ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC KHUẤT THỊ HOA NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẢM XÚC HÀNH VI Ở SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KHUẤT THỊ HOA
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẢM XÚC
HÀNH VI Ở SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KHUẤT THỊ HOA
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẢM XÚC
HÀNH VI Ở SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thành Nam
HÀ NỘI – 2020
Trang 3và cho tới ngày hoàn thiện đề tài Tận đáy lòng, tôi luôn cảm thấy biết ơn và may mắn vì đã được làm việc với người thầy vừa giỏi về chuyên môn lại giàu có về đạo đức như vậy
Tôi cũng chân thành cảm ơn tới cộng đồng cựu học viên các khóa 1, 2, 3, 4,
5, 6, 7 và 8 chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên của Trường Đại học Giáo dục vì đã hỗ trợ về tài liệu và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn sự hỗ trợ và tham gia trả lời Phiếu khảo sát của các em sinh viên trường Đại học FPT Hà Nội Những ý kiến trả lời đó đã thực sự đóng góp rất lớn cho thành công của đề tài
Cuối cùng tôi vô cùng cảm ơn bố, mẹ, anh chị em trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là chồng tôi đã luôn ủng hộ và trợ giúp tôi trong suốt quá trình tôi học thạc sĩ để tôi có thêm thời gian và sức khỏe hoàn thành chương trình học cũng như đề tài luận văn này
Do điều kiện thời gian cũng như tài liệu và hiểu biết còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong các thầy, cô và độc giả giúp tôi khắc phục những hạn chế để hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngày 12 tháng 6 năm 2020 Khuất Thị Hoa
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APA: American Psychological Association – Hội tâm lý học Hoa Kỳ
DSM: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Dissorders – Sổ tay chẩn đoán
và phân loại bệnh tâm thần (của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ)
ICD: The International Classification of Diseases – World Health Organization:
Bảng phân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế Giới
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG, BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Những nghiên cứu về đặc điểm nhân cách 6
1.1.1 Các lý thuyết nghiên cứu nhân cách 6
1.1.2 Các phương pháp nghiên cứu nhân cách 10
1.1.3 Một số nghiên cứu nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam 11
1.2 Một số về nghiên cứu về các vấn đề cảm xúc hành vi 14
1.3 Mối liên hệ giữa nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc 17
Trong quá trình nhân cách phát triển, nó sẽ đi theo hai hướng: Hướng tích cực: Là những nhân cách phát triển phù hợp với giá trị xã hội; Hướng bệnh lý: Là những nhân cách phát triển không phù hợp với giá trị xã hội 17
1.4 Một số khái niệm cơ bản 21
1.4.1 Nhân cách 21
1.4.2 Vấn đề cảm xúc hành vi 25
1.4.3 Sinh viên 26
TIÊU KẾT CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Khách thể nghiên cứu 29
2.1.1 Đặc điểm của khách thể 29
2.2 Địa bàn nghiên cứu 30
2.3 Tổ chức nghiên cứu 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 31
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi (anket) 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin 38
3.1.1 Đặc điểm mặt nhiễu tâm (N) 41
Trang 63.1.2 Đặc điểm mặt hướng ngoại (E) 43
3.1.3 Đặc điểm mặt cởi mở (O) 45
3.1.4 Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A) 46
3.1.5 Đặc điểm mặt tận tâm (C) 48
3.2 Thực trạng các vấn đề hành vi cảm xúc của sinh viên công nghệ thông tin trường Đại học FPT 49
3.2.1 Điểm số trung bình của thang YSR 49
3.2.2 Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề HVCX 58
3.3 Mô hình hồi quy giữa các đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi 62
Trên cơ sở tìm ra những mối tương quan giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc, chúng tôi tiến hành phân tích mô hình hồi quy bội để tìm ra những mặt nhân cách dự báo và ảnh hưởng tới các vấn đề cảm xúc hành vi Kết quả thu được như sau: 62 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Khuyến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 93
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1: Các chỉ số thống kê cơ bản về các mặt trong nhân cách của sinh viên
ngành công nghệ thông tin 38
Bảng 3.2: Chỉ số thống kê theo mức độ các mặt nhân cách của sinh viên công nghệ thông tin 40
Bảng 3.3 Đặc điểm nhân cách trong mặt nhiễu tâm (N) 42
Bảng 3.4 Bảng đặc điểm của mặt hướng ngoại (E) 44
Bảng 3.5 Bảng đặc điểm mặt cởi mở (O) 45
Bảng 3.6 Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A) 47
Biểu đồ 3.1 Hàm phân phối tổng điểm thô YSR 50
Bảng 3.8 Giá trị trung bình của tổng thang đo 50
Bảng 3.9 Bảng phân loại vấn đề HVCX của sinh viên ngành công nghệ thông tin theo giới tính 52
Bảng 3.10 Bảng tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp các vấn đề HVCX 57 Bảng 3.11 Bảng tương quan Person giữa các vấn đề hành vi cảm xúc và các mặt nhân cách 59
Bảng 3.12.Mô hình dự báo lo âu trầm cảm 63
Bảng 3.13.Mô hình dự báo trầm cảm thu mình 65
Bảng 3.14.Mô hình dự báo bệnh tâm thể 68
Bảng 3.16.Mô hình dự báo vấn đề tư duy 72
Bảng 3.17 Mô hình dự báo vấn đề chú ý 75
Bảng 3.18 Mô hình dự báo vấn đề Phá bỏ quy tắc 77
Bảng 3.19 Mô hình dự báo vấn đề Hành vi xâm kích 79
Trang 8Đặc biệt, khi nghiên cứu về nhân cách thường được thể hiện rõ nhất ở độ tuổi nào là phù hợp đã cho thấy sự đa dạng ở các nghiên cứu theo từng giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quan điểm cho thấy các nghiên cứu về đặc điểm nhân cách cũng như cảm xúc hành vi ở độ tuổi thanh thiếu niên và người trưởng thành Cụ thể, hầu hết các nhà tâm lý học xem xét sinh viên đại học tại thời điểm tốt nghiệp hoặc thể hiện một số khía cạnh về phát triển nhân cách khi ở độ tuổi trưởng thành Có thể thấy, ở độ tuổi này có lý do để suy nghĩ rằng sự phát triển nhân cách vẫn tiếp tục, ít nhất là đối với một số cá nhân, trong vài năm tiếp diễn [50][51][52] Các báo cáo nghiên cứu về các cá nhân từ tuổi đại học đến tuổi trưởng thành gần như luôn cho thấy một số thay đổi ở mức độ trung bình về đặc điểm tính cách và biến động cao hơn so với các nghiên cứu về các cá nhân lớn tuổi[50] [59] Khi so sánh điểm số tính cách của sinh viên đại học với 10 người trưởng thành trong bản kiểm kê tính cách NEO (Costa & McCrae, 1985, 1989a), thang đo về năm yếu tố tính cách đã cho thấy sinh viên sự thể hiện các đặc điểm nhân cách về mặt nhiễu
Trang 9tâm, hướng ngoại, cởi mở cao hơn là đồng thuận và tận tâm Những khác biệt này cho thấy sinh viên đại học trưởng thành và nhẹ nhàng hơn một chút, trở nên ít cảm xúc và linh hoạt hơn, tử tế và có trách nhiệm hơn Như vậy, nếu định nghĩa tuổi trưởng thành là giai đoạn từ 18 tuổi trở đi, các nghiên cứu đã phần nào cho thấy có
sự phát triển về đặc điểm nhân cách ở người trưởng thành Vậy phải chăng ở độ tuổi trưởng thành hay cụ thể là độ tuổi sinh viên sẽ cho thấy đặc điểm nhân cách và cảm xúc hành vi không được thể hiện nhiều hay vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến độ tuổi cao hơn Đó là một vài khía cạnh về học thuật được giới nghiên cứu tranh luận
mà đề tài quan tâm, làm rõ nhằm góp phần nâng cao nhận thức lý luận cho lĩnh vực nghiên cứu và cũng là mục tiêu lý luận của đề tài
Từ những đặc điểm nhân cách cũng phần nào phản ánh cảm xúc hành vi được thể hiện qua các chỉ số về sức khỏe tâm thần của sinh viên Sức khỏe tâm thần, giống như các khía cạnh khác của sức khỏe, có thể bị ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố kinh tế xã hội cần được giải quyết thông qua các chiến lược toàn diện nhằm thúc đẩy, phòng ngừa, điều trị và phục hồi theo cách tiếp cận của cơ quan chính phủ Các yếu tố quyết định sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần không chỉ bao gồm các thuộc tính riêng lẻ như khả năng quản lý suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và tương tác với người khác, mà còn các yếu tố xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị và môi trường cũng như chính sách quốc gia, bảo vệ xã hội, sinh hoạt, tiêu chuẩn sinh hoạt, điều kiện làm việc và hỗ trợ cộng đồng xã hội Nghiên cứu sinh viên năm hai
hệ bác sĩ của trường Đại học Y Hà Nội tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ trầm cảm trong nhóm sinh viên có kiểu nhân cách hướng nội (33,05%) cao hơn so với nhóm sinh viên có kiểu nhân cách hướng ngoại (17,36%), tỷ lệ trầm cảm trong nhóm sinh viên
có kiểu nhân cách không ổn định cao hơn so với nhóm sinh viên có kiểu nhân cách
ổn định, sinh viên có nhân cách không ổn định có nguy cơ trầm cảm cao gấp hơn 5 lần so với kiểu nhân cách ổn định [29]
Đặc biệt, đối tượng sinh viên ngành công nghệ thông tin (CNTT) – ngành học
có đặc thù yêu cầu trình độ và kiến thức cao, có thời gian ngồi máy tính rất dài, ít vận động, có những thời điểm kéo dài vài ngày, không ăn, không ngủ, điều này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh không chỉ về cơ thể mà còn về tinh thần Nguyên nhân
Trang 10các rối loạn cảm xúc, hành vi ở thanh thiếu niên chủ yếu xuất phát từ yếu tố sinh học, yếu tố môi trường hoặc kết hợp cả hai Ví dụ về các yếu tố sinh học như yếu tố
di truyền, cân bằng sinh hóa trong cơ thể, tổn thương hệ thần kinh trung ương (chấn thương sọ não Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần như bị bạo hành, bị thảm họa, mất người thân [24] [27]
Trước thực trạng như vậy một số câu hỏi được đặt ra như: Đặc điểm nhân cách
và những vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên được thể hiện như thế nào? Có mối liên hệ nào giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin? Có những mặt nhân cách nào điểm cao thì có xu hướng
dễ gặp vấn đề hành vi cảm xúc? Đó là những câu hỏi cần có câu trả lời xác đáng
Với những lý do trên, việc nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm nhân cách và những vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin” là việc làm
cần thiết nhằm tìm hiểu đặc điểm, yếu tố tác động đến nhân cách, cảm xúc hành vi cũng như có sự so sánh, làm rõ mối liên hệ giữa hai yếu tố đó Đề tài lựa khảo sát sinh viên chuyên ngành công nghệ thông tin tại Đại học FPT để thực hiện nghiên cứu bởi trong giới hạn nguồn lực cho phép của một nghiên cứu thực nghiệm Trường Đại học FPT với sự đa dạng về độ tuổi, giới tính,ngành học, trình độ học vấn, quê quán sẽ giúp cho việc lựa chọn mẫu nghiên cứu phù hợp với nội dung, mục tiêu nghiên cứu và kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu cũng như tính đúng đắn của các lý thuyết nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng đặc điểm nhân cách và cảm xúc hành vi của sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin trường Đại học FPT Từ đó tìm được được mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi và dự báo xu hướng tác động của từng mặt nhân cách đến các vấn đề cảm xúc hành vi, nhằm đề xuất một số giải pháp hỗ trợ công tác tư vấn hướng nghiệp và tâm lý học đường trong trường học hiệu quả hơn
3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 111 Đặc điểm nhân cách và những vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên được thể hiện như thế nào?
2 Có mối liên hệ nào giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin?
3 Có những mặt nhân cách nào có xu hướng tác động, ảnh hưởng tới sự xuất hiện các vấn đề cảm xúc hành vi khác nhau ở sinh viên ngành công nghệ thông tin
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Đặc điểm nổi bật về nhân cách của sinh viên công nghệ thông tin ĐH FPT là tính hướng ngoại, nhiệt huyết
- Sinh viên công nghệ thông tin ĐH FPT gặp vấn đề rối loạn hành vi nhiều hơn rối loạn cảm xúc
- Các vấn đề cảm xúc hành vi khác nhau thường có mối liên quan đến đặc điểm nhân cách theo xu hướng điểm nhiễu tâm nào càng cao thì điểm rối loạn các vấn
đề cảm xúc hành vi càng cao
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
- Tổng quan nghiên cứu về nhân cách theo thuyết 5 mặt lớn, các nghiên cứu về
SKTT và mối quan hệ giữa các yếu tố này
- Thao tác hóa các khái niệm liên quan đến đề tài: sinh viên, nhân cách, vấn đề cảm xúc và hành vi như lo âu, trầm cảm, rối nhiễu chống đối
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Phân tích trực trạng các đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin
- Phân tích thực trạng các vấn đề cảm xúc – hành vi mà sinh viên ngành công nghệ thông tin đang gặp phải
- Tìm hiểu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách với các vấn đề cảm xúc – hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên năm nhất ngành
Trang 12công nghệ thông tin
b Khách thể nghiên cứu
- 325 sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin trường ĐH FPT Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính: (1) Nghiên cứu tài liệu, (2) điều tra bảng hỏi/trắc nghiệm, (3) xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học
7 Giới hạn nghiên cứu
Giới hạn nội dung: Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng các mặt nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên công nghệ thông tin Đồng thời chỉ ra mối tương quan giữa nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi
Giới hạn thời gian: Từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020
Giới hạn địa điểm: Khảo sát được tiến hành trên 325 sinh viên công nghệ thông tin năm thứ nhất tại trường ĐH FPT – km29 khu giáo dục đào tạo, khu công nghệ cao Hòa Lạc, Thạch Thất, Hà Nội Trường FPT là một trong những trường hàng đầu về công nghệ, hội tụ đa dạng các đối tượng khác nhau trên khắp cả nước thi vào trường Từ những sinh viên giỏi và xuất sắc giành được học bổng của trường đến những sinh viên khá thi đỗ vào trường và cả những sinh viên trung bình xét học bạ cũng có thể theo học ngành công nghệ thông tin tại trường Đây là một ngành học đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, đang thu hút trên thị trường lao động trong và ngoài nước Đặc thù của ngành là làm việc với phần mềm và máy tính, tí có thời gian tương tác giữa người với người đồng thời ít vận động nên có nguy cơ gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần cao
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Trình bày tổng quan cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và cách thức tổ chức triển khai nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Những nghiên cứu về đặc điểm nhân cách
1.1.1 Các lý thuyết nghiên cứu nhân cách
Theo lý thuyết chất dịch: quan niệm vốn có trong lý thuyết này là cơ thể
người chứa đựng những chất dịch (chất lỏng), đặc biệt có nhiều nhất trong cơ thể như máu, dãi, đờm, mật vàng, và mật đen, và những chất này có ảnh hưởng nhiều tới nhân cách của con người Theo đó những người có tỉ lệ máu cao thì thường có nhân cách hoạt bát, vui vẻ, sinh động, còn những người có tỉ lệ mật vàng hay nước mắt cao hơn sẽ tạo ra tính cách nóng nảy, hấp tấp [45]
Theo lý thuyết phân tâm của Freud: Cấu trúc nhân cách có ba thành phần,
bao gồm: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi Freud cho rằng nhân cách của cá nhân có liên quan chặt chẽ với quá trình của ý thức và libido, được xây dựng và định hình lúc 5 tuổi, đây là thời kỳ quan trọng nhất quyết định toàn bộ sự phát triển của một đời người [45]
Lý thuyết của Karl Gustav Jung cho rằng có một vô thức tập thể hình thành
từ những động cơ nguyên thủy của loài người Trong cấu trúc này, cái tôi là trung tâm của ý thức, nhân cách là mẹ của ý thức, vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm
lý cá nhân Cái bản thân nằm giữa ý thức và vô thức Cái bản thân là sự tổng hợp cái bên trong và cái bên ngoài [44]
Lý thuyết 8 giai đoạn phát triển của Erikson: nhân cách như thế nào chính
là quá trình mỗi cá nhân đối phó với những mâu thuẫn gặp phải trong các giai đoạn đó [45]
Lý thuyết về hành vi về nhân cách của B.F.Skinner: Hành vi tạo tác là hành
vi được hiểu là loại hành vi được tạo ra bởi chính hiệu quả của nó Và sự hình thành
và phát triển nhân cách chính là sự hình thành, duy trì, thay đổi một hệ thống các hành vi tạo tác để tạo nên một nhân cách ổn định, riêng biệt [45]
Thuyết hành vi xã hội: nhóm các lý thuyết này xem nhân cách phần lớn là kết
quả của sự tập quen Những lý thuyết này thay đổi từ thuyết kích thích – phản ứng theo thuyết hành vi, xem nhân cách đơn thuần là kết quả của vô số các lần biến đổi
Trang 14do điều kiện ngoại cảnh mà trẻ tiếp nhận qua đời sống, cho đến lý thuyết ý thức xã hội và hành vi xã hội phức tạp hơn, xem kinh nghiệm xã hội là yếu tố quan trọng quyết định nhân cách [46] [51]
Nhân cách theo thuyết hành vi xã hội: Albert Bandura cho rằng yếu tố xã hội
trong việc hình thành nhân cách quan trọng hơn sự thừa nhận của Watson hay Skinner Bandura cho rằng một quá trình quyết định liên quan đến nhân cách đó là học tập xã hội [45]
Lý thuyết nhu cầu về nhân cách của Maslow: Theo quan niệm của ông, sự phát triển của nhân cách chính là quá trình mỗi các nhân tiến hành các hoạt động khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của mình Chính quá trình mỗi các nhân tiến hành các hoạt động khác nhau của mình một cách đa dạng và phong phú để thỏa mãn các nhu cầu của mình quy định chiều hướng phát triển nhân cách của họ
Lý thuyết thân chủ trọng tâm cùa Carl Rogers: ở lý thuyết này, khái niệm cái
tôi và sự phát triển cá nhân được nhấn mạnh, cho rằng cả hai yếu tố này đều cần thiết trong việc phát triển nhân cách lành mạnh [45]
Lý thuyết tâm lý học hoạt động về nhân cách cảu Vuwgotxki: Ông cho rằng
“lịch sử phát triển văn hóa của trẻ đưa chúng ta đến lịch sử phát triển nhân cách” hay nói cách khác, sự phát triển nhân cách và thế giới quan của trẻ chính là sự phát triển văn hóa
Lý thuyết nhân cách của Cattell: nhờ áp dụng phân tích nhân tố, nhà tâm lý
học nhân cách Raymond Cattell đã tìm ra 16 đặc điểm tượng trưng cho các khuôn khổ nhân cách cơ bản Từ đó phát triển thành bảng câu hỏi 16 nhân tố của nhân cách, là cách đánh giá cho biết mỗi đặc điểm nhân cách dành cho ba nhóm đối tượng khác nhau: phi công, nghệ sĩ sáng tạo và nhà văn [46]
Nhà tâm lý học người Anh (sinh ra ở Đức) - Hans Eysenck cũng sử dụng
phân tích nhân tố để nhận dạng các mẫu trong đặc điểm nhân cách Ông nhận thấy phân tích nhân cách tốt nhất nên mô tả bằng thuật ngữ gồm hai khuôn khổ hướng nội - hướng ngoại và thần kinh ổn định - không ổn định Khi phân tích theo hướng nội - hướng ngoại sẽ phân làm hai nhóm: một nhóm là người thường điềm tĩnh, cẩn thận trầm ngâm và ức chế (người hướng nội) còn một nhóm khác là những người
Trang 15luôn vượt lên trước, hòa đồng và hoạt động (người hướng ngoại) Con người cũng
có thể chia thành kiểu người không ổn định với các biểu hiện như buồn rầu, hay tự
ái, nhạy hay nhóm người ổn định với các biểu hiện điềm tĩnh, đáng tin Với cách đánh giá con người theo hai chiều hướng này, nhà tâm lý Eysenck có thể dự đoán hành vi con người trong những tình huống khác nhau Với những ưu điểm như số
câu vừa phải và dễ diễn giải, dễ hiểu, thang đo nhân cách Eysenck (Eysenck Personality Inventory, viết tắt là EPỈ) đã được dịch và đưa vào sử dụng trong
nghiên cứu, giảng dạy và thực hành lâm sàng ở Việt Nam khá lâu
Như vậy, có rất nhiều những lý thuyết nhân cách khác nhau trong ngành tâm
lý học, mỗi lý thuyết có ưu, nhược điểm khác nhau Trong đó, không thể không nhắc đến lý thuyết 5 yếu tố lớn của nhân cách
Mục đích của thuyết 5 nhân tố FFM (Five Factor Model) là nhằm "quan sát người khác, ghi chép lại những sự khác biệt giữa các cá nhân đó" Qua nghiên cứu
từ vựng (lexical study), người ta giả định rằng "sự khác biệt giữa các cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động con người được ký hiệu hóa thành ngôn ngữ (ngôn ngữ tự nhiên) sử dụng hằng ngày Do đó nếu tập trung, phân loại, chỉnh lý các từ ngữ biểu hiện sự khác biệt cá nhân (đặc tính ngữ) có trong từ điển hay những
mô tả người có trong tiếp xúc và ghi chép thì có thể nhìn thấy cấu trúc của nhân cách
Những nghiên cứu về từ vựng được bắt đầu từ Alloprt, G.W và Odbert, H.S (1936) cùng với sự phát triển của phương pháp phân tích nhân tố đã phát triển thành ghi chép nhân cách dựa vào 5 nhân tố Tiếp theo các nghiên cứu của Tupes, E.C and Christal, R.E (l961) rồi Norman, W.T (1963), Goldberg, L.R trên cơ sở xem xét lại bản chất ý nghĩa tâm lý của các yếu tố, đã đi đến chỗ coi 5 nhân tố là mô hình có thể ghi chép một cách bao quát ve nhân cách vượt qua sự phân loại đơn thuần về đặc tính ngữ (hay những từ ngữ biểu thị đặc tính nhân cách, D.Peabody, D & Goldberg, L.R., 1989)
Phương pháp cấu thành thước đo trên cơ sở lý thuyết nhân cách và sử dụng thước đo đó để ghi chép về những sự khác biệt cá nhân được gọi là nghiên cứu phiếu hỏi hay nghiên cứu qua hỏi đáp viết (questionnaire study) Trong khi nghiên
Trang 16cứu từ vựng xuất phát từ sự quan tâm đến từ vựng (đặc tính ngữ) và cơ cấu của nó
để hệ thống hóa chúng theo phương thức từ dưới lên (bottom up) và tìm ra đặc tính nhân cách ở thứ nguyên cao thì trong nghiên cứu qua hỏi đáp viết chủ yếu người ta dùng phương pháp xác minh cấu trúc nhân cách từ lí luận với phương thức từ trên xuống (top down) Trong bối cảnh như vậy những nghiên cứu nhằm nắm bắt nhân cách một cách tổng quát đi tìm những mô hình dễ hiểu được tiến hành nhiều lần, dần dần những thành tựu của nghiên cứu từ vựng và nghiên cứu hỏi đáp viết được đưa vào kết hợp lại và hình thành nên FFM Kết quả là thước đo với 5 nhân tố định sẵn ra đời Trong số đó có NEO PI-R (Revised NEO Personality lnventory) một mô hình hiện nay đang được sử dụng rộng rãi nhân đã được Costa, P.T., Jr và Mccrae, R.R đưa ra năm 1992 Thước đo này đo 5 mặt (lĩnh vực) của nhân cách, mỗi mặt bao gồm 6 chỉ số và mỗi chỉ số được đo bằng 8 hành vi thể hiện (8 items) Như vậy tổng cộng trắc nghiệm có 240 items Với giả định về cơ cấu tầng bậc của các mặt và chỉ số, người ta hy vọng sẽ nắm bắt được nhân cách một cách tổng quát và chi tiết
Năm 1996, McCrae và Costa đưa ra lý thuyết năm yếu tố Lý thuyết này chỉ
ra năm yếu tố cơ bản của nhân cách, còn gọi là Big Five, bao gồm: Tính thần kinh; tính hướng ngoại; Tính mở đối với hiểu biết; Tính dễ chịu; Tính ý thức Nguồn gốc của mô hình nhân cách năm yếu tố này là quan điểm nét nhân cách là một yếu tố ổn định của nhân cách, trong khi các thuộc tính tâm lý khác như: Thái độ, niềm tin, kỹ năng … thì có thể thay đổi theo thời gian và tình huống Từ quan điểm này, Cattell
và cộng sự cho rằng cần phân biệt những yếu tố cơ bản của nhân cách (Big Five) với các đặc trưng thích ứng của nahan cách Lý thuyết năm yếu tố muốn nhấn mạnh rằng nhân cách cần phải được xem xét một cách tổng thể và trong suốt chiều dài lịch sử của cá nhân chứ không nên xem như là một mẫu hành vi tách biệt
Có nhiều nhiên cứu chỉ ra rằng năm yếu tố cơ bản của nhân cách chịu sự chi phối lớn bởi yếu tố di truyền, tuy nhiên tác giả của mô hình này (McCrae và Costa) cho rằng môi trường cũng có ảnh hưởng lớn đến nhân cách
Trong nghiên cứu của McCrae và Costa cũng tìm thấy độ tin cậy và độ giá trị của 5 yếu tố và các yếu tố này khá ổn định ở lứa tuổi trưởng thành Golberg sau khi
Trang 17tổng hợp các nghiên cứu của những người khác nhau ông đã đề nghị lấy tên gọi 5 mặt đó là “Big Five”
Theo lý thuyết này, 5 mặt nhân cách mà được nhiều người tán thành nhất đó
là Nhiễu tâm (Neuroticism), Hướng ngoại (Extraversion), Cởi mớ (Openness), Dễ đồng ý (Agreeableness) và Tận tâm (Coscientiouness) Ý nghĩa của của 5 yếu tố
được diễn giải như sau:
Nhiễu tâm (N) là mặt nhân cách đánh giá khả năng kiểm soát và ổn định về
mặt cảm xúc, dự đoán những cá nhân có nguy cơ dễ rơi vào stress tâm lý hoặc có những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá
Hướng ngoại (E) là mặt nhân cách dùng để đánh giá tần xuất và cường độ các
tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng
Cởi mở (O) là mặt nhân cách để đánh giá hành vi sẵn sàng thử nghiệm, học
hỏi cái mới, đánh giá cao sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng chịu đựng để khảo sát những cái mới lạ
Dễ đồng ý/Dễ chấp nhận (A): mặt nhân cách này đánh giá chất lượng định
hướng liên cá nhân của con người với một chuỗi từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động
Tận tâm (C): mặt nhân cách này đánh giá khả năng tổ chức công việc, động
cơ, uy tín trong hành vi nhằm hướng tới mục tiêu của cá nhân Đặc điểm này tương phản giữa những cá nhân khó tính, phụ thuộc với những người độc lập và mềm mỏng [13] [51]
1.1.2 Các phương pháp nghiên cứu nhân cách
Trong nghiên cứu về nhân cách, có hai phương pháp đánh giá nhân cách là phương pháp nghiên cứu trường hợp và phương pháp trắc nghiệm Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu trường hợp chủ yếu tiến hành giới hạn trên số lượng ít khách thể và đòi hòi thời gian, công sức cũng như nhiều nguồn lực khác, lại không tổng hợp khái quát trên phạm vi nhiều khách thể được nên với đề tài này, chúng tôi
sử dụng phương pháp trắc nghiệm để làm công cụ đánh giá nhân cách
Hiện nay trên thế giới có nhiều trắc nghiệm làm công cụ đánh giá nhân cách Phải kể đến một số trắc nghiệm khá phổ biến như các trắc nghiệm phóng chiếu, trắc
Trang 18nghiệm khách quan, sử dụng bảng hỏi nhân cách Eysenck (EPQ), bảng hỏi nhân cách ba chiều (TPQ) Nghiên cứu xuyên văn hóa về vấn đề đo đạc nhân cách của Cheung (2004) đã liệt kê một số trắc nghiệm được sử dụng tại các nước châu Á như MMPI, EPQ, STAI và NEO PI-R
Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy trắc nghiệm nhân cách năm yếu tố (Five Factor Model) được sử dụng cho đánh giá, tư vấn, lựa chọn, tuyển dụng nhân sự cũng như xem xét tác động đến sự thành công trong nghề nghiệp như các nghiên cứu của Boudreau, Boswell, & Judge năm 2001; Seibert & Kraimer năm 2001; Gelissen & de Graaf năm 2006; Reed, Bruch, Haase năm 2004; Schmit & Ryan năm 1993; Sutin và cộng sự năm 2009; Timmerman, 2004 và Detrick, & Chibnall năm 2006 [59]
Trên thế giới, trắc nghiệm nhân cách phổ biến nhất, được nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất là các trắc ngiệm nhân cách năm yếu tố, trong đó nổi bật là trắc nghiệm NEO của các tác giả Paul T.Costa và Robert R.McCrae, với phiên bản NEO PI-R Trắc nghiệm NEO PI-R là một trong những trắc nghiệm được lựa chọn sử dụng với mục đích đánh giá về nghề nghiệp, có thể góp phần giúp xác định được sự phù hợp tối ưu giữa một các nhân và công việc [51] Một số nghiên cứu cho rằng NEO PI-R đã được nghiên cứu và ứng dụng trong tâm lý học công nghiệp/tổ chức [59]
Vì những lý do trên, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng công cụ đánh giá nhân cách là trắc nghiệm NEO – 60VN làm công cụ đo đạc, trắc nghiệm này được thích nghi tại Việt Nam từ trắc nghiệm NEO PI-R bởi Trần Văn Công và cộng
sự vào năm 2016
1.1.3 Một số nghiên cứu nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam
Nghiên cứu của Jerome Kagan tại đại học Havard thực hiện trên 500 trẻ em sơ sinh ( từ 4 tháng tuổi) được bắt đầu thực hiện từ năm 1989 và vẫn tiếp tục đến hiện tại Nghiên cứu này khẳng định bản chất phân biệt giữa người hướng nội và hướng ngoại là sự nhạy cảm với các kích thích bên ngoài Một nghiên cứu của tác giả Haleh Saboori năm 2016 trên 200 học sinh trung học ở Tehran-Iran sử dụng thang EPQ (Eysenck Personality Questionnaire ) cho kết quả 44,7% học sinh có nhân
Trang 19cách hướng nội, 55,3% học sinh có nhân cách hướng ngoại [61] Nghiên cứu năm 2017 của Pia Zeinoun và cộng sự về cấu trúc nhân cách rập – Levantine trên 806 đối tượng xác định được nhân cách gồm 6 yếu tố: 1- đạo đức, 2-
sự chu đáo, 3- sự thống trị, 4- sự đồng nhất, 5- tích cực, 6- độ ổn định về cảm xúc Nghiên cứu của Dr.Kalyani Kenneth trên 41 trẻ em về mối liên quan giữa tính cách
và lòng tự trọng của trẻ sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho thấy tương quan không có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố thần kinh và long tự trọng của trẻ ( r=-0,23; p=0,23) Ngược lại có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố hướng ngoại- nội và lòng tự trọng của trẻ (r= 0,54; p<0,001)
Nghiên cứu của Gibert Jessup và cộng sự về việc đào tạo thí điểm 205 học viên phi công sử dụng kết hợp bảng nghiệm kê nhân cách EPI để đánh giá Kết quả cho thấy rằng việc đào tạo thí điểm thất bại có tỷ lệ cao nhất ở những người có nhân cách thần không ổn định và thấp nhất ở những người có nhân cách ổn định Nghiên cứu của D Bartram và cộng sự về việc lựa chọn ứng cử viên cho việc huấn luyện phi công trong quân đội điểm EPI đã được phân tích liên quan đến thành công trong việc đào tạo Những người có nhân cách ổn định và hướng ngoại có khả năng thành công trong đào tạo hơn [50]
Thời kỳ đầu, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên cùng một số nhà khoa học khác
là những người khảo cứu về con người Việt Nam, đặt nền móng cho vấn đề nghiên cứu
về nhân cách người Việt Về sau, các nhà tâm lý học Việt Nam chú ý nhiều hơn tới vấn
đề nhân cách người Việt Nam, tiêu biểu phải kể đến các tên tuổi: Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Đồ Long, Nguyễn Quang Uẩn
Khái quát các nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam dưới góc độ tâm
lý học có các hướng chính sau:
Hướng thứ nhất, nghiên cứu tập trung làm rõ các đặc điểm, phẩm chất quan
trọng của một số đối tượng cụ thể như: nhân cách người sĩ quan, nhân cách người
Hà Nội, nhân cách người nông dân, nhân cách sinh viên … (1)
Nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Châu trong năm 2002 là một trong những nghiên cứu theo hướng này, nghiên cứu thực hiện trên sinh viên trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nữ sinh viên có kiểu nhân cách hướng ngoại
Trang 20thích giao tiếp hơn, hiền lành, thiếu kiên định kém ý chí hơn nam sinh viên và dễ bị tình cảm chi phối; sinh viên nam có kiểu hướng nội, đằm tính, nhanh nhẹn, dễ nóng giận, nghiêm khác Sinh viên khối xã hội là người hướng ngoại, trong đó sinh viên khối tự nhiên ưa quyền lực hơn và chịu được sự căng thẳng cao hơn [3]
Nghiên cứu năm 2010 của Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Công với đề tài
“Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau” tiến hành trên
1182 sinh viên thuộc 8 trường đại học, cao đẳng thuộc thành phố Hà Nội và Đà Nẵng với khoảng 20 ngành học khác nhau Nghiên cứu này đã cho thấy có sự khác biệt ở một số đặc điểm nhân cách giữa sinh viên các ngành học và giữa sinh viên nam và nữ Sinh viên Nữ thể hiện tính dễ chịu, ngay thẳng và có thay đổi cảm xúc nhiều hơn nam, trong khi đó sinh viên nam thể hiện tính nhiệt huyết và trí tuệ cao hơn sinh viên nữ Sinh viên ngành Nhân văn thể hiện sự hướng ngoại, nhiệt tình cao hơn so với sinh viên Sư phạm [35]
Hướng thứ hai, nghiên cứu tập trung về đối tượng đặc thù Ở hướng nghiên
cứu này, chủ yếu có các bài tạp chí quan tâm đến các vấn đề như sự hình thành và phát triển của hệ thống động cơ (học tập lao động, động cơ thành đạt…; khả năng
tự đánh giá, sự định hướng giá trị chung và định hướng giá trị trong các hoạt động khác nhau, thái độ trước những vấn đề xã hội khác nhau cũng như đối với những hoạt động khác nhau, tinh thần trách nhiệm, hứng thú và khả năng thích ứng
Theo hướng nghiên cứu này phải kể đến là nghiên cứu vào năm 2008 của Trần Anh Châu về tác động của một số đặc điểm nhân cách đến động cơ thành đạt của thanh niên cho thấy đặc điểm nhân cách ít ảnh hưởng đến khía cạnh thể hiện động cơ thành đạt [2]
Hướng thứ ba, nghiên cứu về những yếu tố, những phẩm chất tâm lý quan
trọng, tích cực thuộc về nhân cách thông qua các biện pháp tác động tâm lý-giáo dục Nghiên cứu tập trung các vấn đề: hình thành động cơ nhân cách của hoạt động học tập, hình thành thái độ tích cực trong học tập và đối với các vấn đề xã hội hiện nay; hình thành khả năng tự đánh giá, đánh giá khách quan, phù hợp; giáo dục tinh thần trách nhiệm, giáo dục hình thành kĩ năng sống; …
Trang 21Hướng thứ tư là các nghiên cứu về những nhân cách bệnh lý, nhân cách đang
trong quá trình suy thoát, nhân cách phát triển lệch lạc Những nghiên cứu này nhằm phát hiện những nguyên nhân sâu xa của sự lệch lạc để trên cơ sở đó có những biện pháp ngăn ngừa, trị liệu, giáo dục, tư vấn nhằm tạo một xã hội với những con người phát triển lành mạnh cả về thể chất lẫn tâm lý Đối tượng nghiên cứu của hướng thứ tư này là: đặc điểm nhân cách của người nghiện ma túy; đặc điểm nhân cách của gái mại dâm; ảnh hưởng của nhóm bạn tiêu cực đến những hành vi lệch chuẩn, hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên …
Ví dụ như nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt trên 303 học sinh THPT ở tỉnh Bắc Ninh sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho kết quả những học sinh có nhân cách bình thản
ít khi bị bắt nạt, kiểu nhân cách hoạt bát và ưu tư tỷ lệ học sinh bị bắt nạt cao hơn nhiều lần [8]
Luận án tiến sĩ tâm lý học xã hội năm 2002 của Phan Thị Mai Hương với đề tài “ Tìm hiểu đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma túy
và mối liên hệ giữa chúng” cho thấy một số đặc điểm nhân cách nổi bật của nhóm đối tượng này Một là đặc điểm chú trọng đến cảm xúc: mất cân bằng cảm xúc Hai
là phụ thuộc và thụ động Ba là lối tư duy thử nghiệm và tầm nhìn hạn chế [20]
Cuối cùng, hướng thứ năm là nghiên cứu định lượng, lượng hóa các yếu tố nhân
cách: thích ứng test sáng tạo, test đánh giá kĩ năng xã hội, test định hướng giá trị nhân cách,test đánh giá các mặt nhân cách của Cattell 16 PF
Nhìn chung với năm hướng nghiên cứu này, dù mỗi hướng có những đặc trưng riêng nhưng hội tụ lại cho thấy một bức tranh về nghiên cứu nhân cách ở Việt Nam
có nhiều chiều và cho những kết quả nhất định
1.2 Một số về nghiên cứu về các vấn đề cảm xúc hành vi
Cuộc điều tra của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 1990 (WHO) trên 60.559 người thuộc 14 quốc gia khác nhau bằng bộ câu hỏi CIDI nhằm xác định tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra [39] Kết quả nghiên cứu thu được như sau (trích theo giáo trình “Dịch tễ học tâm thần, ĐH Y Phạm Ngọc Thạch, tác giả Đặng Hoàng Hải) [14]
Trang 22đó có các vấn đề cảm xúc hành vi là một dạng tổn thương sức khỏe tinh thần [41]
Trang 23Tại Việt Nam, tổng quan các bằng chứng về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung đối với trẻ em và vị thành niên ở Việt Nam dao động từ 8% đến 29% và khác nhau theo tỉnh, giới tính và đặc điểm người trả lời và tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu Một khảo sát về dịch tễ học gần đây trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/ thành cho thấy tỉ lệ trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em khoảng 12% đồng nghĩa với việc hơn
3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần Các loại hình vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề hướng nội (lo âu, trầm cảm, cô độc …) và vấn đề hướng ngoại (tăng động, giảm chú ý) Trong khi đang gia tăng lo ngại về tỷ lệ tự tử trong thanh thiếu niên ở Việt Nam, tỷ lệ tự tử của Việt Nam được báo cáo là thấp đáng kể so với những ước tính toàn cầu Trong một nghiên cứu ở 90 quốc gia, trên tổng số ca tử vong ở vị thành niên là 9,1%) trong khi ở Việt Nam, tỷ lệ này là 2.3% (Blum và cộng sự 2012) Tuy nhiên, lạm dụng chất, đặc biệt
là thuốc lá là phổ biến trong nam vị thanh niên Việt Nam (gần 40%) [46]
Theo nghiên cứu do McKelvey và cộng sự thực hiện trên 1546 trẻ em từ 4 đến
18 tuổi ở hai khu vực dân cư tại Hà Nội bằng CBCL (bảng kiểm kê hành iv trẻ em dành cho cha mẹ) do bố mẹ các em thực hiện đồng thời thu thập thông tin về phía các em Dựa theo tiêu chuẩn của Mỹ , từ độ tuổi 4 đến 11 có 5.3% trẻ nam và 7.7% trẻ nữ, từ độ tuổi 12 đến 18 có 9.5% trẻ nam và 10.1 trẻ nữ được coi là mắc các rối loại sức khỏe tâm thần
Viện sức khỏe tâm thần ban ngày Mai Hương, khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh trường học thành phố Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1202 học sinh viên học và trung học cơ sở từ 10 đến 16 tuổi có tỷ lể vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung là 19.46% Không có sự khác viể giới tính, cấp học, trường nội thành hay ngoại thành Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú năm 2009 sử dụng công cụ YSR thực hiện khảo sát trên 1727 học sinh, lứa tuổi 11-15 ở 2 trường THCS Hà Nội cho thấy trẻ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần là 10.94% [28]
Nghiên cứu “Điều tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền bắc có các vấn đề sức khỏe tâm thần” trên 240 trẻ vị thành niên tuổi từ 12 đến 16 ở các tỉnh, thành phố: Hà
Trang 24Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Hòa Bình của Nguyễn Cao Minh cho thấy có khoảng 18% số trẻ gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần Nam và nữ có tỉ lệ cân bằng [26]
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu tỉ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ
em và thanh thiếu niên ở Việt Nam từ 9% đến 20%
1.3 Mối liên hệ giữa nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc
Trong quá trình nhân cách phát triển, nó sẽ đi theo hai hướng: Hướng tích cực:
Là những nhân cách phát triển phù hợp với giá trị xã hội; Hướng bệnh lý: Là những nhân cách phát triển không phù hợp với giá trị xã hội
Một nhân cách bình thường là một nhân cách mà quá trình phát triển của nó
đi theo các chuẩn mực chung được xã hội thừa nhận Sự phát triển đó được cá nhân thừa nhận và là động lực cho sự phát triển của cá nhân Một nhân cách bình thường được đánh giá bởi các tiêu chí sau: Tính sẵn sàng trải nghiệm; Sự tận tâm; Tính hướng ngoại; Tính dễ hợp; Nhiễu tâm
Tiêu chí để đánh giá sự hình thành nhân cách mỗi cá nhân là tính tích cực hoạt động của cá nhân đó Nếu không tham gia hoạt động, cá nhân sẽ không hình thành được tâm lý, ý thức, nhân cách theo đó cũng không được hình thành Một nhân cách được hình thành từ hoạt động của chính họ Do đó, sẽ là không bình thường nếu một nhân cách thể hiện sự không sẵn sàng trải nghiệm
Mặt khác, bản chất hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, có mục đích Bất kể một hoạt động nào, dù là tốt hay xấu thì cũng đều vì một mục đích nhất định Nếu hoạt động của con người không thể hiện mục đích, sự cố gắng, tận tâm của chủ thể thì đó cũng có thể là dấu hiệu của một nhân cách không bình thường Điều này thấy rõ ở những người làm mà không biết mình làm gì, hoặc thậm chí không biết là mình đang làm, hoặc ở những người thực hiện hoạt động một cách hời hợt, không có trách nhiệm, không hướng đến mục tiêu
Điều kiện để nhân cách phát triển là thực hiện hoạt động và xác lập các mối quan hệ xã hội qua giao tiếp Giao tiếp giúp mỗi cá nhân lĩnh hội được chuẩn mực của xã hội, hiện hữu trong các chế tài, quy định, hoặc trong cách ứng
xử của những người xung quanh Nếu một người không giao tiếp, không thể hiện tính hướng ngoại thì sẽ không có đủ thông tin để đối chiếu với bản thân, qua đó
Trang 25quá trình phân tích thông tin có thể phiến diện, dẫn đến cac vấn đề trong quá trình phát triên nhân cách
Tính dễ hợp về bản chất chính là tính linh hoạt, dễ thích nghi của nhân cách
Để duy trì những thuộc tính ổn định nhân cách cần linh hoạt trong các giai đoạn phát triển Nếu không đạt được tiêu chí này, một nhân cách không thể tham gia vào các quá trình hoạt động và giao tiếp khác nhau, điều này có thể là hạn chế đối với sự phát triển của nhân cách
Mặt khác, một nhân cách bình thường là một nhân cách có những nhiễu tâm, nhận thức được những nhiễu tâm đó và có nhu cầu giải quyết nó Khi nhân cách không thể nhận thức được rằng mình có nhiễu tâm, phủ nhận những vấn đề tâm lý của mình là nhân cách có dấu hiệu bệnh lý Hoặc khi các nhiễu tâm không được giải quyết, duy trì và phát triển trong suốt cuộc đời con người trở thành các nhân cách bệnh lý
Một nhân cách không đáp ứng các tiêu chuẩn trên có thể được xem xét như
là đang trong trạng thái rối loạn
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ V của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (DSM V), rối loạn nhân cách được chẩn đoán trên cơ sở các tiêu chí sau:
- Những mẫu hình hành vi bền vững và trải nghiệm bên trong sai lệch so với các chuẩn mực văn hóa cá nhân
- Không linh hoạt một cách tương đối và lan tỏa hầu khắp các tình huống cá nhân và xã hội
- Làm đau khổ hoặc làm yếu kém chức năng một cách đáng kể
- Mẫu hình ổn định, lâu dài và khởi đầu trước khi trưởng thành
- Không phải là nguyên nhân của việc dùng thuốc
Hiện nay, những nhà chuyên môn sử dụng các bộ tiêu chí khác nhau để đánh giá, chẩn đoán và phân loại các rối loạn nhân cách Nhưng về cơ bản, có hai bộ tiêu chí được sử dụng rộng rãi và chính thống nhất trên thế giới là: Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10” (ICD 10) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và “Sổ tay thống
kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ 5” (DSM V) của Hiệp hội Tâm thần
Mỹ Dù cách trình bày khác nhau, thuộc hai lĩnh vực khác nhau (Y học và Tâm lý
Trang 26học), nhưng nhìn chung, cả hai bảng phân loại này đều hướng đến các nhóm bệnh như: Rối loạn cảm xúc; Rối loạn hành vi; Rối loạn phát triển thần kinh; Rối loạn tâm thần phân liệt và các rối loạn loạn thần ngắn; Rối loạn sinh lý và yếu tố thể chất; Rối loạn liên quan nghiện chất; Rối loạn nhân cách [46]
Như vậy, bản chất đặc điểm nhân cách và rối loạn nhân cách có liên quan với nhau, một trong những đặc trưng của rối loạn nhân cách là các vấn đề cảm xúc hành
vi Ngoài ra, rối loạn nhân cách là một dạng tổn thương sức khỏe tinh thần [13] Theo nghiên cứu của Davidson vào năm 2000, những rối loạn nhân cách thường đi kèm với những rối loạn khác về cảm xúc/khí sắc Cũng theo nghiên cứu nói trên, từ 24-27 % người rối loạn nhân cách cũng bị trầm cảm chủ yếu, và khoảng từ 4-20%
bị trầm cảm lưỡng cực Tuy không biết chính xác tần số xảy ra đồng thời của rối loạn lo âu, nhưng người ta cho rằng ở những người rối loạn nhân cách, tỉ lệ này lớn hơn so với tỉ lệ chung Trong nghiên cứu của APA năm 2000 cũng chỉ rõ rối loạn chống đối xã hội và ái kỉ phổ biến hơn ở nam, trong đó có rối loạn kiểu đóng kịch
và rối loạn ranh giới lại phổ biến hơn ở nữ Sau đâu là một giả định mô tả sơ lược
về rối loạn nhân cách chống đối xã hội, được đưa ra bởi mô hình 5 yếu tố về nhân cách dành cho rối loạn nhân cách chống đối xã hội [52]:
Trạng thái nhiễu tâm nhẹ: thiếu quan tâm đúng mức tới những vấn đề của
sức khỏe hay sự điều chỉnh xã hội; nhạt nhẽo về mặt cảm xúc
ít hướng ngoại: cô lập về mặt xã hội, tách mình ra khỏi các mối quan hệ
liên cá nhân và thiếu một hệ thống hỗ trợ xã hội; cảm xúc cùn mòn; thiếu niềm vui
và sự say mê cuộc sống; miễn cưỡng khẳng định bản thân hoặc thừa nhận các vai trò xã hội, thậm chí cả khi được đánh giá cao; hạn chế về mặt xã hội và nhút nhát
Thiếu cởi mở: khó thích nghi với thay đổi về xã hội và con người; kém
chịu đựng hoặc ít hiểu được những quan điểm khác hay các kiểu sống khác; lạnh nhạt về cảm xúc và không thể hiểu cũng như diễn đạt thành lời những cảm giác của chính mình; mất nhận thức cảm xúc; thu hẹp phạm vi hứng thú; vô cảm với nghệ thuật và thẩm mĩ; tuân theo quyền lực một cách thái quá
Khó đồng tình: ý nghĩ hoài nghi và ý tưởng giống hoang tưởng; không có
khả năng tin tưởng ngay cả bạn bè hay gia đình; dễ nổi cáu; luôn sẵn sàng đánh
Trang 27nhau; thích liều lĩnh và lôi kéo; nói dối; ứng xử thiếu lịch sự và thiếu quan tâm làm cho bạn bè xa lánh, làm hạn chế sự cảm thông từ phía xã hội; thiếu tôn trọng những quy tắc xã hội dẫn đến rắc rối với pháp luật; cảm giác về bản thân được thổi phồng
và phô trương; kiêu căng ngạo mạn
Thiếu lương tâm: làm việc kém; không đáp ứng những tiềm năng trí tuệ và
nghệ thuật; biểu hiện học thuật liên quan đến khả năng nghèo nàn; vô kỉ luật và thiếu trách nhiệm dẫn đến những rắc rối với pháp luật; không có khả năng tự kỉ luật với bản thân (chẳng hạn như tuân theo chế độ ăn uống hay kế hoạch tập luyện) thậm chí cả khi bị yêu cầu vì những lí do y tế; không quan tâm đến bản thân và có những mối bận tâm bâng quơ
Quan điểm chiều hướng này không chỉ được đưa ra trong lĩnh vực lí thuyết
và triết học mà nó còn tỏ ra hữu dụng hơn trong việc tiên lượng, so với hướng tiếp cận của DSM Chẳng hạn, Ullrich và cộng sự (2001) tìm ra rằng kết quả test nhân cách còn có thể dùng để tiên lượng những hành vi lệch chuẩn tiếp theo tốt hơn so với các hạng mục chẩn đoán rối loạn nhân cách chống đối xã hội Qua các nhà lâm sàng, Heumann và Morey (1990) cũng đã nhận thấy điểm chiều hướng đáng tin cậy hơn so với chẩn đoán theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM
Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách với các vấn đề cảm xúc hành vi như nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên
về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt trên 303 học sinh THPT ở tỉnh Bắc Ninh sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho kết quả những học sinh có nhân cách bình thản ít khi bị bắt nạt, kiểu nhân cách hoạt bát và ưu tư tỷ
lệ học sinh bị bắt nạt cao hơn nhiều lần [8] Luận án tiến sĩ tâm lý học xã hội năm
2002 của Phan Thị Mai Hương với đề tài “ Tìm hiểu đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh
xã hội của thanh niên nghiện ma túy và mối liên hệ giữa chúng” cho thấy một số đặc điểm nhân cách nổi bật của nhóm đối tượng này Một là đặc điểm chú trọng đến cảm xúc: mất cân bằng cảm xúc Hai là phụ thuộc và thụ động Ba là lối tư duy thử nghiệm và tầm nhìn hạn chế [20] Nghiên cứu của Lê Thị Huyền về “ĐẶc điểm nhân cách và rối loạn trầm cảm của học sinh trung học phổ thông Cầu Giấy – Hà
Trang 28Nội năm học 2016 – 2017” cũng cho thấy mối tương quan giữa các mặt của nhân cách với rối loạn trầm cảm
Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có những nghiên cứu bước đầu cho thấy có mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào một nhóm đối tượng, cụ thể ở đây là sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin để tìm ra mối tương quan giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi, đồng thời dự báo xu hướng nhân cách có nguy cơ gặp các vấn đề cảm xúc hành vi Nghiên cứu này của chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề trên
1.4 Một số khái niệm cơ bản
1.4.1 Nhân cách
1.4.1.1 Định nghĩa
Theo từ điển oxford - từ điển xã hội học định nghĩa về nhân cách (personality): Nhân cách là một trong vài khái niệm được các nhà khoa học xã hội
sử dụng để nói đến cá nhân Khái niệm có nguồn gốc tiếng Latinh personal (nghĩa là
“mặt nạ”), và nói đến một tập hợp các đặc tính ít nhiều ổn định, theo đánh giá và phán xét của người khác, giúp phân biệt một cá nhân này với một cá nhân khác Những đặc tính này được cho là bền vững qua không gian và thời gian, và chi phối hành vi Do đó thuật ngữ nhân cách nói đến cá nhân như một đối tượng (đối tượng của sự đánh giá bên ngoài), trong khi khái niệm cái tôi nói đến cá nhân như một chủ thể (như nguồn gốc của hành động và tự thể hiện)”
Nhân cách đã có ba định nghĩa khác nhau trong các tác phẩm phương Tây trong 2.000 năm qua Quan niệm sớm nhất đề cập đến các loại hồ sơ tâm lý riêng biệt được gây ra bởi sự cân bằng đặc biệt giữa các chất sinh học máu, đờm, mật vàng và đen Sự cân bằng giữa bốn nhóm luôn được theo dõi bởi chế độ ăn uống và khí hậu, đã tạo thành một tập hợp các loại tính cách riêng biệt Galen đã gọi bốn loại này là máu, melancholic, đờm và choleric
Theo lịch sử tâm lý học, mỗi trường phái tâm lý khác nhau có những quan điểm khác nhau
Theo Freud, người sáng lập ra Phân tâm học, thì nhân cách là một bộ máy tâm
Trang 29thần, trong đó trung tâm của bộ máy đó là vô thức
Theo lý thuyết hành vi của mình, trong đó đại diện là Skinner, thì nhân cách được cho là tập hợp các hành vi tạo tác
Theo lý thuyết học tập xã hội, với đại biểu là Bandura, thì nhân cách được cho
là tập hợp các hành vi tập nhiễm
Trường phái tâm lý học nhân văn, đại biểu là Maslow và Rogers cho rằng nói đến nhân cách là phải nói đến sức mạnh tiềm năng, ẩn tang trong mỗi con người, là
sự phát triển của các tôi với khuynh hướng hiện thực hóa bản thân
Các nhà tâm lý học hoạt động thì lấy phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biến chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sự làm cơ sở lý luận cho rằng khi bàn đến nhân cách cần nói đến các mặt: Tính tích cực của chủ thể; Nhân cách gắn liên với nền văn hóa và lịch sự xã hội; Nhân cách là thái độ của cá nhân đối với xã hội, với người khác và với chính minh [41]
Nhân cách là tổ chức phức tạp của nhận thức, ảnh hưởng và hành vi mang lại định hướng và khuôn mẫu (sự gắn kết) cho cuộc sống của con người Nhân cách của con người bao gồm cả cấu trúc và quá trình và phản ánh cả bản chất (gen) và kinh nghiệm nuôi dưỡng [51]
Tiếp thu quan điểm của trường phái Tâm lý học hoạt động, các nhà Tâm lý học Việt Nam cũng đưa ra một số quan niệm về nhân cách như sau: Nhân cách là một khái niệm gắn với con người, là một con người đầy đủ Đức và Tài
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người” [11]
Tổng quan lại, ở những góc độ nghiên cứu các nhau, các nhà khoa học đưa ra các định nghĩa và cách hiểu về khái niệm nhân cách cũng khác nhau Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó, vẫn có những sự tương đồng giống nhau
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về nhân cách theo quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc và cộng sự cho rằng “Nhân cách của con người là hệ thống các thái độ của mỗi người, thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng
Trang 30đồng và xã hội Độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn [13]
Tính thống nhất là sự phù hợp giữa các mặt, các thuộc tính, các đặc điểm của nhân cách thành một khối hoàn chỉnh Tính thống nhất còn thể hiện sự phù hợp giữa nhân cách trong quá khứ với nhân cách hiện tại và tương lai Tính thống nhất của nhân cách còn thể hiện ở sự phù hợp giữa ba cấp độ: cấp độ nhân cách cá nhân, cấp
độ liên nhân cách, cấp độ siêu nhân cách
Tính tích cực của nhân cách thể hiện xu hướng hoàn thiện của nhân cách ở các mặt: Thứ nhất, nhân cách được hình thành do tính tích cực hoạt động và giao lưu ở mỗi cá nhân Nhờ hoạt động, giao tiếp, nhân cách bộc lộ các phẩm chất, năng lực của bản thân Sự bộc lộ đó được đối chiếu với sự bộc lộ của các nhân cách kahcs, qua đó các nhân cách giao lưu và ảnh hưởng, học hỏi lẫn nhau, giúp mỗi cá nhân tự biết duy trì các nét nhân cách tích cực, dập tắt các nét nhân cách tiêu cực của mình Vì vậy, có thể nói tính tích cực của nhân cách thể hiện xu hướng hoàn thiện nhân cách trong quá trình phát triển của nó
Tính giao lưu của nhân cách thể hiện qua các hoạt động giao tiếp, thông qua
đó các cá thể ảnh hưởng và tác động lẫn nhau giúp nhân cách phát triển Tính giao lưu tác động đến nhân cách theo hai hướng: vừa là cơ hội để học hỏi, phát triển nhân cách; cũng vừa là thách thức để các nhân cách soi lại bản thân và tự điều chỉnh bản thanam vượt qua các ảnh hưởng tiêu cực từ quá trình giao lưu, lan tỏa ảnh
Trang 31hưởng tốt đẹp đến những nhân cách rối loạn trong xã hội
1.4.1.3 Cấu trúc của nhân cách
Cũng giống như định nghĩa về nhân cách, có rất nhiều quan điểm khác nhau
về cấu trúc của nhân cách và về các thành tố cấu thành nên nó cũng như mối quan
hệ giữa các thành tố này làm cho nhân cách trở thành một chỉnh thể trọn vẹn
Quan niệm coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản là: nhận thức ( bao gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ), rung cảm (linh cảm và thái độ) và ý chí ( phẩm chất ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen)
Quan niệm coi nhân cách gồm bốn tiểu cấu trúc : xu hướng ( thế giới quan, lý tướng, hứng thú, tâm thế ), kinh nghiệm ( tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen), đặc điểm của các quá trình tâm lý ( các phẩm chất trí tuệ, ý chí, đặc điểm của xúc cảm, tình cảm), các thuộc tính sinh học quan trọng ( khí chất, giới tính, lứa tuổi, các đặc điểm bệnh lý ) [43]
Quan niệm nhân cách có nhiều tầng: tầng nổi sáng tỏ bao gồm ý thức, tuệ
ý thức và ý thức nhóm và tầng “sâu” tối tăm ( bao gồm tiềm thức và vô thức)
Quan niệm về các mặt đào tạo của nhân cách: đức, trí, thể, mỹ
Ở Việt Nam, quan niệm cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt đức và tài (hay phẩm chất và năng lực) có mối quan hệ thống nhất với nhau được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận
Dựa theo mô hình 5 mặt lớn của Costa & Mc Crae (Costa và cộng sự năm 1985; 1998), trắc nghiệm NEO-PI-R được sử dụng trong nghiên cứu này coi nhân cách gồm 5 mặt là N (Neuroticism): nhiễu tâm, mặt E (Extraverson): hướng ngoại, mặt O (Openness): cởi mở, mặt A (Agreeableness): đồng thuận và mặt C (Conscienticousness): tính tận tâm Mỗi mặt có một ý nghĩa riêng
Nhiễu tâm (Neuroticism-N) đánh giá sự bất ổn định về cảm xúc, nhận ra những người dễ rơi vào stress tâm lý, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá
Hướng ngoại (Extraverson): mặt này đánh giá số lượng và cường độ các tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng
Trang 32 Cởi mở (Openness) là mặt mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao
sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng tìm kiếm những cái mới lạ
Đồng thuận/dễ chấp nhận (Agreeableness): Đánh giá chất lượng sự định hướng liên cá nhân của con người theo một mức độ liên tục từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động
Tận tâm (Conscientiousness): mặt này đánh giá mức độ tổ chức, uy tín, động cơ trong hành vi hướng tới mục đích của cá nhân Nó tương phản giữa những
cá nhân phụ thuộc, khó tính với những người độc lập và mềm mỏng
Thang đo NEP-PI-R đang bắt đầu được sử dụng phổ biến hơn trong đánh giá nghề nghiệp ở châu Á (cheung 2004) Thang đo này đã được dịch, thử nghiệm, thích nghi bằng tiếng việt và nghiên cứu, cho thấy độ tin cậy và độ hiệu lực cao (Trần Văn Công và cộng sự 2016)
1.4.2 Vấn đề cảm xúc hành vi
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần nói đến một loạt các yếu tố có thể trực tiếp và gián tiếp liên quan đến sự lành mạnh về tâm trí, một yếu tố quan trọng trong định nghĩa của WHO về sức khỏe “là trạng thái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội mà không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”[37]
Cũng theo WHO, vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm rất nhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng với nhiều triệu chứng khác nhau Tuy nhiên, một cách khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp giữa suy nghĩ, cảm xúc, hành vi lệch lạc và mối quan hệ với người khác lệch lạc Các vấn đề tâm thần có thể là trầm cảm,
lo âu, stress… đến chậm phát triển và các rối loại liên quan đến việc lạm dụng chất gây nghiệm Những biểu hiện này ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống hiện tại của người đó Cứ ba người thì có một người gặp vấn đề sức khỏe tâm thần Và trong đời người ai cũng có ít nhất một lần trải qua vấn đề sức khỏe tâm thần [35] Về bản chất, các rối loạn nhân cách bao gồm các vấn đề cảm xúc hành vi là một dạng tổn thương sức khỏe tâm thần [13]
Đi kèm với khái niệm vấn đề sức khỏe tâm thần còn có khái niệm rối loạn tâm thần, rối loạn nhân cách Rối loạn tâm thần dùng đề chỉ những suy nghĩ, cảm
Trang 33xúc, hành vi bị lệch lạc ở mỗi cá nhân và những biểu hiện này ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống hiện tại của cá nhân đó Một người có thể có vấn đề sức khỏe thâm thần nhưng không bị rối loạn tâm thần nếu vấn đề đó không ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống (gia đình, công việc, học tập …) Ví dụ một người sợ tiếng nhạc to, người đó có thể gặp vấn đề sức khỏe tâm thần những không gặp rối nhiễu tâm thần nếu chứng sợ tiếng nhạc to của họ không cản trở cuộc sống bình thường của họ Trong trường hợp người đó phải làm việc, công tác hoặc đến những nơi có tiếng nhạc to, chứng sợ tiếng nhạc to ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của người đó thì trường hợp này sẽ xác định là rối nhiễu tâm thần
Hiện nay trên thế giới cho hai bảng phân loại về sức khỏe tâm thần được sử dụng rộng rãi đó là cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ năm của hiệp hội tâm thần Mỹ lần thứ năm (DSM V) và bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ mười (ICD 10) Hai bảng phân loại này ra đời giúp công tác chẩn đoán được rõ ràng và hợp lý, thúc đẩy sự phát triển nghiên cứu bên dịch tế học
Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa trên bảng phân loại của DSM V để nghiên cứu một số vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến
1.4.3 Sinh viên
1.4.3.1 Định nghĩa sinh viên
Tổ chức y tế thế giới (WHO) quy định: những người trẻ tuổi là những người trong độ tuổi 10-24 tuổi, thanh niên là những người trong độ tuổi 15-24 tuổi, thanh thiếu niên là những người trong độ tuổi 10-19 tuổi Như vậy sinh viên năm nhất và sinh viên năm hai sẽ nằm trong độ tuổi 18-19 tuổi, thuộc độ tuổi thanh thiếu niên [38]
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “student” nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thác chi thức Hiện nay, khái niệm sinh viên được toàn xã hội sử dụng rộng rãi và được chấp nhận với nghĩa: sinh viên
là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó
họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được công nhận qua những bằng cấp trong quá trình học họ đạt được Quá trình học của họ theo hình thức chính qua, nghĩa là qua tiểu học, trung học rồi thi vào đại học [38]
Trang 341.4.3.2 Đặc điểm tâm lý sinh viên có liên quan đến các vấn đề cảm xúc hành vi
Theo các nhà tâm lý học, sinh viên là những người thuộc độ tuổi 18 đến 25,
về cơ bản con người độ tuổi này đã đạt đến độ trưởng thành cả về thể chất và tinh thần Sự hoàn thiện này cho phép sinh viên giải quyết những vấn đề mang tính trọng đại, quyết định đến nhân cách của họ một cách độc lập
Sự thích nghi với môi trường và phương pháp học tập mới: một trong những
sự kiện đánh dấu sự trưởng thành của sinh viên là khi các em bắt đầu bước chân vào đại học, nhiều bạn sẽ lần đầu phải rời xa gia đình đến môi trường ở mới, bạn bè mới, ngôi trường mới, phương pháp học tập hoàn toàn mới Tại đây, sinh viên gặp một loạt các mâu thuẫn cần giải quyết:
+ Mâu thuẫn giữa ước mơ, mong muốn của sinh viên với khả năng thực hiện ước mơ đó
+ Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mình yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất định
+ Mâu thuẫn giữa lượng thông tin nhiều trong xã hội với thời gian và khả năng có hạn
Việc giải quyết các mâu thuẫn trên khiến không ít sinh viên cảm thấy lo lắng
và gặp nhiều khó khăn về tâm lý
Tự ý thức của sinh viên: Cùng với quá trình học tập và thích nghi môi trường mới, quá trình tự ý thức của sinh viên cũng được phát triển và trưởng thành hơn Tuy nhiên có hai xu hướng tự đánh giá sinh viên cần tránh là đánh giá quá cao (kiêu ngạo) hoặc đánh giá quá thấp (tự ti) về bản thân, hai xu hướng đánh giá này đều không tốt cho sự phát triển nhân cách và quá trình phát triển bản thân của sinh viên
Động cơ và định hướng giá trị cho sinh viên: quá trình chuyển cấp từ phổ thông lên đại học khiến sinh viên được tiếp xúc nhiều hơn với con người và văn hóa nhiều vùng miền khác nhau Từ những văn hóa và con người này hình thành cho sinh viên nhiều giá trị sống phù hợp để tránh những căng thẳng và thích nghi với cuộc sống mới
Trang 35TIÊU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan về một số lý thuyết nhân cách và điểm qua một số nghiên cứu về nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam, một số nghiên cứu về các vấn đề cảm xúc hành vi trên thế giới và tại Việt Nam Đồng thời chỉ rõ cơ sở lý luận cho mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi Theo
đó, hiện chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam đi sâu vào một nhóm đối tượng, cụ thể ở đây là nhóm sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin để làm rõ mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách với các vấn đề cảm xúc hành vi, đồng thời dự báo xu hướng nhân cách có thể gặp phải các vấn đề cảm xúc hành vi Bên cạnh đó, chương
1 cũng đã làm rõ các khái niệm công cụ bao gồm nhân cách, đặc điểm nhân cách, các vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên Đặc biệt chúng tôi đã trình bày một cách khái quát về lý thuyết nghiên cứu nhân cách mà chúng tôi sử dụng ở nghiên cứu này: mô hình 5 mặt lớn của Costa & Mc Crae, đặc biệt là trắc nghiệm NEO-PI-R
60
Trang 36CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn mẫu như vậy vì một số lý do sau:
Thứ nhất, sinh viên ngành công nghệ thông tin tại trường đại học FPT đến từ nhiều tỉnh thành trên toàn Việt Nam
Thứ hai, sinh viên ngành công nghệ thông tin đang theo học tại trường đại học FPT xuất phát điểm đa dạng từ nhiều đối tượng:
+ Đối tượng 1: sinh viên có học bổng (50% – 100%) thường là sinh viên có thành tích học tập tốt
+ Đối tượng 2: sinh viên lựa chọn FPT là nguyện vọng 2 sau khi thi đại học những trường tốp đầu không đỗ, đây chủ yếu là sinh viên có thành tích học tập khá
+ Đối tượng 3: sinh viên xét tuyển học bạ để vào FPT thường có thành tích học phổ thông mức trung bình khá
Trong 3 đối tượng trên cũng xen kẽ các trường hợp con nhà có điều kiện, trung bình hoặc khó khăn Như vậy, mẫu khách thể lựa chọn là đa dạng về học lực, điều kiện kinh tế … mang tính đại diện cho sinh viên ngành công nghệ thông tin đến từ nhiều tỉnh thành trên toàn cả nước
Tiến trình nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận từ tháng 1 /2019 đến tháng 8 /2019
Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu bao gồm các khái niệm: nhân cách, sức khỏe tâm thần/vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên
Trang 37Lựa chọn khách thể nghiên cứu (tháng 9 /2019): bao gồm chuẩn bị giấy tờ hành chính, liên hệ lãnh đạo đơn vị, chuẩn bị trắc nghiệm
- Thu thập dữ liệu (tháng 2 /2020): dữ liệu được thu thập từ đối tượng nghiên cứu và được kiểm tra đầy đủ
- Nhập dữ liệu và làm sạch dữ liệu (tháng 2 năm 2020): dữ liệu được chúng tôi nhập vào SPSS và được phân tích bằng thống kê
Viết báo cáo luận văn (tháng 2/2020 đến tháng 5/2020): viết và hoàn thiện luận văn
2.2 Địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học FPT nằm ở km29 đại lộ Thăng Long, khu giáo dục đào tạo, khu công nghệ cao Hòa Lạc, Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội Trường được thành lập từ năm 2006 Đây là trường Đai học đầu tiên do một doanh nghiệp thành lập, có
cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học hiện đại bậc nhất Việt Nam Trường có mức học phí khoảng 280 triệu cho 4 năm, đây là mức học phí tương đối cao so với mặt bằng học phí các trường Đại học nói chung Tuy nhiên, trường có nhiều chính sách khuyến học với nhiều loại học bổng dành cho sinh viên từ 20%, 50%, 70%, 100% đến 140% Vì vậy trường Đại học FPT là ngôi trường tiếp nhận nhiều loại đối tượng sinh viên khác nhau Từ những sinh viên xuất phát điểm thời phổ thông là giỏi, xuất sắc được nhận học bổng của trường đến những sinh viên khá thi vào trường và cả những đối tượng sinh viên xuất phát điểm với sức học trung bình khá được xét học
bạ vào trường
Chính sự khác biệt về lực học sinh viên ở ngôi trường này tạo nên một bức tranh tổng quan đa dạng về sinh viên học ngành công nghệ thông tin đến từ nhiều tỉnh thành trên cả nước, đặc biệt là khu vực phía bắc Điều này tạo nên sự đa dạng
về nhân cách cũng như các vấn đề cảm xúc hành vi mà sinh viên ngành công nghệ thông tin có thể gặp phải
2.3 Tổ chức nghiên cứu
Khi xác định được địa bàn nghiên cứu, được sự đồng ý của lãnh đạo cấp trên, chúng tôi liên hệ phòng đào tạo của trường để xin danh sách và thông tin liên hệ của sinh viên năm nhất và sinh viên năm hai
Trang 38Tiếp theo, chúng tôi chọn lọc lấy sinh viên ngành công nghệ thông tin
Trong số hàng ngàn sinh viên năm nhất và năm hai ngành công nghệ thông tin, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 600 sinh viên ngành công nghệ thông tin và tổ chức các buổi gặp mặt trực tiếp hoặc trực tuyến để hướng dẫn từng nhóm sinh viên làm trắc nghiệm
Trong quá trình làm trắc nghiệm, chúng tôi đảm bảo không gian yên tĩnh, khoảng cách giữa các bạn sinh viên đủ để các bạn không trao đổi được với nhau và không nhìn thấy bài làm trắc nghiệm của nhau
Chúng tôi hướng dẫn lần lượt cách làm từng trắc nghiệm: từ trắc nghiệm Neo Pi-R 60 đến trắc nghiệm YSR Hướng dẫn một lượt nội dung câu hỏi và cách làm từng câu hỏi
Chúng tôi để sinh viên tự trả lời từng câu trong trắc nghiệm, nếu có thắc mắc thì sẽ hỏi và nghiên cứu viên sẽ trả lời câu hỏi
Sau khi sinh viên trả lời xong, chúng tôi thu lại phiếu trắc nghiệm và kiểm tra kỹ thông tin cũng như đảm bảo tính hợp lệ của trắc nghiệm
Một bộ phiếu khảo sát bao gồm 2 trắc nghiệm: NEO PI-R 60 và YSR Các sinh viên không gửi lại phiếu trả lời khảo sát hoặc gửi lại phiếu trắng đồng nghĩa với việc từ chối tham gia nghiên cứu Số phiếu phát ra là 330 phiếu, sau khi loại bỏ các phiếu không hợp lệ, chúng tôi thu được 325 phiếu đáp ứng đủ độ tin cậy để tiến hành xử lý số liệu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Mục đích: Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
Nội dung: Xác định một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm các khái niệm về nhân cách, sức khỏe tâm thần, vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên
Phương pháp: phương pháp nghiên cứu lí luận là phương pháp hệ thống hóa
lý thuyết từ những công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước đã được báo cáo hoặc đăng tải trên các sách báo, tạp chí và website về các vấn đề liên quan đến đề tài
Trang 39Các giai đoạn của phương pháp là thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi (anket)
2.4.2.1 Công cụ đánh giá đặc điểm nhân cách NEOPI-R 60
Công cụ đánh giá đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin theo thuyết 5 nhân tố lớn
Nghiên cứu này sử dụng NEO-60VN làm công cụ đo đạc, trắc nghiệm này được thích nghi tại Việt Nam từ trắc nghiệm NEP-PI-R (Trần Văn Công và cộng sự 2016) Trắc nghiệm gồm 60 câu, với câu trả lời được thiết kế theo dạng Likert 5 điểm (0=Hoàn toàn sai, 1=Sai, 2=Không đúng cũng không sai, 3=Đúng, 4=Hoàn toàn đúng) Trắc nghiệm NEO-PI-R được xây dựng dựa trên nguyên lý mô hình 5 nhân tố lớn của Costa & Mc Crae (Costa và cộng sự năm 1985; 1998) Trắc nghiệm này gồm 5 mặt nhân cách là N (Neuroticism): nhiễu tâm, mặt E (Extraverson): hướng ngoại, mặt O (Openness): cởi mở, mặt A (Agreeableness): đồng thuận và mặt C (Conscienticousness): tính tận tâm Mỗi mặt có một ý nghĩa riêng:
Nhiễu tâm (Neuroticism) đánh giá sự bất ổn định về cảm xúc, nhận ra những người dễ rơi vào stress tâm lý, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá
Với mặt này, những người có điểm cao thường trải nghiệm những cảm xúc u uất, giận dữ, lo sợ, tội lỗi, và ganh ghét cao hơn người thường Họ phản ứng tiêu cực với strss và thường lý giải những tình huống bình thường dưới dạng nguy hiểm, đáng lo ngại và xu hướng “thổi phồng” các khó khăn Những người này chú ý quá mức để vẻ bề ngoài hoặc hành vi của bản thân và gặp khó khăn trong việc tự kiểm soát sự hối thúc
Ngược lại, những người có điểm số thấp ở mặt này thường có cảm xúc vững chãi hơn, ít dao động và ít phản ứng với stress hơn Họ thường có xu hướng bình tĩnh, không nóng nảy và ít khi bị căng thẳng[48]
Ví dụ: “ Tôi dễ hoảng sợ”; “Rất khó làm tôi tức giận”
Hướng ngoại (Extraverson): mặt này đánh giá số lượng và cường độ các tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng
Trang 40Người có điểm hướng ngoại cao thường cảm thấy các bữa tiệc và các hoạt động là nguồn năng lượng của mình Họ thích tìm kiếm và cần các nguồn kích thích
từ môi trường xung quanh, cơ hội để gia nhập với người khác Những người này cũng thường hang hái, nhiệt tình, thích nói chuyện và khẳng định mình Trong mảng công việc, họ thường thích làm việc với người khác và thích các công việc có chiều rộng hơn chiều sâu
Người có điểm hướng ngoại thấp thường ít hòa mình vào xã hội Họ thường rất yên lặng, không nổi bật và không hòa nhập nhiều Người hướng nội cần ít sự kích thích và cần nhiều thời gian ở một mình hơn
Ví dụ: “Tôi thực sự thích trò chuyện với mọi người”; “Nhiều người cho rằng tối là người hơi lạnh lùng và khó gần”
Cởi mở (Openness) là mặt mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao
sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng tìm kiếm những cái mới lạ
Những người có điểm cao ở mặt này thường thích sự lãng mạn và sự phong phú đa dạng Những người này có hiểu biết tốt, biết thưởng thức vẻ đẹp trong nghệ thuật và vẻ đẹp trong thiên nhiên Họ quan tâm đến những ý tưởng mới, những giá trị mới, không thích tuân theo những quy ước đã có mà thích có những cách nhìn riêng của mình
Người có điểm thấp ở mặt này thường thực dụng, võ đoán và làm việc theo
dữ liệu Đôi lúc thường được mô tả như quyết đoán và cứng nhắc Họ thường rất truyền thống trong hành vi, vẻ bề ngoài của mình, thích làm việc theo guồng quay nhất định và không thích trải nghiệm những thứ mới mẻ và có ít sở thích
Ví dụ: “Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi”; “Theo tôi việc giữ đúng các nguyên tắc sống đã có quan trọng hơn là sẵn sàng tiếp thu cái mới”
Đồng thuận (Agreeableness): Đánh giá chất lượng sự định hướng liên cá nhân của con người theo một mức độ liên tục từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động [48]