Đây là tiềm năng to lớn và quý giá để du lịch phát triển nhưng dohậu quả của chiến tranh, thiên tai cùng với các cơ chế bất cập nên kinh tế - xã hội của cáctỉnh duyên hải miền Trung nói
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Duyên hải miền Trung Việt Nam là vùng đất có tiềm năng du lịch đa dạng vàphong phú, đặc biệt là nơi có nhiều di sản văn hóa thế giới như Thánh đị Mỹ Sơn, phố cổHội An, cố đô Huế, Nhã nhạc Cung đình Huế và động Phong Nha – Kẻ Bàng… đã đượcUNESCO công nhận Đây là tiềm năng to lớn và quý giá để du lịch phát triển nhưng dohậu quả của chiến tranh, thiên tai cùng với các cơ chế bất cập nên kinh tế - xã hội của cáctỉnh duyên hải miền Trung nói chung và kinh tế nói riêng còn chậm phát triển
Kinh tế du lịch là ngành kinh doanh năng động và hiệu quả, ngoài góp phần quantrọng vào tổng sản phẩm xã hội, giúp người dân tăng thu nhập ổn định cuộc sống, du lịchđông thời cũng là một ngành quảng bá hữu hiệu hình ảnh, bản sắc văn hóa dân tộc ViệtNam với bạn bè quốc tế Ngoài ra kinh tế du lịch phát triển còn kéo theo nhiều ngànhnghề khác phát triển, thúc đẩy kinh tế khu vực phát triển nhanh, toàn diện
Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng kinh tế du lịch ở Việt Nam nói chung và vùngDuyên hải miền Trung nói riêng còn nhiều bất cập và yếu kém, chưa đáp ứng được đòihỏi ngày càng cao của du khách Do đó, các địa phương cần có chiến lược phát triển ổnđịnh để du lịch Duyên hải miền Trung trở thành ngành công nghiệp không khói, tạo điềukiện cho du lịch miền Trung tiến bước hòa nhập với trình độ phát triển của cả nước và cácnước trong khu vực cũng như trên thế giới
Xuất phát từ lý do đó, trên cơ sở những kiến thức đã học cùng với khuôn khổ tài
liệu cho phép, nhóm chúng em đã chọn đề tài nghiên cứu: “Khai thác tiềm năng kinh tế
du lịch các tỉnh Duyên hải miền Trung”
Trang 2CHƯƠNG 1: KINH TẾ DU LỊCH VÀ VIỆC KHAI THÁC TIỀM NĂNG KINH TẾ
và lưu giữ khách du lịch Khách du lịch càng nhiều, cơ hội kinh doanh càng lớn Đối vớichính quyền địa phương, du lịch được xem là nhân tố thuận lợi, là môi trường để tạo thêmviệc làm, tăng thu nhập cho dân cư, tăng ngân sách cho Nhà nước
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến mộtnơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm
ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourist Organization) – một
tổ chức của Liên Hiệp Quốc, du lịch là hành động rời khỏi nơi thường trú để đi đến mộtnơi khác, một môi trường khác trong một thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khámphá, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người
du hành tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trongmục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, cũng như mục đích hành nghề và những mục đíchkhác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trườngsống định cư; ngoại trừ các du hành có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là mộtdạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồmnhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Nó vừa mang đặcđiểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sởkhai thác các tiềm năng kinh tế du lịch nhằm cung cấp cho du khách khoảng thời giannghỉ ngơi, khám phá, thưởng thức thú vị, tìm hiểu cơ hội đầu tư, hợp tác kinh tế giữa cácquốc gia, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng về một chuyến đi (1) Sản phẩm
du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó
(1)(1) Theo Từ điển du lịch Tiếng Đức - NXB Berlin 1984
Trang 3được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động dulịch tại một vùng hay một địa phương nào đó
Tóm lại, du lịch là ngành kinh tế quan trọng dựa trên lợi thế tiềm năng và mức độhiệu quả của việc khai thác ở khu vực III cùng với các ngành dịch vụ khác như thươngmại, các ngành vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng… Ngày nay du lịch được mệnhdanh là “ngành công nghiệp không có ống khói” phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, tạo rathu nhập cao Kinh doanh du lịch là thể hiện sự văn minh, hấp dẫn trong việc khai tháctiềm năng nhằm thu được nhiều lợi nhuận của các quốc gia Ở nước ta, ngành du lịch cóvai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, góp phần đẩy nhanh tiến trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2 Vai trò của du lịch trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
2.1 Những tác động tích cực của du lịch đối với kinh tế - xã hội.
a) Về mặt kinh tế:
- Phát triển du lịch thực hiện xuất khẩu “vô hình” với hiệu quả kinh tế cao các giátrị tự nhiên và giá trị văn hoá thông qua việc thu hút khách đến tham quan du lịch vàthưởng thức các giá trị đó
- Các giá trị tự nhiên và giá trị văn hoá, đặc biệt là các giá trị văn hoá vật thể và giátrị văn hoá phi vật thể là tài sản của quốc gia, của địa phương và của cộng đồng cần đượcgìn giữ không chỉ cho thế hệ mai sau mà cho cả toàn nhân loại.Nếu người làm du lịch cótrí tuệ và sức sáng tạo ra những ý tưởng phù hợp với nhu cầu của khách du lịch để khaithác các giá trị văn hoá này thì sẽ thu được nhiều ngoại tệ thông qua việc thu vé thamquan và dịch vụ hướng dẫn tham quan Nguồn thu từ vé tham quan bằng ngoại tệ, các nhàkinh tế gọi là “xuất khẩu vô hình”
- Du lịch gửi công dân ra nước ngoài du lịch được gọi là nhập khẩu dịch vụ, nhưng
có tác động mạnh mẽ đến việc sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm Mặt khác, những người đi du lịch họ sẽ đem về những kinh nghiệm làm ăn, buônbán, những thông tin về thị trường và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
- Du lịch nội địa thực hiện tái phân chia nguồn thu nhập giữa các địa phương, giữacác tầng lớp dân cư và làm tăng giá trị của hàng hoá Khách du lịch nội địa đem tiền kiếmđược từ một địa phương này sang địa phương khác tiêu dùng, như vậy địa phương đónkhách sẽ có thu nhập và dân cư ở địa phương này cũng có thu nhập từ việc bán hàng hoá
và dịch vụ cho khách Hàng hoá và dịch vụ này nếu bán cho cư dân của địa phương thìgiá sẽ rẻ, nhưng khi bán cho khách du lịch tại các khách sạn, nhà hàng giá sẽ cao hơn dẫnđến làm gia tăng giá trị của hàng hoá và dịch vụ
Trang 4- Phát triển du lịch tạo ra môi trường xúc tiến đầu tư, kinh doanh và mở cửa ra bênngoài Thông qua du lịch thúc đẩy việc giao lưu giữa con người và con người để trao đổikinh nghiệm, hợp tác đầu tư trên các lĩnh vực thông tin, kỹ thuật, công nghệ và nguồnvốn Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua, du lịch phát triển đã góp phần vàoviệc mở rộng mối quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư ở nước ta.
- Phát triển du lịch là động lực để thúc đẩy các ngành khác trong nền kinh tế quốcdân phát triển thông qua việc tạo ra một thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các ngành.Khi du lịch phát triển đã tạo ra cho các ngành từ nông nghiệp, thuỷ hải sản, công nghiệpchế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng, điện lực, nước sạch, bưuchính, viễn thông…, tiêu thụ được sản phẩm thông qua bán sản phẩm và dịch vụ chokhách du lịch và doanh nghiệp du lịch
- Phát triển du lịch là động lực để chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế quốcdân từ nông nghiệp, công nghiệp chuyển sang dịch vụ Một đất nước, một địa phương cóchính sách phát triển du lịch nhằm mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệpsang dịch vụ để thu hút nhiều lực lượng lao động và tạo ra một thị trường tiêu thụ sảnphẩm cho các ngành khác
- Phát triển du lịch nhằm khôi phục và phát triển các nghề thủ công, mỹ nghệtruyền thống, các làng nghề nhằm mục đích cho khách du lịch tham quan và tìm hiểucũng như mua những sản phẩm này
b) Về mặt xã hội:
- Phát triển du lịch tạo ra nhiều công ăn, việc làm cho xã hội Thực hiện xoá đói,giảm nghèo ở những vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo đói Du lịch là một ngành dịch vụnên cần rất nhiều người phục vụ, không chỉ những người trực tiếp phục vụ mà cả nhữngngười gián tiếp phục vụ
- Du lịch là một trong những hình thức nhằm tái hồi sức lao động của con ngườisau thời gian lao động vất vả cần nghỉ ngơi, thư giãn và giải trí Nhiều chuyên gia chorằng, du lịch là một trong những hình thức nghỉ ngơi và giải trí tích cực của con người, dulịch không chỉ giúp cho con người phục hồi sức khoẻ mà còn chữa một số bệnh thời đạicủa con người
- Du lịch là một trong những phương tiện giáo dục có hiệu quả tình yêu quê hương,đất nước, tinh thần tự hào truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc từ đó nâng cao ý thứctrách nhiệm của người đối với việc bảo vệ tổ quốc, bảo vệ truyền thống dân tộc
2.2 Những tác động tiêu cực của du lịch đối với kinh tế - xã hội.
a) Về mặt kinh tế:
Trang 5- Phát triển du lịch không có quy hoạch đồng bộ sẽ dẫn tới việc mất cân đối giữacung và cầu trong việc cung ứng lương thực, thực phẩm và các hàng hoá nhu yếu phẩmphục vụ đời sông cộng đồng dân cư địa phương Ví dụ: Trong mùa hè tại các bãi biển,lượng khách du lịch đến nghỉ với số lượng lớn, nhu cầu về lương thực, thực phẩm và hànghoá lớn, giá cả tăng cao điều này ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của dân cư địa phương.
- Số lượng khách nước ngoài đến đông, dịch vụ tại các khu du lịch các điểm dulịch không được tổ chức chu đáo dẫn tới việc buôn lậu, đổi tiền chui, bán hàng hoágiả v.v ảnh hưởng tới kinh tế của địa phương
b) Về mặt xã hội:
Du lịch tác động xấu đến quan niệm đạo đức truyền thống xã hội Đại bộ phậnkhách du lịch quốc tế đến từ các nước có nền kinh tế phát triển với những, cùng với việcmang những nền văn hoá dân tộc tiến bộ đến nơi du lịch, họ cũng mang đến những lạchậu, hủ bại như: chủ nghĩa sùng bái đồng tiền và hưởng lạc Kết quả là xuất hiện nhữnghiện tượng xấu như: ma tuý, mại dâm, đầu cơ, buôn lậu, tham ô, hối lộ v.v ảnh hưởngkhông chỉ đối với trật tự xã hội mà còn tác động đến những quan niệm đạo đức truyềnthống của cộng đồng dân cư tại điểm du lịch
II Du lịch Việt Nam trong sự phát triển của du lịch thế giới.
1 Xu hướng phát triển của du lịch thế giới.
Trong những năm qua, tình hình du lịch thế giới và khu vực có sự tăng trưởng liêntục nhưng khác nhau ở từng giai đoạn Số lượng khách du lịch quốc tế đạt 940 triệu lượt(năm 2010), 983 triệu lượt (năm 2011) và chạm mốc 1 tỷ lượt (năm 2012) Trong đó, tínhđến năm 2011, châu Âu vẫn là thị trường thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất (504triệu lượt), tiếp theo là châu Á và Thái Bình Dương (217 triệu lượt) Tổng thu du lịchquốc tế ước đạt 928 tỷ USD (năm 2010) và 1.030 tỷ USD (năm 2011)
Phân tích về xu hướng tăng trưởng của thị trường du lịch thế giới từ Báo cáo củaUNWTO (Tổ chức Du lịch thế giới) - Travel Highlights cho thấy một số điểm cần lưu ýnhư sau:
Trang 6Hình 1 Dự báo tăng trưởng số lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới đến năm 2030
Nguồn: UNWTO (2016)
+ Tuy kinh tế khó khăn, đi du lịch vẫn còn là một thói quen của đông đảo ngườidân các quốc gia Đóng góp 6% cho tổng GDP toàn thế giới, trung bình hàng năm tăng 43triệu khách du lịch quốc tế và dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 3,3% để đạt mức1,8 tỷ lượt khách năm 2030 Trong đó, đáng lưu ý là các thị trường mới nổi sẽ đạt mứctăng trưởng gấp đôi so với trước và chiếm hơn một nửa lượng khách du lịch - ước tính với
con số khách đến riêng các thị trường này đạt 1 tỷ lượt vào năm 2030
+ Nhu cầu về sản phẩm du lịch sẽ có sự thay đổi, khách du lịch đang trong xuhướng thay đổi hành vi từ kiểu “viếng thăm, ngắm cảnh” thông thường tới các điểm đến
mà muốn tìm hiểu sâu hơn về các giá trị và cuộc sống của bản địa nhằm phát triển bảnthân cá nhân của chính mình Các hình thức này đang được gọi chung là du lịch vì sứckhỏe (tinh thần và tâm trí - Wellness Tourism)
+ Hưởng thụ sản phẩm du lịch xanh Ưa chuộng sản phẩm du lịch sinh thái, chữabệnh và chăm sóc sức khỏe, kết hợp với các hoạt động vui chơi, giải trí, bảo tồn, pháttriển văn hóa địa phương và môi trường tự nhiên Hơn 1/3 du khách sẵn sàng trả thêm 20
- 40% chi phí để trải nghiệm du lịch thân thiện với môi trường
+ Kết hợp du lịch thể thao và hành trình ẩm thực
Do vậy, các điểm đến và các nhà cung cấp dịch vụ cần có chiến lược phát triển dulịch phù hợp Bên cạnh đó, công tác xúc tiến quảng bá du lịch ngày càng được đẩy mạnh;
Trang 7các sản phẩm du lịch chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và du lịch xanh được chú trọng cũngđặt ra yêu cầu đối với công tác quy hoạch, chính sách, tiêu chuẩn hóa ngành du lịch
2 Du lịch Việt Nam trong sự phát triển của du lịch thế giới.
- Thực trạng và xu hướng du lịch thế giới tạo cho du lịch Việt Nam nhiều cơ hội đểphát triển như: nhu cầu du lịch thế giới và khu vực ngày càng tăng; xu thế hợp tác khuvực ngày càng được đẩy mạnh; nguồn khách du lịch nội vùng châu Á - Thái Bình Dương
và khách du lịch cao cấp từ châu Âu, châu Mỹ rất lớn Việt Nam hiện nằm trong top 5điểm đến hàng đầu khu vực ASEAN và top 100 điểm đến hấp dẫn của du lịch thế giới
docó tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú
- Chính trị xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường; xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tưpháp; sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc được phát huy; quan hệ kinh tế đối ngoại được
mở rộng, tích cực hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới
Những thuận lợi nêu trên đã và đang tạo điều kiện cho du lịch nước ta phát triển.Cùng với sự đi lên của cả nước, trong những năm qua, hoạt động du lịch của nước ta đãtừng bước đi lên, trở thành ngành “công nghiệp không khói” đóng góp ngày càng nhiềuvào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CHƯƠNG 2: KHAI THÁC TIỀM NĂNG KINH TẾ DU LỊCH Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG – THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG.
I Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tiềm năng kinh tế du lịch ở các tỉnh duyên hải miền Trung
1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội.
Các tỉnh Duyên hải miền Trung gồm 9 tỉnh – thành phố ven biển từ Quảng Bìnhđến Khánh Hòa; có diện tích tự nhiên 50.920,5 km2, dân số trung bình theo thống kê năm
2012 là 10,09 triệu người, chiếm 11,36% dân số cả nước, mật độ bình quân là 204,4
người/km2 Đây là khu vực được ví như đoạn giữa của “chiếc đòn gánh” gánh hai vùngkinh tế phát triển nhất của đất nước là vùng Đông Nam Bộ và Bắc Bộ
a) Điều kiện tự nhiên:
Trang 8nên nhiều vũng, vịnh, đầm phá, sông suối với mật độ tương đối dày đặc…, ẩn chứa nhiềutiềm năng kinh tế du lịch chưa được khai thác.
Bề mặt địa hình bị chia cắt nhiều bởi những sườn núi kéo dài từ dãy Trường Sơn
ra đến biển, tạo nên những thung lũng rộng hẹp khác nhau Địa giới từng tỉnh trong khuvực được xác định theo lưu vực sông, đèo và núi
Về khí hậu thời tiết:
Duyên hải miền Trung nằm trong một vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặctrưng chủ yếu như nhiệt độ cao, nóng ẩm, cường độ ánh sáng mạnh, lượng mưa nhiều vàtập trung vào một số tháng trong năm, do vậy hằng năm thường xuyên xảy ra hạn hán vàmưa bão, gây thiệt hại rất lớn về người và của Tổng nhiệt hằng năm từ 8500 – 90000C,tổng bức xạ đạt 100 – 160kcal/cm2, tăng dần từ Bắc vào Nam, tổng số giờ nắng khoảng
2000 – 3000 giờ/năm
Nhìn chung, khí hậu thời tiết vùng Duyên hải miền Trung khá phức tạp, ngay trongmột địa phương sự diễn biến thời tiết hàng năm của từng vùng, từng khu vực cũng khônggiống nhau Sự khác nhau đó làm cho các hoạt động kinh tế ở từng địa bàn cụ thể cũngkhác nhau với những đặc điểm riêng, đồng thời cũng tạo ra cho thiên nhiên của khu vựcthêm phong phú Nếu biết tận dụng và khai thác tốt sẽ là một trong những điều kiện đểcác tỉnh trong khu vực phát triển một nền kinh tế đa dạng và bền vững
b) Đặc điểm kinh tế:
Nói một cách vắn tắt kinh tế Duyên hải miền Trung là một hình ảnh thu nhỏ củanền kinh tế cả nước
+ Trên lĩnh vực nông nghiệp: đến nay, sản xuất nông nghiệp vẫn là một ngành kinh
tế quan trọng nhất của đại bộ phận người dân trong vùng Đến năm 2010 giá trị sản xuấtngành nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, gần 30% trong cơ cấu GDP của khu vực
và đang sở hữu gần 70% lao động xã hội, cơ cấu này đang dần thay đổi theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Trong sản xuất nông nghiệp, lúa nước là cây trồng chủ lực, chănnuôi có quy mô nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình đnáh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sảncòn nhiều hạn chế, nhưng có chiều hướng phát triển tốt đang được các tỉnh tập trung
+ Đối với công nghiệp – thủ công nghiệp, đây là ngành kinh tế quan trọng hỗ trợcho nông nghiệp và du lịch phát triển nhưng mới phát triển mạnh trong 10 năm trở lạiđây; các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phổ biến còn nhỏ lẻ, tập trung ở các vùng đô thị vàven đô thị
c) Đặc điểm xã hội:
Trang 9Duyên hải miền Trung là nơi sinh sống của nhiều thành phần dân tộc khác nhau,trong đó người Kinh chiếm khoảng 90% Các dân tộc thiểu số tuy có số lượng ít nhưng cưtrú trên địa bàn rất rộng ở các vùng miền núi, nằm dọc theo dãy Trường Sơn kéo dài từQuảng Bình đến Khánh Hòa Từ khi đổi mới đến nay, trong quá trình cơ cấu lại dân cư,
sự cư trú của người Kinh trên các vùng miền núi ngày một đông, đã góp phần tích cựcvào sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng miền núi, đặc biệt góp phần nâng cao dân tríđối với đồng bào dân tộc thiểu số
2 Tiềm năng kinh tế du lịch ở các tỉnh duyên hải miền Trung.
Văn hóa vật thể:
- Danh lam thắng cảnh
Vùng duyên hải miền Trung hiện nay có chiều dài bờ biển khoảng 1.161 km, vớinhiều vũng, vịnh và những bãi tắm đẹp hấp dẫn du khách trong và ngoài nước, nhiều cảnhsắc thiên nhiên tươi đẹp, những thắng tích do thiên nhiên khéo tạo nổi tiếng
- Di tích lịch sử
Vùng duyên hải miền Trung là nơi có nhiều di tích LSVH bậc nhất Việt Nam.Trong đó có 3 quần thể di tích LSVH đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thếgiới Đó là: Quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Đô thị cổ Hội An và Thánh địa
Mỹ Sơn (Quảng Nam)…
Tất cả các tỉnh thành trong vùng duyên hải miền Trung đều có bảo tàng Phần lớncác bảo tàng trong vùng là bảo tàng tổng hợp hay bảo tàng khảo cứu địa phương và nhữngbảo tàng chuyên ngành hoặc bảo tàng chuyên đề như: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế,Bảo tàng Văn hóa Huế, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Gốm sứ mậu dịchHội An, Bảo tàng Văn hóa Sa Huỳnh, Bảo tàng Sinh vật biển Nha Trang… Hoặc nhữngbảo tàng danh nhân như: Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh (Thừa Thiên Huế), Bảo tàngQuang Trung (Bình Định), Nhà lưu niệm bác sĩ Yersin (Khánh Hòa)…
Văn hóa phi vật thể:
- Phong tục tập quán
Ở bất kỳ tỉnh, thành nào của vùng duyên hải miền Trung, chúng ta cũng bắt gặpnhững ngôi miếu thờ nữ thần gọi chung là miếu thờ Bà Ở các tỉnh duyên hải miền Trung,nơi đâu có người Hoa sinh tụ thì nơi đó có đền thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị nữ thầnBiển trong tín ngưỡng của người Hoa, nhằm cầu mong sự phù hộ, độ trì của Bà trongcông cuộc mưu sinh trên biển
Trang 10Đặc trưng và điển hình nhất cho tín ngưỡng dân gian vùng ven biển miền Trung làtục thờ cá Ông (cá voi) Có thể nói, đi đến đâu chúng ta cũng bắt gặp tục thờ này và cáÔng được tôn xưng với các tước hiệu khác nhau như Nam Hải Đại Tướng Quân, Cự TộcNgọc Lân Tôn Thần, Đại Càn Nam Hải Đại Tướng Quân… Một hiện tượng tín ngưỡngmang sắc thái khá đặc trưng của cư dân duyên hải miền Trung là tục thờ Cô Bác Đó làtục thờ những người bị hoạn nạn, nhất là bị hoạn nạn trên biển
- Lễ hội
Duyên hải miền Trung còn được mệnh danh là vùng đất của lễ hội Trong nhữngnăm gần đây, khi ngành du lịch có những bước phát triển mới, các nhà tổ chức lễ hội ngàycàng quan tâm nhiều hơn đến việc thu hút khách tham quan Việc tổ chức lễ hội giờ đâykhông chỉ giới hạn ở đời sống tín ngưỡng của cộng đồng dân cư, mà nó còn là dịp quảng
bá hình ảnh con người, truyền thống và những nét văn hóa tốt đẹp độc đáo của từng vùng,từng địa phương hay từng lĩnh vực cụ thể
Cũng giống như phong tục tập quán, phần lớn sinh hoạt lễ hội gắn liền với đờisống tín ngưỡng của cư dân sông nước
- Làng nghề và nghề truyền thống
Vùng duyên hải miền Trung đã phát triển các làng nghề và nghề thủ công truyềnthống như nghề đúc đồng Phường Đúc, làng gốm Phước Tích, làng nón Triều Sơn, lànghoa giấy Thanh Tiên, nghề điêu khắc đá ở Non Nước, làng dệt chiếu Cẩm Nê (ĐàNẵng), làng trống Lam Yên (Quảng Nam); nghề đóng ghe thuyền Đông Tác, làng bánhtráng Hòa Đa, nghề dệt lụa Ngân Sơn (Phú Yên); làng nem Ninh Hòa (Khánh Hòa)…
- Ẩm thực
Văn hóa ẩm thực là một phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể các đặc trưngdiện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm… khắc họa một số nét cơ bản, đặc sắccủa một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia… Ẩm thực đặc sắc cũng làmột điểm thu hút mạnh mẽ đến sự khám phá của các du khách bốn phương Huế, ĐàNẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Nha Trang đều là nhưng địa điểm nổi tiếngvới các món ăn mang đập tính dân dã và vùng miền Báu vật nhân văn sống
II Tình hình khai thác tiềm năng kinh tế du lịch ở các tỉnh duyên hải miền Trung.
a) Giai đoạn 2005 – 2010:
Sau những năm đổi mới, mà nhất là 5 năm thực hiện chương trình phát triển dulịch 2001-2005, với sự quan tâm của Tổng cục du lịch, của tỉnh ủy, UBND các tỉnhDuyên hải miền Trung đã chỉ đạo với Sở du lịch tập trung khai thác tiềm năng kinh tế dulịch và đã đạt được những thành tựu quan trọng Công tác quản lý Nhà nước về du lịch
Trang 11được tăng cường, công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, phát triển năng lực kinh doanh,công tác thông tin, quảng bá tiếp thị và xúc tiến du lịch được chú ý, công tác an ninh và
vệ sinh môi trường, công tác tổ chức cán bộ, đào tạo nguồn nhân lực… có bước phát triểnmới Nhờ vậy hoạt động du lịch đã có bước chuyển biến đáng kể GDP của ngành du lịchtrong cơ cấu kinh tế chiếm tỷ trọng ngày càng cao, như tỉnh Khánh Hòa năm 2005 thunhập từ 41,1%, tăng gần 5% so với kế hoạch
Ngành du lịch dịch vụ có tỷ trọng lớn nhất: năm 2007 chiếm 50,2%, năm 2010chiếm 54,2% (Đà Nẵng)
Tỷ trọng đóng góp của nông - lâm - thủy sản vào GDP có xu hướng giảm (từ22,1% năm 2007 xuống 18,5% năm 2010); trong khi đó với sự tăng trưởng cao, tỷ trọngđóng góp của công nghiệp - xây dựng vào GDP tăng nhanh (từ 37,8% năm 2007 lên41,7% năm 2010); đồng thời có sự hội tụ dần trong xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngànhgiữa các tỉnh/thành phố theo hướng công nghiệp hóa
Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Khánh Hòa có xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
rõ ràng theo hướng dịch vụ - công nghiệp, xây dựng - nông, lâm, thủy sản
Hình 4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng duyên hải miền Trung 2007 – 2010
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Vùng duyên hải miền Trung ( http://www.vietccr.vn)
Trong 5 năm (2001-2005) tổng lượng du khách đến Quảng Bình đạt 2.300.000lượt, tăng 4 lần so với giai đoạn 1996 – 2000, trong đó có 34.400 lượt khách quốc tế Nếunăm 2004 Quảng Bình có 6.575 lượt khách thì năm 2005 đón được 12.228 lượt, tăng gấpđôi so với 2004, tổng doanh thu thương mại du lịch dịch vụ là 1500 tỷ Nếu tính riêng dulịch đạt 221 tỷ đồng (tăng 3,5 lần), tạo thêm nhiều công ăn việc làm ổn định cho hàngngàn lao động
Trang 12Ở Huế, du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn Năm 2005, khách du lịch tăngcao (tăng 20% so với cùng kỳ), trong đó khách quốc tế tăng 22% so với cùng kì năm
2004 Năm 2005 nhiều lễ hội do ngành du lịch Huế tổ chức với nhiều chương trình đặcbiết như kỷ niệm 115 năm ngày sinh chủ tích Hồ Chí Minh Festival truyền thống Huế…thu hút khách du lịch tham dự Năm 2005 ngành đón và phục vụ 1.505.000 lượt khách(bằng 110% so với kế hoạch năm, tăng 38% so với cùng kỳ)
Ở Đà Nẵng, tổng doanh thu thực hiện năm 2005 của Công ty du lịch tại Đà Nẵngđạt 85 tỷ đồng Nếu tính tổng hợp hoạt động du lịch do sở Du lịch thành phố Đà Nẵngthực hiện thì năm 2006 doanh thu du lịch đạt 435,7 tỷ đồng, bằng 101,8% so với kếhoạch, trong đó khách quốc tế chiếm 33,3%, đến từ nhiều quốc gia: Nhật Bản, Nga, EU,ASEAN…
Hình 5 Thống kê Lượng khách đến Đà Nẵng giai đoạn 2004
Nguồn: Đề tài cấp bộ “Khai thác tiềm năng du lịch các tỉnh duyên hải miền Trung”
Hình 6 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh du lịch Đà Nẵng năm 2005 (tỷ
đồng)
Trang 13Nguồn: Đề tài cấp bộ “Khai thác tiềm năng du lịch các tỉnh duyên hải miền Trung”
Các tỉnh Quảng Nam, Phú Yên, Bình Định cũng có kế hoạch khai thác nguồn tiêmnăng du lịch hiệu quả Năm 2005, Bình Định thu hút 380.000 lượt khách, tăng 34% so vớinăm 2004; Phú Yên thu hút 80.000 lượt, tăng 13,5% Doanh thu ngành du lịch năm 2005
ở Quảng Nam đạt 403 tỷ đổng, chiếm 25,71% GDP, tăng 34,67% so với năm 2004 Tiềmnăng kinh tế du lịch Khánh Hòa được khai thác có hiệu quả góp phần quan trọng cho pháttriển kinh tế - xã hội, đến năm 2005 tỷ trong GDP du lịch – dịch vụ chiếm 41,1%, tănggần 5% so với kế hoạch
b) Những năm gần đây:
Việc khai thác các tiềm năng du lịch biển, đảo đã thu hút lượng khách du lịch rấtlớn Tổng lượng khách du lịch đến các địa phương trong vùng năm 2012 là 18,816 triệulượt; trong đó khách quốc tế đạt hơn 4 triệu lượt, chiếm trên 59% so với tổng lượt kháchquốc tế đến Việt Nam trong năm Lượng khách đến cao nhưng số ngày lưu trú bình quânlại thấp, chỉ từ 1,7 - 2,5 ngày Doanh thu du lịch của vùng trong năm 2012 là 15.076 tỷđồng, chiếm hơn 9% tổng doanh thu du lịch cả nước và bằng 18,03% tổng GDP toànvùng
Năm 2015, cho dù còn những khó khăn, nhưng ngành du lịch các địa phương venbiển miền Trung đã bắt đầu tạo dựng sự liên kết, hình thành chuổi các giá trị để khai thácmột cách tốt nhất "ngành công nghiệp không khói” Hội thảo quốc tế “Liên kết phát triển
du lịch vùng duyên hải miền trung với vùng Đông Nam Bộ, Tây nguyên, các tỉnh namLào và đông bắc Campuchia” đã được tổ chức với sự tham gia của đại diện lãnh đạo một
số Bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo 19 tỉnh vùng duyên hải miền trung, vùng Đông Nam
Trang 14Bộ và Tây Nguyên và thành phố Hà Nội; hai nước bạn Lào và Campuchia; đại diện Đại
sứ quán của gần 20 nước tại Việt Nam; các nhà đầu tư, doanh nghiệp du lịch, các nhàkhoa học, các chuyên gia và cơ quan truyền thông, báo chí trong và ngoài nước Hội thảonhằm phân tích, đánh giá tiềm năng, lợi thế và thực trạng phát triển du lịch, từ đó đưa racác chính sách, giải pháp gắn kết phát triển các sản phẩm, loại hình du lịch của các tỉnh,thành phố vùng duyên hải miền trung với vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, các tỉnh namLào và đông bắc Campuchia Loại hình du lịch biển đảo ngày càng được chú trọng khaithác
Năm 2016, ngành du lịch Miền Trung gặp nhiều khó khăn do sự cố về môi trườngbiển Do du lịch là ngành kinh tế tổng hợp tính chất liên ngành liên vùng cao như vậy,một khi du lịch biển thất thu, khách không đến với sản phẩm du lịch biển miền Trung nữa,các ngành phục vụ du lịch từ nông nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ ăn uống, lưu trú đều bịảnh hưởng nghiêm trọng Vì thế Tổng cục Du lịch đã hỗ trợ các tỉnh miền Trung khôiphục các hoạt động du lịch sau sự cố môi trường biển thông qua hai hội nghị kích cầu dulịch các tỉnh Bắc Trung Bộ tổ chức tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; tổ chức chương trìnhgiới thiệu sản phẩm du lịch miền Trung tại Thái Lan, tổ chức 2 đoàn khảo sát đến các tỉnhmiền Trung để chứng kiến môi trường đã được phục hồi, an toàn cho khách du lịch nhằmthu hút khách đến với các địa phương này Bên cạnh đó Bộ đã ban hành kế hoạch toàndiện trên tất cả các lĩnh vực để hỗ trợ cho các tỉnh miền Trung, từ xây dựng sản phẩm dulịch, đào tạo nguồn nhân lực, quảng bá xúc tiến, tuyên truyền… Nhờ sự hỗ trợ, vào cuộccủa Bộ VHTTDL và các Bộ ban ngành khác đã góp phần khắc phục sự cố, tạo niềm tincho du khách đến miền Trung Qua báo cáo của 4 tỉnh miền Trung, trong 4 tháng đầunăm, lượng khách đến miền Trung tăng 2%-3% so cùng kỳ 2016 Trong đó, lượng kháchquốc tế đến Huế tăng 11-12%, các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, tỷ lệ khách nộiđịa đều cao hơn cùng kỳ năm 2016
Cho đến đầu năm nay – năm 2017, ngành du lịch miền Trung có thêm nhiều điểmsáng hơn, cụ thể các bãi biển ở Hà Tĩnh trong bốn ngày nghỉ lễ đã đón gần 380 nghìn lượtkhách, tăng 173% so cùng kỳ năm 2016, trong đó có hơn 8.000 lượt khách quốc tế.Trưởng Ban quản lý Khu du lịch Xuân Thành Phạm Anh Tuấn cho biết: Lượng khách đếnnghỉ ở Xuân Thành trong dịp vừa qua đã tăng đột biến, vượt mức dự kiến của ban quản lýcho thấy du khách không còn tâm lý e ngại như mùa du lịch năm trước Bãi biển ThạchHải của Hà Tĩnh đã đón khoảng hơn bốn nghìn khách chỉ riêng trong ngày 30-4, trong đó
có nhiều đoàn khách đến từ Hà Nội, Hải Phòng Bãi biển Thạch Bằng cũng đón hơn 20nghìn khách du lịch đến nghỉ dưỡng, vui chơi Các nhà hàng kinh doanh hải sản địa
Trang 15phương đã tiêu thụ được hàng nghìn tấn hải sản trong kỳ nghỉ lễ, chứng thực cho sự hồisinh của vùng biển và niềm tin đã trở lại đối với khách du lịch.
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đãchỉ rõ mục tiêu “đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tínhchuyên nghiệp, có hệ thống CSVTKT đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch chất lượng cao,
đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, cạnhtranh được với các nước trong khu vực và thế giới Phấn đấu đến năm 2030, đưa ViệtNam thành quốc gia có ngành du lịch phát triển” Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch dựbáo đến năm 2020, các tỉnh duyên hải miền Trung sẽ đón tiếp khoảng 4,7 triệu khác quốc
tế ( tăng 1,4 triệu so với năm 2015); 14,9 triệu khách nội địa ( tăng 3,5 triệu so với năm2015); thu nhập du lịch đạt 3.068 triệu USD (gấp 1,7 lần so với năm 2015)
Hình 7 Dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch vùng duyên hải miền Trung
Để đạt được mục tiêu đó, cần giải quyết một số hạn chế đang tồn tại, cản trở sựphát triển du lịch của vùng duyên hải miền Trung
III Những vấn đề đặt ra
Một là, điểm xuất phát kinh tế cũng như hoạt động du lịch ở các tỉnh này còn thấp
so với hai đầu của đất nước, cụ thể là nội dung và chất lượng chiến lược hoạt động khaithác tiềm năng kinh tế du lịch chưa cao, việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cònnhiều hạn chế, việc tổ chức thực hiện còn chưa đồng bộ giữa các địa phươ Có thể nói đây
là những khó khăn, thách thức lớn trong bước đường khai thác tiềm năng du lịch pháttriển kinh tế - xã hội ở các tỉnh duyên hải miền Trung hiện nay