Theo Nghị định trên, một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10 ngàn hecta 100 km², có vị trí địa lý thuận lại cho phát triển kinh tế khu vực có cảng biển nước sâu hoặc gần sân ba
Trang 1I, Khái niệm KHU KINH TẾ
1/ Khái niệm
Theo Nghị định Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP[1] ngày 14 tháng 03 năm 2008 là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định Theo Nghị định trên, một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10 ngàn hecta (100 km²), có vị trí địa lý thuận lại cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật Do điều kiện thành lập như vậy, tất cả các khu kinh tế hiện nay của Việt Nam đều ở ven biển
Nghị định trên cũng phân biệt rõ khu kinh tế với khu kinh tế cửa khẩu và khu công nghiệp
Khái quát hơn Khu Kinh Tế:
- Khu vực độc lập hay có ranh rới địa lý xác định
- Chỉ chịu ảnh hưởng bởi một cơ quan quản lý duy nhất
- Các thủ tục, chính sách áp dụng cho doanh nghiệp trong KKT có một cơ chế riêng, độc lập, và có sự đột phá theo hướng thủ tục ngày càng gọn nhẹ
Trang 2- Có những ưu đãi định để thu hút đầu tư/
2/ Mục tiêu của Khu Kinh Tế
- Thu hút đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Phát triển cơ sở hạ tầng
- Hỗ trợ cho chiến lược cải cách kinh tế rộng lớn hơn
- Là phòng "thí nghiệm" cho các chính sách và cách tiếp cận mới
- Giải tỏa một phần áp lực của tăng dân số và nhu cầu việc làm
3/ Các loại hình khu kinh tế
- Khu tự do mậu dịch ( Free Trade Zones): Những khu vực nhỏ được rào chắn hay cách ly và miễn thuế, thường nằm tại các cửa khẩu
- Khu chế xuất ( Export Processing Zones): KCN cung cấp các ưu đãi và tiện ích đặc biệt cho sản xuất và các hoạt động liên quan nhằm mục tiêu chủ yếu là thị trường xuất khẩu
- Đặc khu kinh tế ( Special Economic Zones): Bao hàm nhiều loại hoạt động kinh doanh, cho phép người dân sinh sống trong khu vực và cung cấp các chính sách khuyến khích và ưu đãi rộng hơn
- Khu chuyên dụng ( Specialized Zones): Chỉ hướng đến các lĩnh vực và hoạt động kinh tế nhất định như các khu KHCN, khu hóa dầu, khu hậu cần
- Khu đơn xưởng ( Single Factory EPZ): Cung cấp các khuyến khích và ưu đãi cho từng doanh nghiệp chứ không quan tâm đến địa điểm
Trang 3- Khu doanh nghiệp ( Enterprize Zones): Dự định làm tái sinh lại các khu vực thành thị hoặc nông thôn nghèo nàn thông qua cung cấp các khuyến khích về thuế và trợ cấp tài chính
4/ Lợi ích của Khu Kinh Tế
Lợi ích tĩnh
- Trực tiếp tạo việc làm và thu nhập cho NLĐ
- Tăng trưởng và đa dạng hóa xuất khẩu
- Tăng nguồn thu ngoại hối
- Thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Lợi ích động
- Tạo việc làm gián tiếp
- Nâng cấp nền CN
- Chuyển giao Công Nghệ
- Nâng cấp kỹ năng quản lý và lao động
- Mô hình thực hành chính sách lý tưởng
- Liên kết và phát triển vùng
II, Vai trò Khu Kinh Tế trong công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Thứ nhất, các KTT có điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước,
giúp giải quyết khó khăn về vốn, tiếp cận và chuyển giao khoa học- công nghệ
Trang 4tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý hiện đại, khai thác và sử dụng tối ưu nguồn vốn còn chưa được huy động, tạo nên sự thông thương, liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, từng bước thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển năng động hơn, có khả năng cạnh tranh sản phẩm cao hơn trên thị trường quốc tế
Thứ hai, các KKT tiếp cận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và phương pháp quản lý
hiện đại Với ưu thế đặc biệt, các KKT đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu
về cơ sở hạ tầng cho việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài
Thứ ba, các KKT góp phần khai thác hiệu quả các nguồn lực và lợi thế của quốc
gia, các khu vực Ở những khu vực có điều kiện phát triển kinh tế- xã hội thuận lợi, với sự xuất hiện của các KKT đã làm cho khai thác và sử dụng các nguồn lực trở nên hiệu quả hơn, nền kinh tế trở nên sôi động hơn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa Ở những khu vực có đất đai cằn cỗi, hoang hóa, không thuận lợi cho sản xuất công nghiệp, ít có khả năng sinh lợi, khi KKT được xây dựng và đi vào hoạt động sẽ thu hút đầu tư cả trong
và ngoài nước đã làm cho bộ mặt kinh tế- xã hội thay đổi hẳn, các vùng thuần nông trở thành các vùng kinh tế đa ngành, trong đó các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn, còn nông nghiệp chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao rõ
Trang 5Thứ tư, các KKT tạo thêm việc làm và nâng cao trình độ cho người lao động Sự
hoạt động đa nghành nghề của các KKT đã tạo thêm nhiều việc làm cho lao động, đặc biệt là lao động địa phương với chính sách ưu tiên giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ Với yêu cầu ngày càng cao của phát triển kinh tế, trình độ lao động trong các KKT cũng phải được nâng lên xứng tầm Do đó, khi đi vào hoạt động, các KKT một mặt thu hút các lao động có chất lượng, một mặt khác
có hỗ trợ để bồi dưỡng nâng cao trình độ lao động Đồng thời, với quy chế hoạt động sản xuất, kinh doanh chặt chẽ, các KKT còn rèn luyện tác phong lao động mới và nâng cao tính kỷ luật lao động
Thứ năm, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực xuất
khẩu Sự phát triển của các KKT với việc ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khu vực 1 sang khu vực 2 và 3, kéo theo chuyển dịch lao động tương ứng Nơi đây có
sự tập trung và ưu tiên về vồn, khoa học- công nghệ, do đó sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế Điều này làm tăng
cơ hội xuất khẩu cho hàng hóa được sản xuất trong các KKT
Thứ sáu, góp phần đổi mới cơ chế quản lý, cải thiện môi trường đầu tư và mở
rộng quan hệ kinh tế thương mại với các nước trên thế giới Rút kinh nghiệm từ
Trang 6việc xây dựng và phát triển các KKT ở những quốc gia đi trước, các KKT đi sau cũng ứng dụng các cơ chế quản lý thông thoáng, từ đó cải thiện được rất nhiều môi trường đầu tư Việc hấp dẫn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước làm quen, ký kết hợp đồng kinh tế với nhau
III, Tình hình Khu Kinh Tế trên Thế Giới
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3000 Khu Kinh Tế ở 135 quốc gia tạo hơn 68 triệu việc làm
Trang 7Trên thế giới Trung Quốc là nước đi đầu trong xây dựng KKT Đến nay, quốc gia này đã có 54 KKT và 5 đặc khu kinh tế Hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế này ở Trung Quốc đã đạt nhiều thành công, đặc biệt là 5 ĐKKT: Thẩm Quyến Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn, Hải Nam Trong những năm gần đây, Trung Quốc
là một trong số ít quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và là 1 trong 4 nền kinh mới nổi (RAG) của thế giới
ĐKKT THẨM QUYẾN
-1 làng chài nhỏ 30.000 dân sau ba thập kỷ đã thành 1 trung tâm kinh tế năng
Trang 8động hàng đầu của Trung Quốc với 8,6 triệu dân.
-Tăng trưởng GDP 30%/năm để GPD-2007 đạt 100 tỷ USD
-GPD-2007/người >10k USD và dự kiến 20k USD vào năm 2020
*Mặt trái:
- Ô nhiễm không khí và nước ngày càng nghiêm trọng
- Khai thác quá mức lao động giá rẻ
- Bất bình đẳng xã hội
- Tỷ lệ gia tăng tội phạm cao
Khu tự do hóa thương mại Thượng Hải
- Còn gọi là khu Thương Mại Tự Do hóa thí điểm của Trung Quốc
- Thành lập 2013 với diện tích 28,782 bao gồm 4 khu ngoại quan
*Mục đích:
- Thử nghiệm những cải cách, chính sách mới
- Thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế
- Thể hiện cam kết đổi mới và dấu ấn chính trị của thế hệ lãnh đạo mới
Là 1 quốc gia đi sau nhưng Ấn Độ cũng đã gặt hái được nhiều thành công trong xây dựng và phát triển các ĐKKT với hệ thống hàng trăm ĐKKT Ấn Độ là 1 thành viên trong RAG cùng với Trung Quốc, Brazin, Nga
Không nhiều về mặt số lượng như TQ và Ấn Độ ở Hàn Quốc mới chỉ có 5 KTT
Trang 9với mục đích thúc đẩy thương mại quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, từ đó xây dựng thủ đô Seoul và 3 ĐKKT này thành trung tâm tài chính, thương mại có tầm
cỡ trong khu vực chấu Á như Singapore và HongKong
Một số nước ASEAN như Malaysia, Philippins cũng xây dựng các KKT và đã đạt được 1 số thành công nhất định
IV, Kinh nghiệm cho Việt Nam
Bài học từ Trung Quốc, thứ nhất là xác định rõ chức năng của ĐKKT- đây là nhân tố cơ bản quyết định sự thành công của các ĐKKT, thứ hai, tăng cường vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thu hút các dự án đầu tư vào các ĐKKT Thứ ba, thực hiện thể chế quản lý đặc biệt và hệ thống chính sách ưu đãi mang tính khuyến cáo cao Thứ tư, lựa chọn mô hình kinh tế phù hợp với mục tiêu xây dựng ĐKKT Thứ năm, lựa chọn địa điểm vị trí thích hợp để xây dựng ĐKKT Bài học từ Ấn Độ, kinh nghiệm lớn nhất mà Ấn Độ rút ra trong xây dựng và phát triển các ĐKKT là ban hành luật ĐKKT Theo đó chính sách được đơn giản hóa, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Bài học từ Hàn Quốc, Hàn Quốc đã đưa ra những quyết định đúng đắn với một quyết tâm cao độ Gắn liền với sự hình thành và phát triển của các cụm ngành với vai trò định hướng của nhà nước nhưng khu vực tư nhân lại đóng vai trò chủ đạo HQ đã tận dụng tốt các yếu tố về đại lí, thời tiết, nguồn nhân lực
Trang 10Vận dụng kinh nghiệm của các nước trong việc đầu tư có trọng điểm nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, phát huy tiềm năng trong nước tạo nên động lực trong phát triển kinh tế, Việt Nam đã triển khai xây dựng và phát triển các KKT
Khu kinh tế đầu tiên của Việt Nam là khu kinh tế mở Chu Lai, thành lập năm
2003 Ngày 23/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
1353/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Quy hoạch phát triển các KKT ven biển của Việt Nam đến năm 2020" Theo Vụ Quản lý các khu kinh tế (Bộ Kế hoạch
và Đầu tư), đến thời điểm tháng 12/2012, cả Việt Nam có 15 khu trong quy hoạch nói trên đều đã được chính thức thành lập là khu kinh tế hoặc được hưởng quy chế ưu đãi như khu kinh tế
Trang 11( nguồn wikipedia)
Trong năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý bổ sung thêm 3 khu kinh tế ven biển vào Quy hoạch Như vậy, hiện có 18 KKT ven biển được phê duyệt trong Quy hoạch phát triển KKT ven biển của cả nước đến năm 2020 với tổng diện tích mặt đất và mặt nước 730.553 ha (tương đương 7305,53 km2), bằng khoảng 2,2% tổng diện tích của cả nước Tuy nhiên, hiện tại 3 khu mới lập đều chưa đi vào hoạt động
Trang 12Việc xây dựng và phát triển khu kinh tế ở Việt Nam bước đầu đã được một số kết quả quan trọng Số dự án và vốn đầu tư nước ngoài tăng khá nhanh Đến nay, các KKT đã thu hút được trên 320 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 30,5 tỉ USD Trong đó, có trên 90 dự án nước ngoài với tổng số vốn trên 19,5 tỉ USD
Bên cạnh đó vẫn còn những trục trặc với mô hình Khu Kinh Tế ở Việt Nam thứ nhất, vị trí chọn làm KKT không phù hợp và dàn trải khắp mọi nơi
thứ hai, cơ sở hạ tầng: Hầu hết không đảm bảo cơ sở hạ tầng thiết yếu
thứ ba, Môi trường đầu tư:
- Các quy định về ưu đãi vẫn còn nhiều bất cập, không bao hàm hết các hoạt động cần khuyến khích đầu tư, chồng chéo giữa luật đầu tư và luật thuế TNDN
- Không đồng bộ, thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật về KKT
- Việc thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước trực tiếp với KKT của Ban Quản Lý KKT hiện nay gặp nhiều vướng mắc, khó triển khai trên thực tế
thứ tư, nguồn nhân lực: Nguồn cung lao động yếu về số lượng và chất lượng do khả năng đào tạo nguồn lực hạn chế và chưa gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp
Trang 13KẾT LUẬN
Không thể phụ nhận được những lợi ích vượt trội của KKT đem lại cho mỗi quốc gia nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều những rủi ro bất cập Đứng trước những cơ hội thách thức, Việt Nam cần cân nhắc lại và quyết định một cách đúng đắn mô hình nào phù hợp với đất nước Việt Nam đang đối mặt với một nghịch lý rõ ràng: Có quá nhiều KKT mọc lên nhưng có quá ít cơ hội việc làm cho những sinh viên tốt nghiệp trong các ngành khoa học, kỹ thuật, kỹ sư, toán Nếu không có những ý tưởng mới, những chính sách tốt và những chiến lược thận trọng để thu hút đầu tư nước ngoài, các khu kinh tế của Việt Nam sẽ không
có gì đặc biệt trong trong mắt các nhà đầu tư toàn cầu và trở thành những điểm nóng đầu tư có tính cạnh tranh cao Rõ ràng là chính phủ Việt Nam rất cần tăng trưởng kinh tế liên tục để duy trì phát triển kinh tế- xã hội Do đó, những đánh giá lạc quan về thành tựu phát triển kinh tế của Việt Nam trong những thập niên qua và sự tiếp tục chiến lược đầu tư nước ngoài như thể hiện trong luật đặc khu cần phải được xem xét lại