1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế khu vực nhật bản – thị trường tiềm năng cho xuất khẩu gốm sứ việt nam

23 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 435,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài thị trường nội địa đã thành danh, các công ti gốm sứ cònmạnh dạn đưa gốm sứ Việt Nam sang thị trường các nước như Nhật Bản, TrungQuốc, Thái Lan, Malaixia… với các sản phẩm gốm sứ t

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Câu ca dao:

“…Ước gì anh lấy được nàng,

để anh mua gạch Bát Tràng về xây”

Đã tồn tại từ bao đời nay, không biết nó đi vào lời hát ru của mẹ từ bao giờ.Chỉ biết rằng ngày nay, người Bát Tràng không còn làm gạch nữa nhưng gốm sứBát Tràng thì đã trở nên nổi tiếng, không chỉ được mọi gia đình, làng quê trên đấtnước Việt Nam ưa chuộng mà còn thu hút được rất nhiều khách hàng trên thế giới.Không chỉ là gốm sứ Bát Tràng, mà gốm sứ Việt Nam hiện nay đang ngàycàng phát triển Ngoài thị trường nội địa đã thành danh, các công ti gốm sứ cònmạnh dạn đưa gốm sứ Việt Nam sang thị trường các nước như Nhật Bản, TrungQuốc, Thái Lan, Malaixia… với các sản phẩm gốm sứ trang trí như chậu, bình,tượng, gốm… ngay khi nhận thấy cơ hội và tiềm năng của các thị trường ấy Cácsản phẩm gốm sứ Việt Nam được nhiều nước ưa chuộng bởi độ bền cao, mẫu mãđẹp, các sản phẩm mang đậm nét truyền thống được làm bằng tay nên các họa tiếttrang trí tinh sảo hài hòa, giá cả phải chăng, và sẵn sàng cạnh tranh với những sảnphẩm gốm sứ của nước khác vì những nét riêng nơi khác không bao giờ có được.Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu lớn của mặt hàng gốm sứ mỹnghệ (GSMN) Việt Nam (VN) Tuy nhiên, lượng sản phẩm nhập khẩu từ VN chỉ mớiđáp ứng được một phần khá nhỏ so với nhu cầu của thị trường này Việc nâng cao chấtlượng sản phẩm, mở rộng thị trường tại Nhật Bản mở ra nhiều cơ hội phát triển chongành GSMN VN Sau quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, chúng em đã lựa chọn đề tài

“Nhật Bản – thị trường tiềm năng cho xuất khẩu gốm sứ Việt Nam”(Giai đoạn nghiên cứu: 2012-2017) cho nội dung nghiên cứu cho nhóm mình.

*Mục tiêu nghiên cứu:

Phân tích tình hình xuất khẩu gốm sứ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản, từ

đó thấy được những cơ hội, thách thức cho xuất khẩu gốm sứ Việt Nam nói riêngcũng như xuất khẩu đồ mỹ nghệ Việt Nam nói chung Qua việc phân tích, đánh giátình hình, nhóm xin đề ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩmgốm sứ VN

Trang 2

I Cơ sở lý thuyết

1 Khái niệm xuất khẩu

Xuất khẩu là sự trao đổi dịch vụ, hàng hóa giữa các nước với nhau thông quamua bán, trao đổi Sự trao đổi là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh

sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa riêng lẻ ở cácquốc gia khác nhau

1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu

1.1.1 Các yếu tố kinh tế

- Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn

vị tiền tệ của nước kia

Nếu tỷ giá hối đoái thực tế thấp hơn so với nước xuất khẩu và cao hơn so vớinước nhập khẩu thì lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giá nguyên vật liệu đầuvào thấp hơn, chi phí nhân công rẻ hơn làm cho gia thành sản phẩm ở nước xuấtkhẩu rẻ hơn so với nước nhập khẩu Còn đối với nước nhập khẩu thì cầu về hàngnhập khẩu sẽ tăng lên do phải mất chi phí lớn hơn để sản xuất hàng hoá ở trongnước Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước xuất khẩu tăng nhanh đượccác mặt hàng xuất khẩu của mình, do đó có thể tăng được lượng dự trữ ngoại hối Tương tự, tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu là lượng nội tệ tương đương phải bỏ ra

để tạo được một đơn vị ngoại tệ thu nhập Cũng như tỷ giá, nó làm thay đổi, chuyểnhướng giữa các mặt hàng, các phương án kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu

- Thuế quan, hạn ngạch và trợ cấp xuất khẩu

Thuế quan trong xuất khẩu là loại thuế đánh vào từng đơn vị xuất khẩu Việcđánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất khẩu theo chiềuhướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệ kinh tế đốingoại Tuy nhiên, thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất trongnước tăng lên không có hiệu quả và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống

Hạn ngạch được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó

Trang 3

được hiểu như qui định của Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay củamột nhóm hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định thông qua việccấp giấy phép

Trợ cấp xuất khẩu là trong một số trường hợp chính phủ phải thực hiện chínhsách trợ cấp xuất khẩu để tăng mức độ xuất khẩu hàng hoá của nước mình, tạo điềukiện cho sản phẩm có sức cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới Trợ cấp xuấtkhẩu sẽ làm tăng giá nội địa của hàng xuất khẩu, giảm tiêu dùng trong nước nhưngtăng sản lượng và mức xuất khẩu

- Mục tiêu và chiến lược phát triển:

Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể đưa

ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu

1.1.2 Các yếu tố xã hội

- Các yếu tố pháp luật

Là nhân tố khuyến khích hoặc hạn chế quá trình quốc tế hoá hoạt động kinhdoanh Cac công ty kinh doanh xuất khẩu đều phải tuân thủ các qui định mà chínhphủ tham gia vào các tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới cũng như cácthông lệ quốc tế

- Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ

Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải, tới thờigian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh hưởng tới việclựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng xuất khẩu… Vị trí của cácnước cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, thị trường tiêu thụ

Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin chophép các nhà kinh doanh nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin, tạođiều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hoá xuất khẩu, tiết kiệm chi

Trang 4

phí, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu Đồng thời yếu tố công nghệ còn tácđộng đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng xuất khẩu, các lĩnh vực khác cóliên quan như vận tải, ngân hàng…

- Tình hình kinh tế- xã hội và quan hệ kinh tế quốc tế

Mỗi biến động của tình hình kinh tế xã hội trên thế giới đều ít nhiều trực tiếphoặc gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước Lĩnh vực xuất khẩu hơn bất

cứ một hoạt động nào khác bị chi phối mạnh mẽ nhất, ở đây cũng do một phần tácđộng của các mối quan hệ kinh tế quốc tế

1.1.3 Các yếu tố về doanh nghiệp

- Tiềm lực tài chính

Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khốilượng vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối(đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn

- Khả năng kiểm soát, chi phối, độ tin cậy của nguồn hàng và dự trữ hàng của doanh nghiệp

Yếu tố này ảnh hưởng đến đầu vào của doanh nghiệp và tác động mạnh mẽđến kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh cũng như ở khâu tiêu thụ sảnphẩm Không kiểm soát hoặc không đảm bảo được sự ổn định, chủ động về nguồncung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp thì việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩukhông thể đảm bảo, có thể phá vỡ hoặc làm hỏng hoàn toàn kế hoạch kinh doanhcủa doanh nghiệp

1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế

Cùng với hoạt động buôn bán, sản xuất trong nước thì hoạt động xuất khẩucũng đóng vai trò không nhỏ trong việc giúp phát triển nền kinh tế

1.2.1 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc gia

Trang 5

- Phát huy nội lực của nền kinh tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển thông quaviệc đầu tư kỹ thuật, đầu tư cho nhân lực… Mở rộng năng lực sản xuất quốc giathông qua việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khai thông được nguồn thông tin vàtận dụng được mọi mối quan hệ do xuất khẩu mang lại

- Chất lượng hàng hóa được nâng cao, áp dụng kĩ thuật mới được tiến hành một cáchthường xuyên và có ý thức hơn do có sự cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia vàohoạt động xuất khẩu

- Xóa bỏ nhanh chóng các sản phẩm kinh doanh lạc hậu không thể chấp nhận được.Hoạt động xuất khẩu còn góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý xuất khẩu của nhànước và của mỗi địa phương theo hướng có lợi nhất thông qua những đòi hỏi hợp lýcúa các chủ thể tham gia vào hoạt động này

- Xuất khẩu dẫn tới việc hình thành các mỗi liên kết giữa các doanh nghiệp trong vàngoài nước

1.2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp

- Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu cơ bản củamình là thu lợi nhuận

- Xuất khẩu tạo thêm việc làm cho người lao động của doanh nghiệp, làm tăng lêmthu nhập đồng thời phát huy được sự sang tạo của người lao động

II Tổng quan về thị trường gốm sứ Việt Nam và Nhật Bản

1 Thị trường gốm Nhật Bản

1.1 Vài nét về thị trường gốm Nhật Bản

Nhật Bản là thị trường có nhu cầu về gốm sứ cao, ngươi dân rất ưa thích dùnghàng về gốm sứ Trong các siêu thị của Nhật Bản có rất nhiều loại gốm của nhiềunước khác nhau Gốm Nhật Bản có 2 loại: một loại thô mang tính nghệ thuật cao mànhiều người chúng ta đã biết - bán với giá như những tác phẩm nghệ thuật, một loạikhác giá khá rẻ, đó là đồ sứ gia dụng với men trắng, mỏng, hết sức tinh tế với trình

độ sản xuất công nghệ cao Bên cạnh đó, Nhật còn có đồ gốm gia dụng, đồ lưu niệmcủa Trung Quốc mang phong cách Nhật làm theo đơn đặt hàng của các thương gia

và được nhập về bán với giá bình dân Gốm Thái Lan với các đĩa có kích thướckhác nhau được tráng men xanh như men ngọc nhưng ở giữa lòng đĩa là loại menthủy tinh rạn và giá cả cũng rất bình dân Thời gian gần đây người tiêu dùng Nhật

Trang 6

bản quan tâm nhiều tới gốm mỹ nghệ dạng đất thô, đất đỏ Hiện nay, nhu cầu vềgốm mỹ nghệ dùng để làm vườn của người Nhật Bản cũng rất lớn, đặc biệt là nhữngsản phẩm có kiểu dáng mang nét Châu Âu, có hoa văn thật đơn giản Trước đây, họthường nhập khẩu các mặt hàng này từ các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nhanay đã dần chuyển sang nhập khẩu những mặt hàng này từ Việt Nam, Trung Quốc

do chất lượng tương đương và giá thành rẻ

Thị trường Nhật Bản luôn là thị trường khó tính và đòi hỏi cao về mặt chấtlượng, thẩm mỹ, tác động đến môi trường của sản phẩm Các sản phẩm khi vào thịtrường Nhật Bản phải được kiểm định chất lượng với chi phí không nhỏ Các sảnphẩm cần tuân theo các quy định về tiêu chuẩn hàm lượng kim loại nặng, hàmlượng chì theo Luật Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản (JIS); hoặc phải có dấuhiệu “Ceramic Ware Safety Mark” dựa theo tiêu chuẩn công nghiệp tự nguyện Bêncạnh đó những khiếm khuyết như một vết xước nhỏ, đường viền không cân haymàu sơn bị mờ trong một sản phẩm sẽ bị coi là hư hỏng Việc đóng gói sản phẩmchất lượng cao cũng được coi là cần thiết Người Nhật Bản cũng ưa thích những sảnphẩm được làm từ chất liệu tự nhiên và mang bản sắc văn hóa quốc gia sản xuấtchúng Họ rất quan tâm đến những sản phẩm phản ánh tập tục văn hóa, truyền thống

kỹ thuật, vật tư và thiết kế tại chính quốc gia đó Hơn nữa yếu tố sinh thái cũngquan trọng không kém, họ đòi hỏi bản thân sản phẩm lẫn bao bì phải đạt tiêu chuẩn

về môi trường Vì vậy họ có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm có bao bì khôngquá cầu kỳ, sử dụng vật liệu có thể thu hồi, tái chế và dùng lại

Quy trình nhập khẩu gốm

Trang 7

Các bước nhập khẩu hàng gốm mỹ nghệ vào Nhật bản:

● Bước 1: Người nhập khẩu tiến hành kê khai hải quan, làm thủ tục nhập khẩu

● Bước 2: Hải quan kiểm tra chứng từ

● Bước 3: Nếu hàng hóa yêu cầu kiểm định theo luật thì hải quan quan sẽ tiến hànhkiểm định, nếu không thì thôi

● Bước 4: Sau khi hải quan tiến hành kiểm định đối với lô hàng yêu cầu kiểm định,người nhập khẩu tiến hành làm thủ tục hải quan nhập lô hàng nếu hàng hóa đượcphép nhập và hoàn tất thủ tục Nếu lô hàng không đạt yêu cầu kiểm định, hải quanNhật sẽ hoàn trả lại hoặc loại bỏ lô hàng

Về nhãn hiệu hàng hóa, đối với hàng gốm, Nhật Bản có các dấu hiệu đểchứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo an toàn cho người tiêudùng như dấu JIS, G và “Ceramic Ware Safety Mark” Nhãn hiệu tự nguyện dựatrên cơ sở Luật tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật bản(JIS) Doanh nghiệp nào muốn códấu trên sản phẩm của mình khi vào thị trường Nhật Bản thì phải tuân thủ các quyđịnh về bảo đảm chất lượng, mẫu mã theo luật Với nhãn hiệu “Đảm bảo chất lượnghàng gốm, Ủy Ban cố vấn về nhãn hiệu của Hiệp hội các nhà sản xuất gốm NhậtBản sẽ thực hiện việc đóng gói nhãn hiệu lên các sản phẩm hoặc lên các bao bì sảnphẩm (trường hợp sản phẩm được đóng gói trong hộp) sau khi các sản phẩm này

Trang 8

được kiểm tra và chứng nhận phù hợp với các quy định của Luật Vệ sinh an toànthực phẩm của Nhật Bản.

Về quy định thuế nhập khẩu, trừ các mặt hàng nằm trong danh mục ưu đãi,mức thuế nhập khẩu nói chung là 3,4% cho những mặt hàng thông thường, 2,3%cho các nước tham gia Tổ chức thương mại thế giới

1.2 Thị trường gốm sứ Việt Nam

1.2.1 Vài nét về thị trường gốm sứ Việt Nam

Thị trường gốm sứ Việt Nam có lịch sử lâu đời Có nhiều di chỉ khảo cổ học đượckhai quật, ví dụ tại Đồng Nai hay Cần Giờ (TP.HCM), cho thấy nghệ thuật tạo đồ đấtnung đã ra đời ở nước ta từ cách đây 3.000 năm Như vậy, có thể tạm kết luận rằng,gốm sứ là một trong những nghề lâu đời nhất được hình thành tại Việt Nam Để đượcnhư ngày nay, gốm sứ Việt Nam đã trải qua hơn hàng trăm năm xây dựng, giữ gìn vàphát triển Tuy có nhiều thăng trầm, biến cố lịch sử những tinh hoa gốm Việt vẫn luôngiữ mình, luôn đổi mới và để lại một kho tàng các tác phẩm, dòng gốm đặc sắc Cólàng nghề vẫn còn tồn tại và phát triển cho tới ngày nay nhưng cũng có làng nghề dầnmai một và biến mất đi khỏi bản đồ gốm sứ Việt Nam

Tuy có nền lịch sử lâu đời nhưng Việt Nam vẫn gặp nhiều vấn đề khó khăn đểbắt kịp xu thế trong thời kì phát triển mạnh về công nghệ, dây chuyền sản xuất trênthế giới Hiện nay nền kinh tế phát triển rất nhanh, khiến nhu cầu của người tiêudùng cũng thay đổi chóng mặt Người mua trở nên khó tính hơn, luôn đòi hỏi chấtlượng sản phẩm phải tốt, giá cả cạnh tranh và mẫu mã đẹp, chủng loại phong phú.Trong khi đó, nhiều cơ sở sản xuất nội địa chưa trở mình kịp để đáp ứng những yêucầu đó của thị trường Nói chính xác hơn, nhà sản xuất chưa quan tâm đúng mứcđến nhu cầu của khách hàng, dù không ít người mua có tiền sẵn sàng trả nhiều hơn

để sở hữu những món đồ đẹp và chất lượng Quy mô sản xuất nhỏ, mẫu mã đơnđiệu, nghèo nàn nên tất yếu là hàng nội không thể cạnh tranh được với hàng TrungQuốc, trừ Minh Long 1, Sứ Hải Dương, CK và Long Phương Hiện nay, Việt Nam

có 14 làng nghề sản xuất gốm sứ gồm: Thổ Hà, Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng,Đông Triều, Thanh Hà, Phước Tích, Bầu Chúc, Biên Hòa, Tân Phước Khánh,Chánh Nghĩa, Lái Thiêu, Vĩnh Long, Cây Mai Theo số liệu thống kê cập nhật đếnngày 16/11/2012 do một chuyên gia gốm sứ cung cấp, hiện trên cả nước có tổng số

Trang 9

286 cơ sở sản xuất đồ gốm sứ gia dụng lớn, nhỏ của Việt Nam, đạt tổng doanh số1.677 tỷ đồng/năm và chiếm 30% thị phần cả nước

Thị trường gốm sứ tuy gặp nhiều khó khăn nhưng Việt Nam vẫn luôn nỗ lựcphát triển, đổi mới để khẳng định vị trí trên trường quốc tế và góp công lớn trongnền kinh tế nước nhà Tại làng nghề gốm sứ Bát Tràng - xã Bát Tràng, huyện GiaLâm, Hà Nội, giá trị sản xuất gốm sứ và thương mại 10 tháng đầu năm 2016 ước đạttrên 1100 tỷ đồng, nộp thuế ngoài quốc doanh năm 2016 đạt 2,9 tỷ đồng, đóng gópđáng kể cho phát triển kinh tế của địa phương Thu nhập bình quân đầu người đạtkhoảng trên 50 triệu/người/năm Không chỉ tạo công ăn việc làm trong xã mà tạocông ăn việc làm cho 3.000 – 5.000 lao động thường xuyên từ nơi khác đến Lượngsản phẩm gốm sứ sản xuất cung ứng nội địa chiếm khoảng 85% và xuất khẩu được15% sản phẩm sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Đức, Tây BanNha… Để tăng tính cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường, người làm gốm BátTràng ngày càng cố gắng tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng,độc đáo có mẫu mã phùhợp thị hiếu người tiêu dùng, như: Men ngọc, hoa nâu, men rạn, hoa lam… Tuynhiên, khi nền kinh tế thị trường tạo ra xu hướng mở cửa hội nhập, gốm Bát Tràngcũng là một trong những mặt hàng tham gia vào cuộc cạnh tranh mạnh mẽ với gốm

sứ đến từ các nước khác, đặc biệt là gốm sứ Trung Quốc Trong thời kỳ hội nhậpkinh tế thế giới hiện nay của gốm sứ Việt, các cơ sở cần tổ chức lại sản xuất, kinhdoanh; thay đổi công nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, đẩy mạnh hoạtđộng makerting, xúc tiến thương mại qua đó giúp tăng tính cạnh tranh sản phẩmgốm sứ trên thị trường trong và ngoài nước

1.2.2 Các phương thức sản xuất gốm sứ

Cách thứ nhất, Các nhà xuất khẩu gốm mỹ ghệ của Việt Nam thông qua các

văn phòng đại diện của các công ty kinh doanh hàng gốm mỹ nghệ ở Việt Nam kýkết hợp đồng xuất khẩu Theo Jetro, cách thứ nhất chiếm trên phần lớn (khoảng75%) kim ngạch xuất khẩu hàng gốm mỹ nghệ của Việt Nam

(1) Các nhà sản xuất hoặc xuất khẩu hàng gốm mỹ nghệ ký kết và cung ứnghàng gốm mỹ nghệ cho các nhà nhập khẩu (2) Các nhà nhập khẩu sau đó phân phốihàng hóa tới (3) các nhà bán buôn, tiếp theo sản phẩm được đưa tới (4) những nhàbán lẻ, (5) các siêu thị và (6) các nhà bán lẻ chuyên doanh

Trang 10

Cách thứ hai, các nhà bán lẻ thiết lập quan hệ trực tiếp với các nhà sản xuất

nước ngoài nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, cập nhật nhu cầu thị trường để nhà sảnxuất cung cấp những sản phẩm đáp ứng tối đa thị hiếu của n gười tiêu dùng Vớicách hai, nhiều nhà bán lẻ vào Việt Nam chọn lựa sản phẩm, ký kết hợp đồng muatrực tiếp để các nhà sản xuất hoặc các nhà thương mại gốm mỹ nghệ của Việt Namgởi hàng qua Cách này giúp giảm được chi phí trung gian, làm hàng gốm mỹ nghệcủa Việt Nam rẻ hơn tuy nhiên nó chỉ chiếm khoảng 5% trị giá hàng gốm mỹ nghệxuất khẩu vì các bên chưa tìm được phương thức thanh toán tối ưu và an toàn

Cách thứ ba, bán trực tiếp cho người nước ngoài thông qua hai cách Cách

một, khách du lịch sau khi về nước hoặc người nước ngoài quan tâm đến sản phẩm

sẽ đặt hàng qua mạng đến các cơ sở sản xuất và kinh doanh hàng gốm mỹ nghệ củaViệt Nam Bên phía Việt Nam giao hàng và được chuyển tiền trả qua ngân hàng.Hình thức kinh doanh này được coi là khá mạo hiểm nhưng những nhà cung cấpcho rằng do có quan hệ từ trước, hơn nữa giá trị lô hàng không lớn nên chưa có rủi

ro xảy ra Cách hai, khách du lịch đến Việt Nam mua trực tiếp hàng thủ công mỹnghệ, đặc biệt là hàng gốm mỹ nghệ Nhiều người trong số họ thường yêu thích vàxem Việt Nam là thiên đường mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và hànggốm mỹ nghệ nói riêng

III Tình hình xuất khẩu gốm sứ Việt Nam sang Nhật Bản giai đoạn 2012-2017

1 Tình hình xuất khẩu gốm sứ Việt Nam ra thế giới giai đoạn 2012-2017

Trang 11

Gốm sứ Việt Nam là một nghề thủ công cổ truyền rất đặc sắc, mang đậm nétvăn hóa dân tộc hàng nghìn năm lịch sử Các sản phẩm đồ gốm nước ta đã và đangđược ưa chuộng trên thị trường thế giới Đặc biệt, trong những năm gần đây 2012-

2017, ngành gốm sứ xuất khẩu đã chiếm lĩnh nhiều thị trường phân bổ trên các châulục Đứng thứ nhất về kim ngạch xuất khẩu gốm sứ của nước ta là Châu Âu, sau đóđến Châu Mỹ và Châu Á, cuối cùng là Châu Đại Dương

Hình 1: Trị giá xuất khẩu gốm sứ của Việt Nam trên thế giới 2012-2017

(Đơn vị: triệu USD)

Biểu đồ được vẽ dựa trên số liệu từ Tổng cục thống kê Việt Nam

(https://www.gso.gov.vn)

Trong những năm 2012-2017, hàng gốm sứ của Việt Nam đã có mặt trên hơn

27 quốc gia và vùng lãnh thổ Trị giá xuất khẩu gốm sứ của Việt Nam trên thế giớitương đối cao trong các năm, dao động trong khoảng 470 triệu tấn/năm Trị giá xuấtkhẩu cao nhất vào năm 2014 với khoảng 515 triệu tấn, tăng 9,3% so với năm trước Xét riêng nửa đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của ViệtNam đạt 286,4 triệu USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, số liệu gần đâynhất là trong tháng 7/2018 đạt 39,6 triệu USD, giảm 4,5% so với tháng 6/2018.(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)

Thị trường T7/2018 (USD) +/- so với

T6/2018 (USD)*

7T/2018 (USD)

+/- so với cùng kỳ 2017 (%)*

Ngày đăng: 18/08/2020, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w