1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính

31 221 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 243 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính do Nguyễn Minh Tâm thực hiện Tiểu luận: Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính do Nguyễn Minh Tâm thực hiện Tiểu luận: Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính do Nguyễn Minh Tâm thực hiện Tiểu luận: Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính do Nguyễn Minh Tâm thực hiện

Trang 1

LỜI NểI ĐẦU

Những năm gần đõy, nền kinh tế nước ta cú những chuyển biến rừ rệt,nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung quan liờu bao cấp sang nền kinh tế thịtrường thỡ quan hệ giao lưu về kinh tế, văn húa, xó hội … ngày càng phong phỳ,

đa dạng và phức tạp hơn Bờn cạnh đú, với chớnh sỏch mở cửa mời gọi đầu tư vàViệt Nam đó gia nhập WTO thỡ việc giao lưu quan hệ hợp tỏc kinh tế, văn hoỏvới cỏc nước trờn thế giới khụng ngừng được phỏt triển Trong quỏ trỡnh hợptỏc, kinh doanh, trao đổi trờn cỏc lĩnh vực khụng thể trỏnh khỏi những mõuthuẩn tranh chấp về quyền lợi phỏt sinh dẫn đến khởi kiện lẫn nhau Tuy nhiờnkhụng phải lỳc nào người dõn cũng đồng ý với cỏc phỏn quyết của Toà ỏn haycỏc quyết định của cơ quan cú thẩm quyền Từ thực tế trờn, đũi hỏi Nhà nướcphải cú một cơ chế để bảo vệ quyền và lợi ớch hợp phỏp của cỏc chủ thể khitham gia vào cỏc quan hệ phỏp luật này, cũng như bảo đảm phỏp lụõt được thựcthi nhằm giữ gỡn trật tự an toàn xó hội Nhận thức được tầm quan trọng của vấn

đề, Toà hành chớnh Việt Nam đó ra đời nhằm đảm bảo quyền và lợi ớch hợpphỏp của cụng dõn, quyền khiếu nại, tố cỏo của cỏc tổ chức và cỏ nhõn theo quyđịnh của Hiến phỏp và Phỏp luật hiện hành Để Toà hành chớnh thực hiện tốt cỏcchức năng của mỡnh một cỏch cú hiệu quả, Nhà nước đó ban hành cỏc văn bảnquy phạm phỏp luật quy định về cỏc thủ tục giải quyết cỏc vụ ỏn hành chớnh;khiếu nại, tố cỏo ngày càng hoàn thiện và đỏp ứng nhu cầu của nhõn dõn

Phỏp lệnh thủ tục giải quyết cỏc vụ ỏn hành chớnh ngày 21/05/1996 của

Uỷ ban thường vụ Quốc hội đó phần nào đỏp ứng được những yờu cầu mà xóhội và nhà nước đặt ra để giải quyết cỏc vụ ỏn hành chớnh (VAHC) đạt hiệu quả.Tuy nhiờn, sau một thời gian đi vàoỏap dụng thực hiện đã phát sinh nhiều vướngmắc về thủ tục và thẩm quyền, đồng thời để hoàn thiện hơn nữa Phỏp lệnh thủtục giải quyết cỏc vụ ỏn hành chớnh, đảm bảo hơn nữa quyền và lợi ớch hợp phỏpcủa cụng dõn, cũng như hoàn thiện hơn nữa hệ thống phỏp luật về tố tụng mà

Uỷ ban thường vụ Quốc hội đó ban hành hai phỏp lệnh số UBTVQH ngày 25/12/1998 và số 29/2006/ PL-UBTVQH ngày 04/05/2006nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều về thủ tục giải quyết cỏc vụ án hành chính,

Trang 2

10/1998/PL-góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Toà hành chính tại ViệtNam

Do sự hạn chế về thời gian, tài liệu, cũng như phương pháp nghiên cứu

đề tài: “THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC

VỤ ÁN HÀNH CHÍNH” được nghiên cứu dựa trên các quy định của pháp luật

hiện hành về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các vụ án hành chính,kết hợp với tìm hiểu thực tiễn áp dụng của Toà án có thẩm quyền về giải quyếtcác vụ án hành chính ở địa phương và số liệu, tư liệu thu thập được nên khôngthể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong thầy, cô quan tâm đóng góp ý kiến

để khóa luận được tốt hơn

CHƯƠNG I

Trang 3

KHÁI QUÁT V Ề TOÀ HÀNH CHÍNH

CƠ QUAN TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM.

1 Khi niệm về Tài phỏn hành chớnh.

Thuật ngữ “Tài phỏn” cú gốc La-tinh là “Jurisdictio” Theo nghĩa rộng,thuật ngữ “Tài phỏn” nghĩa là phỏn quyền, tức là quyền lực của Chớnh phủ (bờncạnh việc điều hành hành chớnh) trong việc phỏn xột tớnh đỳng sai của cỏc hoạtđộng hành chớnh diễn ra trờn lónh thổ nhất định; theo nghĩa hẹp, đõy là thẩmquyền hoặc quyền tài phán của cơ quan Toà ỏn trong việc lắng nghe, xem xột,đỏnh giỏ và ra cỏc phỏn quyết được thể hiện trong cỏc bản ỏn hay phỏn quyếtcủa Toà đối với một vụ việc cụ thể trong một phạm vi lãnh thổ nhất định

Quan niệm của cỏc nước theo hệ thống luật chung (Common law),

tiền thõn là luật Anglo- Saxon: Anh, Mỹ, Canada, Úc, Na Uy, Ailen, Malaysia,Singapore … Hệ thống luật này được phỏt triển dựa trờn cơ sở của ỏn lệ, nhà n-

ớc không có sự phân biệt rạch rũi giữa Luật cụng với Luật tư Cỏc tranh chấphành chớnh được giải quyết bởi cỏc cơ quan đó ban hành ra quyết định hànhchớnh bị khiếu nại, hoặc bởi cỏc cơ quan cấp trờn của cơ quan đú Trong trườnghợp khụng thoả món với việc giải quyết khiếu nại này, người dõn được quyềnkiện ra Toà ỏn

Tài phỏn hành chớnh là hoạt động giải quyết cỏc tranh chấp hành chớnhthuộc thẩm quyền của Toà ỏn tư phỏp, nhằm đảm bảo chức năng xột xử chungcủa một loại cơ quan tài phỏn Tuy nhiờn, trong xu hướng quốc tế hoỏ, hợp tỏchoỏ cỏc nước theo hệ thống luật chung này cũng bắt đầu thành lập những bộphận chuyờn trỏch trong toà thường để giải quyết cỏc vụ kiện hành chớnh trongcỏc vụ kiện đặc biệt quan trọng như: lĩnh vực đất đai, thuế, bảo hiểm …

Quan niệm của cỏc nước theo hệ thống Chõu Âu lục địa (continental law hay civil law), tiền thõn là luật La Mó (Romano-Germani): Phỏp, Đức, Thuỵ

Điển, Bỉ, Hà Lan, Chõu Mỹ La Tinh, cỏc nước Chõu Phi, cỏc nước Trung CậnĐụng, Indonexia Cỏc nước theo hệ thống luật này cú sự phõn biệt rạch rũi giữaluật cụng và luật tư Tranh chấp hành chớnh được xỏc định là một tranh chấptrong lĩnh vực cụng phỏt sinh giữa cỏc tổ chức, cỏ nhõn cụng dõn với cỏc cơquan, tổ chức cụng quyền Bờn cạnh đú, cỏc quốc gia này đó thành lập hệ thống

cơ quan tài phỏn hành chớnh độc lập (Toà ỏn hành chớnh) bờn cạnh hệ thống Toà

ỏn tư phỏp để chuyờn thực hiện chức năng xột xử cỏc khiếu kiện hành chớnh.Hỡnh thức này được gọi là hỡnh thức “lưỡng hệ tài phỏn” Như vậy, tài phỏn

Trang 4

hành chính, theo quan niệm của các quốc gia theo hệ thống luật lục địa, là hoạtđộng xét xử các tranh chấp hành chính giữa công dân và tổ chức của họ với các

tổ chức, cá nhân công quyền và hoạt động tư vấn pháp luật cho Chính phủ

Quan niệm của Việt Nam: Sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hoà ra đời, chính phủ mới đã đặt biệt quan tâm tới việc giải quyết khiếu nại, tốcáo của công dân đối với hành vi, quyết định hành chính của cơ quan côngquyền xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của họ, cũng như việc xử lý nghiªmkhắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ nhà nước có thẩm quyềnkhi thực thi công vụ Đồng thời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu mới mà nền hành chính phải đáp ứng

Để đáp ứng yêu cầu bức thiết này, Đảng và Nhà nước đã tổng kết thực tiễn vềhoạt động Tài phán hành chính và học tập kinh nghiệm của cộng đồng quốc tế,trên cơ sở đó Việt Nam đã lựa chọn mô hình Tài phán hành chính có tính quá độđặc thù riêng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Theo từ điển tiếng Việt “ tài phán” là việc “ xét xử, phán xử đúng, sai”.Dưới góc độ pháp lý thì khái niệm “ tài phán” rộng hơn khái niệm xét xử Nhưvậy, Tài phán hành chính Việt Nam được hiểu là hoạt động xét xử các vụ ánhành chính theo quy định của pháp luật về Tố tụng Hành chính và chủ yếu docác Toà hành chính (THC), các Tài phán hành chính trong hệ thống Toà ánNhân dân thực hiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơquan Nhà nước và tổ chức, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước

2 Toà hành chính- Cơ quan Tài phán Việt Nam:

Theo Luật Tổ chức Toà án Nhân dân năm 2002 Việt Nam có các Toà ánsau:

Toà án Nhân dân tối cao;

Toà án Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

Toà án Nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh

3 Đối tượng xét xử của Toà hành chính việt Nam:

a.Quyết định hành chính (QĐHC):

Theo Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chínhnăm 2006( PLTTGQCVAHC) thì QĐHC là quyết định bằng văn bản của cơquan Hành chính Nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hànhchính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể

về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính

Trang 5

Điều này chứng tỏ rằng không phải mọi quyết định hành chính đều thuộcđối tượng xét xử của Tòa hành chính Từ đó cho ta thấy rằng một QĐHC chỉ trởthành đối tượng xét xử của Toà án khi thoả mãn đồng thời các dấu hiệu:

Thứ nhất xét về mặt hình thức: Một QĐHC phải được thể hiện dưới hình

thức văn bản mà không bao hàm các quyết định bằng các hình thức như: tínhiệu, lời nói … (quyết định không thành văn) Một quyết định khi được thể hiệndưới hình thức một văn bản sẽ đem lại nhiều ưu thế cả về tính chính xác lẫn tính

ổn định Từ đó đã hình thành nên hai quan điểm :

- Quan điểm thứ 1: Tòa hành chính chỉ xét xử các QĐHC bằng văn bản

mà văn bản đó phải có tên gọi là “quyết định”, còn các văn bản không có tên gọi

là “quyết định” sẽ không thuộc đối tượng xét xử xủa Tòa hành chính như cácquyết định giao đất, quyết định thu hồi đất, quyết định giải quyết tranh chấpđất…

- Quan điểm thứ 2: Bất kỳ một văn bản nào mà nội dung của nó chứa

đựng một văn bản cá biệt đều thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính,không phụ thuộc vào nó được ban hành đúng tên gọi hay không Ví dụ: thôngbáo về việc kỷ luật buộc thôi việc…

Như vậy, quan điểm thứ hai là đúng đắn hơn vì một quyết định cá biệtban hành không đúng thủ tục, tên gọi cũng đã là một căn cứ để cá nhân, tổ chức

có thể khởi kiện tại Tòa hành chính có thẩm quyền

Thứ hai về mặt nội dung: QĐHC theo luật tố tụng hành chính phải là

những quyết định cá biệt (quyết định áp dụng quy phạm pháp luật hành chính),nghĩa là nó chỉ được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thểtrong hoạt động quản lý hành chính (còn được gọi là quyết định áp dụng phápluật) Đối tượng áp dụng của quyết định là cá nhân hoặc tổ chức có quyền, lợiích hợp pháp liên quan trực tiếp và được ghi nhận trong nội dung của quyết định

có thể là người khởi kiện vụ án hành chính với quyết định hành chính đó Ví dụ:Một người có thể khởi kiện ra Toà án yêu cầu huỷ bỏ quyết định của cấp cóthẩm quyền về việc thu hồi giấy phép về sản xuất, kinh doanh cuả mình Cũngnhư ví dụ trên nếu cấp có thẩm quyền cấp giấy giấy phép về sản xuất kinhdoanh cho một người mà lại ảnh hưởng đến lợi ích của người khác thì người này

có thể khởi kiện tại Toà yêu cầu huỷ quyết định trên, trong trường hợp nàyngười khởi kiện không phải là người áp dụng QĐHC Như vậy, không phải bất

kì người khởi kiện nào cũng là đối tượng áp dụng của QĐHC

Như vậy, đối với đối tượng áp dụng quyết định hành chính sẽ dẫn tới tìnhtrạng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của họ, cụ thể:

Trang 6

được hưởng quyền, lợi ích; gánh vác một nghĩa vụ bổ sung; tước bỏ hoặc hạnchế một hoặc một số quyền, lợi ích; buộc thực hiện hoặc cấm hay hạn chế thựchiện một số hành vi nhất định Riêng đối với người khởi kiện nhưng khôngthuộc đối tượng áp dụng của quyết định thì thông thường họ phải chịu thiệt hại

về quyền hoặc lợi ích hợp pháp do quyết định hành chính trên gây ra

Thứ ba về chủ thể ban hành: Phải do cơ quan hành chính Nhà nước hoặc

người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành (chủ thể banhành QĐHC là rất rộng) Cơ quan hành chính nhà nước ở đây được hiểu khôngchỉ là cơ quan có chức năng quản lý hành chính Nhà nước thông qua hoạt độngchấp hành, điều hành như Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ … (ở Trungương), Uỷ ban nhân dân các cấp, các Sở, phòng, ban …(ở địa phương), vănphòng Quốc hội, văn phòng Chủ tịch nước, Toà án nhân dân, viện kiểm sát nhândân; mà còn cả các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính trongmột số trường hợp nhất định như quyền tuyển dụng, bổ nhiệm công chức, quyềnquyết định dự toán, quyết toán kinh phí hoạt động …

Thứ tư về phạm vi các lĩnh vực của quyết định: Ở nước ta, hoạt động

xét xử hành chính còn mới mẻ, vẫn còn trong giai đoạn vừa làm vừa rút kinhnghiệm nên không phải mọi QĐHC đều thuộc đối tượng xét xử của Tòa hànhchính, mà quyết định hành chính theo luật tố tụng hành chính Việt Nam chỉ giớihạn trong một số lĩnh vực nhất định thuộc quá trình hành pháp (loại việc thuộcthẩm quyền giải quyết của Toà án do luật định) Cụ thể trong các lĩnh vực theoĐiều 11 PLTTGQCVAHC Quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

- Quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý viphạm hành chính;

- QĐHC trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế, thi hành quyết định xửphạt vi phạm hành chính;

- QĐHC, HVHC trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý viphạm hành chính bằng một trong các hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn;đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh;quản chế hành chính;

- QĐHC trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vậtkiến kiến trúc kiên cố khác;

- QĐHC trong việc cấp, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất,kinh doanh; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề hoặcQĐHC khác liªn quan đến hoạt động kinh doanh, tài chính của thương nhân;

- QĐHC liên quan đến thương mại hàng hoá quốc tế hoặc trong nước;

Trang 7

- QĐHC liên quan đến chuyển giao tài chính trong nước và quốc tế, dịch

vụ và cung ứng dịch vụ;

- QĐHC trong việc trưng dụng, trưng mua, tịch thu tài sản;

- QĐHC trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế;

- QĐHC trong việc áp dụng phí, thu phí, lệ phí; thu tiền sử dụng đất;

- QĐHC trong quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ;

- QĐHC trong quản lý Nhà nước về đầu tư;

- QĐHC của cơ quan hải quan, công chức hải quan;

- QĐHC về quản lý hộ tịch;

- QĐHC đối với việc từ chối công chứng, chứng thực;

- QĐHC về quản lý đất đai trong trường hợp giao đất, cho thuê đất, thuhồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗtrợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền

- Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc;

- Các QĐHC khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và §iều ướcQuốc tế mà Việt Nam là thành viên

Ngoài ra, QĐHC theo luật tố tụng hành chính còn phải thoả m·n cácđiều kiện pháp lí như: Quyết định hành chính phải là quyết định hành chính lầnđầu; Phải do người có năng lực chủ thể theo quy định của luật tố tụng hànhchính khởi kiện trong phạm vi thời hiệu nhất định; Quyết định hành chính bịmột người vừa khiếu nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, vừa khởi kiệnVAHC đến Toà án có thẩm quyền thì quyết định đó mới thuộc đối tượng xét xửhành chính của Toà án nhân dân; trường hợp một QĐHC bị nhiều người khiếukiện trong đó có người khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước có thẩm

Trang 8

quyền, có người khởi kiện VAHC đến Toà án thì quyết định đó không thuộc đốitượng xét xử hành chính.

b Hµnh vi hµnh chính (HVHC).

Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan nhà nước, của người có thẩmquyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theoquy định của pháp luật (theo khoản 2 Điều 4 PLTTGQCVAHC)

Từ khái niệm trên ta thấy HVHC có những dấu hiệu sau:

Một là về mặt chủ thể Một hµnh vi hµnh chÝnh thuộc thẩm quyền xét xử

của Toµ hµnh chÝnh thì nó phải được ban hành bởi các chủ thể được quy định ởđiều 12 PLTTGQCVAHC đó là hµnh vi hµnh chÝnh của cơ quan Nhà nước vàcủa cán bộ, công chức của cơ quan Nhà nước đó ë đây, chúng ta cần hiểu rõhai thuật ngữ “cơ quan nhà nước” và “cán bộ, công chức”

Theo hiến pháp 1992 thì “cơ quan nhà nước” được chia thành bốn loại:

- Cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp

- Cơ quan quản lý Nhà nước: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷban nhân dân các cấp và các ban ngành trực thuộc Uỷ ban nhân dân

- Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân các cấp

- Cơ quan kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân các cấp

Thuật ngữ “ cán bộ, công chức” theo điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chứcquy định cán bộ, công chức là:

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các

cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội

- Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụtrong ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụtrong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân không phải là sĩ quanchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vịthuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyện nghiệp

Trang 9

Hai là hỡnh thức biểu hiện Một hành vi hành chính được xem là đối

tượng xột xử của Toà hành chính thỡ hành vi đú phải là hành vi cụng vụ đượcthực hiện dưới dạng hành động hoặc khụng hành động của cơ quan hành chớnhnhà nước, cỏn bộ, cụng chức bị khởi kiện tại Toà hành chính

Hành vi hành chính được biểu hiện dưới dạng hành động được hiểu làviệc một người theo quy định của phỏp luật được giao nhiệm vụ thi hành quyếtđịnh hành chớnh của người cú thẩm quyền, nhưng khi thi hành cụng vụ người đúkhụng thực hiện đỳng như trong quyết định hành chớnh nờn đó gõy thiệt hại chongười phải chấp hành quyết định

Một cơ quan hoặc một người theo quy định của phỏp luật sau khi nhận

đủ hồ sơ về việc xin cấp cỏc loại giấy phộp, về xõy dựng cơ bản, sản xuất kinhdoanh, mặc dự hồ sơ đó đầy đủ cỏc tài liệu cần thiết và đủ điều kiện được cấp,thế nhưng quỏ thời hạn do phỏp luật quy định hoặc vỡ vụ lợi mà cơ quan đú hoặcngười đú vẫn khụng cấp giấy cho người cú yờu cầu Đõy là hành vi hành chínhđược thực hiện dưới dạng khụng hành động

Ba là về phạm vi Cũng như quyết định hành chính, hành vi hành chính

khụng phải lỳc nào cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà hành chính, đểđảm bảo cho việc xỏc định được một hành vi hành chính cú phải là đối tượngxột xử của Toà hành chính hay khụng, phỏp luật đó quy định một cỏch cụ thể tạiĐiều 11 PLTTGQCVAHC (như đó nờu ở phần trờn)

c Quyết định kỷ luật buộc thụi việc đối với cỏn bộ, cụng chức.

Quyết định kỷ luật buộc thụi việc là quyết định bằng văn bản của ngườiđứng đầu cơ quan, tổ chức ỏp dụng hỡnh thức kỹ luật buộc thụi việc đối với cỏn

bộ, cụng chức giữ chức vụ từ vụ trưởng và tương đương trở xuống thuộc quyềnquản lớ của mỡnh theo quy định của phỏp luật về cỏn bộ, cụng chức (theo khoản

3 Điều 4 PLTTGQCVAHC)

Quyết định kỷ luật buộc thụi việc là một dạng biểu hiện của quyết địnhhành chớnh núi chung, vỡ vậy nú cũng cú đầy đủ tớnh chất và đặc điểm của mộtQĐHC Nếu dựng thuật ngữ “người đứng đầu cơ quan, tổ chức” là chủ thể banhành sẽ dẫn đến chủ thể thực hiện khụng biết cơ quan, tổ chức ở đõy là cơ quan,

tổ chức nhà nước hay cả cỏc cơ quan, tổ chức chớnh trị, tổ chức chớnh trị- xó hội

Để xỏc định được vấn đề này chỳng ta sẽ căn cứ vào Điều 12 PLTTGQCVAHCthỡ cỏc chủ thể cú thẩm quyền ban hành QĐHC bao gồm: Toà ỏn nhõn dõn cấphuyện, quận, thị xó, thành phố thuộc tỉnh; QĐHC của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơquan thuộc chớnh phủ, văn phũng chủ tịch nước, văn phũng Quốc hội, Toà ỏnnhõn dõn tối cao, Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao và QĐHC, HVHC của Thủ

Trang 10

trưởng các cơ quan đó; Quyết định của chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương; Quyết định của chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, phường, thịtrấn, thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh và Thủ tướng chính phủ.

Bên cạnh đó, Toµ hµnh chÝnh cßn cã thẩm quyền giải quyết khởi kiệnquyết định buộc thôi việc và quyết định sa thải Tuy nhiên, Toà án không cóthẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyết định buộc thôi việc trong Quânđội nhân dân và C«ng an nh©n d©n do xuất phát từ tính chất đặc thù riêng liênquan đến an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội, do đó các tranh chấp này

sẽ giải quyết theo luật, các quy định riêng của quân đội nhân dân và C«ng annh©n d©n

Trang 11

CHƯƠNG II

THẨM QUYỀN TOÀ HÀNH CHÍNH

Thẩm quyền giải quyết cỏc vụ ỏn hành chớnh là một nội dung quan trọngtrong tổ chức và hoạt động tài phỏn, liờn quan đến quản lý Nhà nước, đến phõncụng thực hiện quyền lực Nhà nước cũng như liờn quan đến bảo vệ quyền, lợiớch hợp phỏp của cụng dõn

Trong ngụn ngữ tiếng Việt, “ thẩm quyền” là thuật ngữ dựng để chỉ quyềnxem xột, kết luận và định đoạt một vấn đề theo phỏp luật hoặc chỉ một tư cỏch

về chuyờn mụn được thừa nhận để cú ý kiến mang tớnh chất quyết định về mộtvấn đề

Trong tiếng Anh, “thẩm quyền” được sử dụng bằng thuật ngữ Jurisdiction

để chỉ thẩm quyền hoặc phõn quyền, tức là quyền lắng nghe và phỏn quyết một

vụ kiện hay đưa ra một ỏn lệnh nào đú của Toà hoặc vựng lónh thổ mà trongphạm vi đú thẩm quyền của Toà được thi hành

Thẩm quyền xột xử hành chớnh là phạm vi thực hiện quyền lực nhà nớccủa Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp hành chính giữa một bên là côngdân, tổ chức và bên kia là cơ quan công quyền, theo thủ tục tố tụng hành chínhnhằm bảo đảm và bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, của xã hội, quyền và lợi ích hợppháp của công dân

Từ định nghĩa trờn ta cú thể rỳt ra một số đặc điểm về thẩm quyền toàhành chớnh:

- Về nội dung: Thẩm quyền xột xử hành chớnh của Toà ỏn bao gồm: Đốitượng xột xử, hoạt động xột xử, phỏn quyết và sự quy định, điều chỉnh của phỏpluật về đối tượng hoạt động, về phõn cấp và phõn định thẩm quyền

- Về tớnh chất: Thẩm quyền giải quyết VAHC là xem xột, phỏn quyết vềtớnh đỳng đắn, tớnh hợp phỏp trong hoạt động của cơ quan hành phỏp về đội ngũcỏn bộ, cụng chức cú thẩm quyền hành phỏp ( QĐHC, HVHC )

- Về mục đớch: Thẩm quyền xột xử hành chớnh một mặt khẳng định vaitrũ kiểm tra tư phỏp đối với hành phỏp, mặt khỏc nhằm bảo vệ quyền, lợi ớchhợp phỏp của cụng dõn, tổ chức, gúp phần tăng cường hiệu lực hoạt động của bộmỏy Nhà nước

Trang 12

1 Cơ sở xác lập thẩm quyền của Toà hành chính:

ë nước ta, tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nướcđược xác lập theo nguyên tắc tập trung dân chủ Tất cả quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân Tuy nhiên, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sựphân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyềnlập pháp, hành pháp, tư pháp

Từ quan điểm này, việc xác lập thẩm quyền xét xử hành chính của Toà ándựa vào các cơ sở:

- Cơ sở lý luận: Trước hết, phải xuất phát từ các quan điểm của chủ nghĩa

Mac- Lê nin về nhà nước và pháp luật, về tổ chức tư pháp, XHCN ë nước ta,việc xây dựng bộ máy nhà nước nói chung và xác lập thẩm quyền của Toà án(trong đó có thẩm quyền tài phán hành chính) nói riêng dựa trên quan điểm,đường lối chủ trương chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) Đặcbiệt, trước yêu cầu tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường vai tròbảo vệ của Nhà nước đối với xã hội, đối với công dân, Đảng ta đã có chủtrương: Xúc tiến thành lập Toµ hµnh chÝnh trong TAND, xác định mô hình tổchức và thủ tục tố tụng phù hợp với đặc điểm của các vụ kiện hành chính

Ngoài ra, việc thành lập thiết chế tài phán hành chính cũng như xác lậpthẩm quyền xét xử hành chính còn cần thiết phải học tập kinh nghiệm của cácnước trên thế giới để đảm bảo tính có căn cứ khoa học đầy đủ (phương pháp sosánh)

- Cơ sở pháp lý: Theo hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 1992 thì ở

nước ta chỉ có một hệ thống Toà án thực hiện chức năng xét xử Điều 127 Hiếnpháp quy định “Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, cácToà án quân sự và các toà án khác là những cơ quan xét xử của nướcCHXHCNVN”

Trên cơ sở của Hiến pháp, hàng loạt các quy định mới trong các văn bảnpháp luật quan trọng được ban hành, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,

cơ cấu tæ chức, trình tự tố tụng, phạm vi xét xử hành chính … cho TAND nhưLuật tổ chức TAND (sửa đổi, bổ sung); Luật khiếu nại, tố cáo, đặc biệt làPLTTGQCVAHC (sửa đổi, bổ sung)… là những cơ sở pháp lý vững chắc choviệc xác lập và sử dụng thẩm quyền xét xử hành chính của TAND

Trang 13

- Các cơ sở khác: Ngoài hai cơ sở trên việc xác lập thẩm quyền xét xử

hành chính của TAND cần dựa vào một số nhu cầu thực tiển của đời sống chínhtrị- xã hội như: Yêu cầu năng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực của hoạt độnghành pháp dẫn đến việc phải cải cách nền hành chính nhà nước mà quan trọngnhất là cải cách thủ tục hành chính và thực hiện tốt quy chế dân chủ, tiến tới xâydựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân

2 Thẩm quyền giải quyết c¸c VAHC của Toµ hµnh chÝnh :

Thẩm quyền về việc của Toà hành chính được xác định trong khuôn khổcủa Điều 11 (đã được sửa đổi, bổ sung) bao gồm 9 nhóm việc Thẩm quyền vềviệc là căn cứ để phân biệt thẩm quyền giữa các toà chuyên trách với nhau vàcũng là căn cứ để các toà chuyên trách xem xét các khiếu kiện có thuộc thẩmquyền thụ lý và xét xử của mình không Theo quy định của pháp luật hiện hành,Toà án giải quyết các vụ án hành chính đối với các khiếu kiện sau đây:

2.1.1 Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002(PLXLVPHC năm 2002) và pháp lệnh số//PL-UBTVQH12 ngày 02/04/2008 vềsửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì xử phạt

vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi

cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước màkhông phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạmhành chính

Các hình thức xử lý vi phạm như: Cảnh cáo được áp dụng đối với cánhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đốivới người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện; phạt tiềntuỳ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm mà có mức phạt tương ứng; Riêng hìnhthức trục xuất quy định tại Pháp lệnh thì tuỳ từng trường cụ thể sẽ được áp dụng

là hình phạt chính hoặc hính phạt bổ sung đối với người nước ngoài có hành vi

vi phạm pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam

Ngoài các biện pháp xử phạt trên cá nhân, tổ chức còn có thể bị áp dụngmột hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như:

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hànhchính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình trái phép như: Xây dựng công trình

Trang 14

sai quy định trong giấy phép xây dựng; Cải tạo, sửa chữa công trình cò kh«ng

có giấy phép hoặc sai phép; Sử dụng đất không đúng mục đích; Lấn, chiếm đấtđai …

- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường, lây landịch bệnh do hành vi hành chính gây ra;

- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, vậtphẩm, phương tiện;

- Buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi vàcây trồng, văn hoá phẩm độc hại;

- Biện pháp khắc phục hậu quả khác do người có thẩm quyền quyết địnhtheo quy định của Chính phủ

2.2 Khiếu kiện quyết định ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hµnh chính (khoản 1 Điều 43 và khoản 3 điều 118 PLXLVPHC n ă m 2002) :

Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính được ápdụng khi cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử

lý vi phạm hành chính

Người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp sau đây theo thủ tụchành chính: Tạm giữ người; Tạm giữ tang vật, phương tiện vi pham hànhchính; Khám người; Khám phương tiện vận tải, đồ vật; Khám nơi cất giấu tangvật, phương tiện vi phạm hành chính; Bảo lãnh hành chính; Quản lý ngườinước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất;Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ

sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn

Cá nhân, tổ chức hoặc người đại diện hợp pháp của họ đều có quyềnkhiếu nại về việc áp dụng biện pháp đó và được thực hiện theo quy định về thủtục giải quyết các VAHC

2.3 Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế, thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 35/2005/NĐ-CP về

áp dụng biện pháp cưỡng chế, thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính).

Áp dụng biện pháp cưỡng chế, thi hành quyết định xử phạt vi phạm hànhchính là biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trongtrường hợp không áp dụng xử phạt (cưởng chế hành chính) đối với cá nhân, tổ

Trang 15

chức bị xử phạt vi phạm hành chính đã quá thời hạn chấp hành hoặc quá thờihạn hoãn chấp hành các quyết định nêu trên mà không tự nguyện chấp hành.

Biện pháp cưỡng chế bao gồm: Khấu trừ một phần tiền lương hoặc mộtphần thu nhập, khấu trừ tài khoản tại Ngân hàng; Kê biên phần tài sản có giá trịtương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; Biện pháp cưỡng chế khác như tịchthu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính…

Cá nhân, đại diện tổ chức có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện về việc ápdụng biện pháp này theo quy định của pháp luật

2.4 Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp

xử lý vi phạm hµnh chính bằng một trong c¸c hình thức gi¸o dục tại x·, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Giáo dục tại xã, phường, thị trấn áp dụng đối với người nhiều lần có hành

vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến møc đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào

cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh

Đưa vào trêng giáo dưỡng là biện pháp được áp dụng đối với người chưathành niên có hành vi vi phạm pháp luật

Đưa vào cơ sở giáo dục là biện pháp áp dụng đối với người có hành vi viphạm pháp luật xâm phạm tài sản của Nhà nước, của các tổ chức, tài sản, sứckhoẻ danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài và vi phạm trật

tự an toàn xã hội có tính chất thường xuyên nhưng chưa đến mức truy cứu tráchnhiệm hình sự

Đưa vào cơ sở chữa bệnh là biện pháp được áp dụng đoi với ngườinghiện mà tuý, người mại dâm có tính chất thường xuyên, đã được chính quyền

và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu s÷a chữa

PLXLVPHC năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung năm 2008 đã quyđịnh chi tiết và chặt chẽ về nguyên tắc, trình tự thủ tục áp dụng, đối tượng ápdụng, thời hiệu và thẩm quyền áp dụng đối với các biện pháp nêu trên Đồngthời cũng mở rộng thẩm quyền xét xử của Toµ hµnh chÝnh là quyết định củaChủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc áp dụng biện pháp đưa vàotrường giáo dưỡng và cơ sở chữa bệnh mà Pháp lệnh năm 1995 không quyđịnh

Ngày đăng: 19/08/2020, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w