cần phải có PPDH thích hợp với đặc trưng riêng của môn học
Vì vậy, DH XSTK để môn học này thể hiện được vai trò quan trọng của mìnhtrong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở bậc ĐH đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp luôn làmột chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Liên quan đến chủ đề này, quanhững tư liệu tìm hiểu được, ta có thể thấy có ba xu hướng nghiên cứu gắn với ba mụcđích, ý nghĩa của môn học XSTK đối với người học là:
- Giúp người học nhìn thấy quan hệ gắn bó mật thiết giữa XS và TK
- Giúp người học hiểu được ý nghĩa của các khái niệm cơ bản, các nguyên lý ứng dụng cũng như ý nghĩa TT của XSTK
- Giúp người học phát triển trực giác XS và tư duy TK
Ba xu hướng nghiên cứu này là không tách rời nhau Ta có thể thấy được mốiliên quan giữa XS với TK được xây dựng trên cơ sở trả lời những câu hỏi như: XSTKtồn tại để giải quyết vấn đề gì? Có quan hệ ra sao với các tri thức khác? Và chính mốiquan hệ giữa XS với TK lại là nền tảng để hình thành tư duy TK, theo đó người họcphải biết phương pháp phân tích dữ liệu, ý thức được sự rủi ro hay độ tin cậy củanhững kết luận rút ra từ mẫu, từ đó thấy được vai trò của việc chọn mẫu để đưa ranhững kết luận, quyết định chính xác khi hoạt động nghề nghiệp