Đề tài nghiên cứu quản lý chất lượng bệnh viện Đánh giá thực trạng công tác khám chữa bệnh Cải tiến chất lượng bệnh viện là gì Tiêu luận nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Thực trạng khám chữa bệnh Đề án cải tiến chất lượng hồ sơ bệnh an Đề án cải tiến thời gian chờ khám bệnh Thực trạng khám chữa bệnh hiện nay
Trang 1NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG Khám, chữa bệnh tại bệnh viện X và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng khám chứa
Trang 2BVĐK : Bệnh viện đa khoa
Trang 3Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục các bảng
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
Chương 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Tình hình nhân lực bác sỹ hiện nay 2
1.2 Những thách thức và giải pháp trong quản lý nguồn nhân lực y tế 2
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
2.1 Đối tượng 2
2.2 Địa điểm nghiên cứu 2
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: 2
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 2
2.3 Phương pháp nghiên cứu 2
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 2
2.3.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 2
2.3.3 Các chỉ số nghiên cứu 2
2.3.4 Cán bộ tham gia nghiên cứu 2
2.3.5 Phương pháp và công cụ thu thập dữ liệu 2
2.3.6 Xử lý số liệu 2
2.3.7 Khống chế sai số 2
2.3.8 Phương pháp tiến hành 2
2.3.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 2
2.4 Kế hoạch nghiên cứu: 2
Trang 43.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ có trình độ bác sỹ trở lên ở ngành y tế
tỉnh Tuyên Quang năm 2011 2
3.1.1 Kết quả nghiên cứu định lượng 2
3.1.2 Kết quả nghiên cứu định tính 2
3.2 Thách thức, khó khăn trong việc phát triển nguồn nhân lực y tế có trình độ bác sỹ trở lên ở ngành y tế tỉnh Tuyên Quang hiện nay 2
3.3 Kế hoạch chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ bác sỹ trở lên cho ngành y tế tỉnh Tuyên Quang từ nay đến năm 2015 2
Chương 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN 2
KẾT LUẬN 2
KHUYẾN NGHỊ 2
PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5Bảng 2.1 Tiêu chuẩn về trình độ Chuyên môn; Chính trị; ngoại ngữ; tin học 2
Bảng 2.2 Cấp độ thực hiện mẫu nghiên cứu định tính 2
Bảng 3.1 Số lượng bác sỹ theo tuyến toàn tỉnh……… 2
Bảng 3.2 Số lượng bác sỹ tại các trung tâm y tế tuyến tỉnh 2
Bảng 3.3 Số bác sỹ bệnh viện tuyến tỉnh 2
Bảng 3.4 Số bác sỹ tại các bệnh viện huyện, khu vực 2
Bảng 3.5 Số bác sỹ tại các trung tâm y tế huyện, TP 2
Bảng 3.6 Số BS tại các Chi cục trực thuộc 2
Bảng 3.7 Số BS tại các trung tâm DS- KHHGĐ huyện, thành phố 2
Bảng 3.8 Số BS các trạm y tế xã phường, thị trấn 2
Bảng 3.9 Số lượng BS (LĐQL) trung tâm y tế tuyến tỉnh 2
Bảng 3.10 Số bác sỹ đang làm công tác lãnh đạo (Ban Giám đốc và Trưởng phó khoa phòng) tại các bệnh viện tuyến tỉnh 2
Bảng 3.11 Số bác sỹ đang làm công tác lãnh đạo (Lãnh đạo và Trưởng phó khoa phòng) tại các bệnh viện huyện 2
Bảng 3.12 Số bác sỹ tại các trung tâm y tế huyện, TP 2
Bảng 3.13 Số bác sỹ tại các Trung tâm DSKHHGĐ huyện, TP 2
Bảng 3.14 Chất lượng chuyên môn chung BS toàn tỉnh 2
Bảng 3.15 Chất lượng chuyên môn của các bác sỹ TTYT tuyến tỉnh 2
Bảng 3.16 Chất lượng chuyên môn của bác sỹ tại các BV tuyến tỉnh 2
Bảng 3.17 Chất lượng chuyên môn của bác sỹ tại TTYT huyện, TP 2
Bảng 3.18 Chất lượng chuyên môn của bác sỹ tại BV huyện, khu vực… 2
Trang 6Bảng 3.20 Chất lượng chuyên môn của Lãnh đạo Bệnh viện tuyến tỉnh
2
Bảng 3.21 Chất lượng chuyên môn của Lãnh đạo BV tuyến huyện, KV 2
Bảng 3.22 Chất lượng BS (LĐQL) Sở Y tế, bệnh viện tuyến tỉnh 2
Bảng 3.23 Chất lượng các bác sỹ (LĐQL) TTYT tuyến tỉnh 2
Bảng 3.24 Chất lượng BS (LĐQL) TTYT huyện, thành phố 2
Bảng 3.25 Chất lượng BS quản lý (LĐQL) BVĐK huyện, khu vực 2
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành y tế đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp bảo vệ,chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đảm bảo sức chiến đấu và sản xuất qua các cuộcchiến tranh lâu dài của dân tộc để giành độc lập tự do và thống nhất đất nước
Ngày nay, đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá trongbối cảnh hoà nhập khu vực và hoà nhập với cộng đồng thế giới Một trongnhững yếu tố quyết định để sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nướcthành công, nhanh chóng thoát khỏi tình trạng một nước nghèo là phải có mộtnguồn nhân lực đủ về số lượng, có chất lượng chuyên môn cao, có văn hoá vàkhả năng sáng tạo, tiếp thu những thành quả khoa học công nghệ tiên tiến trênthế giới nhằm đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới Con người được Đảng
ta quan niệm không phải chỉ là động lực phát triển kinh tế - xã hội mà còn làmục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội;
Nói đến ngành y tế không thể không nói đến nhân lực y tế tứclà
những người đang và sẽ làm các công việc cụ thể ở cương vị của mình đểbảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân (những người đã, đang và sẽ lànguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và
bảo vệ Tổ quốc) Từ khi có “Đổi mới”, chấp nhận nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều thành phần, hệ thống Y tếViệt Nam đã có nhiều biến chuyển sâu sắc và phức tạp, đặt ra nhiều vấn đềmới, khó khăn về quản lý nguồn nhân lực y tế Bởi vậy, nghiên cứu quản lýnguồn nhân lực y tế đặc biệt nhân lực có trình độ cao từ đại học trở lêntrong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước là một vấn đề hết sứccấp thiết, nhưng cũng rất khó khăn, nhất là trong bối cảnh tình hình trongnước và thế giới có nhiều thay đổi không lường trước được, có nhiều chínhsách không còn phù hợp, thiếu tính đồng bộ…;
Tuyên Quang là tỉnh kém phát triển, trình độ dân trí không đồng đều,đầu tư hàng năm cho công tác y tế còn thấp, đặc biệt nguồn nhân lực có trình
độ đại học còn thiếu rất nhiều, đó là những nguyên nhân cơ bản tác động đến
Trang 9chất lượng các dịch vụ y tế trong những năm qua Vượt lên những khó khăn
đó, trong suốt những năm qua ngành y tế Tuyên Quang đã có những kết quảđáng ghi nhận như mạng lưới y tế cơ sở được củng cố đủ số lượng cán bộ,công tác y tế dự phòng được quan tâm, nhiều năm không có dịch lớn trên địabàn toàn tỉnh, nhiều kỹ thuật mới trong điều trị và chẩn đoán đã được triển khaitại các bệnh viện tại tuyến huyện và tuyến tỉnh, công tác đào tạo được quantâm, Đề án đào tạo cán bộ ngành y tế giai đoạn 2010- 2015 đã được UBNDtỉnh phê duyệt và ngành y tế đã triển khai thực hiện;
Để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhândân, từ năm 2008 các bệnh viện tuyến huyện, phòng khám đa khoa khu vực
và các bệnh viện tuyến tỉnh đã được đầu tư bằng nguồn vốn Trái phiếuChính phủ cả về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và đào tạo cán bộ Sau năm
2015 cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của ngành y tế sẽ cơ bản đáp ứng được yêucầu Một vấn đề đặt ra hiện nay là nhân lực sử dụng có hiệu quả các cơ sở y
tế đó, đặc biệt số cán bộ có trình độ cao ở các bệnh viện tuyến tỉnh;
Thực tế hiện nay nguồn nhân lực BS của Tuyên Quang đang còn rấtthiếu, nhiều năm qua ngành y tế không tuyển đủ chỉ tiêu BS trong khi đómột số BS có trình độ đã đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển công tác về cácthành phố lớn có mức lương cao hơn, số BS còn lại vẫn chưa yên tâm côngtác, số lượng BS về công tác tại các tuyến từ xã đến huyện là rất ít hoặckhông có Đây là một thực trạng mà tỉnh đang phải đối mặt, các nhà quản lýngành Y tế chưa có giải pháp thỏa đáng;
Vì vậy việc đánh giá thực trạng nguồn nhân lực BS tỉnh Tuyên Quangqua kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học để tham mưu cho các cấp lãnhđạo, tạo cơ sở cho việc ban hành các chính sách đối với công tác cán bộ nhất
là lực lượng BS của tỉnh, đề ra những giải pháp trước mắt và lâu dài về côngtác cán bộ, chủ yếu là lực lượng BS của ngành Y tế Tuyên Quang;
Trang 10Câu hỏi NC của chúng tôi là: Thực trạng đội ngũ cán bộ có trình độbác sỹ trở lên ở ngành y tế tỉnh Tuyên Quang năm 2011 ra sao? Những tháchthức, khó khăn nào đang tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực y tế cótrình độ bác sỹ trở lên ở ngành y tế tỉnh Tuyên Quang hiện nay? Và việc pháttriển đội ngũ cán bộ có trình độ Bác sỹ trở lên cho ngành Y tế tỉnh TuyênQuang từ nay đến năm 2015 ra sao?
Chính vì thế chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực y tế có trình độ bác sỹ trở lên ở tỉnh Tuyên Quang, thách thức và giải pháp đến năm 2015”
Mục tiêu nghiên cứu như sau:
1 Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ có trình độ bác sỹ trở lên ở ngành y tế tỉnh Tuyên Quang năm 2011.
2 Mô tả những thách thức, khó khăn trong việc phát triển nguồn nhân lực y tế có trình độ bác sỹ trở lên ở ngành y tế tỉnh Tuyên Quang hiện nay.
3 Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ bác sỹ trở lên cho ngành y tế tỉnh Tuyên Quang từ nay đến năm 2015.
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nhân lực bác sỹ hiện nay
Các bác sĩ tuyến cơ sở (hay bác sĩ gia đình) bao gồm bác sĩ đa khoa,bác sĩ đang học chuyên khoa, bác sĩ nội khoa và bác sĩ nhi khoa;
Các bác sĩ nội khoa và nhi khoa phải lựa chọn để hành nghề hoặc như
là bác sĩ gia đình hoặc như là bác sĩ chuyên khoa Luật Seehofer quy định rõ
phạm vi hoạt động của hai loại bác sĩ gia đình và bác sĩ chuyên khoa Bác sĩ
gia đình - do các uỷ ban hai bên bao gồm các bác sĩ hành nghề và đại diệncác quỹ (có tỷ lệ đại diện ngang nhau) công nhận - thì không có quyền cungcấp dịch vụ chuyên khoa Các bác sĩ chuyên khoa lại không có quyền hànhnghề bác sĩ đa khoa;
Để được công nhận là bác sĩ gia đình thì phải qua một khoá đào tạothường xuyên dài 3 năm Người được bảo hiểm phải đăng ký khám ở một bác
sĩ trong thời gian tối thiểu là 1 năm Bác sĩ chuyên khoa có thể hành nghề ởphòng khám hoặc ở bệnh viện Trong vòng 20 năm trở lại đây, tỷ lệ bác sĩchuyên khoa ngày càng tăng;
Cải cách Seehofer đã hạn chế rất nhiều việc mở tư Số lượng giấyphép cho mở phòng khám chữa bệnh được điều tiết, có xét đến số bệnhnhân phải chờ đợi và đến lợi ích của các phòng khám đã tồn tại Bắt đầu từnăm 1999 sẽ áp dụng những biện pháp hạn chế theo luật định Việc cấp giấy
Trang 12phép sẽ căn cứ vào nhu cầu Các giấy phép sẽ đương nhiên hết hạn khi bác
sĩ được 68 tuổi Khi số lượng giấy phép vượt quá số lượng do Uỷ ban hai
bên ấn định là 10% thì được coi là “thừa” Mỗi bác sĩ được các Liên đoàn
nghiệp đoàn bác sĩ trả tiền theo thao tác y tế Cứ mỗi quý thì các liên đoàn
này phân bổ cho các thành viên một khoản “gói” với sự chấp thuận của các
quỹ Bảo hiểm Y tế Ngoài ra, mỗi bác sĩ còn bị ấn định một mức tối đa về
kê thuốc và chỉ định xét nghiệm
1.1.1.2 Nước Pháp
Khoảng 2 triệu người (9% người lao động) làm việc trong lĩnh vực y
tế Tổng số giường là 508.000, tức là 9,2 giường/1000 dân, trong đó 260.000giường dùng cho điều trị ngắn ngày Gần 1 triệu người làm việc trong cácbệnh viện Bệnh viện công có thể là bệnh viện đa khoa hoặc bệnh việnchuyên khoa Có nhiều loại, từ các Trung tâm bệnh viện của vùng cho đếnbệnh viện địa phương Các bệnh viện công chiếm gần hai phần ba số giường
Tỷ lệ nằm bệnh viện công ở Nội khoa là 77%, do bệnh Tâm thần là 70%, ởNgoại khoa là 49%, và ở Sản khoa là 59% Khu vực công đảm nhiệm 93% sốtrường hợp phải nằm viện dài ngày Từ 1984 đến 1994, khu vực công đãgiảm 40.000 giường bệnh Các bệnh viện tư có 35% số giường bệnh Các cơ
sở tư nhân có tham gia vào dịch vụ y tế công cộng chiếm 30% số giường vàcũng có nhiệm vụ như bệnh viện công Do tiến bộ về công nghệ và về điều trịnên các cơ sở y tế cũng phải có nhiều hình thức điều trị: điều trị tại nhà (hiện
có 200.000 bệnh nhân), nằm viện ban ngày hoặc ban đêm, phẫu thuật ngoạitrú Các cơ sở bệnh viện có quyền lập ra các mạng lưới săn sóc nhằm tạo điềukiện cho bệnh nhân vẫn tiếp tục được chăm sóc Có những nhóm hợp tác y tế
về trang bị, phục vụ cho hai hay nhiều bệnh viện công và tư Trình độ kỹthuật của các bệnh viện đã được nâng cao đáng kể trong những năm gần đây,
ở khu vực tư nhân mạnh hơn là ở khu vực công;
Số bác sĩ là 180.000 người (khoảng 2,8 bác sĩ/1000 dân) Dịch vụ y
tế ở Pháp là lớn: hiện nay, ở Pháp có 508.000 giường bệnh, trong đó
Trang 13260.000 giường dùng cho điều trị ngắn ngày, 180.000 bác sĩ, 340.000 y tá
và hơn 500.000 nhân viên y tế khác Trong khoảng từ 1980 đến 1997, sốthầy thuốc làm trong khu vực công và tư đã tăng từ 113.000 lên 175.000người (gần 54%) trong khi dân số Pháp chỉ tăng có 9% Đồng thời, cơ cấucủa ngành y cũng thay đổi nhiều: so với 1980, số bác sĩ chuyên khoa tănglên 2 lần, còn số bác sĩ đa khoa chỉ tăng 25% Năm 1980 tỷ lệ bác sĩ đa khoa
là 2/3 đến năm 1997 thì tỷ lệ này chỉ còn là 1/2 Từ 1995, số bác sĩ đa khoakhông tăng còn số bác sĩ chuyên khoa không ngừng tăng lên;
Hiện nay tỷ lệ bác sĩ đa khoa là 50,5%; 75% số bác sĩ đa khoa và 68%
số bác sĩ chuyên khoa có phòng khám tư Số người làm việc trong cácngành khác thuộc về lĩnh vực sức khoẻ (dược sĩ, nữ hộ sinh, thầy thuốc nhakhoa, y tá, xoa bóp…) cũng tăng nhiều nhưng tỷ lệ tăng thấp hơn so với tỷ
lệ tăng thầy thuốc;
Có khoảng hơn 40.000 bác sĩ nha khoa Phần lớn (94%) là làm tư.Hiện nay có hạn chế số lượng sinh viên y và nha;
Các bác sĩ tư có quyền tự do đặt phòng khám Thù lao được trả theo
thao tác Công ước năm 1980 cho phép bác sĩ được lựa chọn quy chế “khu vực 2 với thù lao tự do” Từ 1990, bác sĩ không có quyền đổi quy chế Mỗi
năm chỉ có 1000 bác sĩ trong số những người có chức danh tại bệnh viện
được phép chọn “khu vực 2” khi mở phòng khám của mình.
1.1.1.3 Nước Anh
Mật độ bác sĩ đa khoa là 6/10000 dân; bác sĩ chuyên khoa
là 9,3/10.000 dân Bác sĩ đa khoa đóng vai trò bản lề trong hệ thống y tế vìphải qua bác sĩ đa khoa mới có thể tiếp cận với các chuyên khoa Năm 1996
có khoảng 35.000 bác sĩ đa khoa Từ khi có cải cách vào 1990 thì các bác sĩ
đa khoa làm việc trong các phòng khám chung và có lượng bệnh nhân vượtquá một ngưỡng nào đấy (có trên 7.000 bệnh nhân đăng ký khám) có thể
được cấp ngân sách độc lập (Fund Holders) để “mua” dịch vụ bệnh viện
Trang 14hoặc dịch vụ chuyên khoa cho bệnh nhân của mình Mục tiêu của cải cách làtạo ra sự cạnh tranh giữa các cơ sở bệnh viện;
Năm 1995 có hơn một phần ba số bác sĩ đa khoa đã trở thành cácFund Holders Chính phủ công đảng nắm quyền từ 1997 có thể xem xét lạiviệc này Thù lao cho bác sĩ gồm có phần thù lao cơ bản và một tỷ lệ theođầu người (procapita) tuỳ theo số lượng bệnh nhân đăng ký Mỗi người dân
có quyền theo ý mình đăng ký khám ở một bác sĩ đa khoa trong thời gian tốithiểu là một năm Phần thù lao theo đầu người chiếm khoảng 60% thu nhậpcủa thầy thuốc;
Ngoài ra, thầy thuốc còn được thưởng nếu đạt được các chỉ tiêu vềphòng bệnh 54.000 bác sĩ chuyên khoa làm việc ăn lương ở các bệnh viện.Mới cách đây ít lâu, chỉ có bác sĩ đa khoa là làm việc ở phòng khám còn cácbác sĩ chuyên khoa hoàn toàn làm việc trong bệnh viện Sự hình thành các
tổ hợp (consortium) bác sĩ đa khoa đã làm thay đổi quan hệ với các bác sĩchuyên khoa của bệnh viện; các bác sĩ chuyên khoa giờ đây cũng nhậnkhám bệnh cả ở ngoài bệnh viện tuy vẫn thuộc về bệnh viện;
Bác sĩ nha khoa và dược sĩ là những người hành nghề tự do,
ký hợp đồng với các FHSA Trong mười năm qua, cơ cấu NVYT đã thayđổi nhiều Tỷ lệ bác sĩ tăng đều (từ 4,5% tổng số nhân viên y tế năm 1985tăng lên 5,9% năm 1995) còn tỷ lệ y tá lại giảm (từ 51% xuống 48,8%);giảm rõ nhất là số nhân viên dịch vụ (giảm một nửa) do việc thuê lại Năm
1995, tỷ lệ làm công tác quản lý là hơn 1/5 (năm 1985 chỉ là 1/20)
Trang 15- Dịch vụ cơ sở Phát triển dịch vụ cơ sở là một trong những mục tiêu
chính của các đợt cải cách kế tiếp nhau Năm 1995 có 51.000 bác sĩ đa khoalàm việc ở khu vực cơ sở, tức là 1 bác sĩ/1000 dân Số bác sĩ nhi khoa(6.250) thiếu nhiều (chỉ có 0,6/1000 trẻ) Bác sĩ đa khoa phân bố không đồngđều, tập trung nhiều ở phía Nam Các bác sĩ chăm sóc ban đầu này lại ít được
cơ quan y tế quốc gia coi trọng, họ không tham gia thực sự vào các hoạt độngcủa đơn vị y tế địa phương và ít hợp tác với các bác sĩ chuyên khoa Họ đượchưởng thù lao theo đầu người Có ba loại cơ sở y tế: các bệnh viện đa khoacông, các bệnh viện an dưỡng công và các nhà an dưỡng tư Phần lớn các cơ
sở này là do các quỹ tương tế lập ra trước khi có cơ quan y tế quốc gia Bác sĩchuyên khoa làm việc cho cơ quan y tế có thể hành nghề đồng thời tại nhiềutrung tâm và làm một phần thời gian tại bệnh viện Họ được trả lương theogiờ Hoạt động của bác sĩ chuyên khoa ở ngoài bệnh viện chủ yếu là chẩnđoán Bác sĩ chuyên khoa không thuộc bệnh viện và làm việc theo hợp đồngthì hành nghề ở các phòng khám tư hoặc bệnh viện tư Họ được hưởng thùlao theo thao tác theo giá thoả thuận trong hợp đồng Có rất nhiều phòngkhám tư ở phía Nam Theo nguyên tắc thì muốn tới bác sĩ chuyên khoa phải
có chỉ định của bác sĩ đa khoa Khu vực công có 560.000 người làm việc,trong đó 17% là bác sĩ, 44% là y tá
1.1.1.5 Thái Lan
Về nguồn lực y tế, Thái Lan có trên 8.700 BS, bình quân khoảng 13,1
BS cho 100.000 dân (so với 150-300 BS cho 100.000 dân tại các quốc giaphát triển) Tại Băng Cốc có số dân bằng 9,2% dân số cả nước, nhưng lại có75% số BS tập trung ở đây Thái Lan có 8 trường y để đào tạo BS được Nhànước bảo trợ và thuộc hệ Đại học, có 1 trường được Bộ Quốc phòng bảo trợ.Tại Băng Cốc, 54,8% chi phí y tế được dùng cho y tế tư BV tuyến huyệnthường có tỷ lệ sử dụng giường bệnh thấp (khoảng 50%) BV tỉnh có tỷ lệ
sử dụng giường bệnh cao hơn Các BV thuộc trường đại học và các BV lớn
có tỷ lệ sử dụng giường bệnh cao, đôi khi phải 2 người nằm một giường
BV công khám chữa bệnh nhưng vẫn thu phí Cái được của hệ thống y tế
Trang 16này là tạo điều kiện cho việc phát triển các nguồn lực y tế, làm thay đổi bộmặt kỹ thuật y tế [2], [51]
1.1.1.6 Cơ cấu BS một số nước ở Châu Á
Bảng 1.1: Số BS/10.000 dân của một số nước Châu Á
Tên nước Số dân (1.000.000) Số bác sỹ/10.000 dân
sỹ/10.000 dân [42] “Chảy máu chất xám” nguồn nhân lực y tế đang là thực
trạng ở nhiều địa phương của Việt Nam Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn ThịKim Tiến khẳng định: Để làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân,ngành y tế cần 3 điều kiện là: nguồn nhân lực; thuốc và trang thiết bị.Nhưng trong thực tế hiện nay, nguồn nhân lực y tế đang là vấn đề nổi cộmcần được giải quyết của ngành từ Trung ương đến địa phương, nhất là cácvùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế chậm phát triển [31], [39] Theo ÔngNguyễn Công Huấn, Giám đốc Sở Y tế Lai Châu, hiện nay tỉnh chỉ có 3,5bác sỹ trên 1 vạn dân, 98 xã chưa có bác sỹ và hiện chỉ đáp ứng được 50%nhu cầu thực tế, đặc biệt nhiều bác sỹ đang có xu hướng chuyển ra y tế tưnhân Nguyên nhân chính là do chỉ tiêu đào tạo phân bổ cho các trường y tế
Trang 17trong cả nước là quá ít, nhiều sinh viên khi tốt nghiệp không có việc làmnhưng cũng không tình nguyện về công tác tại các vùng khó khăn [18].
Không chỉ khu vực vùng cao “khát” cán bộ y tế mà ngay ở khu vực đồng
bằng, trung tâm lớn, tình trạng thiếu y, bác sĩ cũng phổ biến Ông NguyễnLập Quyết, Giám đốc Sở Y tế Hà Nam cho biết: Nhân lực y tế ở tỉnh nàyđang rất thiếu, nhất là tuyến huyện, không đủ biên chế cho số giường bệnhtheo quy định Thiếu nhân lực, cho nên những bác sĩ công tác tại tuyếnhuyện không có thời gian nghỉ bù theo quy định Mỗi năm cả tỉnh tuyểnđược 10 đến 15 bác sĩ mới ra trường về công tác, chỉ đủ bố trí công tác tạituyến tỉnh, còn tuyến huyện gần như không được bổ sung mới, mà chủ yếu
là bổ sung những cán bộ là y sĩ đi học nâng cao Hiện nay cả tỉnh cần bổsung thêm 250 bác sĩ nữa nhưng chưa có nguồn Tỉnh cũng chưa có chínhsách thỏa đáng để thu hút những bác sĩ mới ra trường Các huyện như: KimBảng, Thanh Liêm cũng chỉ có 13 - 14 bác sĩ/huyện Nhưng nếu trừ đi vài
ba cán bộ làm quản lý thì số người trực tiếp tham gia khám, chữa bệnh chongười dân sẽ còn thấp hơn nữa [19] Đối với các tỉnh miền Trung, BìnhÐịnh được xem như trung tâm của khu vực Nam Trung Bộ, nhưng số lượngcán bộ y tế cũng đang rất thiếu Ông Nguyễn Văn Cang, Giám đốc Sở Y tếcho biết: Số lượng cán bộ y tế, nhất là bác sĩ thiếu từ tuyến tỉnh xuống đếntuyến huyện, xã Năm 2010 cơ cấu nhân lực cả tỉnh cần thêm 220 bác sĩ,nhưng tuyển được không quá 10 người Ðồng thời cũng có 10 người nghỉviệc, chuyển công tác kể cả những bác sĩ được cử đi học sau đại học Bệnhviện Phong- Da liễu TW Quy Hòa nhiều năm nay không tuyển thêm đượcbác sĩ mới, dù Ban giám đốc thường xuyên đến các trường Đại học Y ở TháiNguyên, Hà Nội, Huế, Thái Bình mời những sinh viên mới ra trường vềcông tác Bệnh viện buộc phải tuyển y sĩ rồi tiếp tục cử đi đào tạo Nhưngnhư nhận xét của Ông Vũ Bá Toản, Trưởng phòng Tổ chức- hành chính:
Việc cử cán bộ đi học như “con dao hai lưỡi” Những người được đi đào
tạo sẵn sàng bỏ việc, chấp nhập đền bù kinh phí đào tạo (chỉ vài triệuđồng/năm) để chuyển chỗ làm mới có thu nhập cao hơn Chỉ cách TP HồChí Minh 50 km, Bình Dương được nhiều người biết đến là địa phương thu
Trang 18hút đầu tư nước ngoài, và phát triển kinh tế tốp đầu cả nước Nhưng bệnhviện đa khoa của tỉnh (có quy mô 900 giường bệnh) hiện cũng thiếu tới 70đến 80 bác sĩ Ông Ngô Dũng Nghĩa, Giám đốc Bệnh viện lo lắng: Nhiều kỹthuật cần triển khai, như: tim mạch can thiệp, nội soi nâng cao, cắt đại tràng,
dạ dày nhưng chưa thực hiện được do thiếu BS [23], [29] Theo ViệnChiến lược và Chính sách Bộ Y tế: Giải bài toán về nhân lực y tế cần ưutiên cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhân lực y tế có vai trò quantrọng trong công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Thếnhưng ở 13 tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL)
nơi có gần 18 triệu dân đang được coi là "vùng khát" về đội ngũ những người
tham gia chăm sóc sức khỏe cộng đồng Lực lượng này thiếu trước, hụt sau,các chỉ số về tỷ lệ cán bộ, bác sĩ đều thấp nhất cả nước Nhu cầu về nguồnnhân lực y tế để bảo đảm chăm sóc tốt sức khỏe cho người dân đang trở nênhết sức bức thiết [4], [13] Những năm gần đây, Bệnh viện đa khoa huyệnGiồng Riềng (Kiên Giang) có nhiều cố gắng trong khám và chữa bệnh chongười dân Tuy là tuyến huyện, nhưng Bệnh viện đa khoa huyện GiồngRiềng được xếp là bệnh viện loại II với quy mô 220 giường kế hoạch (thực
kê tới 320 giường bệnh) Hằng ngày có tới 1.000 người đến khám bệnh,trong đó có 300 người điều trị nội trú, nhưng bác sĩ thì lại rất thiếu Trongtổng số 320 cán bộ chỉ có 38 bác sĩ (10 người đang đi học) Nếu theo cácquy định, bệnh viện cần tới 73 đến 80 bác sĩ Thiếu người, nên một bác sĩmỗi ngày khám 80 đến 100 người bệnh Mỗi năm bệnh viện thông báo cầntuyển 10 bác sĩ, nhưng từ năm 2006 đến nay bệnh viện chỉ tuyển được 6người Ông Lê Văn Nhì, Phó Giám đốc bệnh viện lo lắng: Thời gian tớibệnh viện tiếp tục được nâng cấp, mở rộng thành bệnh viện đa khoa khu vựcvới quy mô 350 giường bệnh, nhiều kỹ thuật cao được triển khai, nhưng lonhất vẫn là thiếu BS [30], [41] Phó Giám đốc Sở Y tế Kiên Giang, ông Phạm Minh Huệ thẳng thắn chỉ rõ, ngành y tế Kiên Giang thiếu nhân lựctoàn bộ ở cả ba tuyến: tỉnh, huyện, xã Tuyến tỉnh thiếu cán bộ ở các đơn vị:
Y tế dự phòng, Vệ sinh an toàn thực phẩm hay ở các chuyên khoa Lao, Tâmthần, Chống nhiễm khuẩn 80% số bác sĩ ở tuyến huyện của Kiên Giang
Trang 19không được đào tạo chính quy Cuối năm 2009, Sở Y tế thông báo cần tuyển1.300 cán bộ, trong đó có 400 bác sĩ, nhưng chỉ có vài bác sĩ nộp hồ sơ Sở
Y tế phải tuyển cán bộ có trình độ trung học để cho đi đào tạo (bốn năm)thành bác sĩ Có những bệnh viện tuyến huyện như: Giang Thành, U MinhThượng chỉ có 3 bác sĩ, nên không thể triển khai công tác khám, chữa bệnhđược [42];
Thiếu BS đang là tình trạng chung của gần như tất cả các huyện, tỉnh
ở khu vực ÐBSCL Nhân lực y tế ở ÐBSCL là một trong ba điểm “khát”
nhất cả nước, 13 tỉnh, thành phố thuộc ÐBSCL với gần 18 triệu dân nhưngchỉ có hơn 40 nghìn cán bộ y tế Tổng hợp về tình hình nhân lực y tế ở cáctỉnh, thành ÐBSCL của Trường đại học Y Dược Cần Thơ thì đến cuối năm
2009, toàn vùng mới có 8.470 bác sĩ, trong đó số bác sĩ có trình độ sau đạihọc chiếm gần 3% Tỷ lệ mới đạt 4,7 bác sĩ/10 nghìn dân, nhưng không đều,
tỷ lệ này ở Hậu Giang chỉ có 3,6; Sóc Trăng 3,5; Trà Vinh 3,7 bác sĩ/10nghìn dân Thành phố Cần Thơ là trung tâm của vùng cũng chỉ đạt 6,4 bácsĩ/10 nghìn dân, thấp hơn bình quân chung của cả nước (6,52 bác sĩ/10nghìn dân) [40], [55]
1.2 Những thách thức và giải pháp trong quản lý nguồn nhân lực y tế
1.2.1 Thế giới
1.2.1.1 Châu Âu
Từ giữa những năm 1970, tất cả các nước Tây Âu, dù có hệ thống y
tế và bảo hiểm xã hội được tổ chức theo các nguyên lý khác nhau, đềuphải đối phó với một vấn đề: vấn đề cung cấp tài chính cho một lĩnh vực
xã hội ngày càng tốn kém trong thời kỳ phát triển kinh tế bị chậm lại Nóichung, các nước đã áp dụng những biện pháp giống nhau nhưng đã đượcthay đổi cho phù hợp với điều kiện chế độ, xã hội và văn hóa của mỗi nước.Gần đây hơn, do những vấn đề về quan hệ cung - cầu vẫn tồn tại và ngàycàng có chiều hướng nặng thêm nên các nhà hoạch định chính sách có xuhướng đề ra những cải cách triệt để Đồng thời ý định của một số nướcmuốn xa rời nguyên tắc nhà nước quản lý đã cho thấy có sự định hướng lại
về lý tưởng;
Trang 20Cho đến cuối những năm 80, các cải cách chú trọng vào khía cạnhquản lý Sau đó các cải cách đã chuyển sang hướng làm thay đổi về chấtbằng cách tiếp cận khía cạnh cấu trúc của hệ thống y tế
- Các cơ quan thể chế rút lui khỏi việc cung cấp tài chính là một trongnhững biện pháp nhằm kiểm soát chi phí Cụ thể là bệnh nhân phải trả tiềnnhiều hơn, tách rời giá với tỷ lệ bồi hoàn (ở Đức và Hà Lan là đối với thuốc;
ở Pháp là đặt ra khu vực thù lao tự do) Biện pháp loại này là bước đầu tiêndẫn đến quan niệm về giá thị trường trong dịch vụ và vật phẩm y tế ViệcNhà nước rút lui khỏi việc cung cấp tài chính ở các nước phía Nam châu Âu
là rõ rệt và đã làm khu vực y tế tư nhân phát triển;
- Hạn chế và giảm cơ sở y tế thể hiện qua việc khống chế tăng sốlượng cán bộ y tế, giảm quy mô bệnh viện, giảm nằm viện bằng các hìnhthức điều trị linh hoạt hơn Nhưng liệu các biện pháp này có thực sự có lợiích về kinh tế không?
- Cấp một ngân sách trọn gói cho các cơ sở y tế đã được áp dụng rộngrãi từ đầu những năm 80 Đây là đặc điểm của y tế quốc gia hoạt động trên
cơ sở ngân sách Biện pháp này được thực hiện ở các nước theo nguyên lýBismarck do nhận thấy rằng các biện pháp nhằm hạn chế hoạt động quámức và nhằm làm thay đổi hành vi đã không có hiệu quả Ngân sách trọngói có thể được quan niệm không phải chỉ về mặt tài chính mà thôi Ví dụnhư ở Pháp, ngân sách này gắn với các mục tiêu hằng năm có tính địnhlượng được ấn định Còn ở Anh thì ngân sách cho bác sĩ dùng để trả tiềncho các hợp đồng dịch vụ Vấn đề gặp phải ở đây là vấn đề về chất lượngdịch vụ và vấn đề công bằng;
- Tìm biện pháp để cân bằng tốt hơn giữa cung và cầu nhằm hạn chếchi phí, cụ thể như làm các hợp đồng theo mục tiêu, đề ra các biện phápkhống chế kiểm soát chuyên môn dưới các hình thức khác nhau ở Pháp,Anh, Hà Lan Ngoài ra còn có việc thiết lập các mạng lưới y tế là cách đểchống lại sự quản lý quá tập trung dựa trên các tiêu chuẩn quốc gia;
- Bắt chước phương thức quản lý doanh nghiệp là một quan niệm mới
về phương thức lãnh đạo hoạt động y tế Điều này đã kèm theo việc tư nhân
Trang 21hoá và ngả sang quan điểm cho rằng thị trường tự do mới đem lại hiệu quả.
Sở dĩ có điều này là vì cơ quan nhà nước quản lý y tế (Anh, các nước NamChâu Âu) bị phê phán nhiều;
- Đưa quan hệ cạnh tranh vào y tế, mọi người đều làm theo hợp đồng
cá nhân là đặc điểm của các cải cách gần đây nhất Dự án Dekker-Simons ở
Hà Lan là điển hình nhất: cho phép cạnh tranh giữa các quỹ bảo hiểm y tế,cạnh tranh giữa các cơ sở trong ngành y tế Cải cách Thatcher đã thiết lập cơchế thị trường trong một hệ thống y tế vẫn hoàn toàn là công cộng Cải cáchcủa Phần Lan năm 1993 cũng bắt nguồn từ cải cách của Anh; Thuỵ Điểncũng theo xu hướng này để hiện đại hoá hệ thống của mình;
- Cho dù Nhà nước có hứa hẹn hay đảm bảo gì khi cải cách thì việc thịtrường hoá bảo hiểm xã hội (trong đó có bảo hiểm y tế) và phân nhỏ hệ thống
y tế sẽ gặp một nguy hiểm hiển nhiên là sự sàng lọc nguy cơ dẫn đến phân biệtđối xử với các nhóm xã hội, thiệt thòi cho các nhóm có nguy cơ cao;
Ngoài ra, liệu tất cả các cải cách ấy đã xét đến những thách thứcmới (như các vấn đề dân cư ngày càng già, nhu cầu và hành vi của người dânthay đổi, công nghệ và kỹ nghệ phát triển nhanh, sự xuất hiện của những bệnhmới v.v ) chưa? Các thách thức này là những điều sẽ gặp phải và buộc phảithúc đẩy thay đổi nhanh hơn
1.2.1.2 Một số vấn đề y tế và nhân lực y tế của các nước đang phát triển
Các nước kém phát triển (phần lớn là các thuộc địa cũ) đều nằm trongvòng xoắn: đói nghèo, lạc hậu kinh tế, xã hội, chính trị, không ổn định bệnh tật đói nghèo, lạc hậu… Hậu quả của quá trình thuộc địa là hệthống y tế vốn đã kém phát triển lại mất cân đối giữa khu vực chữa bệnhtương đối phát triển, còn khu vực phòng bệnh thì rất yếu kém mặc dù cácnhà lãnh đạo đều ý thức được rằng cần phải dự phòng bệnh là chính Điềunày là do: cần phải đầu tư rất lớn trong khi lại có nhiều ưu tiên cấp báchkhác, do tình hình an ninh chính trị không ổn định (chiến tranh, mâu thuẫnsắc tộc, tôn giáo…), do điều kiện sống của đại đa số dân cư rất thấp và dântrí còn lạc hậu v.v… Các cơ sở y tế hầu như chỉ tập trung ở các thành phốlớn Rất nhiều vùng nông thôn, vùng xa còn trắng về y tế Người ốm rất khó
Trang 22khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế do địa lý, do điều kiện kinh tế Các thày mo,
thày cúng ở các vùng này cũng làm cả chức năng “thầy thuốc” Các bác sĩ
(được đào tạo từ các trường đại học trong nước và từ nước ngoài) chủ yếutập trung ở các đô thị và làm tư Y tá được đào tạo chính quy cũng vậy Rấtnhiều bác sĩ và y tá có chuyên môn cao sang các nước phát triển làm việc để
có thu nhập cao, có điều kiện làm việc tốt hơn, đảm bảo cuộc sống gia đìnhtốt hơn Một nguồn tài lực, vật lực và nhân lực y tế cho các nước này là cácchương trình trợ giúp từ cộng đồng quốc tế (các tổ chức quốc tế, các tổ chứcphi chính phủ, các tổ chức nhân đạo)
1.2.2 Việt Nam
1.2.2.1 Thách thức và khó khăn
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tăng nhu cầu nhân lực y tế:nguồn đào tạo có giới hạn; dân số mỗi năm tăng thêm khoảng một triệungười; hệ thống y tế tư nhân đang phát triển nhanh; nhu cầu khám, chữabệnh ngày càng cao Theo thống kê của Bộ Y tế, tuy số cán bộ y tế hằngnăm có tăng, nhưng không theo kịp mức tăng dân số Tính đến năm 2008nước ta có 40,5 cán bộ y tế/ mười nghìn dân nhưng vẫn thấp hơn mức 43,1cán bộ/ mười nghìn dân (năm 1986) So với các nước trong khu vực châu Á
- Thái Bình Dương, tỷ lệ bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ/ một nghìn dân củaViệt Nam còn quá thấp, mới đạt gần 50% so với khuyến cáo của Tổ chức Y
tế thế giới [37] Hiện nay số cán bộ y tế trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm2/3 tổng số cán bộ; số cán bộ trình độ đại học chỉ chiếm 1/4 số cán bộ, chỉ
có khoảng 2% số cán bộ có trình độ thạc sĩ 0,51% có trình độ tiến sĩ Ðángchú ý, số cán bộ y tế ở thành thị chiếm 50% tổng số cán bộ y tế (14% ởtuyến Trung ương, 36% ở tuyến tỉnh) trong khi tổng số dân số ở thành thịchỉ chiếm 27,7% số dân [1], [14] Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế)cho biết, số lượng nhân lực y tế cho lĩnh vực khám, chữa bệnh còn thiếu sovới định mức biên chế và nhu cầu thực tế Hiện nay ngành y tế đang ápdụng chế độ làm việc theo giờ hành chính, nếu chuyển sang chế độ làm việctheo ca, thì số cán bộ y tế ở các bệnh viện công lập sẽ cần tăng thêm khánhiều [6], [34], [35] Cụ thể, trong khu vực khám, chữa bệnh, hiện có
Trang 23141.148 cán bộ, nhu cầu cần có theo định mức biên chế là 188.182 cán bộ.Trong lĩnh vực điều trị ở cả ba tuyến mới chỉ tính làm việc theo giờ hànhchính đã cần bổ sung tới hơn 47 nghìn cán bộ, nếu làm việc theo ca thì con
số đó là hơn 80 nghìn cán bộ Ngay tại tuyến Trung Uơng (36 bệnh viện)cũng thiếu BS, một số chuyên khoa khó có nguồn nhân lực để tuyển dụnglà: Giải phẫu bệnh, Sinh hóa, Xét nghiệm, Tâm thần, Lao, Phong Một sốnghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, nhiều kỹ thuật đã được triển khai ở cácnước trên thế giới hàng chục năm, nhưng áp dụng vào nước ta vẫn diễn rachậm, do thiếu chuyên gia sử dụng thiết bị hiện đại [7], [12];
Theo ông Hoàng Văn Trác, Giám đốc Sở Y tế Phú Thọ, các cơ sở y
tế nhất là tuyến huyện, tuyến xã, miền núi, vùng sâu, vùng xa rất thiếu bác
sỹ Nguyên nhân chính là bác sỹ, dược sỹ trẻ (kể cả các trường hợp cửtuyển, đào tạo theo địa chỉ) hiện nay không muốn về công tác tại các địaphương đó, mặt khác chính cơ chế cho phép họ được tự do tìm việc làmngay sau khi tốt nghiệp mà không có sự ràng buộc pháp lý nào Bên cạnh đó,nhiều cán bộ y tế tuyến xã chưa yên tâm làm việc, đặc biệt một số bác sỹ tuyến xã sau khi tốt nghiệp trở về sẵn sàng bỏ việc để xin vào cơ quan khácnhư bảo hiểm, y tế cơ quan xí nghiệp, bệnh viện ngành…;
Đại diện Sở Y tế tỉnh Đắc Nông cho biết, nhân lực y tế đang là vấn đềkhó khăn, cấp bách của tỉnh Tất cả các tuyến huyện đều thiếu bác sỹ Tỉnhcũng có những chính sách thu hút nhưng cũng chỉ tuyển được 4-5 bác sỹ/1năm Hiện xu hướng bác sỹ bỏ việc, chuyển công tác về tỉnh, thành phố cóđiều kiện hơn, đặc biệt khối bệnh viên tư nhân đang thu hút bác sỹ Có thờigian tỉnh tuyển được 10 bác sỹ nhưng có đến 8 bác sỹ chuyển đi [22];
Khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng Sông Cửu Long là nhữngvùng đặc biệt khó khăn, nên chính nhưng nơi này có rất ít Tiến sỹ, Thạc sỹ
Y khoa Nhu cầu cần bổ sung cán bộ là rất lớn, cơ chế quản lý đang gặpnhiều khó khăn, các cơ sở đào tạo y dược phân bố không đều theo địaphương, vùng kinh tế Nếu cả vùng đồng bằng sông Hồng có 11 tỉnh, thànhphố với gần 20 triệu dân có tới chín trường đại học, chín trường cao đẳng,mười trường trung cấp y tế và 13 cơ sở đào tạo sau đại học, thì ở 13 tỉnh
Trang 24ÐBSCL chỉ có 14 cơ sở đào tạo y dược, trong đó chỉ có một Trường đại học
Y Dược Cần Thơ (thành lập năm 2002) Dù có rất nhiều cố gắng, nhưngđến năm 2009 cũng mới chỉ có gần 400 bác sĩ đa khoa, bình quân mỗi tỉnh,thành phố chỉ có hơn 30 bác sĩ về phục vụ Theo ông Nguyễn Trung Kiên,Trưởng phòng Ðào tạo của Trường đại học Y Dược Cần Thơ đánh giá: Mức
tăng 10% chỉ tiêu tuyển sinh trung bình mỗi năm như hiện nay vẫn là “muối
IV và Chỉ thị 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ, mạng lưới y tế cơ sở đã đượccủng cố một bước về tổ chức, cán bộ với chủ trương đưa bác sĩ về xã Đếnnay hơn 60% số trạm y tế xã/phường trong cả nước đã có bác sĩ về công tác.Đội ngũ cán bộ y tế cơ sở (huyện/thị và xã/phường) đã được tăng cường thêm
về số lượng và bồi dưỡng thêm về trình độ chuyên môn cũng như về nghiệp
vụ quản lý Tuy nhiên cũng cần phải nhận thấy rằng về tổng thể, hệ thống tổchức và đào tạo cán bộ y tế còn chậm được đổi mới chưa phù hợp với cơ chếmới Công tác đào tạo có tăng về mặt số lượng nhưng so với thế giới chỉ sốbác sĩ trên số dân còn thấp Việc đào tạo chưa gắn liền với sử dụng dẫn đếntình trạng thừa bác sĩ ở thành phố, thiếu bác sĩ ở tuyến y tế cơ sở Một số
Trang 25lượng không nhỏ sinh viên y khoa sau khi tốt nghiệp đã đi làm những việckhông đúng chuyên môn tạo nên một sự lãng phí rất lớn về đào tạo Trướcnhững ảnh hưởng tiêu cực do mặt trái của kinh tế thị trường đem lại, một bộphận cán bộ y tế đã tỏ ra thiếu tinh thần trách nhiệm, không giữ vững đượcđạo đức của người thầy thuốc Y đức ở một số cơ sở, nhất là khu vực điều trịkhám chữa bệnh bị xuống cấp Chính sách đãi ngộ dành cho nhân viên y tếcũng còn nhiều bất cập chưa có tác dụng động viên, khuyến khích anh chị emhoàn thành nhiệm vụ Hệ thống tổ chức và quản lý của toàn ngành hiện cũngcòn nhiều bất cập và đang nảy sinh một số mâu thuẫn cần giải quyết như:quan hệ giữa các cơ sở y tế của ngành y tế với các cơ sở y tế của ngành khác,giữa các cơ sở y tế của Trung ương và của địa phương, giữa quản lý hànhchính của Nhà nước pháp quyền và quản lý chuyên môn, quản lý các chươngtrình mục tiêu Tất cả những yếu tố này đều đã gây ra những cản trở khôngnhỏ cho quá trình phát huy và tận dụng triệt để mọi tiềm lực của nguồn nhânlực nhằm phát triển sự nghiệp y tế Bởi vậy, để thực hiện những định hướngphát triển y tế bền vững, cần phải chú ý đến một số nội dung trong đổi mớiquản lý nguồn nhân lực như sau:
Trước hết, ngành y tế cần phải có sự thay đổi về tổ chức và quản lý đểthích hợp với bối cảnh một hệ thống y tế đa dạng vừa có y tế Nhà nước vừa
có y tế tư nhân như hiện nay Việc tổ chức quản lý y tế cần phải
có sự phù hợp với đặc điểm riêng của từng vùng lãnh thổ, phải giải quyếtthoả đáng các mối quan hệ ngang như y tế các ngành, quân y và các quan
hệ dọc theo tuyến Trung ương, tỉnh, huyện, xã và thôn bản Cần coi công tác
tổ chức, quản lý y tế là một khoa học Quản lý y tế trong đó có quản lý nhânlực y tế không chỉ dựa trên khoa học tổ chức y tế mà còn phải có sự trợ giúpthêm của một số ngành khoa học xã hội khác như: xã hội học, đạo đức học,kinh tế y tế, quản lý hành chính, pháp luật Trong xu hướng toàn cầu hoá,bùng nổ phát triển khoa học công nghệ như hiện nay phải chú trọng đến việchiện đại hoá quản lý y tế dựa vào công nghệ tin học Đổi mới về tổ chức vàquản lý y tế là để thực hiện những mục tiêu trong từng giai đoạn của ngành
Vì vậy đổi mới tổ chức, quản lý y tế phải được thực hiện dần dần tuỳ theo
Trang 26trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng lãnh thổ Cần phải quan tâmđến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ y tế thôn/bản, trạm xá xã/phường,phòng khám đa khoa khu vực, trung tâm y tế huyện, các bệnh viện tỉnh vàbệnh viện Trung ương, hệ thống dược và trang thiết bị y tế của Trung ươngcũng như địa phương, hệ thống các viện nghiên cứu, trường đại học Mốiquan hệ ngang giữa các ngành và quan hệ dọc theo tuyến cũng cần phải đượcqui định lại sao cho rõ ràng hơn Các mối quan hệ này cần được qui định dựatheo sự phân tích màng lưới khám chữa bệnh hiện nay, mô hình các trung tâm
y tế dự phòng và các trung tâm khác hiện có, sao cho hệ thống y tế hoạt động
có hiệu quả hơn Cần phải tổ chức sắp xếp lại các đơn vị trực thuộc Bộ, giảmbớt đầu mối, chuyển giao một số đơn vị cho địa phương Đối với những địaphương còn gặp nhiều khó khăn, Bộ Y tế cần tiếp tục hỗ trợ về kinh phí, vềchuyên môn, về cán bộ quản lý Nghiên cứu và áp dụng cơ chế chính sáchluân chuyển cán bộ về địa phương công tác cùng với việc quy định nghĩa vụcho sinh viên ra trường về công tác tại các vùng có nhiều khó khăn Tổ chức
y tế địa phương theo hướng quản lý toàn diện, theo ngành trên địa bàn tỉnh,thành phố Mô hình y tế huyện cần được tổ chức và thực hiện lại một cáchthống nhất, lồng ghép chức năng quản lý Nhà nước và chức năng chuyênmôn trên địa bàn huyện Quy hoạch lại màng lưới khám chữa bệnh theonguyên tắc tránh trùng chéo có nhiều cơ sở y tế của các ngành tại một địabàn Chính sách cán bộ của ngành cũng cần phải được vận dụng một cáchlinh hoạt như chính sách nghỉ chức vụ, nghỉ hưu để duy trì ổn định đội ngũchuyên môn cao không bị hẫng hụt giữa các thế hệ trong việc chuyển giaocũng như tránh tình trạng trì trệ, bảo thủ;
Đổi mới quản lý nguồn nhân lực y tế vì một nền y tế phát triển bềnvững không chỉ dừng ở việc điều chỉnh, thay đổi cách thức tổ chức, quản lý
y tế mà đồng thời còn phải chú trọng cả đến việc đào tạo nguồn nhân lựcsao cho đảm bảo đủ cán bộ y tế cả về cơ cấu, số lượng cũng như chất lượng.Cần phải chú trọng đào tạo cán bộ có kỹ thuật cao để đáp ứng nhu cầu pháttriển kỹ thuật y tế, theo kịp trình độ khu vực và quốc tế song vẫn khôngđược phép lơ là đào tạo những cán bộ có kiến thức về y tế công cộng để đáp
Trang 27ứng nhu cầu công tác của tuyến cơ sở Để phát triển nhân lực toàn ngành y
tế cần phải tiêu chuẩn hoá việc đào tạo cán bộ cho từng tuyến, từng lĩnhvực Đào tạo chuyên khoa và cân đối giữa các chuyên khoa Trong đào tạokhông chỉ đào tạo bác sĩ đa khoa mà còn phải chú trọng đào tạo bác sĩ cộngđồng, y sĩ sản nhi, cử nhân điều dưỡng, lương y Cải tiến chương trìnhgiảng dạy cho phù hợp với những biến động của tình hình thực tiễn, chútrọng đào tạo cán bộ quản lý ngành, cán bộ kỹ thuật có khả năng sử dụng,sửa chữa các trang thiết bị y tế hiện đại Cơ cấu đào tạo phải hợp lý về sốlượng y, bác sĩ, dược sĩ ở các tuyến Đa dạng hoá các loại hình đào tạonhưng phải đảm bảo chất lượng Cần phải có đào tạo theo địa chỉ, đào tạoliên tục nhằm đáp ứng những mục tiêu mà Nhà nước đặt ra cho ngành Quyhoạch lại màng lưới đào tạo cán bộ y tế, phải xây dựng được chiến lược, kếhoạch, chỉ tiêu đào tạo mới, đào tạo lại hàng năm Thường xuyên bồi dưỡngcho cán bộ quản lý các cấp trong ngành về kiến thức tổ chức và quản lý y tế.Đẩy mạnh việc đào tạo cán bộ có trình độ cao, chuyên khoa sâu ở tuyếnTrung ương cả về mặt chuyên môn và quản lý để phụ trách các chuyên khoađầu ngành Chú trọng đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II, chuyênkhoa I, dược sĩ chuyên khoa II, chuyên khoa I cho tuyến tỉnh và tuyếnhuyện đặc biệt là cho cán bộ phụ trách các khoa, phòng, các trung tâm.Chính sách đào tạo cũng cần phải được định hướng ưu tiên cho những vùngkhó khăn, vùng núi cao, Tây Nguyên Tại những vùng này nên thực hiệnchế độ cử tuyển cán bộ tại chỗ để đào tạo;
Cùng với việc đổi mới tổ chức, quản lý y tế, đẩy mạnh hoạt động đàotạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; việc bổ sung và ban hành nhữngchế độ chính sách nhằm khuyến khích cán bộ y tế yêu ngành, yêu nghề, tậntình phục vụ người bệnh cũng là một nội dung không thể thiếu trong quản
lý, nhân lực y tế hướng tới nền y tế phát triển bền vững Cần phải có chế độphụ cấp ngành, phụ cấp trực, phụ cấp lây nhiễm, phụ cấp vùng khó khăn
để thu hút cán bộ về cơ sở cũng như giúp họ phát huy tính sáng tạo, tinhthần yên tâm công tác và hết lòng vì công việc Cải cách chế độ tiền lương
Trang 28cho cán bộ ngành y tế sẽ là một động lực quan trọng góp phần thúc đẩy sựnghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân phát triển công bằng và hiệu quả;
Trong khoảng 15 năm qua, ngành y tế đã thực hiện nhiều đổi mớinhằm phát triển NNL với những cách tiếp cận khoa học và các công cụ cóhiệu quả hơn Một số nghiên cứu về nhân lực y tế bao gồm cả hai lĩnh vực y
và dược (kể cả y tế tư nhân) đã được thực hiện Các nghiên cứu này thườngtập trung vào sự phân bố nhân lực y tế theo các tuyến, theo trình độ chuyênmôn (bằng cấp), theo các vùng địa lý và đánh giá một số khía cạnh chấtlượng cán bộ Nhân lực y tế cũng luôn luôn là nội dung quan trọng của cácnghiên cứu khác thuộc các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe ban đầu(CSSKBĐ), sức khỏe sinh sản, giới trong ngành y tế…
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2 Địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu :
Sở Y tế Tuyên Quang và các cơ sở y tế công lập trong tỉnh
2.2.2 Thời gian nghiên cứu :
Từ tháng 01/2011 đến 12/2011
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Điều tra mô tả cắt ngang, kết hợp định
lượng và định tính
Theo mục đích nghiên cứu, chúng tôi thiết kế thành 2 giai đoạn:
- Nghiên cứu định lượng để đánh giá thực trạng nguồn nhân lực BScủa ngành y tế Tuyên Quang năm 2011;
- Kết quả định lượng là cơ sở để thảo luận nhóm trong nghiên cứuđịnh tính để mô tả những khó khăn thách thức, rào cản trong việc đào tạo vàtuyển dụng lực lượng BS ở Tuyên Quang và làm bằng chứng cho việc xâydựng kế hoạch chiến lược phát triển nguồn nhân lực bác sỹ từ nay đến 2011
2.3.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Tất cả các BS trong biên chế của ngành y tế Tuyên Quang tính thờiđiểm 01 tháng 01 năm 2011, số này là 450 người;
- Đồng ý tham gia nghiên cứu, đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn;
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các BS làm việc 100% ở các cơ sở y tế tư nhân
và các BS từ chối tham gia nghiên cứu
Trang 302.3.3 Các chỉ số nghiên cứu
2.3.3.1 Các chỉ số
- Số lượng BS tuyến tỉnh;
- Số lượng BS tuyến huyện;
- Số lượng BS tuyến xã phường;
- Chất lượng BS lãnh đạo Sở Y tế;
- Chất lượng BS lãnh đạo tuyến tỉnh;
- Chất lượng BS lãnh đạo tuyến huyện;
- Chất lượng BS lãnh đạo tuyến xã phường;
- Chất lượng BS chuyên môn tuyến tỉnh;
- Chất lượng chuyên môn tuyến huyện;
- Chất lượng chuyên môn tuyến xã phường
2.3.3.2 Định nghĩa chỉ số:
* BS lãnh đạo quản lý gồm:
- Ban giám đốc và trưởng/ phó các phòng ban Sở Y tế;
- Ban giám đốc và trưởng/ phó các phòng ban BV tỉnh, các đơn vịtuyến tỉnh, huyện/thành phố của hệ điều trị và dự phòng;
- Trưởng/ phó phòng y tế thành phố/ huyện;
- Trưởng trạm y tế xã/phường
* Số lượng BS lãnh đạo quản lý:
- Biến định tính (với 2 giá trị là đạt và không đạt )
* Số lượng BS lãnh đạo quản lý:
- Được gọi là “đạt” khi số lượng BS lãnh đạo quản lý đạt số lượng
theo từng cấp tính đến 01/01/2011 như sau:
+ Ban Giám đốc Sở Y tế gồm 4 chức danh: (1 Giám đốc, 3Phó Giám đốc);
+ Ban Giám đốc các đơn vị Y tế từ tỉnh, huyện, thành phố,thị xã gồm 3 chức danh (1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc);
Trang 31+ Các Phòng khám đa khoa khu vực, khoa phòng trực thuộc đơn vị y
tế tuyến huyện, thành phố gồm 3 chức danh (1 trưởng và 1 phó);
+ Phòng Y tế: Gồm 1 Trưởng Phòng;
+ Trạm Y tế: Gồm 1 Trưởng Trạm
- Được gọi là “không đạt” khi số lượng BS lãnh đạo theo từng cấp
không đạt số lượng như trên tính đến ngày 31/12/2010
* Chỉ số của chất lượng BS từng cơ sở y tế đạt và không đạt theo chuẩn quy định: Những quy định về chuẩn chất lượng cán bộ quản lý ngành
y tế theo các văn bản qui định của Bộ Y tế [36], [45], [61]
* Chỉ số của số lượng và chất lượng BS điều trị, chuyên môn từng cơ
sở y tế đạt và không đạt theo chuẩn quy định:
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn về trình độ Chuyên môn; Chính trị; ngoại ngữ; tin học.
Chức danh Quản lý Chuyên môn Chín h trị Ngoại ngữ Tin học
Trưởng, phó khoa phòng y tế tuyến tỉnh CV CKI TC B A
Trang 32công chức cho cán bộ quản lý có thời gian học về chuyên nghành Quản lýNhà nước 3,5 tháng do Bộ Nội vụ quy định;
- CV: Chuyên viên (CV) hay trình độ tương Đây là những quy định vềngạch công chức cho cán bộ quản lý có thời gian học về chuyên ngành Quản
lý Nhà nước 3,5 tháng, hay học chứng chỉ chuyên ngành về Quản lý Nhànước, Quản lý chuyên ngành tương đương theo quy định của Bộ Nội vụ;
- CC (Cao cấp), TC (Trung cấp), SC (Sơ cấp): Trình độ chính trị có thờigian đào tạo từ 06 đến 18 tháng Thuộc hệ thống văn bằng chứng chỉ Quốc giatheo quy định Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh;
- A,B,C: Thuộc chứng chỉ ngoại ngữ, tin học theo quy định của
Bộ Giáo dục & Đào tạo;
- Cán bộ phòng Kế hoạch, Nghiệp vụ Sở Ytế Tuyên Quang;
- Cán bộ lãnh đạo Bệnh viện tỉnh, lãnh đạo các cơ sở y tế trong tỉnh
2.3.5 Phương pháp và công cụ thu thập dữ liệu
2.3.5.1 Giai đoạn I: Nghiên cứu định lượng để giải quyết mục tiêu 1
- Họp nhóm phân công nghiên cứu, tập huấn qua bảng câu hỏi đã soạn sẵn;
- Họp lãnh đạo và trưởng phòng tổ chức các đơn vị;
- Điều tra toàn bộ mẫu đã chọn bằng bảng câu hỏi Sau 1 tuần nhậnlại các bảng câu hỏi đã được trả lời;
- Hồi cứu đối chiếu với những thông tin về tổ chức, nhân sự củaphòng tổ chức cán bộ đơn vị và tổ chức sở y tế trước khi nhập dữ liệu xử lý;
Trang 33- Đối với những thông tin dữ kiện chưa rõ hoặc chưa trả lời sẽ traođổi với trưởng phòng tổ chức đơn vị để xin hợp tác, trực tiếp liên lạc, hoặcgọi điện, hay qua E-mail;
- Sau 1 tuần theo hẹn nhóm nghiên cứu nhận lại bảng câu hỏi Mộtsố
bảng câu hỏi không được trả lời với bất kỳ lý do gì thì xem như trườnghợp mất mẫu hoặc loại trừ;
- Sau khi đối chiếu số liệu sẽ tiến hành xử lý, phân tích kết quả banđầu và tiến hành xây dựng kế hoạch giai đoạn II
2.3.5.2 Giai đoạn II: Nghiên cứu định tính để giải quyết mục tiêu 2, 3
* Mục đích: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu
xác định các thách thức, tồn tại và các giải pháp khả thi trước mắt và lâudài
Bảng 2.2 Cấp độ thực hiện mẫu nghiên cứu định tính
Khối, đối tượng Phỏng vấn sâu Thảo luận nhóm
- Điều trị tuyến tỉnh
- Dự phòng tuyến huyện
33
11
- Điều trị tuyến huyện
- Dự phòng tuyến huyện
33
11
Phỏng vấn sâu có 5 đối tượng liên quan 13 cuộc
* Phương pháp
- Thảo luận nhóm tập trung: Có 5 cuộc TLNTT
+ Sử dụng bản hướng dẫn thảo luận gồm có các câu hỏi bán cấu trúchay mở;
+ Thành phần nghiên cứu gồm 3 người (1 người điều khiển cuộc thảoluận, 1 người ghi chép, 1 người phụ trách tổ chức và trang thiết bị);
+ Các cuộc thảo luận nhóm đều được ghi âm;
+ Thời gian thảo luận nhóm khoảng 1 giờ;
- Phỏng vấn sâu:
Trang 34+ Sử dụng bản hướng dẫn bán cấu trúc hay mở;
+ Mỗi cuộc phỏng vấn sâu đều được ghi âm;
+ Thành phần nghiên cứu gồm 2 người (1 người ghi chép, ghi âm, 1người phỏng vấn);
+ Thời gian phỏng vấn từ 30 đến 60 phút, tùy đối tượng;
* Phân tích và thu thập dữ kiện:
- Phân tích dữ kiện:
+ Gỡ băng, xác định từ khóa;
+ Phân tích theo chủ đề vấn đề bất cập tồn tại, các nguyên nhân vàcác giải pháp về đội ngũ BS ngành Y tế Tuyên Quang;
- Kỹ thuật phân tích dữ kiện:
+ Các dữ kiện được tổng hợp bằng dạng văn bản từ sổ ghi chép, bảnghi chú, các đoạn ghi âm và thảo luận nhóm, cũng như phỏng vấn sâu;
+ Sau đó được mã hóa theo các mục tiêu đã định bằng phần mềm hỗtrợ Microsoft Excel Cuối cùng phân tích sâu và trình bày báo cáo kết quảbằng phần mềm Microsoft Word
* Bảng hướng dẫn phỏng vấn:
- Kiểm soát độ tin cậy:
+ Cần kiểm tra chéo thông tin theo các nguồn khác nhau, sử dụngnhiều phương pháp thu thập thông tin để tìm hiểu một loại thông tin haymột vấn đề nghiên cứu ở các đối tượng khác nhau;
+ Đảm bảo mẫu đại diện có một số đặc điểm chung phù hợp theomục đích nghiên cứu;
+ Đảm bảo tính đạo đức nghiên cứu, có bản cam kết tham gia nghiên cứu;+ Ghi âm tốt để làm bản ghi chính xác;
Chuẩn bị tốt đội ngũ nghiên cứu có kinh nghiệm, được đào tạo cáchphỏng vấn và viết báo cáo, phát triển đề cương và công cụ thu thập số liệu,tiến hành điều tra thử và chỉnh sửa công cụ, thảo luận kết quả trong suốt quátrình thu thập số liệu
Trang 35- Tập huấn giải thích rõ bảng câu hỏi và các biến số;
- Yêu cầu tính tự giác, hợp tác của đối tượng nghiên cứu;
- Hồi cứu và đối chiếu thông tin cá nhân lưu trữ tại phòng tổ chứccác đơn vị và sở y tế
2.3.8 Phương pháp tiến hành
- Hoàn chỉnh phiếu khảo sát
+ Xác định những thông tin cần thiết cho từng đối tượng nghiên cứu;+ Phỏng vấn một số cá nhân (Phù hợp với từng đối tượng) để bổ sungthông tin hoặc lựa chọn lại những thông tin nào cần thiết;
+ Thiết kế bản câu hỏi (phiếu điều tra);
- Hoàn chỉnh bản câu hỏi
+ Nghiên cứu lại văn bản hiện hành, các qui chế, qui định về công tác
tổ chức nhân sự của BV tỉnh, BV huyện,TTYT, TYT xã và cơ quan hànhchánh sự nghiệp thuộc Sở, qui chế BV
2.3.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu nguồn lực BS của ngành Y tế Tuyên Quang
đề tài thực hiện bằng cách điều tra thực tế số lượng BS đang công tác trongngành Y tế của tỉnh Đồng thời phỏng vấn các câu hỏi, đóng góp ý kiếntrong các cuộc họp, tác giả đối chiếu các văn bản pháp quy của nhà nước vànhững vấn đề liên quan đến số lượng và chất lượng của đội ngũ BS trongngành Y tế Tuyên Quang Vì vậy thực hiện đề tài này không vi phạm quyđịnh về đạo đức trong nghiên cứu khoa học
Trang 36Những kết quả nghiên cứu đạt được có ý nghĩa ứng dụng như:
+ Giúp tác giả có kiến thức sâu và thực tiễn về công tác cán bộ ngành
Y tế, đồng thời cũng giúp cho tác giả có kiến thức quản lý và đào tạo tuyểndụng cán bộ (BS) tốt hơn, nhằm tạo dựng được đội ngũ BS đủ số lượng,đảm bảo chất lượng cho ngành Y tế Tuyên Quang một cách bền vững trongtương lai;
+ Làm cơ sở chứng cứ khoa học để tham mưu cho lãnh đạo các cấp
có sự nhất trí cao trong quyết sách đưa ra chính sách phù hợp với ngành Y
tế trong công tác đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, quản lý nhân lực BS;
+ Trao đổi và làm tư liệu tham khảo với các đồng nghiệp có quan tâmlĩnh vực tổ chức, quản lý nhân lực Y tế
2.4 Kế hoạch nghiên cứu:
1 Xây dựng đề cương 11/ 2010 BS Quyết
2 Thông qua đề cương 12/ 2010 Hội đồng
3 Thiết kế phiếu điều tra 01/ 2011 BS Quyết + nhóm NC
4 Điều tra thử 01/ 2011 BS Quyết + nhóm NC
5 Hoàn chỉnh phiếu điều tra 02/ 2011 BS Quyết + nhóm NC
6 Điều tra
03/2011đến10/2011
BS Quyết + nhóm NC
7 Nhập số liệu 9/ 2011 BS Quyết + nhóm NC
8 Đánh giá 10/2011 BS Quyết + nhóm NC
9 Tổng hợp xử lý số liệu 10/2011 BS Quyết
10 Tham khảo tài liệu viết Luận án 10/2011 BS Quyết
11 Xin ý kiến của thầy hướng dẫn 11/2011 BS Quyết
12 Báo cáo cấp khoa 11/2011 BS Quyết và các nhàkhoa học Khoa YTCC
13 Hoàn chỉnh Luận án 12/2011 BS Quyết
Trang 37Chương 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ có trình độ bác sỹ trở lên ở ngành
y tế tỉnh Tuyên Quang năm 2011.
3.1.1 Kết quả nghiên cứu định lượng
Bảng 3.1 Số lượng bác sỹ theo tuyến toàn tỉnh
Đơn vị y tế trong tỉnh đơn vị Số Số BS lệ (%) Tỷ
Bảng 3.2 Số lượng bác sỹ tại các trung tâm y tế tuyến tỉnh
Các trung tâm y tế tuyến tỉnh
Số Nhân viên
Số Bác sỹ
Tỷ lệ BS/NV (%)
Trung tâm Y tế dự phòng
Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trung tâm Truyền thông giáo dục SK
Trung tâm Kiểm nghiệm
Trung tâm Phòng, chống bệnh xã hội
Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS
Trung tâm Giám định y khoa
Trung tâm Phục hồi chức năng
Cộng:
Bảng 3.3 Số bác sỹ bệnh viện tuyến tỉnh
Trang 38Tên bệnh viện tuyến tỉnh giường Nhân
viên
Bác sỹ
BS/NV (%)
Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Bệnh viện Y dược cổ truyền
Bệnh viện Lao và Bệnh phổi
Bệnh viện Điều dưỡng Suối khoáng
Cộng:
Bảng 3.4 Số bác sỹ tại các bệnh viện huyện, khu vực
Tên bệnh viện huyện và khu vực dân Số
Số Bác sỹ
Tỷ lệ BS/ 10.000 dân
Bệnh viện đa khoa Na Hang
Bệnh viện đa khoa Chiêm Hoá
Bệnh viện đa khoa Hàm Yên
Bệnh viện đa khoa Yên Sơn
Bệnh viện đa khoa Sơn Dương
Bệnh viện đa khoa khu vực Yên Hoa
Bệnh viện đa khoa khu vực Kim Xuyên
Bệnh viện đa khoa khu vực ATK
Cộng:
Bảng 3.5 Số bác sỹ tại các trung tâm y tế huyện, TP
Tên Trung tâm Y tế
huyện/ thành phố
Dân số
Số Nhân
Số Bác
Tỷ lệ BS/NV
Trang 39viên sỹ (%)
Trung tâm Y tế huyện Na Hang
Trung tâm Y tế huyện Chiêm Hoá
Trung tâm Y tế huyện Hàm Yên
Trung tâm Y tế huyện Yên Sơn
Trung tâm Y tế huyện Sơn Dương
Bảng 3.7 Số BS tại các trung tâm DS- KHHGĐ huyện, thành phố
Tên Trung tâm TDSKHHGĐ
huyện, thành phố
Số dân
Số NV
Số BS
Tỷ lệ BS/NV (%)
Trung tâm DSKHHGĐ Na Hang
Trung tâm DSKHHGĐ Chiêm Hoá
Trung tâm DSKHHGĐ Hàm Yên
Trung tâm DSKHHGĐ Yên Sơn
Trung tâm DSKHHGĐ Sơn Dương
Trang 40Huyện Yên Sơn
Huyện Sơn Dương
Thành phố Tuyên Quang
Cộng
Bảng 3.9 Số lượng BS (LĐQL) trung tâm y tế tuyến tỉnh
Tên Trung tâm y tế
tuyến tỉnh
Nhu cầu (chuẩn)
Thực tế
Thừa hoặc Thiếu
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh
Trung tâm Chăm sóc SKSS
Trung tâm Truyền thông GDSK
Trung tâm Kiểm nghiệm
Trung tâm phòng, chống bệnh XH
Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS
Trung tâm Giám định Y khoa
Trung tâm phục hồi chức năng
Cộng
Bảng 3.10 Số bác sỹ đang làm công tác lãnh đạo (Ban Giám đốc và
Trưởng phó khoa phòng) tại các bệnh viện tuyến tỉnh.
Tên bệnh viện tuyến tỉnh Nhu cầu (chuẩn) Thực tế
Thừa hoặc Thiếu
BV Đa khoa tỉnh
Lãnh đạoTrưởng, phó khoa, phòng