1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Kinh tế phát triển: Phân tích quá trình thay đổi trong quan niệm về vai trò của các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế (theo các mô hình tăng trưởng)

32 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 405,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Kinh tế phát triển: Phân tích quá trình thay đổi trong quan niệm về vai trò của các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế (theo các mô hình tăng trưởng)Đề tài Kinh tế phát triển: Phân tích quá trình thay đổi trong quan niệm về vai trò của các yếu tố nguồn lực

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC TRONG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 3

1.1 Tăng trưởng kinh tế 3

1.2 Các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế 5

1.3 Cơ chế tác động của các yếu tố nguồn lực đến tăng trưởng kinh tế 7

1.4 Xác định ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến tăng trưởng – Hàm sản xuất Coob – Douglas 8

PHẦN 2: NHỮNG THAY ĐỔI VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC TRONG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THEO CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 10

2.1 Các mô hình tăng trưởng kinh tế 10

2.1.1 Mô hình tăng trưởng kinh tế của David Ricardo 10

2.1.2 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar 14

2.1.3 Mô hình tăng trưởng Solow 16

2.1.4 Mô hình tăng trưởng nội sinh 21

2.2 Phân tích những thay đổi về vai trò của các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế theo các mô hình tăng trưởng kinh tế 25

PHẦN 3: VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY 30

KẾT LUẬN 31

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu của mọi quốc gia trong mọi thời đại Tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhất quyết định phúc lợi kinh tế của người dân, mỗi quốc gia và con đường tăng trưởng kinh tế từ lâu đã trở thành một trong những câu hỏi trung tâm của kinh tế học

Có lẽ một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất và dai dẳng nhất trong kinh tế học là tìm hiểu các nhân tố khiến nền kinh tế tăng trưởng Trong những năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố quyết định tăng trưởng

Từ những ý niệm, tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế cổ điển, đến các mô hình nội sinh vô cùng đa dạng, phong phú ngày nay, lý thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế đã trải qua những bước tiến lớn lao: quan điểm về nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế thay đổi theo thời gian, với xu hướng ngày càng xét đầy đủ và rõ ràng hơn những lực lượng chi phối sự tăng trưởng

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, chúng tôi đã hoàn thành tiểu luận với đề tài: “Phân tích quá trình thay đổi trong quan niệm về vai trò của các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh

tế (theo các mô hình tăng trưởng)”

Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của tiểu luận gồm ba phần với những nội dung chính như sau:

Phần 1: Tổng quan về các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế

Phần 2: Những thay đổi về vai trò của các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế theo các mô hình tăng trưởng kinh tế

Phần 3: Vận dụng các mô hình tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam hiện

Do còn những hạn chế khách quan và chủ quan nên bài tiểu luận của chúng tôi khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được tiếp thu những ý kiến đóng góp của cô giáo và các bạn

Trang 3

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC TRONG TĂNG

Tăng trưởng và phát triển

Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI)

Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản phẩm trong nước

là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)

Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản

phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường

là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng

Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ

Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi

về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn

1.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn

Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại

so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:

y = dY/Y × 100(%), Trong đó, Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng

Trang 4

Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa

Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước đo trình dộ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục tiêu phấn đấu của một chính phủ vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của chính phủ

Nhưng tăng trưởng kinh tế không phản ảnh được chính xác phúc lợi của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo có thể tăng lên, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao và bất bình đẳng xã hội cũng có thể tăng Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống

có thể không tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồn lực

có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí

1.1.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế

Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các mô hình kinh tế

Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nong phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy

để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng

Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor), yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh tế Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T Oshima

Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên

Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn sẽ có mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (tăng trưởng kinh tế bằng không (0))

Mô hình Kaldor tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ

Mô hình Sung Sang Park nguồn gốc tăng trưởng là tăng cường vốn đầu tư quốc gia cho đầu tư con người

Mô hình Tân cổ điển nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp hai yếu tố đầu vào vốn (K) và lao động (L)

Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành mạch tăng trưởng kinh

tế với phát triển kinh tế Hơn nữa, ngoại trừ Schumpeter, các trường phái trên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế

Trang 5

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes tiêu biểu là mô hình Harrod - Domar Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản: (1) giá cả cứng nhắc, và (2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên Từ đó, họ suy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì sẽ càng ngày càng không cân bằng (mất ổn định kinh tế)

Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mình dựa trên hệ giả thiết mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2) nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động

Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy, khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng

mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời, và nó sẽ mau chóng trở

về trạng thái cân bằng

1.2 Các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế

Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng

Mối quan hệ giữa tăng trưởng mà cụ thể là mức thu nhập của nền kinh tế (sản lượng đầu ra) với các nhân tố kinh tế trực tiếp tác động đến tăng trưởng (các yếu tố đầu vào) thường được mô tả dưới dạng hàm sản xuất tổng quát:

Y = F (Xi) Trong đó, Y là giá trị đầu ra của nền kinh tế và Xi là giá trị những biến số đầu vào có liên quan đến tổng cung Thông thường và cũng với ý nghĩa cổ điển, nói đến giá trị các biến số đầu vào tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói đến 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu là: vốn (K), lao động (L), tài nguyên,đất đai (R) và công nghệ kỹ thuật (K) Hàn sản xuất tổng quát được mô tả như dưới đây:

1.2.1 Vốn (K)

Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Để có được vốn, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững Vốn sản xuất đứng trên góc độ vĩ mô có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được đặt ra

ở khía cạnh vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị), nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích luỹ lại của nền kinh tế và bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất ở các nước đang phát triển sự đóng góp của vốn sản xuất vào tăng trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất Đó là sự thể hiện của tính chất tăng trưởng theo chiều rộng Tuy vậy tác động của yếu tố này đang có xu hướng giảm dần và được thay thế bằng các yếu tố khác

1.2.2 Lao động (L)

Lao động là một yếu tố đầu vào của sản xuất Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa,

Trang 6

có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục Một ví dụ là nước Đức, "một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại Với những kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh

chóng sau năm 1945 Nếu không có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước

Đức thời hậu chiến."

Hiện nay, tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô,

số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp

1.2.3 Tài nguyên, đất đai (R)

Tài nguyên, đất đai được coi là yếu tố đầu vào của sản xuất, những tài nguyên quan trọng nhất

là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước Đất đai là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu được trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế thuộc các ngành công nghiệp, dịch vụ Tài nguyên thiên nhiên từ trong lòng đất, không khí, từ rừng và biển được chia ra làm: tài nguyên vô hạn và không thể thay thế, tài nguyên có thể tái tạo và tài nguyên không thể tái tạo Các nguồn tài nguyên dồi dào phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển; một số tài nguyên quý hiếm là những đầu vào cần thiết cho sản xuất song lại có hạn không thay thế được và không thể tái tạo được hoặc nếu tái tạo được thì phải có thời gian và phải có chi phí tương đương với quá trình tạo sản phẩm mới Từ những tính chất đó, các tài nguyên được đánh giá về mặt kinh tế và được tính giá trị như các đầu vào khác trong quá trình sử dụng Nguồn tài nguyên phong phú hay tiết kiệm nguồn tài nguyên trong sử dụng cũng có một ý nghĩa tương đương như việc tạo ra một giá trị gia tăng so với chi phí đầu vào khác để tạo ra nó

Trong nền kinh tế hiện đại người ta đã tìm cách thay thế để khắc phục mức độ khan hiếm của tài nguyên và đất đai trong quá trình tăng trưởng kinh tế, hơn nữa sản phẩm quốc dân và mức tăng của

nó không phụ thuộc nhiều vào dung lượng tài nguyên thiên nhiên và đất đai Tuy vậy, tài nguyên thiên nhiên và đất đai vẫn là nhân tố không thể thiếu được của nhiều quá trình sản xuất, nhất là các nước đang phát triển

1.2.4 Công nghệ kỹ thuật (T)

Công nghệ kỹ thuật được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng trong điều kiện hiện đại Trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn

Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng: thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất Yếu tố công nghệ hiểu theo nghĩa toàn diện như thế đã được K Marx xem như là "chiếc đũa thần tăng thêm sự giầu

có của cải xã hội" Còn Solow thì cho rằng "tất cả các tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn

Trang 7

đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật", Kuznets hay Samuelson đều khẳng định: công nghệ kỹ thuật là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình tăng trưởng kinh tế bền vững

Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; công nghệ có phát triển

và ứng dụng một cách nhanh chóng được là nhờ "phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế cho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng

1.2.5 Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)

Hiện nay, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tố tài nguyên, đất đai với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế, họ cho rằng đất đai là yếu tố cố định còn tài nguyên thì có xu hướng giảm dần trong quá trình khai thác Mặt khác, những yếu tố tài nguyên và đất đai đang được sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất (K) Yếu tố công nghệ kỹ thuật trong hàm sản xuất truyền thống hiện nay cũng được mở rộng ra theo nghĩa là các yếu tố còn lại ngoài vốn và lao động tác động đến tăng trưởng kinh tế, gọi là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP- total factor producctivity) Năng suất nhân tố tổng hợp là:

(i) hiệu quả sử dụng các thành tựu của tiến bộ công nghệ, kết quả nghiên cứu triển khai khoa học kỹ thuật vào hoạt động kinh tế;

(ii) tác động của các yếu tố thể chế, chính sách, quá trình mở cửa, hội nhập, vốn nhân lực; (iii) tất cả tạo nên hiệu quả, năng suất sử dụng lao động cao hơn và tạo nên “phần dư” còn lại của thu nhập sau khi loại trừ tác dộng của yếu tố vốn và lao động

Như vậy, theo quan điểm hiện đại, ba yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế được nhấn mạnh là: vốn, lao động và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP)

Y = F(K,L,TFP)

Vốn (K) và lao động (L) được xem như là các yếu tố vật chất có thể lượng hoá được mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế và được coi là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng TFP được coi là yếu tố phi vật chất tác động đến tăng trưởng, được coi là yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu Ngày nay, tác động của thể chế, của chính sách mở cửa, hội nhập hay phát triển của vốn nhân lực giúp cho các nước đang phát triển tiếp cận được nhanh chóng những công nghệ hàng đầu thế giới đã tạo nên

"sự rượt đuổi dựa trên năng suất" và sự đóng góp của TFP ngày càng cao trong qúa trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh của các nước trên thế giới

1.3 Cơ chế tác động của các yếu tố nguồn lực đến tăng trưởng kinh tế

Cơ chế tác động của các yếu tố nguồn lực đến tăng trưởng kinh tế được mô tả như sau:

Trang 8

Theo sơ đồ trên: nếu điểm cân bằng ban đầu của nền kinh tế là E0 vớimức thu nhập Y0 và mức giá chung LP0,, viết tắt là E0(Y0, PL0) Vì một lý do nào đó mà một trong các yếu tố nguồn lực thay đổi theo chiều hướng tăng, ví dụ như: sự gia tăng quy mô vốn sản xuất, tăng công suất hoạt động máy móc thiết bị (thay đổi K); gia tăng quy mô lực lượng lao động, nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động, nâng cao chất lượng lao động (thay đổi L);v.v thì tổng cung sẽ tăng lên và đường AS0 dịch chuyển xuống dưới về phía trái sang đường AS1 Với giả thiết các yếu tố khác không đổi, điểm cân bằng E0 sẽ dịch xuống đường E1 (Y1> Y0, PL1< PL0) tức là mức thu nhập tăng lên và mức giá cả chung giảm đi Một trường hợp ngược lại, vì một lý do nào đó mà một trong các yếu tố của tổng cung thay đổi theo chiều hướng giảm, điều đó làm cho tổng cung sẽ giảm và đường AS0 dịch chuyển sang phải lên trên đến AS2 Với giả thiết các yếu tố khác không đổi điểm cần bằng sẽ dịch chuyển lên điểm E2

với Y2 nhỏ hơn Y0 và PL2 lớn hơn PL0

Theo cơ chế phân tích trên, sự thay đổi của các yếu tố nguồn lực tham gia trong hoạt động kinh

tế, sẽ làm cho thu nhập và mức giá cả chung sẽ thay đổi đông biến (với giả thiết các yếu tố khác không đổi) Nó khác với cơ chế tác động đến tăng trưởng khi đứng trên cơ chế gia tăng tổng cầu Nếu sử dụng giải pháp tăng tổng cầu để thực hiện mục tiêu tăng trưởngg, chúng ta sẽ nhận được một hệ quả phụ là mức giá cả chung có xu hướng tăng lên, làm cho tỷ lệ lạm phát có xu hướng gia tăng Trong khi đó nếu các chính sách của chính phủ hướng đến khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đã được trang bị hoặc sử dụng được đội ngũ lao động đông đảo trong xã hội, tận dụng triệt để nguồn tài nguyên đất đai v.v thì không chỉ làm gia tăng thu nhập cho nền kinh tế là còn làm cho mức độ lạm phát có xu hướng giảm đi Nhiều nhà kinh tế học và các nhà hoạch định chính sách rất coi trọng cơ chế này đối với các nước đang phát triển, bởi vì ở đây, nguồn lực dư thừa đang còn tồn tại khá lớn, chưa được huy động hết, chúng ta nên thực hiện tăng trưởng theo hướng khai thác công suất hoạt động của vốn sản xuất đã được trang bị, sử dụng triệt để lực lượng lao động xã hội, nhất là khu vực nông thôn để hình thành danh mục hàng hoá phù hợp

1.4 Xác định ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến tăng trưởng – Hàm sản xuất Coob – Douglas

Ta có hàm sản xuất tổng quát truyền thống:

Y = F(K,L,R,T)

K: Vốn sản xuất L: Số lượng lao động R: Nguồn tài nguyên thiên nhiên T: Khoa học - công nghệ

Một dạng của kiểu phân tích này là hàm Cobb- Douglas, hàm này có dạng:

Y= T K L R

Ở đây , , là các số luỹ thừa, phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào

( +  +  = 1) Sau khi biến đổi Cobb- Douglas thiết lập được mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số

g = t + k + l + r

Trang 9

k, l, r: Tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào

t: Phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học - công nghệ

Như vậy sử dụng hàm sản xuất Cobb- Douglas chúng ta có thể xác định ảnh hưởng của các yếu

tố đầu vào đến tăng trưởng kinh tế, trong đó các yếu tố K,L,R được xác định trực tiếp qua hệ số biên của yếu tố này và tốc độ tăng trưởng của nó qua từng giai đoạn Tuy vậy yếu tố T, do không có hệ số biên nên không thể xác dịnh trực tiếp được, mặt khác tác động của nó là tác động mang tính tổng hợp,

vì vậy để tính toán mức độ ảnh hưởng của yếu tố này đến tăng trưởng, phải dự trên cơ sở tốc độ tăng trưởng chung đạt được sau khi trừ đi ảnh hưởng của các yếu tố vật chất K và L:

t = g – (k + l + r)

Vận dụng hàm Cobb – Douglas theo quan điểm hiện đại về hàm sản xuất, tức là không có yếu

tố R, yếu tố T trở thành TFP, tăng trưởng kinh tế là một hàm số phụ thuộc bởi 3 yếu tố K, L,TFP thì tốc độ tăng trưởng GDP được xác định là:

Trang 10

PHẦN 2 NHỮNG THAY ĐỔI VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC

THEO CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.1 Các mô hình tăng trưởng kinh tế

2.1.1 Mô hình tăng trưởng kinh tế của David Ricardo

2.1.1.1 Những xuất phát điểm của lý thuyết

David Ricardo (1772-1823) là nhà kinh tế học người Anh và ông được coi là tác giả xuất sắc nhất của trường phái kinh tế cổ điển Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của D.Ricardo hình thành dựa trên

cơ sở những ý tưởng chung của các nhà kinh tế học cổ điển, như A.Smith, T.R Malthus, cùng với những phát triển về tư duy của chính mình thông qua tác phẩm nổi tiếng ông viết vào thế kỷ thứ 19:

“Các nguyên tắc của kinh tế chính trị và thuế” (năm 1817)

Quan điểm của A.Smith trong cuốn “Của cải của các quốc gia” là một trong những xuất phát điểm chính tạo nên quan niệm của D.Ricardo về các nhân tố tác động đến tăng trưởng Ricardo đã nhất

trí với A.Smith cho rằng: tích luỹ làm gia tăng tư bản chính là cơ sở của sự tăng trưởng kinh tế Lý

thuyết bàn tay vô hình và Lý thuyết về giá trị lao động và phân phối thu nhập là xuất phát điểm quan

trọng cho sự phân tích các nhân tố tăng trưởng của Ricardo

Xét về lịch sử, dòng kinh tế học cổ điển được hình thành trên nền của một xã hội bị chi phối chủ yếu bởi kinh tế nông nghiệp, mặc dù lúc này đã bắt đầu xuất hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất song các tác động của nó còn rất yếu ớt Các giải thích của các nhà kinh tế cổ điển vì thế luôn

dựa trên nền tảng của sản xuất nông nghiệp với quy mô dân số ngày càng gia tăng nhiều Với quy luật

lợi tức giảm dần, Ricardo cho rằng sự tăng trưởng là có giới hạn do khan hiếm tài nguyên thiên nhiên

Ricardo trở thành nhà bi quan vê khả năng tăng trưởng kinh tế bền vững Tuy vậy, khi đồng nhất với quan điểm của Malthus về sự tăng trưởng liên tục và ngày càng nhanh quy mô dân số, làm cho lượng cung lao động trong dài hạn trở thành “hoàn toàn co giãn” thì chính Ricardo lại đặt ra những khả năng

để có thể thực hiện tăng trưởng liên tục thông qua ý tưởng về một mô hình hai khu vực cổ điển

2.1.1.2 Quan điểm về các yếu tố tác động đến tăng trưởng của lý thuyết tăng trưởng Ricardo

* Các yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng của Ricardo đã nhấn mạnh đến 3 nhân tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế, đó là vốn (K), lao động (L) và ruộng đất bao gồm cả số và chất lượng (R) Hàm sản xuất của Ricardo được khái quát là:

Y = F(K,L,R) Trong đó, K (vốn, tư bản) là một quỹ tiền, được xác định bằng tổng tiền lương phải trả cho người lao động sản xuất sản phẩm, trước khi hàng hoá được bán đi và phần tiền phải bỏ ra để mua máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất Vốn được quyết đinh bởi khả năng tích luỹ của các đơn

vị sản xuất

R (đất đai) là số và chất lượng ruộng đất trong nông nghiệp Ruộng đất, theo quan điểm của Ricardo là không đổi, tức là có giới hạn, chính vì thế mà số và chất lượng sẽ ngày càng giảm dần theo quy mô khai thác, sử dụng và tuân thủ theo nguyên tắc lợi tức giảm dần

L (lượng cung lao động) được xác định bằng số lượng lao động sẵn sàng làm việc đủ thời gian, với bất kể mức lượng bao nhiêu Lao động được giả định là cố định trong ngắn hạn (khi dân số chưa

Trang 11

thay đổi) nhưng lại trở nên “hoàn toàn co giãn” trong dài hạn Điều đó có nghĩa là khi lao động đã đến mức “bão hoà” so với một quy mô ruộng đất hạn chế thì người lao động sẽ được hưởng mức tiền lương như nhau và gọi là “mức tiền lương tối thiểu”

Ricardo đã không “tin tưởng” đưa yếu tố kỹ thuật, công nghệ vào hàm sản xuất, vì cho rằng nó tác động rất yếu ớt và lại không liên tục, không đủ sức để không chế được quy luật lợi tức giảm dần của ruộng đất

* Vai trò của yếu tố ruộng đất trong tăng trưởng

Ricardo đã cho rằng nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, quy mô ruộng đất sử dụng được chính là yếu tố quyết định đến tăng trưởng Để tìm ra câu trả lời nói trên, ông đã có sự phân tích theo một logic bắt đầu từ nguồn gốc của tăng trưởng là tích luỹ và đầu tư tư bản, cụ thể là:

(i) Muốn tăng thu nhập thì nền kinh tế phải có tích luỹ Tăng trưởng (g) có mối quan hệ hàm số

mang tính đồng biến với quy mô tích luỹ (I): g = F(I) Theo hàm số này, nếu tích luỹ càng cao thì khả

năng tăng thu nhập của nền kinh tế ở chu kỳ sau sẽ cao hơn, vì tích luỹ trở thành vốn (tư bản) sẽ cho phép tăng cường khả năng khai thác thêm số và chất lượng của ruộng đất, làm sản lượng nông nghiệp gia tăng Ricardo cho rằng, sự thay đổi công nghệ hay kỹ thuật sản xuất chỉ tạm thời khống chế được mức lợi nhuận giảm dần cho nên việc tăng vốn là cách duy nhất để bù đắp hiểm hoạ lâu dài này

(ii) Tích luỹ lại có mối quan hệ hàm số đồng biến với lợi nhuận (Pr) đạt được trong mỗi chu kỳ

kinh doanh: I = F(Pr) Như vậy có nghĩa là quy mô tích luỹ phụ thuộc vào kết quả lợi nhuận đạt được,

nếu lợi nhuận thu được cao hơn thì khả năng tích luỹ sẽ khả quan hơn và ngược lại (với giả định không

có sự thay đổi trong phân phối lợi nhuận cho các nhu cầu khác)

(iii) Lợi nhuận có mối quan hệ hàm số nghịch biến với tiến lương (W): Pr = F(W) Sở dĩ như

vậy là vì, theo Ricardo, thu nhập tạo ra sau mỗi chu kỳ sản xuất, sẽ được phân phối thành 2 bộ phận: một phần là trả công cho người lao động sản xuất sản phẩm, phần còn lại là lợi nhuận thuộc về người

có vốn Vì vậy, tuỳ thuộc vào mức tiền lương thoả thuận giữa chủ và thợ trên thị trường lao động, nếu phải trả một mức tiền công cao hơn thì phần lợi nhuận để lại sẽ giảm đi và ngược lại

(iv) Mức tiền công là yếu tố phụ thuộc và có quan hệ hàm số đồng biến với giá cả nông sản

(Pa): W = F(Pa) Theo cách giải thích của Ricardo, mức tiền công thoả thuận giữa người lao động và

chủ của họ chính là mức đủ để bảo đảm các khoản chi trả cho cuộc sống của họ và gia đình họ Trong điều kiện kinh tế nông nghiệp là chủ yếu thì cơ sở để thoả thuận mức tiền lương trên thị trường lao động chính là mức giá cả nông sản hàng hoá Nếu giá cả nông sản càng cao thì mức tiền công thoả thuận sẽ phải cao hơn

(v) Cuối cùng thì, mức giá cả nông sản hàng hoá lại là hàm số có mối quan hệ nghịch biến với

số và chất lượng ruộng đất nông nghiệp (R) Pa = F(R) Khi đất đai mới được khai thác, trồng trọt ở

quy mô nhỏ, người ta có điều kiện sử dụng những khu vực đất tốt, phù hợp với yêu cầu của cây trồng, gần nơi tiêu thụ sản phẩm, lúc đó giá cả nông sản sẽ rẻ hơn, quy mô đất đai sử dụng càng nhiều, đồng nghĩa với phải sử dụng đất chất lượng kém dần, sản lượng và chất lượng sản phẩm kém đi, kết quả là giá nông sản sẽ tăng dần lên

Những lập luận trên đây đã giúp Ricardo đi đến kết luận số và chất lượng của ruộng đất chính

là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng của D.Ricardo dựa trên sự chi phối bởi quy lụât lợi tức giảm dần và độ

mầu mỡ khác nhau của đất nông nghiệp Lúc đầu khi đất đai nông nghiệp mới được khai thác, người ta

Trang 12

sử dụng đất đai có độ mầu mỡ cao, nên hiệu quả đầu tư vốn rất lớn, tốc độ tăng quy mô sản lượng sản phẩm nông nghiệp gia tăng nhanh hơn tốc độ tăng quy mô đầu tư vốn và lao động Tuy vậy, khi dân số ngày càng đông, nhu cầu lương thực thực phẩm tăng, người ta phải kinh doanh trên những vùng đất nông nghiệp có độ mầu mỡ kém hơn, sản phẩm biên của lao động và vốn có xu hướng giảm dần theo quy mô khai thác và sử dụng đất Quá trình đó nếu vẫn tiếp tục tiếp diễn, thì số và chất lượng ruộng

đất sẽ tiến đến “điểm dừng” Theo Ricardo, điểm dừng của số và chất lượng ruộng đất là điểm (một

mốc về quy mô ruộng đất cụ thể Ro) nếu khai thác và sử dụng đến đó sẽ không còn cho mức sản lượng gia tăng nếu tiếp tục đầu tư thêm vốn và lao động

trệ tuyệt đối”, và tăng trưởng kinh tế dùng lại ở đó Như vậy, đất đai không những là yếu tố quyết định

mà nó còn là giới hạn của tăng trưởng kinh tế Lý thuyết của Ricardo đem lại sự bi quan về khả năng

tăng trưởng kinh tế bền vững

* Ý tưởng của Ricardo về duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế - một mô hình hai khu vưc kinh

tế

Đồng thời với việc đưa ra lý thuyết bi quan về tăng trưởng bền vững nếu chỉ dựa vào nền kinh

tế nông nghiệp, D.Ricardo đã manh nha quan điểm về xây dựng một mô hình hai khu vực kinh tế Nếu như khu vực nông nghiệp (khu vực truyền thống) có đặc điểm: (i) trì trệ tuyệt đối với mức sản phẩm biên của lao động bằng không, và (ii) ngày càng dư thừa lao động do quy mô dân số tăng nhanh, thì phải hình thành một khu vực thứ hai, đó là khu vực công nghiệp (gọi là khu vực hiện đại) Khu vực công nghiệp có chức năng thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển qua Quá trình tăng cường đầu tư cho phát triển khu vực công nghiệp, một mặt giải quyết thất nghiệp cho khu vực nông nghiệp; mặt khác làm cho quy mô sản lượng ngành công nghiệp ngày càng lớn, tăng trưởng kinh

tế gia tăng với tốc độ nhanh và hiệu quả cao do chưa bị quy luật lợi tức giảm dần chi phối và có nhiều

ưu thế so với khu vực truyền thống; cuối cùng là sản phẩm công nghiệp sản xuất trong nước có thể xuất khẩu để nhập khẩu nông sản, nền kinh tế chuyển sang những giai đoạn phát triển hiện đại hơn Ricardo đã khẳng định, tích luỹ và đầu tư tư bản cho lĩnh vực công nghiệp là điều kiện duy trì khả

năng tăng trưởng trong dài hạn, khi nông nghiệp nằm trong tình trạng lợi nhuận biên bằng không

Trang 13

2.1.1.3 Những hạn chế của lý thuyết tăng trưởng Ricardo

Một hạn chế cơ bản trong nghiên cứu của Ricardo, và lại là điều cốt lõi trong mọi giải thích trong lý thuyết tăng trưởng Ricardo, đó là việc ông không tính đến vai trò của yếu tố công nghệ, kỹ thuật hay nói đúng hơn là đánh giá thấp vai trò của yếu tố này trong việc bù đắp lại mức lợi tức giảm dần Từ thời Ricardo, sự tiến bộ công nghệ nhanh chóng đã đóng góp sự tăng trưởng kinh tế chưa từng

có trước đó Ricardo không phủ nhận khả năng nâng cao công nghệ trong ngành nông nghiệp, nhưng lại cho rằng nó quá yếu ớt để vượt khỏi quy luật lợi tức giảm dần trong nông nghiệp Ý tưởng này là do tiến bộ công nghệ trong nông nghiệp thời đó chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và thử nghiệm của người nông dân, thế nhưng lịch sử đã chứng minh, với việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp (từ cuối thế kỷ XIX) vào lĩnh vực nông nghiệp làm cho tốc độ tăng năng suất lao động trong nông nghiệp còn lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao động ngành công nghiệp ở các nước đang phát triển

Sự sai sót trong đánh giá vai trò của yếu tố công nghệ, kỹ thuật đã dẫn đến một loạt các kết luận thiếu chính xác trong lý thuyết tăng trưởng Ricardo, đó là: (i) quan điểm cho rằng khu vực nông nghiệp luôn có dư thừa lao động và trở nên trì trệ tuyệt đối; (ii) không nên đầu tư cho khu vực nông nghiệp khi ở đây nằm trong tình trạng lợi tức biên bằng không, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt được nhờ kết quả tích luỹ và đầu tư cho công nghiệp; (iii) Khi đầu tư cho công nghiệp, chỉ cần đầu tư theo chiều rộng, lượng lao động thu hút từ nông nghiệp sang tỷ lệ thuận với quy mô tích luỹ của khu vực này và mức tiền công trả cho lao động từ nông nghiệp sang là cố định cho đến khi khu vực này hết dư thừa lao

động

2.1.2 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar

2.1.2.1 Những xuất phát điểm của mô hình

Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar là tổng hợp kết quả của hai công trình nghiên cứu độc lập mang tính nối tiếp của nhà kinh tế học người Anh Roy Harrod với: “Tổng quan về lý thuyết động”(năm 1939) và nhà kinh tế học người Mỹ gốc Ba Lan Evsey Domar với: “Mở rộng tư bản, tỷ lệ tăng trưởng và công ăn việc làm” (năm 1946) Mô hình tăng trưởng Harod – Domar hiện nay vẫn được

sử dụng phổ biến ở các nước đang phát triển và được xem như là một phương pháp khá đơn giản nhưng lại khoa học về xác định mối quan hệ giữa tăng trưởng với các yếu tố nguồn lực cấu thành tăng

trưởng

Nội dung của mô hình được xây dựng trên cơ sở những xuất phát điểm cơ bản trong cuộc cách

mạng của J Keynes trong tác phẩm nổi tiếng: “Lý thuyết tổng quan về việc làm, lãi suất và tiền tệ”

Keynes đã đồng nhất giữa đầu tư và tiết kiệm Ông cho rằng, tiết kiệm chính là tổng lượng chi tiêu mà các doanh nghiệp và cá nhân dự kiến trích ra khỏi tiêu dùng trong một thời kỳ nhất định Harrod đã dựa trên xuất phát điểm này để đưa ra quan điểm của mình: tốc độ tăng trưởng của nền kinh

tế phụ thuộc vào tổng tiết kiệm đạt được và mối quan hệ giữa vốn đầu tư và mức tăng sản lượng

Một phát triển mới về vai trò của chi tiêu cho đầu tư được Domar đưa ra trong công trình nghiên cứu của mình là “Lý thuyết tăng trưởng kinh tế”cũng là một xuất phát điểm quan trọng cho mô hình harod –Domar, đó là: nếu Harrod đồng ý với J Keynes và chỉ công nhận rằng đầu tư tạo hiệu ứng

tăng thu nhập thì Domar còn cho rằng đầu tư tăng năng lực cho nền kinh tế Định đề xuất phát của

Domar là đầu tư ròng có hai chức năng: nó làm tăng tổng cầu, qua đó làm tăng sản lượng và việc làm trong ngắn hạn, đồng thời đầu tư làm tăng năng lực sản xuất trong dài hạn Nếu như đầu tư làm tăng

Trang 14

tổng cầu tại thời điểm thực hiện hoạt động đầu tư, tức là quá trình hình thành vốn hữu hình, thì kết quả đầu tư ngày hôm nay lại làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế ngày mai, khi vốn hữu hình đã hình thành và hoạt động trong nền kinh tế

Như vậy, mô hình tăng trưởng Harod – Domar đã dựa trên một logic xuất phát điểm: Tiết kiệm (S) là nguồn gốc đầu tư (I), đầu tư ngày hôm nay chính là cơ sở tạo vốn sản xuất gia tăng của ngày mai (ΔK) và mức vốn sản xuất gia tăng đóng vai trò trực tiếp làm gia tăng quy mô thu nhập của nền kinh tế (ΔY) Ngoài ra, nghiên cứu của Harod – Domar còn dựa trên cơ sở những điểm xuất phát khác, đó là:(i) tổng tiết kiệm bằng tổng đầu tư (S = I); (ii) các yếu tố đàu vào biến đổi là vốn (K) và lao động (L), tỷ lệ kết hợp vốn và lao động là cố định; (iii) dân số hay lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ tiết kiệm lao động gia tăng với một tốc độ cố định

2.1.2.2 Quan điểm của mô hình Harod – Domar về tác động của các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế

* Các yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng

Trong mô hình nghiên cứu, Harrod - Domar đã cố định yếu tố công nghệ kỹ thuật trong phân tích tác động của các nhân tố đến tăng trưởng, điều đó đồng nhất với việc chỉ có 3 yếu tố vốn (K), lao

động (L) và R(tài nguyên) cấu thành trong hàm sản xuất của Harrod - Domar: Y = F(K,L,R) Trong đó

L và R được xem là các yếu tố nguồn lực, sẽ được huy động vào hoạt động trên cơ sở khả năng tạo ra vốn sản xuất gia tăng (K) của nền kinh tế Yếu tố công nghệ không được đưa vào hàm sản xuất trong

mô hình Harrod - Domar điều đó không có nghĩa là các ông phủ nhận vai trò của yếu tố này trong tăng trưởng mà được giả thiết gia tăng với một tốc độ cố định Đây cũng chính là một nhược điểm của mô

hình này

* Vai trò của yếu tố vốn trong mô hình Harrod-Domar

Mô hình Harrod - Domar coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một

ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó

(1) Hệ số gia tăng vốn - sản lượng (hệ số ICOR – Incremental capital output ratio) Việc phân

tích hệ số ICOR (k) đã giúp Harrod-Domar tìm ra được cụ thể mối quan hệ giữa mức tăng trưởng GDP (ΔY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của thời kỳ trước Hệ số ICOR của một thời kỳ (t+1) phản ánh

mức vốn sản xuất gia tăng cần có để tạo ra một đơn vị thu nhập gia tăng của kỳ đó

kt+1 = ΔKt+1/ΔYt+1

Vốn sản xuất gia tăng của năm t+1 được hình thành trên cơ sở vốn đầu tư của giai đoạn trước (It), vì vậy có thể viết:

kt+1 = It /ΔYt+1Đến đây chúng ta có thể định nghĩa hệ số gia tăng vốn - sản lượng: là mức vốn đầu tư cần thiết của giai đoạn trước để có thêm một đơn vị thu nhập (GDP) của giai đoạn sau Hệ số này nói lên vốn được tạo nên bằng đầu tư là yếu tố cơ bản tạo nên mức tăng trưởng, hệ số ICOR phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất, năng lực của vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Hệ số ICOR chịu ảnh

hưởng của những nhiều nhân tố: Trình độ công nghệ kỹ thuật của sản xuất, Mức độ khan hiếm nguồn

lực, Hiệu quả của sử dụng vốn đầu tư

(2) Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với tiết kiệm và đầu tư

Tiếp tục phân tích theo logic trên, nếu gọi thu nhập của nền kinh tế (GDP) là Y, tốc độ tăng

trưởng thu nhập là g:

Trang 15

Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng với tiết kiệm và hệ số gia tăng vốn - sản lượng, Harrod - Domar đã đưa ra ba khái niệm về tốc độ tăng trưởng có ý nghĩa quan trọng trong

điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân Tốc độ tăng trưởng bảo đảm (gw) là thương số giữa tỷ lệ tiết kiệm theo dự kiến và hệ số gia tăng vốn sản lượng dự kiến Tốc độ tăng trưởng thực tế (g r ) được hình

thành bởi tỷ lệ tiết kiệm dự kiến với hệ số gia tăng vốn - sản lượng thực tế Tốc độ tăng trưởng tự

nhiên (g f ) là tốc độ tăng trưởng đạt được trong điều kiện toàn dụng công nhân (đạt được mức tiềm

năng) Nếu gr = gw = gf , Harrod – Domar gọi đó là thời kỳ vàng của nền kinh tế, và đây chính là điều

kiện tăng trưởng kinh tế ổn định

2.1.2.3 Hạn chế của mô hình Harrod – Domar

Chúng ta rất dễ nhận ra nhược điểm của mô hình Harrod – Domar: nó quá đơn giản khi coi sự tăng trưởng là do kết quả tương tác giữa tiết kiệm với đầu tư và đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế Điều này đúng khi các quốc gia đang ở một trình độ phát triển thấp, thu nhập thực tế đạt được còn rất nhỏ so với sản lượng tiềm năng, mô hình tăng trưởng trong điều kiện này chủ yếu dựa vào đầu tư theo chiều rộng để khai thác nguồn lực đang chưa được sử dụng hết Đó cũng chính là lý do mà hiện nay các nước đang phát triển vẫn đang sử dụng khá phổ biến mô hình này trong lập kế hoạch tăng trưởng và huy động vốn đầu tư Tuy vậy, nền kinh tế trong nước và thế giới càng ở trình độ phát triển cao, thì tăng trưởng kinh tế càng chịu sự tác động của nhiều nhân tố hơn Trên thực tế thì tăng trưởng kinh tế có thể xảy ra không phải vì lý do tăng đầu tư, hoặc ngược lại đầu tư không có hiệu quả thì vẫn không có sự tăng trưởng Kể cả trong trường hợp đầu tư có hiệu quả thì sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm cũng chỉ có thể tạo nên gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn chứ không thể đạt được trong dài hạn

Một khía cạnh khác khi phân tích hạn chế của mô hình Harrod – Domar, đó là kể cả trong điều kiện các nước đang phát triển ở trình độ thấp áp dụng được mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư thì các nước này lại có mức thu nhập gần như tối thiểu khó có thể thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói Khi đó chính phủ phải sử dụng chiến lược tích luỹ vốn theo kế hoạch và cơ chế mệnh lệnh nhằm hạn chế tiêu dùng hoặc dành quỹ đầu tư trước khi tiêu dùng Đồng thời với sử dụng cơ chế ấy, Chính phủ phải gồng mình lên với việc đi vay nợ nước ngoài, xin viện trợ v.v để có đủ vốn đầu tư Tất cả các hình thức ấy đã đem lại kết quả nhất định trong giai đoạn đầu của chính sách, tăng trưởng kinh tế đạt được tốc độ khá nhanh Tuy vậy, càng về sau nó càng gặp phải những bất cập: (i) trước hết là trong

Trang 16

nội bộ nền kinh tế khi giải quyết mối quan hệ giữa tích luỹ với tiêu dùng và động lực tích luỹ; (ii) tăng trưởng kinh tế bị phụ thuộc rất lớn bởi nguồn vốn nước ngoài và đầu tư tập trung chủ yếu cho mục tiêu

ngắn hạn, thiếu bền vững; (iii) Chính phủ trở thành con nợ lớn với nguy cơ phá sản cận kề

2.1.3 Mô hình tăng trưởng Solow

2.1.3.1 Xuất phát điểm của mô hình

Năm 1956, nhà kinh tế học người Mỹ là Robert Solow (1924) với bài viết “Một đóng góp cho

lý thuyết tăng trưởng kinh tế” đã xây dựng nên mô hình tăng trưởng tân cổ điển, còn được gọi là mô

hình tăng trưởng Solow

Những quan điểm của Harrod – Domar trong mô hình tăng trưởng kinh tế vẫn được Solow xem

là xuất phát điểm trong nghiên cứu của mình Solow đồng nhất với Harrod – Domar hai điểm:

+ Vốn sản xuất gia tăng được hình thành từ tiết kiệm và đầu tư là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế;

+ Quy luật lợi tức biên giảm dần theo quy mô vẫn tiếp tục chi phối hoạt động đầu tư mở rộng quy mô tài sản hữu hình

Solow đã chỉ ra một điểm khác biệt so với Harrod – Domar: khi quy mô tài sản hữu hình (vốn sản xuất) lớn lên đến một mức độ nào đó, thì đầu tư sẽ không dẫn đến gia tăng mức sản lượng của nền kinh tế, tức là Solow đã lo ngại về khả năng tăng trưởng trong dài hạn của nền kinh tế nếu chỉ dựa vào yếu tố đầu tư

Cuối thế kỷ 19 là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật Hàng loạt các phát minh khoa học và hàng loạt các nguồn tài nguyên được khai thác phục vụ cho quá trình sản xuất Sự chuyển biến này đã có những ảnh hưởng rõ rệt trong các trào lưu chính của tư tưởng kinh tế Nếu như Ricardo và cả Keynes đều cho rằng, hệ số kết hợp giữa vốn và lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm luôn luôn cố định thì trường phái tân cổ điển đã bác bỏ quan điểm đó, họ cho rằng vốn

và lao động có thể kết hợp với nhau theo những tỷ lệ khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể về sự tương quan giữa hai yếu tố này Nếu có nhiều lao động hơn so với vốn, thì một phương án sản xuất sản phẩm

sử dụng nhiều lao động sẽ hình thành Ngược lại, nếu thiếu hụt lao động thì các biện pháp khai thác và

sử dụng vốn sẽ được sử dụng tối đa trong sản xuất sản phẩm, hệ số ICOR sẽ tăng lên.Từ quan điểm trên đây các nhà kinh tế học tân cổ điển cũng đưa ra khái niệm "Sự phát triển kinh tế theo chiều sâu"

có nghĩa là gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất, còn sự gia tăng vốn phù hợp với sự gia tăng về lao động được gọi là "phát triển kinh tế theo chiều rộng" Cải tiến trong các phương pháp sản xuất sẽ là cơ sở gia tăng khối lượng sản phẩm và xu hướng của thay đổi trong kỹ thuật là đa

số các sáng chế đều có khuynh hướng dùng vốn để tiết kiệm nhân công Những ý tưởng đó chính là xuất phát điểm cho kết luận của Solow về vai trò quyết định của tiến bộ kỹ thuật để thúc đẩy sự tăng

trưởng kinh tế Tuy vậy, khi nghiên cứu vai trò của tiến bộ công nghệ kỹ thuật trong tăng trưởng kinh

tế, Solow lại cho rằng, đây là yếu tố tác động từ bên ngoài và sự tăng trưởng kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào những cú sốc về tiến bộ công nghệ từ bên ngoài đưa đến Vì vậy chúng ta thường gọi mô hình Solow là mô hình tăng trưởng ngoại sinh

2.1.3.2 Quan điểm của Mô hình Solow về các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế

* Các yếu tố cấu thành hàm sản xuất trong mô hình Solow

Ngày đăng: 19/08/2020, 08:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w