Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả lâm sàng và tính an toàn của secukinumab trong điều trị vảy nến thông thường mức độ vừa đến nặng. Secukinumab cho hiệu quả nhanh, ổn định và an toàn trong điều trị vảy nến mức độ vừa đến nặng trên bệnh nhân Việt Nam.
Trang 1TÁC DỤNG LÂM SÀNG CỦA SECUKINUMAB TRONG ĐIỀU TRỊ VẢY NẾN THÔNG THƯỜNG
Trần Nguyên Ánh Tú*, Nguyễn Trọng Hào*, Đặng Văn Em**
TĨM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả lâm sàng và tính an tồn của secukinumab trong điều trị vảy nến
thơng thường mức độ vừa đến nặng
Đối tượng và phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng mở trên 30 bệnh nhân vảy nến thơng thường
mức độ vừa đến nặng được điều trị bằng secukinumab 300mg Đánh giá tác dụng thơng qua chỉ số PASI, IGA 2011 và biến cố bất lợi ở các tuần 0, 1, 2, 3, 4, 8, 12, 16, 20, 24
Kết quả: Thương tổn vảy nến cải thiện nhanh, chỉ sau 4 tuần điều trị đã cĩ 40% bệnh nhân đạt
PASI-75 và 13,3% bệnh nhân đạt PASI-90 Tại tuần thứ 12, 63,3% bệnh nhân đạt PASI-90 và 26,7% bệnh nhân đạt PASI-100 Hiệu quả điều trị cao nhất ở tuần 16 và vẫn duy trì hiệu quả đến tuần 24 Biến cố bất lợi bao gồm nhiễm trùng hầu họng (6,7%) và viêm âm đạo do Candida (3,3%)
Kết luận: Secukinumab cho hiệu quả nhanh, ổn định và an tồn trong điều trị vảy nến mức độ vừa
đến nặng trên bệnh nhân Việt Nam
Từ khĩa: vảy nến, secukinumab.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Vảy nến là một bệnh viêm mạn tính qua
trung gian miễn dịch chiếm khoảng 2 - 3% dân
số chung và ước tính hiện cĩ khoảng 125 triệu
người mắc bệnh trên thế giới Bệnh biểu hiện ở
da, mĩng, khớp và tác động xấu đến chất lượng
cuộc sống người bệnh nhưng hiện vẫn chưa cĩ
phương pháp điều trị đặc hiệu [1] Nhiều bằng
chứng từ các nghiên cứu lớn về lâm sàng, dịch
tễ học cho thấy người bệnh vảy nến cĩ nguy cơ
mắc một số bệnh lý khác như tim mạch, tiêu hĩa, viêm khớp, hội chứng chuyển hĩa, trầm cảm, lo âu dẫn đến gánh nặng bệnh tật và chi phí điều trị khơng chỉ cho bản thân người bệnh mà cả gia đình và xã hội [2],[3]
Gần đây, các dữ liệu về phân tử, hĩa mơ miễn dịch và lâm sàng cho thấy interleukin 17A (IL-17A)
là cytokine quan trọng và cĩ vị trí trung tâm điều khiển quá trình viêm trong sinh bệnh học vảy nến
và do đĩ IL-17A hiện được xem là một mục tiêu điều trị “nhắm trúng đích” [4] Tại Việt Nam, đã cĩ một số nghiên cứu cho thấy nồng độ IL-17A trên bệnh nhân vảy nến cao hơn cĩ ý nghĩa thống kê
so với người khỏe mạnh và cĩ liên quan với độ nặng của bệnh vảy nến [5]
Phản biện khoa học: PGS.TS Lê Hữu Doanh
*Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh
**Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108
Trang 2Tháng 1/2015, Cơ quan quản lý thuốc và thực
phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công nhận thuốc sinh
học Secukinumab (Novartis Pharma AG, Basel,
Switzeland) trong điều trị vảy nến thông thường
mức độ trung bình đến nặng Secukinumab
(AIN457) là một kháng thể đơn dòng IgG1 hoàn
toàn từ người, gắn chọn lọc và trung hòa IL-17A
[6] Tháng 6/2016, Bộ Y tế Việt Nam đã cho phép
sử dụng Secukinumab trong điều trị vảy nến
thông thường trung bình đến nặng Như vậy, đây
là một trong những loại thuốc điều trị vảy nến
mới nhất trên thế giới và Việt Nam Chính vì vậy,
cần có thêm nhiều dữ liệu về hiệu quả và tính an
toàn của Secukinumab trong điều trị vảy nến,
nhất là trên người bệnh Việt Nam
Theo hiểu biết của chúng tôi, tại Việt Nam,
hiện chưa có báo cáo nghiên cứu đánh giá tác
dụng của Secukinumab trên lâm sàng ở bệnh
nhân vảy nến thông thường Vì vậy chúng tôi tiến
hành đề tài “Tác dụng lâm sàng của Secukinumab
trong điều trị vảy nến thông thường” với những
mục tiêu sau:
- Đánh giá hiệu quả điều trị của Secukinumab
trên bệnh vảy nến thông thường vừa đến nặng
- Đánh giá tác dụng phụ của Secukinumab
trên bệnh nhân vảy nến thông thường vừa đến
nặng
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân vảy nến thông thường đến
khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí
Minh từ tháng 9/2017 đến tháng 9/2018
2.1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh vảy nến thông thường chủ
yếu dựa vào lâm sàng, cụ thể thương tổn là mảng hồng ban không thâm nhiễm, tróc vảy, có ≥ 1 trong các tính chất gợi ý sau đây:
- Phân bố đối xứng
- Ở mặt duỗi chi
- Dấu hiệu Auspitz
- Thương tổn giới hạn rõ
- Vảy trắng bạc
Những trường hợp không điển hình, chúng tôi tiến hành sinh thiết làm giải phẫu bệnh lý để chẩn đoán [7],[8]
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân đến khám hay nhập viện tại Bệnh viện Da liễu TP Hồ Chí Minh được chẩn đoán vảy nến thông thường mức độ vừa đến nặng (PASI ≥ 10)
- Tuổi ≥ 18
- Chưa từng được điều trị với Secukinumab
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Có thai hoặc đang cho con bú
- Bệnh nội, ngoại khoa đang điều trị
- Nhiễm trùng cấp
- Có chống chỉ định sử dụng Secukinumab: phản ứng quá mẫn nặng với hoạt chất hoặc bất
cứ thành phần nào của các tá dược
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Tên thuốc: Secukinumab (Novartis Pharma
AG, Basel, Thụy sĩ)
- Dạng bào chế: bột pha dung dịch tiêm dưới
da Bột dạng đông khô, màu trắng, rắn
- Hoạt chất: mỗi lọ đựng bột pha tiêm chứa 150mg secukinumab Sau khi pha, 1ml dung dịch
có chứa 150mg secukinumab
Trang 32.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
Thử nghiệm lâm sàng mở gồm 30 bệnh nhân
vảy nến thông thường mức độ vừa đến nặng
2.3.2 Các bước tiến hành nghiên cứu
- Khám sàng lọc để xác định bệnh
- Bệnh nhân ký tên vào bản đồng thuận tham
gia nghiên cứu
- Bệnh nhân được làm bệnh án theo mẫu
chung, hỏi bệnh sử, khám lâm sàng, xét nghiệm
- Diện tích vùng da bệnh (BSA) được phân độ
như sau:
+ Mức độ nhẹ: BSA < 10%
+ Mức độ vừa: 10% ≤ BSA ≤ 30%
+ Mức độ nặng: BSA > 30%
- Chỉ số độ nặng vảy nến (PASI) được phân độ
như sau:
+ Mức độ nhẹ: PASI < 10
+ Mức độ vừa: 10 ≤ PASI < 20
+ Mức độ nặng: PASI ≥ 20
Tính mức độ cải thiện chỉ số PASI (%) = (PASI trước điều trị - PASI sau điều trị) x 100%/PASI trước điều trị
- Chỉ số IGA 2011 được phân độ như sau: + Sạch thương tổn: 0
+ Gần sạch thương tổn: 1
+ Trung bình: 3
- Xét nghiệm cận lâm sàng:
+ Công thức máu, đường huyết, BUN, Creatinin, AST, ALT tại khoa Xét nghiệm Bệnh viện
Da liễu TP Hồ Chí Minh
+ Xét nghiệm tầm soát lao trước khi sử dụng Secukinumab tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
2.3.3 Điều trị và theo dõi điều trị
- 30 bệnh nhân vảy nến thông thường vừa đến nặng sau khi đủ tiêu chuẩn nhận vào sẽ được tiến hành điều trị với Secukinumab liều 300mg tiêm dưới da ở các tuần 0, 1, 2, 3, 4, 8, 12, 16, 20
Bảng 1: Các chỉ số theo dõi điều trị
0
Tuần 1
Tuần 2
Tuần 3
Tuần 4
Tuần 8
Tuần 12
Tuần 16
Tuần 20
Tuần 24
Tiêm Secukinumab X X X X X X X X X
Đánh giá tác dụng
phụ của thuốc
Đường huyết, AST,
ALT, BUN, Creatinin
Trang 4- Tái khám ở các tuần 1, 2, 3, 4, 8, 12, 16, 20, 24.
- Tổng thời gian điều trị và theo dõi điều trị:
24 tuần
- Đánh giá kết quả: bằng chỉ số BSA, PASI, IGA
2011
- Theo dõi tác dụng phụ thông qua các triệu
chứng lâm sàng và biến đổi sinh hóa, huyết học
2.4 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần
mềm EpiInfo version 3.5.1 Các trị số được thể
hiện bằng trung bình ± độ lệch chuẩn (TB ± ĐLC)
hay tần số, tỷ lệ phần trăm để mô tả các biến số
định tính Kiểm định: dùng test t để so sánh 2 trị
số trung bình, test Chi2 để so sánh 2 tỷ lệ, p < 0,05
được xem như có ý nghĩa thống kê
2.5 Vấn đề y đức
Kết quả nghiên cứu này giúp cho việc xử trí
bệnh vảy nến một cách toàn diện hơn Các đối
tượng nghiên cứu được thông báo, giải thích và
đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu Các xét
nghiệm trong nghiên cứu được tiến hành miễn
phí Tất cả các thông tin cá nhân và bệnh tật đều
được giữ bí mật thông qua việc mã hóa trên máy
vi tính để đảm bảo quyền lợi riêng tư của người
tham gia nghiên cứu
3 KẾT QUẢ
3.1 Một số đặc điểm lâm sàng của nhóm
nghiên cứu
3.1.1 Tuổi
Bảng 2: Phân bố theo nhóm tuổi Nhóm tuổi n = 30 Tỷ lệ (%)
TB ± ĐLC 50,33 ± 10,69
Nhận xét: Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 51 -
60 tuổi (30%), kế đến 41 - 50 (26,7%) và 31 - 40 (20%)
3.1.2 Giới tính
Bảng 3: Phân bố theo giới tính Giới tính n = 30 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ nam/nữ tương đương nhau 3.1.3 Tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh
Tuổi khởi phát bệnh: từ 5 đến 60, trung bình 34,2 ± 15,7
Bảng 4: Phân bố theo thời gian bệnh Thời gian bệnh
(năm) n = 30 Tỷ lệ (%)
TB ± ĐLC 19,4 ± 12,4
Nhận xét: Thời gian bệnh > 10 năm chiếm tỷ lệ
cao nhất (50%), kế đến là từ 6 - 10 năm (26,7%) và
2 - 5 năm (13,3%)
Trang 53.1.4 Điều trị trước đây
Bảng 5: Phân bố theo điều trị trước đây
Đã điều trị thuốc sinh học trước đây 1 3,3 Chưa điều trị thuốc sinh học 29 96,7
Nhận xét: Đa số các bệnh nhân chưa điều trị thuốc sinh học.
3.2 Đánh giá kết quả điều trị
3.2.1 Kết quả chỉ số PASI theo thời gian điều trị
Tỷ lệ đạt PASI-75
%
(tuần) Biểu đồ 1: Tỷ lệ đạt PASI-75
Nhận xét: Tại tuần 4 có 40% bệnh nhân đạt PASI-75, cao nhất là tại tuần 16 có 86,7% bệnh nhân đạt
PASI-75
Tỷ lệ đạt PASI-90
%
(tuần) Biểu đồ 2: Tỷ lệ đạt PASI-90
Nhận xét: Tại tuần 4 có 13,3% bệnh nhân đạt PASI-90, cao nhất là tại tuần 16 có 70% bệnh nhân đạt
PASI-90
Trang 6Tỷ lệ đạt PASI-100
%
(tuần) Biểu đồ 3: Tỷ lệ đạt PASI-100
Nhận xét: Tại tuần 4 có 6,7% bệnh nhân đạt PASI-100, cao nhất là tại tuần 16 có 43,3% bệnh nhân
đạt PASI-90
3.2.2 Kết quả theo chỉ số IGA 2011
Tỷ lệ đạt IGA 2011 mức 0/1
%
(tuần) Biểu đồ 4: Tỷ lệ đạt IGA 2011 mức 0/1 Nhận xét: 70% bệnh nhân đạt chỉ số IGA 0/10 tuần.
3.3 Đánh giá tác dụng phụ
Bảng 6: Tác dụng phụ
Nhiễm trùng hầu họng 2 6,7
Nấm Candida sinh dục 1 3,3
Nhận xét: Tỷ lệ tác dụng phụ thấp < 10%.
4 BÀN LUẬN
Secukinumab là tác nhân sinh học ức chế
IL-17A, có hiệu quả nhanh, làm sạch thương tổn da
ở bệnh nhân vảy nến trung bình nặng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tại tuần thứ 4
có 40% (12/30) bệnh nhân đạt PASI-75 và 13,3% (4/30) bệnh nhân đạt PASI-90 Đặc biệt có 6,7% (2/30) bệnh nhân đạt được PASI-100 chỉ sau 4 tuần điều trị với secukinumab
Sự cải thiện về mặt lâm sàng vẫn tiếp tục tăng ở các tuần sau đó Tại tuần thứ 12 có 83,3% (25/30) bệnh nhân đạt PASI-75, 63,3% (4/30) bệnh nhân đạt 90 và 26,7% bệnh nhân đạt
Trang 7PASI-100 Đồng thời có 70% bệnh nhân đạt chỉ số IGA
0/1 ở tuần thứ 12
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương
đồng với hai nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng
lớn là FIXTURE và ERASURE [9] Đồng thời khi
so sánh với nghiên cứu được tiến hành trên đối
tượng bệnh nhân châu Á của tác giả Mamitaro
Ohtsuki [10] tại Nhật Bản cũng cho kết quả tương
tự Ở tuần thứ 4 có 31% bệnh nhân đạt PASI-75
Ở tuần thứ 12 có 82,8% bệnh nhân đạt PASI-75,
62,1% bệnh nhân đạt PASI-90, 27,6% bệnh nhân
đạt PASI-100
Một số nghiên cứu cuả các tác giả khác
cũng có kết quả tương đồng ở tuần thứ 12 như
Georgakopoulos (Canada) [11], Magnano (Ý) [12],
Schwensen (Đan Mạch) [13] Cả ba nghiên cứu
này đều theo dõi điều trị trong 12 tuần, đây chính
là khoảng thời gian phù hợp để đánh giá hiệu
quả điều trị của Secukinumab vì trải qua cả hai
giai đoạn tấn công và duy trì nên thường được áp
dụng trong các nghiên cứu đánh giá hiệu qủa của
Secukinumab Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy hiệu quả điều trị đạt được cao
nhất là vào tuần thứ 16 có 86,7% bệnh nhân đạt
PASI-75, 70% bệnh nhân đạt PASI-90, 43,3% bệnh
nhân đạt PASI-100 và sau đó hiệu quả này được
giữ ổn định cho đến tuần thứ 24 Tương tự trong
hai nghiên cứu ERASURE và FIXTURE [9] hiệu quả
cải thiện lâm sàng của secukinumab cao nhất là
ở tuần thứ 16 và được duy trì ổn định đến tuần
thứ 52
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu ERASURE [9]
cho thấy khi điều trị với Secukinumab liều chuẩn
300mg sẽ giúp cải thiện nhanh hơn về mặt lâm
sàng và duy trì được hiệu quả điều trị cao hơn so
với nhóm điều trị secukinumab liều 150mg Tương
tự trong nghiên cứu kéo dài 52 tuần tại Nhật Bản [10] cũng cho thấy Secukinumab liều 300mg có lợi ích trong điều trị hơn so với Secukinumab liều 150mg, đặc biệt trong duy trì hiệu quả điều trị Mặt khác, một nghiên cứu được tiến hành tại
Ý [15] chia bệnh nhân làm hai nhóm Một nhóm theo phác đồ chuẩn Secukinumab 300mg tiêm vào tuần 0, 1, 2, 3, 4 và sau đó mỗi 4 tuần, một nhóm bắt đầu tiêm mỗi 4 tuần, không trải qua liều tải Kết quả cho thấy, những bệnh nhân điều trị với phác đồ chuẩn có sự cải thiện thương tổn lâm sàng nhanh hơn
Như vậy, Secukinumab sẽ đạt hiệu quả điều trị tối ưu và duy trì được lâu dài kết quả điều trị khi dùng phác đồ điều trị chuẩn với liều mỗi lần tiêm là 300mg
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi vẫn có hai trường hợp bệnh nhân đáp ứng kém với Secukinumab, các thương tổn vảy nến tồn tại dai dẳng ở hai cẳng chân suốt thời gian điều trị Một điều thú vị là cả hai bệnh nhân này đều có tình trạng béo phì (BMI > 30), rối loạn lipid máu và hút thuốc lá, trong đó có một bệnh nhân đã từng điều trị thất bại với Ustekinumab Mặc dù liều
sử dụng của Secukinumab không tính theo cân nặng, nhưng một số nghiên cứu quan sát thấy hiệu quả điều trị giảm trên đối tượng thừa cân và
có hội chứng rối loạn chuyển hóa Một số nghiên cứu khác ghi nhận những bệnh nhân đã từng điều trị thuốc sinh học trước đó đáp ứng kém hơn những bệnh nhân chưa từng điều trị thuốc sinh học [12], [14]
Các dữ liệu nghiên cứu lâm sàng còn cho thấy Secukinumab được ghi nhận an toàn cho những bệnh nhân vảy nến nhiễm viêm gan siêu
vi B [9] Có 3 trường hợp xét nghiệm AntiHBc (+), HBsAg (-), AntiHBs (-) trong nghiên cứu của chúng
Trang 8tôi và không ghi nhận có sự tái hoạt viêm gan siêu
vi B trong suốt 24 tuần điều trị với Secukinumab
Theo y văn, IL-17A có vai trò chống lại các vi
trùng ngoại bào, kí sinh trùng, vi nấm Chính vì
vậy về mặt lý thuyết IL-17A không gây tái hoạt
virus viêm gan B, an toàn trong điều trị cho nhóm
đối tượng này Các tác dụng phụ thường gặp
nhất của Secukinumab là nhiễm trùng hầu họng
và nấm Candida
Trong nghiên cứu theo dõi 24 tuần của chúng
tôi, có hai bệnh nhân nhiễm trùng hầu họng kéo
dài > 7 ngày xảy ra vào tuần thứ 12 và một bệnh
nhân nhiễm nấm Candida sinh dục vào tuần thứ
16 Cả hai trường hợp đều được điều trị tốt với
thuốc kháng sinh và kháng nấm, không cần phải
ngưng Secukinumab So sánh với nghiên cứu tiến
hành tại Nhật Bản, tỷ lệ nhiễm nấm tương đồng
(3,3% so với 5,8%), nhiễm trùng hầu họng thấp
hơn (6,7% so với 26,8%) [10] Sự khác biệt này có
thể do số mẫu tham gia nghiên cứu lớn hơn và
thời gian theo dõi điều trị kéo dài hơn nghiên cứu
của chúng tôi
5 KẾT LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả khá
tương đồng với các nghiên cứu chính yếu của
Secukinumab trên thế giới về tính hiệu quả và độ
an toàn Đây là những dữ liệu lâm sàng bước đầu
của Secukinumab trên bệnh nhân vảy nến Việt
Nam, giúp tạo tiền đề cho các nghiên cứu khác
trong tương lai với cỡ mẫu lớn hơn, theo dõi điều
trị trong thời gian dài hơn, và không chỉ đánh giá
lâm sàng mà còn khảo sát sự thay đổi một số chỉ
số sinh học trong quá trình điều trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nestlé FO, Kaplan DH, Barker J (2009). Psoriasis. N Engl J Med; 361:496-509
2 Grozdev I, Korman N, Tsankov N (2014) Psoriasis as a systemic disease Clinics in Dermatology; 32:343-350
3 Nguyễn Trọng Hào, Nguyễn Vũ Hoàng Yếu
tố nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân vảy nến Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, tập 13 - số 4/2018, tr.29-34
4 Mahil SK et al (2016) Update on psoriasis immunopathogenesis and targeted immunotherapy Semin Immunopathol 38:11-27
5 Trần Nguyên Ánh Tú, Nguyễn Trọng Hào, Đặng Văn Em (2018) Nồng độ IL-17A và hs-CRP trên bệnh nhân vảy nến thông thường Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, tập 13 – Số đặc biệt 9/2018, tr88-91
6 https://www.fda.gov/newsevents/
newsroom/pressannouncements/ucm430969.htm
7 Phạm Văn Hiển 2009 Bệnh vảy nến Da liễu học Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr
57 - 62
8 Gudjonsson JE, Elder JT (2012) Psoriasis In Fitzpatrick’s Dermatology in General Medicine, 8th edition, Mc Graw Hill, pp: 197-231
9 Richard GL et al (2014) Secukinumab in Plaque Psoriasis - Result of Two Phase 3 Trials New England Journal of Medicine; 371:326-338
10 Mamitaro Ohtsuki (2014) Secukinumab efficacy and safety in Japanese patients with moderate-to-severe plaque psoriasis: Subanalysis from ERASURE, a randomized, placebo-controlled, phase 3 study Journal of Dermatology; 41:1-8
Trang 911 Georgakopoulos JR (2018) Efficacy and
safety of secukinumab in treating moderate
to severe plaque psoriasis in two real-world
Canadian dermatology clinics: a multicenter
retrospective study Journal Eur Acad Dermatol
Venereol; 32:e32 - e34
12 Magnano M (2018) Secukinumab in
multi-failure psoriatic patients: the last hope? J
Dermatology Treat; 1:3
13 Schwensen JF (2017) Effectiveness and
safety of secukinumab in 69 patients with moderate
to severe plaque psoriasis: a retrospective
multicenter study Dermatol Ther. 2017 Nov;30(6) doi: 10.1111/dth.12550
14 Marco Galluzzo et al (2018) Secukinumab
in moderate-to-severe plaque psoriasis: a multi-center, retrospective, real-life study up to 52 weeks observation Expert Opinion On Biological Therapy;18(7):727-735
15 Gisondi et al (2018) Efficacy of secukinumab without the initial weekly loading dose in patients with chronic plaque psoriasis Br
J Dermatol. 2019 Apr 20 doi: 10.1111/bjd.18015
SUMMARY
THE CLINICAL EFFICACY AND SAFETY OF SECUKINUMAB IN THE TREATMENT
OF PSORIASIS VULGARIS Objective: To evaluate the clinical efficacy and safety of Secukinumab in the treatment of
moderate-to-severe psoriasis vulgaris
Subjects and method: An open label study in 30 moderate-to-severe psoriasis patients treated
with Secukinumab 300 mg PASI, IGA 2011, and adverse events were assessed at baseline, week 1, 2, 3,
4, 8, 12, 16, 20, 24
Results: A rapid improvement of skin lesions was observed just after 4 weeks in which 40% and
13.3% of patients achieved PASI-75 and PASI-90, respectively At week 12, 63.3% and 26.7% of patients achieved PASI-90 and PASI-100, respectively The maximum efficacy was observed around week 16 Clinical responses were sustained up to week 24 The adverse events included oropharyngeal infection (6.7%) and vaginal candidiasis (3.3%)
Conclusion: Secukinumab showed robust, sustainable efficacy and safety for moderate-to-severe
psoriasis vulgaris in the Vietnamese patients
Key words: psoriasis, secukinumab.