Định lượng nồng độ kháng thể kháng PGL-I trên 202 mẫu huyết thanh được lấy vào các thời điểm trước, trong và sau khi hoàn thành MDT của 56 bệnh nhân phong, bằng kỹ thuật ELISA; đồng thời theo dõi thời điểm xảy ra phản ứng phong của những bệnh nhân nói trên trong quá trình điều trị MDT liệu trình 12 tháng.
Trang 11 / 1 1 7 ( 1 3 (12/, / 2/,3, ,
Nguyễn Phúc Như Hà*1, Trần Lê Minh Đức1, Trần Duy Thạch1, Nguyễn Thị Thời Loạn1, Nguyễn Thanh Tân1, Trần Xuân Việt1,Yuji Miyamoto2, Masanori Kai2, Vũ Tuấn Anh1
TÓM TẮT
Định lượng nồng độ kháng thể kháng PGL-I trên 202 mẫu huyết thanh được lấy vào các thời điểm trước, trong và sau khi hoàn thành MDT của 56 bệnh nhân phong, bằng kỹ thuật ELISA; đồng thời theo dõi thời điểm xảy ra phản ứng phong của những bệnh nhân nói trên trong quá trình điều trị MDT liệu trình
12 tháng Kết quả cho thấy: Nồng độ kháng thể kháng PGL-I là rất khác nhau trên từng cá thể, xu hướng chung là giảm dần theo thời gian trong quá trình điều trị, tại thời điểm 6 tháng điều trị MDT mức kháng thể trung bình giảm đi 50,2% và tại thời điểm kết thúc điều trị giảm còn 33,7% so với mức kháng thể ban đầu; Trong một số trường hợp nếu mức kháng thể kháng PGL-I tại thời điểm ban đầu ở mức cao và/hoặc
có sự gia tăng mức kháng thể trong quá trình MDT thì có liên quan đến khả năng xảy ra PƯP Nồng độ kháng thể kháng PGL-I giảm đi rất nhanh ở các bệnh nhân có phản ứng phong đã xảy ra trước điều trị hay những bệnh nhân được can thiệp đồng thời điều trị phản ứng phong và MDT ngay khi được chẩn đoán Lượng giá kháng thể kháng PGL-I bằng ELISA có thể tiên lượng khả năng xảy ra phản ứng phong nhằm điều trị kịp thời phản ứng phong và điều trị bệnh phong hiệu quả
Từ khóa: PGL-I, Mycobacterium leprae, bệnh phong, phản ứng phong
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Kháng nguyên PGL-I, một kháng nguyên đặc
hiệu của Mycobacterium leprae, đã được sử dụng
rộng rãi trong huyết thanh học chẩn đoán và
nghiên cứu bệnh phong Nhiều ứng dụng nhằm
sàng lọc người tiếp xúc có nguy cơ mắc bệnh phong tại cộng đồng, để phát hiện sớm và điều trị dự phòng [1,2] Các nghiên cứu ứng dụng lâm sàng, theo dõi lượng kháng thể kháng PGL-I có thể đánh giá hiệu quả điều trị và tìm thấy mối liên quan giữa mức kháng thể và khả năng tồn lưu vi khuẩn phong trên người bệnh, các nghiên cứu cũng đặt
ra câu hỏi sự tồn tại dai dẳng các kháng nguyên
vi khuẩn phong hay sự gia tăng mức kháng thể là nguyên nhân xảy ra phản ứng phong (PƯP) [3,4], một biến chứng thường gặp trong quá trình điều trị bệnh phong và có thể để lại những tàn tật, dị hình nếu PƯP không được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và phù hợp
1 Bệnh viện Phong Da liễu Trung Ương Quy Hòa, Việt Nam
2 Trung tâm nghiên cứu Phong, Viện Quốc Gia các bệnh
nhiễm khuẩn Nhật Bản
*Tác giả chính: Nguyễn Phúc Như Hà
Địa chỉ: Bệnh viện Phong Da liễu Trung Ương Quy Hòa
Số 1 Chế Lan Viên, thành phố Quy Nhơn, Bình Định
Điện thoại: 0914462762
Email: nguyenphucnhuha@gmail.com
Trang 2Sử dụng kỹ thuật ELISA định lượng nồng độ
kháng thể kháng PGL-I trong huyết thanh bệnh
nhân phong, đánh giá sự thay đổi theo thời gian
trước, trong và sau khi hoàn thành đa hóa trị liệu
bệnh phong (MDT), đồng thời theo dõi thời điểm
xảy ra PƯP trong quá điều trị, tìm mối liên quan
giữa chúng để có thể tiên lượng khả năng xảy ra
PƯP, nhằm điều trị PƯP kịp thời cũng như điều trị
bệnh phong hiệu quả
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả và kỹ
thuật phòng thí nghiệm
2.2 Bệnh nhân, mẫu nghiên cứu và nội
dung nghiên cứu
56 bệnh nhân phong mới, nhóm MB, có
chỉ số BI ≥2+; được điều trị MDT, liệu trình 12
tháng; Phát hiện từ 4/2015 đến 6/2016 tại 11
tỉnh thuộc khu vực Miền Trung - Tây Nguyên, Việt
Nam (loại trừ bệnh phong có kèm bệnh nhiễm
mycobacteria khác)
202 mẫu huyết thanh lấy từ 56 bệnh nhân
nói trên, lấy tại 4 thời điểm: trước điều trị (T0) là
56 mẫu; tại MDT 1 tháng (T1) là 47 mẫu, tại MDT 6
tháng (T6) là 43 mẫu và lúc kết thúc MDT 12 tháng
(T12) là 56 mẫu; Mẫu huyết thanh lưu giữ ở -20oC
để thực hiện kỹ thuật ELISA
Thu thập thông tin lâm sàng về thời điểm xảy
ra PƯP Phân nhóm bệnh nhân theo thời điểm xảy
ra PƯP: trước MDT, trong quá trình MDT và không
có PƯP
Định lượng mức kháng thể kháng PGL-I trong
huyết thanh bệnh nhân tại 4 thời điểm nói trên
Đánh giá sự thay đổi kháng thể theo tỉ lệ % của lần
lấy mẫu sau so với lần lấy mẫu đầu tiên; Đánh giá trên từng bệnh nhân, đánh giá trên toàn bộ bệnh nhân nghiên cứu, đánh giá trên nhóm bệnh nhân theo thời điểm xảy ra PƯP; phân tích mối liên quan giữa sự thay đổi kháng thể kháng PGL-I và thời điểm xảy ra PƯP
Dữ liệu được phân tích bằng thuật toán thống
kê SPSS, đối với biến định lượng, dữ liệu được mô
tả bằng điểm trung bình ± độ lệch chuẩn đối với biến có phân phối chuẩn, hoặc trung vị (khoảng tứ phân vị) đối với biến có phân phối lệch Mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến đánh giá sự thay đổi các biến theo thời gian Mối tương quan phân tích theo OR
2.3 Kỹ thuật ELISA đo nồng độ kháng thể kháng PGL-I
Thực hiện tại khoa Xét nghiệm, bệnh viện Phong Da liễu Trung ương Quy Hòa
Sử dụng kỹ thuật ELISA lượng giá kháng thể IgM kháng PGL-I có trong mẫu huyết thanh được sản xuất bởi đáp ứng miễn dịch dịch thể của bệnh nhân đối với M leprae Bộ sinh phẩm Leprosy SD ELISA (Standard Diagnostic Inc Korea), gồm các đĩa vi lượng được gắn kháng nguyên ND-O-BSA (Natural Disaccharide - Octyl - BSA) Quy trình thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất Nồng
độ kháng thể kháng PGL-I là mật độ quang (OD: Optical Density - hay đơn vị ELISA) đo tại bước sóng 450 nm và bước sóng tham chiếu 630 nm
Trang 33 KẾT QUẢ
3.1 Thay đổi mức kháng thể kháng PGL-1 trên mỗi bệnh nhân
Biểu đồ 1 Thay đổi mức kháng thể kháng PGL-1 trên mỗi bệnh nhân Mỗi đường biểu diễn cho sự thay đổi nồng độ kháng thể tại 4 thời điểm của từng bệnh nhân, mặc định mức kháng thể ban đầu là 1=100%, sự thay đổi kháng thể biểu hiện theo tỉ lệ % so với mức kháng thể ban đầu So với thời điểm T0 có 15/146 mẫu biểu hiện tăng mức kháng thể, có 131/146 mẫu biểu hiện giảm mức kháng thể
3.2 Xu hướng thay đổi và mức kháng thể kháng PGL-I trung bình của bệnh nhân phong tại 4 thời điểm T0, T1, T6 và T12
Bảng 1 Sự thay đổi kháng thể kháng PGL-I trung bình trong quá trình điều trị
p<0,001 R 2 = 0.38 y= -0.033x +0,524
Nồng độ kháng thể là rất khác nhau ở mỗi bệnh nhân, tại thời điểm chẩn đoán một số bệnh nhân có mức kháng thể PGL-I rất cao, cao nhất OD= 1.676 (đơn vị ELISA) Ngược lại có thể rất thấp, thấp nhất OD = 0.050, tương tự như vậy tại thời điểm kết thúc điều trị T12 Nồng độ kháng thể giữa các mẫu giao động với biên độ lớn, nhìn chung nồng độ trung bình giảm dần có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Mối liên quan giữa thời gian và sự thay đổi nồng độ kháng thể kháng PGL-I bằng mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến cho thấy sự thay đổi nồng độ kháng thể trung bình là tương quan nghịch, tương đối chặt chẽ theo thời gian
Trang 43.3 Sự thay đổi mức kháng thể kháng PGL-I trên bệnh nhân với thời điểm xảy ra PƯP khác nhau
Bảng 2 Nhóm bệnh nhân theo thời điểm xảy ra PƯP
χ 2 = 3,621 p=0,047
Nhóm 2: PƯP xảy ra trong quá trình MDT (PƯP(#)
Tháng thứ I: 4 bệnh nhân
Tháng II đến VI: 8 bệnh nhân
Tháng VI-XII: 7 bệnh nhân
19 (33,9%)
1,27
Khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ, số lượng bệnh nhân có PƯP trước MDT, trong MDT so với bệnh nhân không xảy ra PƯP
Bảng 3 Sự thay đổi mức kháng thể kháng PGL-I trên 3 nhóm bệnh nhân
có thời điểm xảy ra PƯP khác nhau
Thời
điểm
Nhóm BN có PƯP (T0)
n=20
Nhóm BN có PƯP(#) n=19
Nhóm BN PƯP (-) n=12
y = - 0,040x + 0,559
R 2 : 0.29
p = 0.004069
y = - 0,035x + 0,659
R 2 : 0.11
p = 0.007283
y = - 0,018x + 0,298
R 2 : 0.15
p = 0.002589
Khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ TB tại mỗi thời điểm theo mỗi nhóm PƯP và mức độ thay đổi so với T0 giữa 3 nhóm PƯP
Trang 53.4 Sự thay đổi mức kháng thể PGL-I và khả năng xảy ra PƯP trong quá trình điều trị
Bảng 4 Sự thay đổi mức kháng thể kháng PGL-1 và tần suất nguy cơ xảy ra PƯP
Thời điểm xảy ra PƯP
Mẫu của T1, T6 và T12
Số mẫu tăng nồng độ
Số mẫu giảm nồng độ
p=0,002
p=0,022
p=0,0006
So với thời điểm T0 có 15/146 mẫu biểu hiện tăng mức kháng thể, có 131/146 mẫu biểu hiện giảm mức kháng thể; Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự tăng/giảm mức kháng thể kháng PGL1 và khả năng xảy ra PƯP trong quá trình điều trị, tuy nhiên tỉ suất chênh là thấp
4 BÀN LUẬN
Đã có các nghiên cứu theo dõi sự thay đổi
kháng thể kháng PGL-I trong quá trình điều trị
bệnh phong, theo Meeker HC (1990) thì những
bệnh nhân có kháng thể tồn tại một thời gian
dài sau điều trị có thể do tồn lưu số lượng lớn vi
khuẩn chết vẫn còn trong cơ thể người bệnh [4]
Nghiên cứu của Cho SN (2001) cho thấy nồng độ
kháng thể sẽ giảm dần từ khi bắt đầu điều trị, cao
tại thời điểm chẩn đoán và giảm dần 25% đến 50%
mỗi năm sau đó [5] Gelber (1989) và Kai (2008)
đã nhận định là thông thường mức kháng thể sẽ
giảm trong tiến trình điều trị, mặc dù đây không
phải là đặc tính liên tục mà nó phụ thuộc vào từng
cá thể, sự suy giảm có thể tuyến tính và nhanh
chóng trở về âm tính; hoặc không tuyến tính, giảm
dần đến vài năm sau khi kết thúc điều trị và trở về
âm tính [1, 3]; Như vậy so với các kết quả nghiên cứu nêu trên thì kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy nồng độ kháng thể kháng PGL-I là khác nhau trên mỗi bệnh nhân, có thể rất cao hoặc rất thấp Xu hướng chung là giảm dần trong quá trình MDT, trong một số trường hợp mức kháng thể giao động trong một số thời điểm có thể tăng và/ hoặc không giảm so với thời điểm ban đầu Mức kháng thể trung bình giảm đi 52% vào giữa liệu trình MDT và giảm còn 33% khi kết thúc liệu trình MDT, kết quả là tương tự với các dẫn liệu nghiên cứu khác về xu hướng và mức độ thay đổi kháng thể kháng PGL-I trong quá trình điều trị
Ngoài ra nghiên cứu này kỳ vọng tìm thấy mối liên quan giữa mức kháng thể kháng PGL-I và khả năng xảy ra PƯP trong quá trình MDT Kết quả thể hiện tại Bảng 2 một điều đáng ghi nhận là ở bệnh nhân đã có PƯP xảy ra trước khi điều trị thì
Trang 6mức kháng thể đã giảm rất nhanh trong quá trình
MDT, đặc biệt trong tháng điều trị đầu tiên (giảm
đến 31,4%), trong khi ở nhóm bệnh nhân PƯP(-):
có nồng độ kháng thể TB thấp nhất, giảm chậm
hơn và hầu như không giảm trong tháng điều trị
đầu tiên Việc giảm nhanh nồng độ kháng thể ở
nhóm bệnh nhân PƯP(T0) so với mức độ giảm của
2 nhóm còn lại có thể được giải thích là do có can
thiệp điều trị ENL (hay có tác động của corticoid)
ngay từ khi bắt đầu MDT; điều này cũng được
Anastasia P (2017) ghi nhận là corticoid có thể làm
giảm nồng độ kháng thể kháng PGL-I [10]
Ở nhóm bệnh nhân PƯP(#), cho thấy mức
kháng thể cao tại thời điểm chẩn đoán bệnh
phong, cao nhất và cao hơn so với 2 nhóm khác
Như vậy nồng độ kháng thể cao tại thời điểm chẩn
đoán bệnh phong có thể tiên lượng khả năng xảy
ra PƯP trong quá trình MDT hay không? Roche P
W (1991) nhận định nồng độ kháng thể IgG kháng
PGL-I cao khi bắt đầu điều trị thì có nguy cơ phát
triển PƯP loại I, do đó cần theo dõi và điều trị sớm
để làm giảm tổn thương thần kinh và tàn tật [6]
Brito MFM (2008) cho rằng những bệnh nhân có
huyết thanh dương tính PGL-I có khả năng xảy ra
PƯP trong thời gian sau điều trị lớn hơn gấp 10,4
lần so với bệnh nhân có có huyết thanh âm tính [7]
Mayra Hungria (2016) nghiên cứu trên bệnh nhân
thử nghiệm lâm sàng với U-MDT/CT-BR ở Brazil, lại
cho rằng không có ý nghĩa thống kê khi so sánh
giữa PGL-I dương tính với bệnh nhân có và không
có PƯP (p = 0,45) [8] Cũng tác giả này, thực hiện tại
Brazil 2017, nhằm tiên lượng khả năng xảy ra PƯP
bằng việc xác định các tỉ lệ dương tính của 3 loại
kháng thể kháng PGL-I, kháng LID-1 và kháng
ND-O-LID, đây là các kháng nguyên tổng hợp đặc hiệu
của M leprae Mayra kết luận: có mối liên quan giữa
tỉ lệ dương tính, mức kháng thể và khả năng xảy ra PƯP, tuy nhiên không cao Bên cạnh tác động của tải lượng vi khuẩn lên đáp ứng miễn dịch và gây nên nguy cơ phát triển PƯP, các yếu tố khác chưa được xác định có thể có liên quan đến khả năng xảy ra các PƯP trong quá trình điều trị [9] Tại Bảng
4 nghiên cứu này cho thấy mối liên quan giữa sự tăng và/hoặc không giảm mức kháng thể PGL-I trong quá trình MDT và khả năng xảy ra PƯP là có
ý nghĩa thống kê, tuy tỉ suất không cao
Như vậy huyết thanh học PGL-I ứng dụng lâm sàng dự đoán PƯP đã cho thấy nồng độ kháng thể PGL-I cao và/hoặc không giảm đi trong MDT
có mối liên quan với khả năng xảy ra PƯP, nhưng không phải tất cả các nghiên cứu đều đồng thuận, mặc dù vậy các phát hiện này nên được áp dụng
để theo dõi và tiên lượng khả năng xảy ra PƯP nhằm nhằm điều trị PƯP kịp thời cũng như điều trị bệnh phong hiệu quả
5 KẾT LUẬN Nồng độ kháng thể kháng PGL-I khác nhau trên mỗi bệnh nhân phong, trong quá trình MDT
xu hướng chung là giảm dần theo thời gian; Tại thời điểm 6 tháng trong liệu trình MDT, mức kháng thể trung bình giảm đi 52% và tại thời điểm kết thúc điều trị giảm còn 33,7% so với mức kháng thể ban đầu
Trên bệnh nhân phong nếu mức kháng thể kháng PGL-I cao tại thời điểm ban đầu và có sự gia tăng và/hoặc không giảm mức kháng thể là có liên quan với khả năng xảy ra PƯP
Những trường hợp bệnh nhân đã có PƯP xảy
ra trước khi được chẩn đoán, trong quá trình MDT nồng độ kháng thể đã giảm đi rất nhanh, việc can thiệp đồng thời điều trị PƯP và MDT ngay thời
Trang 7điểm ban đầu có thể đã làm giảm nhanh nồng độ
kháng thể kháng PGL-I
Kỹ thuật ELISA lượng giá kháng thể kháng
PGL-I nên được sử dụng để tiên lượng khả năng
xảy ra PƯP để điều trị kịp thời phản ứng phong và
điều trị bệnh phong hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Kai Masanori, Nguyen Phuc Nhu Ha, et
al Serological diagnosis of leprosy in patients
in Vietnam by enzyme linked immunosorbent
assay with Mycobacterium leprae derived major
membrane protein II Clinical and Vaccine
Immunology, 2008; 15(12): 1755-1759
2 Moura Rodrigo Scaliante et al Leprosy
serology using PGL-I: a systematic review Revista
da Sociedade Brasileira de Medicina Tropical, 2008;
41:11-18
3 Gelber, et al Serum kháng bodies to
de ned carbohydrate antigens during the course
of treated leprosy International journal of leprosy
and other mycobacterial diseases: o cial organ of
the International Leprosy Association, 1989; 57(4):
744-751
4 Meeker HC, et al Sequential monitoring
of leprosy patients with serum antibody levels
to phenolic glycolipid I, a synthetic analog
of phenolic glycolipid I, and mycobacterial
lipoarabinomannan International journal of
leprosy and other mycobacterial diseases: o cial
organ of the International Leprosy Association,
1990; 58(3): 503-511
5 Sang Nae Cho, et al Detection of Phenolic
Glycolipid I of Mycobacterium leprae in Sera
from Leprosy Patients before and after Start
of Multidrug Therapy Clinical and diagnostic laboratory immunology, 2001; 8(1): 138-142
6 Roche Paull W, Theuvenet Wim J, Britton Warwick J Risk factors for type 1 reactions in borderline leprosy patients The Lancet, 1991; 338(8768): 654-657
7 Maria de Fátima de Medeiros Brito et al Association between leprosy reactions after treatment and bacterial load evaluated using kháng PGL-I serology and bacilloscopy Revista da Sociedade Brasileira de Medicina Tropical, 2008; 41: 67-72
8 Hungria Emerith Mayra, et al Can baseline
ML Flow test results predict leprosy reactions? An investigation in a cohort of patients enrolled in the uniform multidrug therapy clinical trial for leprosy patients in Brazil Infectious diseases of poverty, 2016; 5(1): 110
9 Hungria Emerith Mayra, et al Leprosy reactions: The predictive value of Mycobacterium leprae speci c serology evaluated in a Brazilian cohort of leprosy patients (U-MDT/CT-BR) PLoS neglected tropical diseases, 2017; 11(2): e0005396
10 Anastasia Polycarpou, Stephen L Walker, et
al A Systematic Review of Immunological Studies
of Erythema Nodosum Leprosum Front Immunol, 2017; 8: 233
Trang 8Levels of antibody anti PGL-I were measured by ELISA on 202 serum samples collected from 56 leprosy patients at points that before, under and after completion of MDT, also follow-up for the time
of occurrence of leprosy reactions during MDT (12 months period) The results showed that the levels of antibody anti PGL-I was very di erent in individuals, during MDT the general trend was to decrease over time, at 6 months under MDT the mean of antibody level decreased about 52% and at the end of MDT that decreased to 33.7% compared to baseline; In some cases, if the levels of antibody to PGL-I showed high in initiation and increasing/or not change during MDT then have a associate with the risk of leprosy reaction occurrence
Anti PGL-I levels were rapidly decreased in patients who with a lepra reaction already occurrent before MDT, which may be due to simultaneous treatment of lepra reaction and MDT at diagnosed Evaluation of PGL-I antibodies by ELISA can predict the leprosy reaction, in order to promptly leprosy reaction treatment and for e ective of leprosy treatment
Keywords: PGL-I, Mycobacterium leprae, leprosy, lepra reaction