1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức dạy học theo dự án chủ đề phương trình ở lớp 10

132 51 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các quý thầy cô giáo là giảng viên đã dạy học tại lớp cao học phương pháp và lý luận dạy học bộ môn toán đợt 2 năm 2017 trong hai

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG THỊ PHƯƠNG ANH

TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHỦ ĐỀ PHƯƠNG TRÌNH Ở LỚP 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG THỊ PHƯƠNG ANH

TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHỦ ĐỀ PHƯƠNG TRÌNH Ở LỚP 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn toán

Mã số: 814.01.11

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Châu

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới đến Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, phòng đào tạo sau đại học, Khoa Sư phạm, đặc biệt là GS.TS Nguyễn Hữu Châu đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài "Tổ chức dạy học theo dự án chủ đề phương trình ở lớp 10"

Tác giả cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các quý thầy

cô giáo là giảng viên đã dạy học tại lớp cao học phương pháp và lý luận dạy học bộ môn toán đợt 2 năm 2017 trong hai năm học vừa qua, mỗi bài dạy của thầy cô đều là những bài học quý báu cho tác giả thực hiện đề tài này

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn này

Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý thầy cô, các nhà khoa học, đọc giả và các bạn đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn và có thể áp dụng sâu rộng hơn trong thực tế

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Hoàng Thị Phương Anh

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1 Mức độ biết, hiểu và vận dụng PPDHTDA của GV 41

Bảng 1.2 Ý kiến của giáo viên về ưu điểm khi áp dụng thành công PPDHTDA 41

Bảng 1.3 Khó khăn GV thường gặp thi sử dụng PPDHTDA (tỉ lệ %) 43

Bảng 3.1 Danh sách các kỹ năng HS được phát triển sau khi tham gia thực hiện dự án 75

Bảng 3.2 Thống kê điểm số 76

Bảng 3.3 Phân phối tần suất 76

Bảng 3.4 tổng hợp các tham số 76

Biểu đồ 3.1 Biểu diễn phân phối tần suất điểm số của học sinh 77

Bảng 3.5 Thống kê điểm số 78

Bảng 3.6 Phân phối tần suất 78

Bảng 3.7 Tổng hợp các tham số thống kê 79

Biểu đồ 3.4 Phân phối tần suất điểm số của học sinh 79

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Các giai đoạn của dạy học theo dự án 20

Hình 1.2 Mười ba kết quả tuyệt vời cho học sinh với học tập dựa trên dự án 26

Hình 2.1 Cổng Arch (Mỹ) 53

Hình 2.2 Hộp sữa hình hộp 69

Hình 2.3 Hộp sữa hình trụ 70

Trang 7

v

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 1

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Câu hỏi nghiên cứu 2

6 Giả thuyết khoa học 2

7 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

8 Phương pháp nghiên cứu 3

9 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 1 4

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Tổng quan về đổi mới phương pháp dạy học 4

1.2 Phương pháp dạy học theo dự án 5

1.2.1 Các khái niệm về dự án và dự án học tập 5

1.2.1.1 Dự án 5

1.2.1.2 Dự án học tập 6

1.2.2 Quan niệm về dạy học theo dự án 14

Trang 8

vi

1.2.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án 18

1.2.4 Đặc điểm của dạy học theo dự án 18

1.2.5 Phân loại dạy học theo dự án 19

1.2.6 Quy trình dạy học theo dự án 20

1.2.7 Những ưu điểm và hạn chế trong dạy học theo dự án 24

1.2.7.1 Ưu điểm 24

1.2.7.2 Hạn chế 27

1.2.7.3 Những khó khăn học sinh gặp phải khi học tập theo dự án và giải pháp 28

1.2.8 Các bước chuẩn bị một dự án cho giáo viên và học sinh 29

1.2.8.1 Tìm ý tưởng dự án 29

1.2.8.2 Xác định mục tiêu của dự án 30

1.2.8.3 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng 30

1.2.8.4 Thiết kế dự án 31

1.2.8.5 Kế hoạch của giáo viên và học sinh 31

1.2.8.6.Tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh: 31

1.2.8.7 Chuẩn bị các điều kiện thực hiện dự án 31

1.2.8.8 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo dự án 32

1.2.9 Tổ chức dạy học theo dự án 32

1.2.10 Đánh giá trong dạy học theo dự án 33

1.2.10.1 Các quan điểm về đánh giá trong dạy học theo dự án 33

1.2.10.2 Mục đích của đánh giá trong dạy học theo dự án 34

1.2.10.3 Các nguyên tắc đánh giá trong dạy học theo dự án 34

Trang 9

vii

1.2.10.4 Bộ công cụ đánh giá: 35

1.2.10.5 Phương án đánh giá trong dạy học theo dự án 36

1.3 Toán học gắn liền với thực tiễn 37

1.3.1 Nguồn gốc của toán học 37

1.3.2 Thực tiễn phản ánh toán học 39

1.3.3 Toán học là công cụ hữu ích để giải quyết vấn đề trong thực tiễn 39

1.4 Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong trường trung học phổ thông 40

Kết luận chương 1 44

CHƯƠNG 2 45

TỔ CHỨC MỘT SỐ DỰ ÁN HỌC TẬP GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN QUA CHỦ ĐỀ PHƯƠNG TRÌNH Ở LỚP 10 45

2.1 Nguyên tắc thiết kế dự án 45

2.1.1 Đảm bảo phù hợp với nhu cầu của học sinh và tạo cơ hội để học sinh tự thực hiện 45

2.1.2 Đảm bảo nội dung chương trình, nội dung sách giáo khoa và mối quan hệ liên môn 45

2.1.3 Đảm bảo tính thiết thực, gần gũi trong đời sống và sản xuất 46

2.1.4 Đảm bảo thể hiện giá trị sống và kĩ năng sống 46

2.2 Thiết kế một số dự án liên hệ toán học với thực tiễn 46

2.2.1 Dự án học tập số 1: “Sử dụng kiến thức về hệ phương trình bậc nhất hai ẩn giải quyết các bài toán trong đời sống„ 46

2.2.2 Dự án học tập số 2: Vận dụng kiến thức của phương trình bậc hai 1 ẩn vào giải quyết bài toán xây dựng mô hình cầu vòm bằng giấy 52

Trang 10

viii

2.2.3 Dự án học tập số 3: Xây dựng “board game„ với chủ đề phương trình

58

2.3 Tổ chức thực hiện một số dự án 61

2.3.1 Dự án học tập số 1 61

2.3.2 Dự án học tập số 2 66

Kết luận chương 2 71

CHƯƠNG 3 72

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 72

3.2 Kế hoạch và đối tượng thực nghiệm sư phạm 72

3.2.1 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 72

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 72

3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 72

3.4 Phương pháp thực nghiệm 73

3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm 73

3.5.1 Thuận lợi 73

3.5.2 Khó khăn 73

3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 74

3.6.1 Phân tích về mặt định tính 74

3.6.2 Phân tích về mặt định lượng 75

Kết luận chương 3 80

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

1 Kết luận 81

Trang 11

ix

2 Khuyến nghị 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC

Trang 12

do đó mà xã hội cần điều chỉnh nền giáo dục cho sự thay đổi của thế giới Để đáp ứng nhu cầu thay đổi của nền giáo dục thì cần phải thay đổi tổ chức và phương pháp giảng dạy Một trong những phương pháp đó là học tập thông qua các dự án Mục đích của phương pháp này là tạo ra một phương pháp thực hành giảng dạy mới phản ánh môi trường nơi học sinh sống và học tập

Từ nhu cầu đổi mới PPDH, định hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là: Dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo được thực hiện trong hoạt động và bằng hoạt động.Học thông qua hoạt động là cách tốt nhất vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, từ đó thấy được việc học có ý nghĩa, tạo động lực để HS khám phá

Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Tổ chức dạy học theo dự án chủ đề

phương trình ở lớp 10”

2 Lịch sử nghiên cứu

Qua tìm hiểu tôi thấy đã có nhiều đề tài nghiên cứu về phương pháp dạy học theo dự án cho học sinh ở các cấp học trong nhiều bộ môn khác nhau Tuy nhiên, tôi muốn tập trung nghiên cứu về việc tổ chức dạy học theo dự án trong môn Toán, đặc biệt là trong chủ đề phương trình ở lớp 10

Trang 13

2

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học theo dự án để tổ chức vận dụng phương pháp này trong dạy học chủ đề phương trình ở lớp 10

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT

Đối tượng nghiên cứu: Các dự án liên hệ toán học với thực tiễn, việc học và

tiếp thu của học sinh khi được giảng dạy bằng phương pháp mới

Phạm vi nghiên cứu:

+ Nghiên cứu chương trình toán học lớp 10, đặc biệt những kiến thức về phương trình và hệ phương trình lớp 10 để đưa ra những dự án phù hợp + Dạy thực nghiệm các chủ đề toán học gắn với thực tiễn tại trường trung học phổ thông

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học theo dự án là gì?

- Thực trạng của việc tổ chức dạy học theo dự án đối với chủ đề phương trình hiện nay ở các trường Trung học phổ thông như thế nào?

- Làm thế nào để tổ chức dạy học theo dự án với chủ đề phương trình ở lớp 10 đạt hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học?

6 Giả thuyết khoa học

Nếu người dạy thiết kế và tổ chức thực hiện được một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn Toán ở trường THPT thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Toán và kỹ năng vận dụng toán học vào thực tế của HS, giúp HS củng cố và phát huy một số năng lực cần thiết

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu đường lối giáo dục và chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu lí luận về dạy học theo dự án

- Nghiên cứu tổ chức DHTDA theo chương trình Toán THPT

Trang 14

3

- Thiết kế tiến trình dạy học theo dự án một số kiến thức phương trình và hệ phương trình thông qua bộ môn Toán ở THPT

- Thực nghiệm sư phạm: tổ chức thực hiện các tiến trình dạy học theo dự án

đã thiết kế nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học và tính khả thi của đề tài

8 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu về lý luận

dạy học môn Toán, phương pháp dạy học môn Toán, đặc biệt các tài liệu liên quan đến dạy học định hướng gắn với thực tiễn ở chương trình Trung học cơ

sở

Phương pháp điều tra, quan sát: Điều tra và quan sát thực trạng dạy học định

hướng gắn với thực tiễn môn Toán nói tiến hành dự giờ, trao đổi, hỏi ý kiến các đồng nghiệp dạy giỏi, giàu kinh nghiệm

Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm giảng

dạy một số giáo án để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đưa

ra

Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các phương pháp thống kê và xử lý

số liệu thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các biện pháp

9 Cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Mục lục, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Tổ chức một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn toán qua chủ đề phương trình

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

“phương pháp toán học” cho các ngành khoa học khác, thể hiện qua việc mô hình hóa các lớp đối tượng mà nó nghiên cứu

Trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các ứng

dụng thực tế của Toán học từ các tạp chí, luận văn, luận án, sách như “Niềm

vui toán học: Khám phá toán học quanh ta” của Theoni Pappas (2010); “Rèn luyện kỹ năng vận dụng bài toán thực tế dạng mở cho học sinh THCS trong dạy học Số học và Đại số” của Bùi Huy Ngọc (2001); “Con số trong đời sống quanh ta” của Trương Quang Đệ (2004) cùng một số các nội dung trong các

giáo trình Phương pháp dạy học môn Toán (Phần đại cương) của Nguyễn Bá

Kim, Vũ Dương Thụy (1997),

Từ đặc trưng của Toán học là tính ứng dụng vào nhiều lĩnh vực trong cuộc sống dẫn đến sự thay đổi về phương pháp giảng dạy trong giáo dục nói chung

và môn Toán nói riêng Qua đó những nhà giáo dục đã nghiên cứu về những phương pháp dạy học nhằm tìm ra những phương pháp thúc đẩy sự phát triển

của giáo dục như “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy

học” của Nguyễn Hữu Châu (2005); “Đổi mới Phương pháp dạy học, chương

Trang 16

Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là Project, có gốc tiếng Latinh là

“projicere”, có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế

Theo Từ điển tiếng Việt, dự án là “bản dự thảo về một việc gì” Còn theo Đại từ điển tiếng Việt, thì dự án là “một dự thảo, một văn kiện quan trọng về luật pháp hay kế hoạch”

Khái niệm dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, tài chính, nhân lực, vật lực và cần được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định, có tính tổng thể và tính phức hợp

Khái niệm dự án sử dụng trong nghiên cứu khoa học, quản lý kinh tế, quản lý xâydựng là dự án trong thực tiễn Trong quản lý, dự án được định nghĩa: “Là một chuỗi các hoạt động liên kết được tạo ra nhằm đạt được kết quả nhất định trong phạm vi ngân sách và thời gian xác định”

Khái niệm dự án được sử dụng trong dạy học gọi là dự án học tập Dự

án học tậpvà dự án trong thực tiễn có những sự tương đồng và khác nhau Dự

án học tập là một nhiệm vụ học tập trong DHTDA, trong đó mục tiêu của dự

án là mục tiêu của dạy học.[8][12] VD: sản phẩm là mục tiêu của dự án trong thực tiễn Còn đối với dự án học tập, SP chỉ là phương tiện để đạt được mục tiêu dạy học, b) Quy mô của dự án học tập nhỏ hơn DA trong thực tiễn, c) Dự

án học tập phải do người học thực hiện Còn dự án trong thực tiễn có thể uỷ nhiệm cho nhiều người khác thực hiện.Vì vậy khi thiết kế một DA học tập, vừa phải dựa vào đặc điểm và tiến trình của một DA nói chung, vừa phải dựa vào các quan điểm của lí luận dạy học

Trang 17

Trong học tập dựa trên dự án, học sinh sẽ: thu thập thông tin về vấn đề, quyết định cách tiếp cận tìm giải pháp, quyết định các loại hoạt động sẽ tham gia, phân tích thông tin, chia nó thành từng mảnh, kết hợp thông tin theo những cách mới - tạo thông tin mới, quyết định sử dụng kiến thức thu được trong bài toán,áp dụng kiến thức liên ngành cho vấn đề (ví dụ: sử dụng kiến thức khoa học và nghiên cứu xã hội để giúp giải quyết vấn đề toán học), tạo ra thứ gì đó cho thấy cách họ áp dụng kiến thức và những gì họ đã học được, truyền đạt kết quả của họ một cách hiệu quả

Một trong những phàn nàn phổ biến nhất trong lớp học toán là 'Tôi sẽ

sử dụng cái này ở đâu?' Học sinh thường không thể thấy mối liên hệ giữa những gì họ đang học và bất cứ điều gì quan trọng với họ - và chính xác đó là kết nối đó là cốt lõi của việc giảng dạy hiệu quả Khi tâm trí của học sinh có thể tạo ra mối liên hệ giữa một bài tập học tập và một điều thú vị và quan trọng đối với họ, thì họ sẽ tham gia, trở thành những người tham gia tích cực, quan tâm đến quá trình học tập

Một lợi thế lớn của học tập dựa trên dự án nói chung và toán học dựa trên dự án, nói riêng, là các học sinh sở hữu dự án Họ cảm thấy rằng đó là của họ, phản ánh con người họ và là minh chứng cho thành công và thành tích của chính họ Khi các học sinh tự hào trưng bày chiếc xe mà họ chế tạo, cho thấy cách tính toán của chính họ đã làm được, thì tất cả các bên liên quan giáo dục, giảng viên, nhân viên, phụ huynh và các học sinh khác đều biết rằng các học sinh này hiện đang đầu tư vào quá trình học tập

Trang 18

7

Khi một kết nối đa diện hiệu quả được tạo ra trong tâm trí của học sinh, một kết nối gắn kết nhiều cảm xúc, ký ức, điểm phấn khích, điểm hiểu biết và lĩnh vực kiến thức với nhau, các khả năng về ghi nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá và tạo ra đều được tăng cường

Các cơ hội được cung cấp bởi học tập dựa trên dự án trong toán học không giới hạn trong một lĩnh vực nhất định của học sinh Bạn có thể tạo và hướng dẫn các dự án cho những người khuyết tật, những người có quà tặng đặc biệt, những người có phong cách học tập không phù hợp với những người khác, những người có loại trí thông minh rất đặc biệt và bất kỳ sự kết hợp nào của học sinh có thể xuất hiện trong lớp học của bạn

Về cơ bản, toán học dựa trên dự án, hay thường được gọi là toán học dựa trên vấn đề, liên quan đến việc tạo ra một tình huống thực tế (hoặc một tình huống lịch sử hoặc tưởng tượng mô phỏng một tình huống có thể có trong đời thực) sẽ minh họa các nguyên tắc toán học nhất định Vấn đề ban đầu có thể được chỉ định, hoặc các học sinh có thể được mời để đưa ra một trong những vấn đề của riêng họ Giáo viên đóng vai trò là người quản lý, người giám sát và cố vấn trong quá trình, nhưng không dẫn dắt nó Các học sinh chịu trách nhiệm cho sự thành công của chính họ và được xếp loại về độ chính xác, sáng tạo, sáng tạo, chuyên nghiệp

Phương pháp học tập dựa trên dự án đã xuất hiện do sự phát triển trong lý thuyết học tập trong nhiều năm qua Nghiên cứu về khoa học thần kinh và tâm lý học đã mở rộng các mô hình học tập nhận thức và hành vi - hỗ trợ hướng dẫn trực tiếp truyền thống - để chỉ ra rằng kiến thức, suy nghĩ, cách làm và bối cảnh học tập gắn bó chặt chẽ hoạt động, phương pháp giảng dạy

có thể ảnh hưởng đến kinh nghiệm trước đây của học sinh và bao gồm tập trung vào cộng đồng và văn hóa Hơn nữa, vì chúng ta sống trong một xã hội ngày càng nhiều công nghệ và toàn cầu, giáo viên nhận ra rằng họ phải chuẩn

bị cho học sinh không chỉ nghĩ về thông tin mới mà còn phải tham gia vào các

Trang 19

8

nhiệm vụ chuẩn bị cho họ trở thành công dân toàn cầu này Dựa trên những phát triển trong nghiên cứu nhận thức và môi trường giáo dục hiện đại đang thay đổi ở phần sau của thế kỷ 20, học tập dựa trên dự án đã trở nên phổ biến

Phương pháp học tập dựa trên dự án thường được sử dụng trong các môi trường trường học nhỏ, như trường hiến chương và trường nam châm, bởi vì chúng bị ảnh hưởng ở mức độ thấp hơn bởi phong trào kiểm tra bắt buộc của nhà nước Mặc dù học tập dựa trên dự án có thể được thực hiện kết hợp với mô hình kiểm tra tiêu chuẩn quốc gia, nhưng giáo viên thường khó có thể đan xen hiệu quả hai loại hướng dẫn có vẻ khác nhau này

Học tập dựa trên dự án là một phương pháp giảng dạy có hệ thống, thu hút học sinh học kiến thức và kỹ năng thông qua quy trình tìm hiểu mở rộng được cấu trúc xung quanh các câu hỏi phức tạp, xác thực và các sản phẩm và nhiệm vụ được thiết kế cẩn thận Quá trình này có thể kéo dài trong các khoảng thời gian khác nhau và có thể mở rộng trên nhiều lĩnh vực nội dung

John Thomas (2000) giải thích rằng học tập dựa trên dự án đòi hỏi các nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi hoặc vấn đề thách thức, liên quan đến học sinh trong thiết kế, giải quyết vấn đề, ra quyết định hoặc hoạt động điều tra; cung cấp cho học sinh cơ hội làm việc tương đối tự chủ trong thời gian dài; và đạt đến đỉnh cao trong các sản phẩm hoặc bài thuyết trình thực tế

Hướng dẫn dựa trên dự án thường có một câu hỏi định hướng, bao gồm nội dung đáng giá được neo trong một vấn đề thực tế; điều tra và tạo tác cho phép học sinh học các khái niệm, áp dụng thông tin và thể hiện kiến thức theo nhiều cách khác nhau; hợp tác giữa các sinh viên, giáo viên và những người khác trong cộng đồng để những người tham gia có thể học hỏi lẫn nhau; và sử dụng các công cụ nhận thức giúp người học thể hiện ý tưởng bằng cách sử dụng công nghệ

Trang 20

9

Học tập dựa trên dự án ( Project-based learning - PBL) là một mô hình

tổ chức học tập xung quanh các dự án Theo các định nghĩa được tìm thấy trong sổ tay PBL cho giáo viên, dự án là những nhiệm vụ phức hợp, dựa trên các câu hỏi hoặc vấn đề thách thức, đòi hỏi học sinh phải thiết kế, giải quyết vấn đề, ra quyết định, hoặc hoạt động điều tra; cho học sinh cơ hội làm việc tương đối tự chủ trong thời gian dài và có thể tạo ra các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết trình (Jones, Rasmussen & Mofitt, 1997; Thomas, Mergendoller, &Michaelson, 1999) Các tính năng khác cũng được tìm thấy trong tài liệu bao gồm nội dung định hướng, các đánh giá định hướng, tạo thuận lợi cho giáo viên nhưng không định hướng mục tiêu giáo dục rõ ràng, học tập hợp tác, sự suy nghĩ và tổng hợp các kỹ năng của người trưởng thành

Từ những đặc trưng đó, mô hình cụ thể của học tập dựa dự án đã thêm vào những tính năng độc đáo khác Định nghĩa của “học tập dựa trên dự án” bao gồm những tính năng liên quan đến sử dụng những câu hỏi định hướng và sử dụng các công cụ nhận thức[15]

Trong học tập dựa trên dự án, học sinh làm việc trong các nhóm để giải quyết các vấn đề thách thức đó là xác thực, dựa trên chương trình giảng dạy và thường xuyên liên ngành Người học quyết định làm thế nào để tiếp cận một vấn đề và những hoạt động mà họ theo đuổi Họ thu thập thông tin từ một hay nhiều nguồn khác nhau và tổng hợp, phân tích, và rút ra kiến thức từ nó Việc học của họ vốn dĩ có giá trị vì nó được kết nối đến một cái gì đó thực sự và liên quan đến kỹ năng người lớn chẳng hạn như hợp tác và phản ánh Tại kết thúc, học sinh chứng minh mới có được kiến thức và được đánh giá bằng cách

họ đã học được nhiều như thế nào và họ làm tốt như thế nào truyền đạt nó Trong suốt quá trình này,vai trò của giáo viên là hướng dẫn và tư vấn, đúng hơn hơn là chỉ đạo và quản lý, học sinh làm việc

Học tập thông qua dự án có nghĩa là học thông qua kinh nghiệm Dành cho ví dụ, học sinh trung học thiết kế một trường học cho tương lai và học

Trang 21

10

toán nâng cao khái niệm và kỹ thuật trên đường đi Học sinh tiểu học nghiên cứu các sinh vật đơn bào để cung cấp dữ liệu cho các nhà nghiên cứu trong một phòng thí nghiệm Những người khác chế tạo và đua xe điện và tìm hiểu

về hiệu suất năng lượng Nhiều dự án tập trung vào các mối quan tâm về môi trường, như kiểm tra mức độ ô nhiễm trong vùng nước địa phương và phương pháp nghiên cứu để làm sạch

Phạm vi của phương pháp này khá rộng khi một người tìm kiếm tài liệu Nó có nhiều tên khác, bao gồm học tập theo kinh nghiệm và học ngôn ngữ được đàm phán (ví dụ:Legutke & Thomas, 1991; Padgett, 1994), nghiên cứu điều tra (ví dụ, Kenny, 1993), học tập dựa trên vấn đề (ví dụ: Savoie & Hughes, 1994; Wood & Head, 2004), phương pháp tiếp cận dự án hoặc phương pháp dựa trên dự án (ví dụ: Ho, 2003; Levis & Levis, 2003); Papandreou, 1994) và công việc dự án (ví dụ, Fried-Booth, 1986, 2002; Haines, 1989; Henry, 1994) Mấu chốt của những gì PBL bao gồm là nó không chỉ là một túi của phương pháp có sẵn, nhưng đó là một triết lý giáo dục nhằm mục đích cung cấp hướng

Có một số đặc điểm chính của PBL thường được các nhà nghiên cứu đồng ý mà Legutke & Thomas (1991) tóm tắt trong mười một điểm sau đây:

1 Chủ đề và nhiệm vụ mục tiêu bắt nguồn từ cuộc sống

2 Giá trị giáo dục của học tập dự án được bồi dưỡng thông qua quá trình thảo luận, thử nghiệm, phản ánh và áp dụng những hiểu biết mới cho mới chu kỳ thí nghiệm

3 Kế hoạch hành động được cùng xây dựng và đàm phán Ý tưởng dự

án trở thành công cụ hoạt động xác định chủ đề phụ, khu vực có vấn đề và dự đoán kết quả xuất phát từ các giả thuyết

4 Học tập dự án là điều tra và theo mô hình chu kỳ của kinh nghiệm học tập

Trang 22

11

5 Học tập dự án là người học làm trung tâm Nó có rất nhiều chế độ hoạt động cho phép người học khám phá những điểm mạnh, sở thích và tài năng cụ thể của họ

6 Hoàn thành thành công nhiệm vụ dự án phụ thuộc vào khả năng hợp tác của nhóm nhỏ người học Thành viên nhóm chịu trách nhiệm trước nhóm

và nhóm của họ

7 Công việc dự án giả định một khả năng cơ bản để tự định hướng và

tự chủ của người học trong quá trình học tập chính nó

8 Học tập dự án có cái nhìn rộng hơn về sản phẩm hoặc kết quả, vì sản phẩm có thể xuất hiện trong một số lượng lớn các hình thức đại diện, đại diện cho toàn diện và bản chất đa giác quan của việc học, và là một phần không thể thiếu của quá trình vì giá trị sử dụng của chúng

9 Công việc dự án đòi hỏi một cách tiếp cận liên ngành để học tập

10 Công việc dự án tăng vai trò cho giáo viên và người học Giáo viên

có thể hành động như quản lý, người hướng dẫn, nhà nghiên cứu, người tham gia hoặc giám sát Người học cũng có thể hành động như quản lý, diễn viên, nhà văn, thư ký, giáo viên và nhà nghiên cứu

11 Người học là đối tác, những người được cung cấp không gian và kỹ năng để đóng góp cho nội dung và quá trình học tập, và cho phép mở, định hướng quy trình chương trình giáo dục (Legutke & Thomas, 1991)

Để làm rõ hơn định nghĩa về công việc dự án, tôi cũng đã cung cấp cho Stoller (1997) sáu tính năng được xây dựng trên hoặc chồng lấp các khái niệm được đề xuất bởi Legutke và Thomas Đó là như sau:

1 Công việc dự án tập trung vào việc học nội dung hơn là vào các mục tiêu ngôn ngữ cụ thể Các chủ đề trong thế giới thực và các chủ đề mà học sinh quan tâm có thể trở thành trọng tâm dự án

Trang 23

12

2 Công việc dự án là lấy học sinh làm trung tâm, mặc dù giáo viên đóng vai trò chính trong việc cung cấp hỗ trợ và hướng dẫn trong suốt quá trình

3 Công việc dự án là hợp tác chứ không phải cạnh tranh Học sinh có thể làm việc trên của họ sở hữu, trong các nhóm nhỏ hoặc như một lớp học để hoàn thành một dự án, chia sẻ tài nguyên, ý tưởng, và chuyên môn trên đường

cơ hội tập trung vào sự trôi chảy và chính xác khác nhau giai đoạn dự án-công việc

6 Công việc dự án có khả năng thúc đẩy, kích thích, trao quyền và thách thức Nó thường dẫn đến việc xây dựng sự tự tin, lòng tự trọng và sự tự chủ của học sinh như cũng như cải thiện sinh viên kỹ năng ngôn ngữ, học nội dung và nhận thức khả năng Khi xem xét những điểm chính này theo Legutke & Thomas (1991) và Stoller (1995), có nhiều điểm tương đồng giúp xác định cách tiếp cận

Theo K.Frey “Học tập dựa trên dự án là một phương pháp giáo dục theo kinh nghiệm Ý tưởng cốt lõi của học tập dựa trên dự án là các vấn đề trong thế giới thực, thu hút học sinh cũng như kích thích tư duy nghiêm túc khi học sinh tiếp thu và áp dụng kiến thức mới trong bối cảnh phải giải quyết vấn đề Giáo viên là người đóng vai trò là người hướng dẫn, làm việc với học

Trang 24

13

sinh trong các khung câu hỏi đánh giá, các nhiệm vụ có ý nghĩa, huấn luyện phát triển cả về kiến thức và kỹ năng xã hội, và đánh giá cẩn thận những gì học sinh đã học được từ kinh nghiệm trực tiếp” Tiếp cận việc học theo cách riêng của họ, phù hợp với khả năng của chính họ, phong cách và sở thích

Dự án làm việc: Phương pháp tiếp cận học tập ngôn ngữ kinh nghiệm tinh túy về quan điểm học tập, quan hệ quyền lực, vai trò của người dạy và người học, quan điểm của kiến thức, quan điểm về chương trình giảng dạy, kinh nghiệm học tập, kiểm soát quá trình, động lực và đánh giá

Một trích dẫn khác tóm tắt PBL là từ Fried-Booth (2002),

Dự án làm việc tập trung vào học sinh và được thúc đẩy bởi nhu cầu tạo ra một kết thúc sản phẩm Tuy nhiên, đó là con đường để đạt được sản phẩm cuối cùng này Dự án làm việc rất đáng giá Con đường đến với sản phẩm cuối cùng mang đến cơ hội để học sinh phát triển sự tự tin và độc lập và làm việc cùng nhau trong môi trường thế giới thực bằng cách hợp tác trong một nhiệm vụ Ngoài ra còn có một số loại dự án cần xem xét khi xác định PBL Một loại là dự án có cấu trúc Nó có các đặc điểm sau: chủ đề được quy định bởi giáo viên (với học sinh có một số lựa chọn tùy chọn), phương pháp thu thập và phân tích thông tin được chỉ định hoặc nó cũng có thể cung cấp cho học sinh một số chủ đề từ học sinh nào chọn Một dự án bán cấu trúc cung cấp khu vực dự án và phương pháp, nhưng đòi hỏi sinh viên phải chịu trách nhiệm nhiều hơn; họ được tổ chức bởi cả giáo viên và học sinh Các dự

án phi cấu trúc được xác định bởi các sinh viên chúng tôi Sự khác biệt trong cách thu thập dữ liệu và nơi tìm thấy thông tin thấy trong các dự án khác nhau như dự án nghiên cứu, yêu cầu nghiên cứu thư viện; và với văn bản các dự án, trong đó sử dụng các cuộc gặp gỡ với các văn bản như văn học, báo cáo, tin tức, phương tiện truyền thông, video và tài liệu âm thanh, hoặc thông tin dựa trên máy tính Dự án tương ứng cần thiết giao tiếp với các cá nhân hoặc doanh nghiệp thông qua việc sử dụng thư, fax, điện thoại các cuộc gọi hoặc email

Trang 25

14

Dự án khảo sát yêu cầu học sinh tạo ra công cụ khảo sát và sau đó đi ra ngoài

và thu thập thông tin để phân tích Các dự án gặp phải yêu cầu liên hệ trực tiếp với người bản ngữ hoặc bên ngoài lớp học Ngoài ra còn có các dự án sản xuất, trong đó liên quan đến sinh viên tạo bảng thông báo, video, phiên poster, chương trình radio, báo cáo bằng văn bản, thuyết trình, sổ tay, hành trình du lịch, thực đơn, thư, và tài liệu quảng cáo Các dự án hiệu suất dẫn đến những thứ như tranh luận, thuyết trình, nhà hát, hội chợ thực phẩm hoặc chương trình thời trang Cuối cùng, các dự án tổ chức liên quan đến lập kế hoạch và thành lập một câu lạc bộ hoặc bàn trò chuyện hoặc chương trình

1.2.2 Quan niệm về dạy học theo dự án

Bàn về DHTDA, các nhà sư phạm có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau Năm 1918, nhà lý luận người Mỹ W.H Kilpatrick có một bài viết

“Phương pháp dự án” Ông định nghĩa dự án trong dạy học là “hành động có chủ ý, với toàn bộ nhiệt tình, diễn ra trong một môi trường xã hội, hay nói ngắn hơn là hoạt động có chủ ý và có tâm huyết”.Trong định nghĩa này, Kilpatrick nhấn mạnh vào 2 đặc điểm của PPDA là định hướng vào hứng thú của người học và tính tích cực cao của người học Ông lấy ví dụ, một em học sinh nữ khi may một chiếc áo liền váy, nếu em tập trung hết cả tâm huyết, tự thiết kế, tự may thì đấy chính là một ví dụ về dự án Trong khi K.Freg và Kilpatrick coi DHTDA là một PPDH thì các nhà sư phạm khác của Đức và Việt Nam, lại quan niệm DHTDA là một hình thức dạy học

Một thực tế nổi tiếng là các lý thuyết về học tập dựa trên dự án và theo kinh nghiệm học tập không có gì mới Do việc sử dụng học tập dựa trên

dự án thường xuyên chồng chéo Học hỏi, tôi đã quyết định gắn bó với thuật ngữ học tập dựa trên dự án trong suốt thời gian này, vì nhiều tài liệu gần đây

đã đặt thuật ngữ này là chủ đạo của nó (Beckett & Miller, 2006) Phương pháp dạy học theo dự án là một cách tiếp cận để dạy và học đáng được yêu cầu thêm và nghiên cứu ủng hộ bằng chứng thực nghiệm Nguồn gốc của dạy

Trang 26

15

học theo dự án bắt đầu với John Dewey, có từ đầu thế kỷ 20 Dewey cố gắng ủng hộ việc học tập dựa trên hành động và kinh nghiệm đi đầu trong học tập tích cực Dewey có lý tưởng cho giáo dục chủ yếu dựa trên các nguyên tắc dân chủ và xã hội - hành vi (van Lier, 2006) Dewey cũng tin rằng lớp học nên là một sự phản ánh của xã hội và học sinh nên là người tham gia và người học tích cực, thay vì chỉ đơn giản là thông tin kênh từ giáo viên của họ Ông xem lý luận và thảo luận logic như là một phần không thể thiếu trong nhóm giải quyết vấn đề (Eyring, 2001) Dewey là một phần lớn của một phong trào cải cách trong Hoa Kỳ, phản ánh nhiều cải cách giáo dục trước đây được đề xuất ở châu Âu cũng khuyến nghị giáo dục dựa trên kinh nghiệm, dựa trên hành động và nhận thức Dewey là một người theo chủ nghĩa thực dụng, và trong nghiên cứu của mình Dân chủ và giáo dục (1916), ông nhấn mạnh sự cần thiết của quá trình học tập để tạo ra những công dân có trách nhiệm và xã hội thử nghiệm của các cá nhân hợp tác (Legutke & Thomas, 1991) Một trong những đối tác triết học của ông trong phong trào cải cách là Kilpatrick, người cũng đã xem dự án giáo dục này như một hoạt động có mục đích toàn tâm toàn ý Kilpatrick được chiếu sáng thêm ý tưởng của Dewey với phương pháp dự án năm 1918 Ông đề xuất rằng các lớp học là một nơi cho các vấn

đề học tập nhưng duy trì các yếu tố thiết yếu của chất lượng đạo đức Cũng có một vài ảnh hưởng đáng chú ý ở châu Âu được coi là đóng góp cho các chủ

đề của dạy học theo dự án trong thời gian này Piaget thường được trích dẫn trong các tài liệu cho lý thuyết nhận thức đột phá của mình phát triển Piaget tuyên bố rằng: giáo dục, đối với hầu hết mọi người, có nghĩa là cố gắng lãnh đạo đứa trẻ để giống người lớn điển hình của xã hội nhưng đối với tôi và không ai khác, giáo dục có nghĩa là làm cho người sáng tạo Bạn phải làm cho các nhà phát minh, nhà đổi mới không tuân thủ Một phần trong trích dẫn này là người ta có thể kết nối các tia lửa sáng tạo cần thiết cho việc học tập dựa trên dự án với Piaget Theo sau những đề cập ở trên là F.J.J Buytendijk,

Trang 27

16

nhà tâm lý học người Hà Lan, người đề xuất các phương pháp nhân văn liên quan đến toàn bộ cơ thể như một cách tiếp cận học tập Lewin cũng là một nhà tâm lý học nổi bật trong thời gian thời đại này, thường được công nhận là

"người sáng lập tâm lý học xã hội" Ông là một trong những người đầu tiên các nhà nghiên cứu để nghiên cứu động lực nhóm, nghiên cứu hành động và phát triển tổ chức

Cũng nằm trong nền tảng của phương pháp dạy học theo dự án là nhà kiến tạo xã hội, Lev Vygotsky và lý thuyết của ông về khu vực phát triển gần Vygotsky điều tra sự phát triển của trẻ và làm thế nào điều này được hướng dẫn bởi vai trò của văn hóa và giữa các cá nhân giao tiếp Vygotsky quan sát cách các chức năng tinh thần cao hơn phát triển trong lịch sử trong các nhóm văn hóa cụ thể, cũng như cá nhân thông qua các tương tác xã hội với những người quan trọng trong cuộc sống của trẻ, đặc biệt là cha mẹ, mà cả những người lớn khác Quan điểm tiên quyết về học tập này dễ dàng được áp dụng cho công việc nhóm gần gũi và giao tiếp giữa các cá nhân liên quan đến các

dự án Freire cũng là một người đóng góp cho nền tảng của việc học tập dân chủ hơn, như ông tin rằng vai trò của một nhà giáo dục đã bị chính trị hóa cao

và chúng ta phải hoan nghênh khả năng giáo dục triệt để như một lực lượng

để thách thức áp bức (Brydon-Miller, 2006.) Freire đối lập giáo dục đặt vấn

đề và sư phạm phê phán với cái mà ông gọi là khái niệm ngân hàng của giáo dục Kiểu dạy học này vẫn còn phổ biến ở nhiều cơ sở và trên khắp thế giới,

và là một hệ thống chủ yếu là định hướng - Tập trong đó giáo viên gửi tiền học tập vào các tàu trống là sinh viên, sau đó rút tiền này học theo hình thức kiểm tra Do đó, các bài kiểm tra tiêu chuẩn là hình thức cuối cùng của kế toán thu hẹp trong cách tiếp cận ngân hàng đối với giáo dục‖ (Brydon-Miller,

2006, trang 42) Ông là một người ủng hộ giáo dục đặt vấn đề khuyến khích

sự sáng tạo và phản ánh, cũng như hành động đối với thực tế bên ngoài lớp học Freire (1983) tìm cách liên kết biết chữ và hành động và thảo luận về

Trang 28

17

khái niệm lương tâm của ông, điều bắt buộc đối với sự công nhận sức mạnh của việc biết chữ như một tiếng nói trong sự giải phóng Freire cảm thấy rằng trở thành biết chữ và liên quan nói từ để chuyển đổi thực tế sẽ cho phép chúng

ta hiểu ý nghĩa của sự phản ánh phê phán và một nền giáo dục mà cuối cùng cung cấp sự tự do Freire đã trình bày cách mà các giáo viên có ý nghĩa tốt, thông qua việc họ thiếu lãnh đạo đạo đức phê phán, thực sự tham gia vào việc

vô hiệu hóa trái tim, tâm trí và cơ thể của sinh viên của họ hành động mà ngắt kết nối những sinh viên này với cá nhân và xã hội động lực cần thiết để biến đổi thế giới của họ và chính họ Freire chỉ trích mạnh mẽ việc truyền tải đơn thuần "Sự thật" là mục tiêu của giáo dục Tuy nhiên, công việc của Freire đã cập nhật khái niệm về vấn đề đặt ra giáo dục và đặt nó trong bối cảnh với các

lý thuyết và thực tiễn giáo dục hiện nay, đặt nền tảng cho sư phạm quan trọng

Về dạy học theo dự án, Freire đã đồng ý với vai trò của giáo viên-học sinh và học sinh-giáo viên; đó là một giáo viên học và một người học dạy, là vai trò

cơ bản của việc tham gia lớp học Các nhà nghiên cứu này đóng góp tốt nhất cho việc học tập dựa trên dự án Không có những bộ óc thông minh này để giúp định hình cải cách giáo dục và tư tưởng, tất cả chúng ta có thể vẫn còn đang ngồi trong hàng, xem giáo viên của chúng tôi viết ra một danh sách các

từ để chúng ta ghi nhớ Đóng góp của họ cho các khái niệm như học tập dựa trên hành động, học bằng cách làm, nhóm động lực và giao tiếp giữa các cá nhân đã là công cụ để hình thành nhiều các lý thuyết về học tập và giảng dạy,

và khi kết hợp với nhau, cho thấy xương cốt của dạy học theo dự án

Như vậy, cho đến nay vẫn không có sự thống nhất về quan niệm đối với DHTDA Có tác giả coi đây là một PPDH, nhưng những tác giả khác lại cho đó là hình thức DH, quan điểm DH hay mô hình DH, Tùy theo cách tiếp cận mà các nhà lý luận có thể quan niệm DHTDA theo những cách khác nhau Trong luận văn này, DHTDA được coi là một PPDH, đó là PPDH lớn,

vì khi thực hiện một dự án có nhiều phương pháp dạy học cụ thể được sử

Trang 29

18

dụng Quan niệm này phù hợp với cách định nghĩa truyền thống về các phương pháp dạy học và bản chất của DHTDA với tư cách là một PPDH mới, PPDH định hướng hành động

Với những phân tích trên, theo chúng tôi: “DHTDA là PPDH trong đó học sinh có được kiến thức và kỹ năng bằng trải nghiệm thực tế làm việc trong một thời gian dài để điều tra và trả lời câu hỏi phức hợp, vấn đề thực tế, hấp dẫn và phức tạp”

1.2.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án

So với các PPDH truyền thống, DHTDA chú trọng nhiều đến năng lực học sinh Theo Apel H.J và Knoll M, mục tiêu của DHTDA nhằm đào tạo con người phát triển toàn diện, trang bị cho họ những năng lực để chuẩn bị bước vào cuộc sống, đồng thời góp phần đổi mới PPDH trong trường học Tuy nhiên, năng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức,… được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người Vì vậy, DHTDA hướng tới ba mục tiêu cơ bản, đó là:

+ Về kiến thức: đạt được chuẩn chương trình hoặc có thể nhiều hơn

+ Về kĩ năng: rèn luyện cho họ các kĩ năng như: tự lập kế hoạch, thực hiện

DA, báo cáo và trình bày kết quả, ĐG DA,

+ Về thái độ: rèn luyện ở học sinh tính tích cực, tự lực và trách nhiệm với cộng đồng và xã hội; có ý thức vận dụng kiến thức vào thực tiễn; hòa đồng giúp đỡ nhau trong học tập

1.2.4 Đặc điểm của dạy học theo dự án

Trong lý luận DHTDA, các nhà sư phạm đưa ra nhiều hệ thống đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, để giảm bớt khó khăn cho việc vận dụng, sau đây luận văn trình bày 4 đặc điểm chính của DHTDA:

- Định hướng vào người học

Trang 30

19

Gồm: a) Chú ý đến hứng thú người học: HS được lựa chọn nhiệm vụ phù hợp với hứng thú và khả năng cá nhân; b) Tính tự lực của người học: Trong DHTDA giáo viên là người hướng dẫn, giúp đỡ, còn người học tham gia vào quá trình thực hiện dự án một cách tích cực, tự lực và sáng tạo; c) Người học được cộng tác làm việc: Trong DHTDA, người học thường làm việc theo nhóm, đòi hỏi phải có sự cộng tác làm việc giữa các thành viên trong nhóm, giữa học sinh và giáo viên và những người tham gia

- Dự án mang tính phức hợp

Nội dung của dự án có thể là tích hợp hoặc sự kết hợp kiến thức của các phần khác nhau của một môn học hoặc kiến thức của nhiều môn học, để giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp

- Định hướng vào sản phẩm

Thông thường khi các dự án kết thúc, HS tạo ra được các sản phẩm như: bài thuyết trình, các văn bản tiểu luận, các mô hình dân dụng, các đề án và những sản phẩm vật chất, chúng thể hiện sự diễn đạt, sự hiểu biết và sự làm chủ quá trình học tập của học sinh

- Định hướng vào thực tiễn

Tập trung vào những điểm sau đây: a) DHTDA gắn với hoàn cảnh thực tiễn

xã hội; chủ đề của dự án cần xuất phát từ những vấn đề của thực tiễn XH và nghề nghiệp, việc học tập trong nhà trường có sự kết hợp với đời sống và sản xuất; b) Nội dung của dự án kết hợp được giữa lý thuyết và thực hành Dự án học tập đòi hỏi học sinh vận dụng các kiến thức và kỹ năng đã học để hoàn thành nhiệm vụ được giao.[15]

1.2.5 Phân loại dạy học theo dự án

- Phân loại theo quỹ thời gian

Theo K.Frey và Nguyễn Văn Cường [3] thì theo quỹ thời gian, DHTDA có thể phân loại như sau: Dự án nhỏ: là dự án thực hiện trong một số giờ học (2 đến 6 giờ); Dự án trung bình: là dự án thực hiện trong một số ngày (dưới 40

Trang 31

20

giờ); Dự án lớn: là dự án được thực hiện với quỹ thời gian lớn, ít nhất là một tuần, có thể kéo dài nhiều tuần

- Phân loại theo mức độ phức hợp của nội dung học tập

Có dự án mang tính thực hành: DA có trọng tâm là một nhiệm vụ thực hành mang tính phức hợp, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để tạo ra SP vật chất

và dự án mang tính phức hợp: có nội dung tích hợp nhiều hoạt động như tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu lí thuyết, giải quyết vấn đề và các hoạt động thực hành, thực tiễn

- Phân loại theo nhiệm vụ dự án

1)Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng; 2) Dự án nghiên cứu: là dự án nhằm GQVĐ, giải thích các hiện tượng, các quá trình; 3) Dự án kiến tạo: là DA chú trọng vào việc tạo ra SP vật chất hoặc hoạt động thực tiễn

để thực hiện các nhiệm vụ như trang trí, biểu diễn, trưng bày,…4) Dự án hành động: là DA tiến hành các hành động thực tiễn, nhằm thực hiện các nhiệm vụ

xã hội như tuyên truyền, quảng bá, tổ chức câu lạc bộ,…

Ngoài ra, còn có cách phân chia hình thức dự án một môn học, liên môn hay tuỳ theo số lượng HS mà có dự án cá nhân, lớp, trường,

1.2.6 Quy trình dạy học theo dự án

Hình 1.1 Các giai đoạn của dạy học theo dự án

Trang 32

Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch

Nhiệm vụ của giáo viên:

- Xác định các công việc cần thực hiện; sản phẩm cần đạt được sau khi hoàn thành dự án

- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng

- Chia nhóm học tập và giao nhiệm vụ cho từng nhóm, đưa ra sản phẩm (kết quả) cần đạt được

Trang 33

22

- Dự trù thời gian cần thiết để hoàn thành dự án, phổ biến cách thức phân công nhiệm vụ trong nhóm; gợi ý cách thức làm việc cho từng nhóm; cung cấp các tiêu chí đánh giá,…

- Thông báo tài liệu tham khảo hỗ trợ cho học sinh, chuẩn bị phương tiện và vật liệu cần thiết

- Kiểm tra tính khả thi, hướng giải quyết, phương pháp thực hiện dự án; có thể hướng dẫn hoặc điều chỉnh lại nếu các nhóm đi chệch hướng

Nhiệm vụ của học sinh:

- Dựa trên mục tiêu chung, xác định mục tiêu dự án của nhóm mình

- Chia nhóm: bầu nhóm trưởng và thư kí của nhóm

- Thảo luận, thống nhất xây dựng kế hoạch thực hiện, chi tiết hóa dự án của nhóm

- Phân công công việc cụ thể cho từng thành viên trong nhóm (tùy theo năng lực của mỗi bạn)

- Dựa vào sự phản hồi của giáo viên, xem xét, chỉnh sửa kế hoạch cũng như phương pháp thực hiện dự án của nhóm

Giai đoạn 3: Thực hiện dự án

Nhiệm vụ của giáo viên:

- Theo dõi quá trình thực hiện của học sinh

- Kiểm tra tiến độ thực hiện của các nhóm

- Trợ giúp giải quyết các câu hỏi mà học sinh thướng gặp khó khăn tro ng quá trình thực hiện, chú ý phân tích những nguồn thông tin đúng và nguồn thông tin không chính xác

Nhiệm vụ của học sinh:

- Tiến hành nghiên cứu tài liệu, tìm kiếm, thu thập thông tin và xử lí thông tin

- Họp thảo luận nhóm, trao đổi, giải quyết các vấn đề khó khăn

- Tổng hợp thông tin, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, thiết kế nội dung báo cáo sản phẩm của nhóm thành bản thu hoạch

Trang 34

23

Giai đoạn 4: Trình bày sản phẩm dự án

Nhiệm vụ của giáo viên

- Tổ chức cho học sinh trình bày sản phẩm

- Tổ chức cho các nhóm trao đổi, thảo luận, đặt ra câu hỏi cho các nhóm giải quyết

- Bổ sung, gợi ý cho các nhóm thực hiện nhằm hoàn thiện dự án

- Chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết (máy tính, máy chiếu, …) cho các nhóm báo cáo sản phẩm của dự án

Nhiệm vụ của học sinh

- Tùy theo dự án của mỗi nhóm để có hình thức trình bày phù hợp

- Các nhóm trao đổi ý kiến, góp ý để hoàn thiện dự án

- Báo cáo sản phẩm nghiên cứu trước lớp

Giai đoạn 5: Đánh giá dự án

Nhiệm vụ của giáo viên

- Đưa ra tiêu chí đánh giá rõ ràng dựa trên các yếu tố: mục tiêu cần đạt của dự

án, sự hợp tác của các thành viên trong nhóm, thời gian hoàn thành, nội dung bài báo cáo, hình thức, việc trình bày và trả lời câu hỏi của các thành viên trong nhóm,…

- Tổ chức cho học sinh tự đánh giá, các nhóm đánh giá lẫn nhau Từ đó, giáo viên tổng hợp, đánh giá chung về quá trình thực hiện và sản phẩm của dự án Đối với từng thành viên trong nhóm, việc đánh giá của giáo viên dựa trên sự theo dõi, đánh giá của nhóm trưởng, của các thành viên trong nhóm vá sự tự đánh giá

Nhiệm vụ của học sinh:

- Từng thành viên trong nhóm tự đánh giá bản thân

- Các nhóm đánh giá lẫn nhau.[3]

Trang 35

24

1.2.7 Những ưu điểm và hạn chế trong dạy học theo dự án

Như mọi phương pháp giảng dạy, học tập dựa trên dự án đều có cả ưu điểm và nhược điểm Giả sử rằng tất cả học sinh không thể học theo cùng một cách, điều quan trọng là các nhà giáo dục phải phát triển và thực hiện việc dạy thay thế phương pháp (Muthukrisma et al., 1993) Do đó, Học tập dựa trên dự

án không giới hạn về kiến thức và thông tin, nhưng thay vào đó với sự giúp

đỡ của giáo viên, họ cung cấp cho học sinh cơ hội để biến đổi chính họ trong quá trình học tập (Aggelakos, 2003) Ngày nay, học đọc không còn đủ nữa Biết cách giải quyết vấn đề, hợp tác làm việc và tư duy đổi mới được coi là kỹ năng thiết yếu của thế kỷ 21 Do đó, học tập dựa trên dự án là thường được chấp nhận như một phương pháp hiệu quả cho các quá trình giảng dạy, như giải quyết vấn đề và ra quyết định (Thomas, 2000)

1.2.7.1 Ưu điểm

Theo “Thirteen brilliant outcomes of project-based learning” Terry Heick cho rằng có Mười ba kết quả tuyệt vời của học tập dựa trên dự án cho học sinh[18]

- Học sinh học quản lý dự án (Project management)

Chiến lược: Sử dụng một ban quản lý dự án, thậm chí một ban được sử dụng chủ yếu bới các chuyên gia, để giúp học sinh quản lý các dự án cá nhân hoặc nhóm

- Học sinh học được cách thấu hiểu và đồng cảm (Grow more empathetic)

Chiến lược: Bắt đầu lập kế hoạch dự án với một đối tượng cụ thể với mối quan tâm cụ thể và cấp bách

- Học sinh có khả năng phá cách (Students become hacker and rebels) Chiến lược: Cho học sinh thiết kế dự án của riêng họ, hoặc yêu cầu các

dự án lặp đi lặp lại hoặc chống lại các xu hướng và mô hình văn hóa hiện có hoặc giải quyết các mối quan hệ xã hội quan tâm

Trang 36

- Học sinh trở thành người giải quyết vấn đề (They become solvers)

problem-Chiến lược: Sử dụng học tập dựa trên dự án, các dự án đòi hỏi tư duy phê phán để giải quyết

- Học sinh trở nên cuồng nhiệt và khác biệt hoàn toàn (They become wildly and unabashedly different)

Chiến lược: Đưa ra các “điểm” hoặc các cơ chế khuyến khích để thưởng cho học sinh đi chệch hướng theo cách nào đó giúp cải thiện chất lượng công việc Ví dụ: Thêm một mức điểm cho các học sinh chấp nhận rủi

ro hoặc phát triển các giải pháp phi truyền thống đối với các vấn đề và mối quan tâm của xã hội

- Học sinh được tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập (They are more engaged in the learning process)

Chiến lược: Tạo các điểm kiểm tra trong dự án, học sinh đề xuất các điểm kiểm tra của riêng họ, sau đó chịu trách nhiệm kiểm tra loại phản hồi nào sẽ hữu ích và từ ai

- Học sinh sẵn sàng cho một nền kinh tế sáng tạo (They are ready for the creative economy)

Chiến lược: Cung cấp cho học sinh cơ hội sử dụng những kỹ năng và nền tảng cụ thể của học sinh trong việc hoàn thành dự án

Trang 37

- Học sinh có các cách suy nghĩ khác nhau (They think divergently) Chiến lược: suy nghĩ bên ngoài cái hộp bằng cách nghĩ khác về hộp

- Học sinh tạo ra được mối liên hệ sâu sắc giữa các ý tưởng (They make deep connections between ideas)

Chiến lược: Sử dụng các dự án lập kế hoạch chéo chương trình giáo dục bao gồm nhiều nội dung

- Học sinh học cách chấp nhận rủi ro sáng tạo (They learning to take creative risks)

Chiến lược: Giúp học sinh động não để chấp nhận rủi ro sáng tạo khi bắt đầu một dự án

Hình 1.2 Mười ba kết quả tuyệt vời cho học sinh với học tập dựa trên dự án

Trang 38

27

Đối với dạy học: Góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành

động, nhà trường và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thật, cùng một nội dung những học sinh khác nhau

- Về học sinh: Học sinh còn thụ động khi làm việc theo nhóm

Trang 39

Học sinh coi làm việc nhóm là một thách thức Mặc dù họ nhận ra lợi ích to lớn của nó với nghề nghiệp trong tương lai Thái độ của học sinh đối với làm việc nhóm là mơ hồ Một số hoàn toàn không muốn làm việc nhóm, tuy nhiên khi được phân công vào nhóm có các thành viên tích cực thì họ lại cảm thấy khá hứng thú với việc này

b Giải pháp

Trong một bài báo có tiêu đề: Những gì thanh thiếu niên phẫn nộ: Các lớp học do học sinh kiểm soát chứ không phải giáo viên, tác giả cho rằng hầu hết các học sinh ghét làm việc nhóm vì họ cho rằng những đứa trẻ thông minh làm tất cả các công việc

Trang 40

29

Khi đọc các tài liệu để xác định những gì làm nên tinh thần đồng đội tuyệt vời, hầu hết các nguồn đều chỉ ra việc tạo ra một bầu không khí học tập, nơi học sinh thoải mái thảo luận các vấn đề liên quan đến cuộc sống và niềm tin của chính mình mà không sợ bị chỉ trích hay phán xét

Qua đó, chúng tôi cho rằng những giải pháp sau khắc phục được những khó khăn trên:

Đối với giáo viên:

- Phân công công việc cho từng thành viên phải đảm bảo phù hợp với năng lực của họ là điều quan trọng, nó khiến học sinh có thể đóng góp được

ý kiến của bản thân

- Tạo ra bầu không khí thoải mái, tích cực, chủ động

Đối với học sinh:

Để học sinh có thể hoạt động nhóm một cách hiệu quả thì bản thân học sinh phải tự trang bị được một số kỹ năng cộng tác:

- Lắng nghe tích cực và phê phán mang tính chất xây dựng

- Hợp tác – đây không chỉ là việc học sinh làm việc cùng nhau mà là hợp tác trong học tập

- Chia sẻ - trong khi phân công công việc, không phải tất cả các thành viên trong nhóm có thể hoàn thành công việc được giao, vì vậy rất cần sự chia sẻ của các thành viên trong nhóm

1.2.8 Các bước chuẩn bị một dự án cho giáo viên và học sinh

1.2.8.1 Tìm ý tưởng dự án

Từ nội dung bài học, giáo viên suy nghĩ về ý tưởng của DA: như các ứng dụng của Toán học vào kĩ thuật và sản xuất, những vấn đề đang được thế giới quan tâm (ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, khủng khoảng năng

Ngày đăng: 19/08/2020, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w