1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế khu vực cơ cấu ngành mía đường trong khi hội nhập nền kinh tế thế giới

29 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 325,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 Hộinghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “về thực hiện có hiệuquả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị -

Trang 1

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Hội nhập kinh tế

1.1. Hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những nội hàm quan trọng của hộinhập quốc tế Hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành cáchoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mụctiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủcác luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Hội nhậpquốc tế vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính

kỷ luật cao của các chủ thể tham gia

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nướcvới kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh

tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khuvực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theonhiều mức độ Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thànhnăm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau:

i. Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau

các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế vềphạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độcắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-

Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hìnhliên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất

ii. Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm

và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể baogồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại

Trang 2

hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối vớicác nước ngoài khối Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khuvực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN(AFTA) Những năm gần đây, phần lớn các hiệp định FTA mới có phạm vilĩnh vực điều tiết rộng hơn nhiều Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định nàycòn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như dịch vụ,đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữaASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương(TPP- đang đàm phán).

iii. Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ

thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sáchthuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối Ví dụ: Nhóm ANDEAN

và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan

iv. Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và

hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quanchung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối vớiviệc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thànhmột nền sản xuất chung của cả khối Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải quagiai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trướckhi trở thành một liên minh kinh tế

v. Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất

dựa trên cơ sở một thị trường chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiệnchính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trungương thống nhất của khối) Ví dụ: EU hiện nay

Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hộinhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được

Trang 3

các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trongbối cảnh toàn cầu hóa

1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam

Sau hơn 10 năm trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mạithế giới (WTO), Việt Nam đã ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu

và đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng cònnhiều hạn chế

1.2.1. Thành công

Về thương mại, đầu tư: sau khi gia nhập WTO, hội nhập kinh tế quốc tế củaViệt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, điều này thể hiện rõ qua sự tăngtrưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Mặc dùchịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tăng trưởng tổng sảnphẩm trong nước (GDP) vẫn đạt được bình quân trên 6%/năm trong 10 năm qua(2007-2016) Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 48,6 triệu đồng, tươngđương 2.215 USD, trong khi năm 2007 chỉ là 835 USD

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên tục tăng cả về số lượng dự án vàtổng vốn Năm 2007, với 1.544 dự án, vốn FDI đăng kí đạt 21,3 tỷ USD và thựchiện được 8 tỷ USD Năm 2016, vốn đăng ký đạt 24,4 tỷ USD với 2.556 dự án vàvốn giải ngân đạt 15,8 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay Chính việc thựchiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế đã giúp hoàn thiện và làm minh bạch hệthống pháp luật, nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

- Về ký kết các hiệp định: ngày 11/01/2007, Việt Nam trở thành thành viên chínhthức thứ 150 của WTO, đây là một dấu mốc quan trọng của quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế Ngay sau đó, Việt Nam đã kí kết Hiệp định Đối tác kinh tế với Nhật Bản(VJEPA) vào năm 2008, đây là FTA song phương đầu tiên của Việt Nam Tiếp đó,Việt Nam triển khai kí kết FTA với Chile năm 2011, với Hàn Quốc năm 2015 Đặcbiệt FTA giữa Việt Nam với Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) được kí kết năm

Trang 4

2015 đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trườngnày Bên cạnh đó Việt Nam đang thúc đẩy việc hoàn thiện kí kết FTA với Liênminh Châu Âu (EU)

Về các lĩnh vực khác: hội nhập kinh tế cũng đem lại nhiều lợi ích cho ViệtNam trên khía cạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và cải cách môi trườngkinh doanh Hệ thống pháp luật liên tục được bổ sung và hoàn thiện để phù hợp vớithông lệ quốc tế, tích cực xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng và minhbạch hơn, bảo đảm sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhằm thu hút nhiều hơncác nhà đầu tư nước ngoài Đến nay đã có 57 quốc gia công nhận nền kinh tế ViệtNam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của ViệtNam Bên cạnh đó, việc mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới đãgiúp Việt Nam tiếp thu được khoa học - công nghệ mới và cách quản lý tiên tiến đểphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

(https://congthuong.vn/30-nam-doi-moi-va-dinh-vi-kinh-te-viet-nam-62954.html?

fbclid=IwAR2Vn-legnfHVIgYIA3X74IqY8Hd1SJDVJuGBRV20RWeqgJoXT1UfbHUuwU)

Trang 5

1.2.2. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực, hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta vẫncòn nhiều vấn đề hạn chế và tồn tại Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 Hộinghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “về thực hiện có hiệuquả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bốicảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” đã chỉ ra nhữnghạn chế, cụ thể:

Một là, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

về hội nhập kinh tế quốc tế có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ vàthực hiện nghiêm túc Hội nhập kinh tế quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cậnphiến diện, ngắn hạn và cục bộ; do đó, chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứngphó hữu hiệu với các thách thức

Hai là, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước,

nhất là đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, cơ chế, chínhsách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với quá trìnhnâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo

vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hoá dân tộc

Ba là, hội nhập kinh tế quốc tế chưa được phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với

hội nhập trong các lĩnh vực khác Chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiếnlược, lâu dài với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng Việc ứng phó với nhữngbiến động và xử lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động,lúng túng và chưa đồng bộ

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại choViệt Nam những kết quả đáng khích lệ, đóng góp cho công cuộc đổi mới đất nước

Trang 6

Tuy nhiên quá trình này cũng còn nhiều hạn chế Vì vậy trong thời gian tới, để hộinhập kinh tế quốc tế hiệu quả và bền vững, Việt Nam cần nâng cao hiệu quả hoạtđộng đối ngoại; chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình; tăngcường hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; nâng cao nội lực, tận dụng tốt những

cơ hội

2. Cơ cấu ngành kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế và mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành thể hiện ở vị trí và tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế Cơ cấungành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế

và trình độ phát triển chung của lực lượng sản xuất Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển

Có rất nhiều cách phân loại cơ cấu ngành kinh tế Để thống nhất tiêu chuẩnphân loại ngành giữa các nước, Liên hiệp quốc đã ban hành “Hướng dẫn phân loạingành theo tiêu chuẩn quốc tế đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế” Tiêu chuẩnphân loại ngành của Liên hiệp quốc có thể khái quát thành ba nhóm ngành lớn:Ngành thứ I: Nông – lâm – ngư nghiệp

Ngành thứ II: Công nghiệp, xây dựng

Ngành thứ III: Thương mại và dịch vụ

Việt Nam cũng phân loại ngành kinh tế theo cách trên Mỗi nhóm ngành này

có các đặc điểm và vai trò riêng Ba ngành gộp này bao gồm 20 ngành cấp I nhưnông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến,sản xuất và phân phối điện nước, xây dựng, thương nghiệp… Các ngành cấp I nàylại được chia nhỏ thành các ngành cấp II như trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nôngnghiệp… Các ngành cấp II lại được phân nhỏ thành các ngành sản phẩm

Trang 7

3. Tái cơ cấu ngành

Tái cơ cấu ngành về thực chất là quá trình sắp xếp lại các yếu tố liên quan đếnchuỗi giá trị các ngành hàng từ khâu quy hoạch, cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất,chuỗi cung ứng dịch vụ sản xuất, thu hoạch, thu mua, chế biến, bảo quản và tiêuthụ

Trên phương diện khác, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một quá trình cáchmạng trong sản xuất nông nghiệp, tạo ra sự đổi mới về chất lượng theo hướngchuyên sâu, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

Nhu cầu tái cơ cấu trở nên cấp bách khi hiện trạng của các tổ chức đang gặpnhiều vấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến tổ chức hoạt động không hiệu quả;thậm chí trì trệ, đứng trước nguy cơ tan rã, phá sản Nhiều nguyên do là do vấn đề 7

cơ cấu sai, không hợp lý, kém hiệu quả Chính vì vậy, việc tái cơ cấu được đặt ra;thậm chí là cấp bách nhất Thể hiện cụ thể là:

1 Tổ chức không xác định nổi chiến lược và kế hoạch

2 Đội ngũ lãnh đạo của tổ chức làm việc không hiệu quả Các tố chất, baogồm tính cách, hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân của đội ngũ lãnh đạo trong một tổchức đóng một vai trò quan trọng Nếu sai, kém sẽ kìm hãm sự phát triển của tổchức

3 Cơ cấu tài chính chưa phù hợp, chưa chuẩn mực và thiếu các hệ thống,công cụ kiểm soát cần thiết Đây là một lý do mà nhiều tổ chức, đặc biệt làdoanh nghiệp hiện nay cần tái cơ cấu nguồn tài chính để đảm bảo cho doanhnghiệp hoạt động một cách tốt nhất

4 Quản trị nguồn nhân sự yếu kém Có thể nói con người là một yếu tố cótính chất quyết định tới sự thành công của tổ chức và doanh nghiệp và nếu sựyếu kém nảy sinh từ vấn đề này thì cần phải được điều chỉnh kịp thời và phải cóđịnh hướng mang tính lâu dài

Trang 8

5 Sự phối hợp hoạt động trong tổ chức không hiệu quả do cơ cấu chưa hợp

lý Một cơ cấu tổ chức được thiết kế tốt sẽ có khả năng cho phép doanh nghiệp

sử dụng các thông tin từ các bộ phận một cách hiệu quả nhất, và từ đó giúp chohoạt động phối hợp giữa các đơn vị được chặt chẽ và lãnh đạo điều hành tốthơn

II. CƠ CẤU NGÀNH MÍA ĐƯỜNG KHI HỘI NHẬP KINH TẾ Ở VIỆT NAM

1. Ngành mía đường trước khi bước vào hội nhập nền kinh tế

1.1. Những thách thức lớn

Hiệp hội Mía đường Việt Nam thống kê, niên vụ 2016 - 2017, diện tích míađạt 268.300ha, năng suất mía tăng lên 64.8 tấn/ha nhưng vẫn còn khá thấp so vớicác nước trên thế giới Ngoài ra, tình trạng đường nhập lậu diễn biến phức tạp đãtác động không nhỏ đến giá đường, gây khó khăn cho các doanh nghiệp mía đườngnội địa

Hiện nay, ngành mía đường Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn do sức

ép từ các nước ASEAN, đặc biệt là Thái Lan do thuế nhập khẩu về 0% được ápdụng từ năm 2018 Đa số doanh nghiệp mía đường trong nước chưa chủ động đượcvùng nguyên liệu; cơ giới hóa trong canh tác mía còn hạn chế; chưa có chiến lược

đa dạng hóa để nâng cao hiệu quả từ các sản phẩm cạnh và sau đường… Thựctrạng này làm giảm lợi thế cạnh tranh của ngành đường Việt Nam trong bối cảnhhội nhập

Hai mươi năm qua, mặc dù ngành mía đường Việt Nam đã đạt được sựchuyển mình mạnh mẽ và ấn tượng về lượng, từ 640.000 tấn đường (1997) đã đạt1.237.000 tấn đường (2017) nhưng năng lực cạnh tranh chưa thực sự có nhiều cải

Trang 9

tiến về chất khi các chỉ tiêu gần như thấp hơn so với mức trung bình của ngànhđường thế giới và Thái Lan.

Sau khi hoàn thành mục tiêu một triệu tấn đường, ngành mía đường ViệtNam gần như đang giẫm chân tại chỗ vì thiếu cú hích chính sách và định hướngcũng như cơ chế hỗ trợ cần thiết từ Chính phủ cho giai đoạn hội nhập AFTA Chínhsách trực tiếp hay gián tiếp giành cho ngành mía đường hiện chưa thực sự đượcquan tâm đúng mức, chưa đủ mạnh, chưa đủ chiều sâu và chiến lược dài hạn; hiệnvẫn duy trì cách thức hỗ trợ theo kiểu “cho con cá” (phân bổ/đấu thầu hạn ngạch)thay vì “trao cần câu” thông qua cơ chế chính sách như chính phủ Thái Lan vàPhilippines đã thực hiện

Ở góc độ doanh nghiệp, đa số nhà máy đường vẫn chưa thực sự thoát khỏilối tư duy với tầm nhìn ngắn hạn và hoạt động manh mún ăn đong lợi nhuận từngnăm thông qua việc tranh giành mua mía, biến cuộc chiến nguyên liệu trở nên khốcliệt để cùng nhau chìm sâu hơn xuống đáy năng lực cạnh tranh giá thành sản xuất.Các nhà máy đường có tâm thế bị động trông chờ các biến động tích cực kháchquan về thời tiết hay giá đường thị trường thế giới thay vì chủ động nâng cao sứccạnh tranh nội tại Do đó, nếu các nhà máy đường không chủ động hợp tác cùngnhau, hành động mạnh mẽ theo chiều sâu, tiếp tục trông chờ sự “ân hạn trì hoãnthực thi ATIGA” thì chỉ kéo dài thời gian duy trì trạng thái lay lắt trước khi bị đánhgục bởi cơn lốc cạnh tranh của đường Thái Lan lúc mở cửa chính thức

Ở góc độ Chính phủ, đại diện là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,nếu không sớm thay đổi quan điểm về mức độ trọng yếu, chính trị nhạy cảm và tácđộng to lớn của ngành mía đường Việt Nam và không sớm triển khai chương trìnhtái cấu trúc ngành mía đường một cách đồng bộ hóa, mạnh mẽ thì ngành mía đườngViệt Nam đứng trước rủi ro tiềm ẩn rất lớn về sự tụt hậu ngày càng lớn và bị tổnthất nghiêm trọng ngay khi mở cửa thị trường Khi đó, sẽ có một tỷ lệ không nhỏ

Trang 10

các nhà máy mía đường Việt Nam đóng cửa và tương ứng hơn 3,5-4 triệu lao độngảnh hưởng sinh kế, tạo nên nguy cơ sự xáo động và bất ổn về kinh tế xã hội tạinhững vùng nguyên liệu mía.

Tuy nhiên, thách thức cũng chính là cơ hội Thực tế cho thấy một số sảnphẩm nội địa tốt với giá thành hợp lý, ngang bằng hoặc rẻ hơn so với sản phẩmngoại nhập vẫn luôn thu hút khách hàng và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.Các doanh nghiệp sẽ làm được điều này khi quyết tâm nâng cao năng lực sản xuấtvận hành và chiến lược kinh doanh để mạnh như đối thủ

1.2. Cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh

Trước thực trạng khó khăn chung của ngành đường trong nước, ngành mía đường của Tập đoàn TTC cũng đối diện với không ít thách thức về sản xuất, kinh doanh Trong bối cảnh đó, từ nhiều năm nay, TTC đã triển khai đồng bộ các giải pháp về nông nghiệp, sản xuất, thương mại nhằm tiết giảm chi phí, hạ giá thành sảnphẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới sự phát triển bền vững

Với phương châm “Nông dân có lời - Nhà máy có lãi”, TTC tập trung đầu tưnhân rộng mô hình cánh đồng mía lớn, xây dựng các mô hình cánh đồng liên kết,hợp tác xã hiện đại, cơ giới hóa sản xuất… tạo điều kiện cho các hộ nông dân nhỏ

lẻ cùng hợp tác

Theo đó, TTC hỗ trợ các hộ nông dân áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuậttiến bộ vào canh tác, hỗ trợ vật tư nông nghiệp, thử nghiệm các loại giống mới,thực hiện cơ giới hóa đồng bộ từ khâu làm đất, bón phân đến thu hoạch góp phầnmang lại hiệu quả thiết thực, tiết kiệm chi phí đầu tư, nâng cao chất lượng mía, tiếtgiảm công lao động, và hạ giá thành sản xuất Cách làm này phù hợp với tiến trìnhhội nhập, hạn chế tối đa đất bỏ hoang do mất mùa, thiếu nước

Trang 11

Thời gian tới, ngành đường TTC đặt niềm tin vào sự tăng trưởng bền vữngdựa trên ưu thế về nguồn đất, các hoạt động kinh doanh cạnh đường, sau đường vàkinh doanh lõi Với việc sở hữu khu công nghiệp Tân Kim rộng 17,83ha, TTC dựkiến hoàn tất thủ tục chuyển nhượng trong niên độ 2017 - 2018, giá trị thu hồi từviệc sang nhượng này phục vụ cho nhu cầu vốn dài hạn đối với hoạt động đầu tưđáp ứng theo chiến lược phát triển của ngành đường TTC đến năm 2020.

Một lợi thế khác của ngành đường TTC chính là việc phát triển dự án điệnmặt trời, trong đó có trang trại điện mặt trời tại Cụm công nghiệp chế biến phía Tâysông Vàm Cỏ thuộc xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh thuộc Công

ty TNHH MTV Biên Hòa Thành Long

Dự án có công suất dự kiến 30MW, tổng mức đầu tư được duyệt là 621 tỷđồng mang lại doanh thu bình quân hàng năm 100 tỷ đồng (đơn giá 9.35cents/Kwh) Dự án được dự báo sẽ có lãi ngay năm đầu tiên và từ năm 2019, lợinhuận đạt khoảng 40 tỷ đồng/năm và nếu khoản đầu tư này được chuyển nhượng sẽmang lại một khoản lợi nhuận khá lớn cho TTC

Bên cạnh đó, diện tích đất sở hữu và thuê dài hạn của ngành đường TTC đạtkhoảng 7.500ha, tổng diện tích đầu tư vùng nguyên liệu vụ 2017 - 2018 đạt52.300ha giúp ngành đường TTC tự tin nâng cao vị thế cạnh tranh trong bối cảnhhội nhập

Cùng với triển vọng tiêu thụ đường ở các quý tiếp theo sẽ khả quan hơn, ápdụng mức hạn ngạch nhập khẩu đường về, các nhà máy vào vụ sản xuất mới nỗ lựcxây dựng khung giá thành sản xuất hiệu quả, ngành đường trong nước nói chung vàngành đường TTC nói riêng kỳ vọng có cùng những bước tiến đột phá

2. Ngành mía đường khi bước vào giai đoạn hội nhập nền kinh tế.

Trang 12

2.1. Thực trạng của ngành mía đường khi hội nhập với nền kinh tế thế giới

Theo dự kiến, cuối năm 2015, khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN hình thành,Việt Nam sẽ áp dụng mức thuế suất ưu đãi trong hạn ngạch 5% đối với cả đườngtrắng và đường thô cho các thành viên ASEAN

Ðến năm 2018, sẽ xóa bỏ bảo hộ đối với mặt hàng đường, đồng nghĩa vớiviệc tự do hóa nhập khẩu đường của các nước ASEAN Trong bối cảnh ngành sảnxuất mía đường trong nước còn nhiều hạn chế, bất cập, đời sống người nông dântrồng mía bấp bênh thì những áp lực hội nhập kinh tế quốc tế càng đòi hỏi ngànhmía đường phải cơ cấu lại toàn diện Theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA),tính đến đầu tháng 5/2017, lượng đường tồn kho của Việt Nam ở mức cao kỷ lụctrong lịch sử Nguyên nhân khiến đường tồn kho tăng cao chủ yếu do sức tiêu thụtrong nước bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đường gian lận thương mại đang hoành hành

Mặt khác, theo lộ trình đến năm 2018, thuế xuất nhập khẩu mía đường từcác nước trong khu vực ASEAN sẽ về 0% thay vì 30% như hiện nay Đến thời điểmnày, lượng đường từ các quốc gia ASEAN sẽ tạo ra những sức ép không nhỏ đốivới ngành mía đường Việt Nam Thời gian qua, một số doanh nghiệp ngành míađường cũng đã chuẩn bị tích cực cho việc hội nhập, tuy nhiên, quá trình này cònkhông ít khó khăn, vướng mắc, dù mía đường là một trong những ngành nôngnghiệp ngay từ đầu đã gắn sản xuất với chế biến, nông nghiệp với công nghiệp,hình thành chuỗi giá trị trong tổ chức sản xuất

Đến nay, cả nước có khoảng 41 nhà máy đường với vùng nguyên liệu míakhoảng 300 ngàn hecta, hệ thống cơ sở hạ tầng khá Mỗi nhà máy có từng thế mạnhkhác nhau về thương hiệu, thị phần, công nghệ sản xuất, chất lượng hay về vùngnguyên liệu, giá thành… Tuy nhiên, vẫn có 27/41 nhà máy công suất nhỏ hơn 3.000tấn mía/ngày, 32/41 nhà máy không có hệ thống sản xuất điện đồng phát, 28/41 nhàmáy đường không có sản phẩm phụ sau đường và 31/41 nhà máy đường có giá

Trang 13

thành sản xuất đường ở mức trên 12.000đ/kg…

Dù đã hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, song sản xuất quy mô hộvẫn là chủ yếu với diện tích đất trồng mía bình quân của từng hộ rất thấp, điển hìnhnhư Trung du miền núi phía Bắc 0,44 ha/hộ; Bắc Trung bộ 0,73 ha/hộ; Nam Trung

bộ 0,34 ha/hộ…

Do chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm cao, năng suất, chất lượng mía thấp

so với bình quân chung của thế giới cũng như các nước trong khu vực (năng suấtbình quân 64 tấn/ha, chữ đường 9,4CCS, trong khi thế giới là 70 tấn/ha và 10CCS).Trong bối cảnh này, phải tái cơ cấu lại ngành sản xuất mía đường, trước hết cầnphải tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng tập trung đất đai, tạo ra cánh đồnglớn, tổ chức sản xuất giống (3 cấp) cung cấp cho nông dân trồng mía, cải tiến, ápdụng mô hình canh tác (từ làm đất, trồng chăm sóc, bón phân, …), cơ giới hóađồng bộ từ làm đất đến thu hoạch để năng suất, chất lượng cao, giá thành hạ, nângcao thu nhập cho người trồng mía, tăng khả năng cạnh tranh với cây trồng khác

Giá thu mua mía ở nước ta niên vụ 2014-2015 khoảng 850 đến 900 nghìnđồng/tấn Trong khi đó, giá mía của Thái Lan chỉ khoảng 600 nghìn đồng/tấn Mặc

dù nguyên liệu ở Việt Nam được mua ở mức giá cao hơn so với nhiều quốc giakhác nhưng trên thực tế ở nhiều địa phương, người trồng mía không có lãi Quátrình canh tác thủ công, lạc hậu, nguồn giống chưa phù hợp với thổ nhưỡng đã

"ngốn" hết lợi nhuận của người trồng mía Theo thống kê của Hiệp hội Mía đườngViệt Nam, khoảng 80% số diện tích đất canh tác mía ở nước ta chủ yếu có quy mônhỏ lẻ, phân tán Trong đó, phần lớn đất canh tác là đất bạc màu, đồi dốc (miềntrung và miền bắc) hoặc bị ngập nước (đồng bằng sông Cửu Long) Ðiều này, gâykhó khăn trong công tác cơ giới hóa sản xuất cũng như điều tiết thủy lợi Thực tế,vấn đề cơ giới hóa trồng mía ở nước ta mới đạt từ 10 đến 20%, trong đó, chủ yếu là

Trang 14

làm đất, các khâu còn lại phần lớn dùng sức người.

2.2. Hướng đi mới cho ngành đường

Quyền Cục trưởng, Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Quốc Toản cho biết, dự kiến niên vụ2018-2019 lượng đường cung cấp trên thị trường cả nước là trên 2,2 triệu tấn.Trong đó, lượng đường sản xuất trong vụ là trên 1,5 triệu tấn, đường tồn kho đến15/8 là trên 600.000 tấn, nhập khẩu năm 2018 (theo cam kết với WTO) dự kiến94.000 tấn; trong khi nhu cầu tiêu thụ trong nước chỉ 1,6 triệu tấn, lượng đường cònthừa trên 576.000 tấn

Dự báo cung cầu cho thấy, niên vụ tới nguồn cung đường trong nước còntiếp tục dư thừa, trong khi nguồn cung đường trên thế giới vẫn còn thừa gần 7 triệutấn, vì vậy việc khôi phục của giá đường có thể sẽ chậm, trước sức ép cạnh tranhtrong hội nhập, các nhà máy đường cần có nhìn nhận, đánh giá chính xác thị trường

để có kế hoạch sản xuất, tiêu thụ hợp lý trong thời gian tới

Trước mắt, các nhà máy đường cần rà soát, xây dựng, phát triển các vùngnguyên liệu mía theo hướng phát huy lợi thế vùng tương ứng với hình thành cáctrung tâm chế biến công nghiệp để tạo điều kiện xây dựng, phát triển các vùng sảnxuất mía nguyên liệu ở địa phương

Bên cạnh đó, cần xây dựng các vùng nguyên liệu theo hướng hợp tác, liênkết các nhà máy để hình thành hệ thống chế biến đường thô và đường tinh luyện,kết hợp với việc phát triển điện thương phẩm từ bã mía, sản xuất cồn

Phải giải quyết được khâu tiêu thụ, phải làm được việc phân công lại tráchnhiệm và quyền lợi trong chuỗi phân phối để tiết giảm chi phí (hiện sản phẩm mía

Ngày đăng: 18/08/2020, 22:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w