2 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊNTHIÊN NHIÊN TỈNH BẾN TRE 2.1 Vị trí địa lý Bến Tre là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.360 km2, được h
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Thông qua môn học Kinh tế Khu vực, nhóm tác giả đã có được cái nhìn toàn diện vàbao quát hơn về ảnh hưởng của vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đến chính sách phát triểnkinh tế của một khu vực, một vùng miền cũng như cả quốc gia
Nhận thấy, Việt Nam là một quốc gia đi lên từ nông nghiệp và vẫn luôn chú trọng,đầu tư cho ngành này do các sản phẩm mũi nhọn được xuất khẩu phần lớn là nông sản
Và nói đến nông nghiệp ở Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùngkinh tế nông nghiệp lớn nhất cả nước Trong đó, nhóm tác giả chọn tỉnh Bến Tre là đốitượng cho bài luận này dựa trên sự hiểu biết của các thành viên trong nhóm nói chungcũng như mức độ tiếp cận nguồn thông tin
Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu các lý thuyết về vị trí địa lý, điềukiện tự nhiên tỉnh Bến Tre
• Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm: tìm kiếm, quan sát các nguồn số liệu đểphân tích
Trang 22 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN TỈNH BẾN TRE
2.1 Vị trí địa lý
Bến Tre là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.360
km2, được hợp thành bởi cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông CổChiên) Bến Tre sở hữu một vị trí vô cùng thuận lợi, phía Bắc giáp Tiền Giang, phía tây
và tây nam giáp Vĩnh Long, phía nam giáp Trà Vinh và sở hữu đường bờ biển dài 65km
Vị trí này thuận tiện cho giao thương giữa Bến Tre và các tỉnh của đồng bằng Sông CửuLong và các quốc gia khác, đặc biệt là các hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nôngnghiệp Những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa BaLai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận Campuchia;
Trang 3cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt khoảng 6.000 km đan vào nhau chở nặng phù sa chảykhắp ba dải cù lao là một lợi thế của Bến Tre trong phát triển giao thông thủy, hệ thốngthủy lợi, phát triển nông nghiệp, trao đổi hàng hoá với các tỉnh lân cận Từ Bến Tre, tàu bè
có thể đến thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Ngược lại, tàu bè từ thành phố
Hồ Chí Minh về các tỉnh miền Tây đều phải qua Bến Tre
2.2 Điều kiện tự nhiên
2.2.1 Khí hậu
Tỉnh Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 đến 2.300 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm
từ 260C – 270C Với vị trí nằm tiếp giáp biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng củabão lũ, khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm… Đây là điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư,sản xuất, kinh doanh và du lịch của tỉnh
2.2.2 Địa hình
Bến Tre là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao
từ 1 – 2 m Ở vùng đất giồng, cục bộ có nơi cao hơn địa hình chung quanh từ 3 – 5 m, rảirác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừngchồi và những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông Bốn bề đều có sông nướcbao bọc Hệ thống kênh rạch chằng chịt, ăn thông với nhau, nối liền với các sônglớn, không chỉ thuận cho giao thông thủy, mà còn tạo nên nguồn tài nguyên nước dồi dàoquanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
2.3 Tài nguyên thiên nhiên
2.3.1 Tài nguyên đất
Bến Tre là tỉnh có nguồn tài nguyên đất phong phú, với nhiều loại đất như: đất cát,đất phù sa, đất phèn, đất mặn Nhờ có tài nguyên đất đa dạng, sản xuất nông nghiệp củatỉnh ngày càng mở rộng, nhu cầu thâm canh, tăng vụ ngày càng được chú trọng Nhữngkết quả khảo sát chi tiết cũng đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu
Trang 4biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này Trước đây, Bến Tre vốn là những cùlao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánhsông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cùlao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay Lượng phù sa lớn vô cùng thuận lợi chophát triển lúa nước
Hơn thế nữa, bằng những nổ lực của mình, nhân dân Bến Tre cũng như cả vùngđồng bằng Nam Bộ đã tiến hành nhiều công trình tháu chua rửa mặn, cải tạo đất đai nhằmkhai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này có hiệu quả hơn
2.3.2 Tài nguyên nước
Như đã đề cập ở trên, tỉnh Bến Tre có 4 con sông lớn chảy qua là: Mỹ Tho, Ba Lai,Hàm Luông và Cổ Chiên Những con sông này giữ một vai trò quan trọng trong đời sốngkinh tế, văn hóa của nhân dân trong tỉnh như: cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và nôngnghiệp, góp phần làm tươi đẹp cảnh quan, điều hòa khí hậu Hệ thống sông, rạch trongtỉnh còn là điều kiện thuận lợi cho Bến Tre phát triển mạng lưới giao thông đường thủy vàthủy lợi
2.3.3 Tài nguyên động vật, thực vật
Nằm ở giữa môi trường sông và biển, chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa nhiệt đớinên cảnh quan tự nhiên của Bến Tre mang đặc trưng của miền địa lý động vật, thực vậtmiền Tây Nam Bộ Những con sông lớn và vùng biển Đông ở Bến Tre có nhiều loại thủysản như: cá vược, cá dứa, cá bạc má, cá thiều, cá mối, cá cơm, nghêu, cua biển và tôm,…đây là nguồn nguyên liệu vô cùng phong phú cho ngành công nghiệp chế biến thủy sảncủa tỉnh phát triển Là tỉnh có 3 huyện giáp biển: Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú, rừngphòng hộ ở các huyện đang được bảo vệ nhằm ổn định vành đai rừng phòng hộ ven biển,thông qua việc trồng mới và quản lý lâm sản xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Năm 2010,Bến Tre đã trồng mới 72 ha rừng, chăm sóc 336 ha và bảo vệ 3.461 ha
Trang 53 ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ ĐỊA LÝ ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP TỈNH BẾN TRE
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã đem lại những ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cựcđến phát triển Nông nghiệp tỉnh Bến Tre, đặc biệt ở 3 lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi vàlâm nghiệp
3.1 Tích cực
Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năngđất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm nghiệpđồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao
3.1.1 Đối với trồng trọt
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hìnhthành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông” và chính quá trình đó đã giúpbồi tụ một lượng đất phù sa vô cùng dồi dào
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh Bến Tre phát triển trồng lúa nước Các loạiđất của Bến Tre chủ yếu là đất phù sa và đất phèn chưa bị hóa chua (3286 ha đất), phùhợp cho cây lúa phát triển Đồng thời, Bến Tre có hệ thống kênh rạch chằng chịt khoảng6.000 km đan vào nhau chở nặng phù sa chảy khắp ba dải cù lao, cung cấp lượng nướcđầy đủ cho việc thâm canh lúa nước Với đặc trưng sông nước, giao thông đường thủy ởBến Tre cũng thuận lợi cho việc vận chuyển các giống lúa cũng như gạo đến các cảngThành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận
Dù có lợi thế về mặt trồng lúa nhưng thế mạnh của tỉnh Bến Tre vẫn là kinh tế vườn.Nhờ các đặc điểm về vị trí, khí hậu và tài nguyên không chỉ ảnh hưởng tích cực đến pháttriển trồng lúa mà còn các loại cây ăn quả Ngoài lúa, các loại cây trồng chủ lực của tỉnhBến Tre là: dừa, bưởi da xanh, chôm chôm và nhãn
Trang 6nhận đẫm phù sa của dòng Mê Công trước khi chảy ra biển cả, nhờ đó cây dừa cũng xanh
tốt hơn, năng suất cao hơn các vùng khác Ba huyện có diện tích dừa lớn ở Bến Tre làGiồng Trôm, Châu Thành và Mỏ Cày (khi chưa tách huyện, nay là Mỏ Cày Nam và MỏCày Bắc) Vùng đất này có lắm sông, nhiều rạch và độ mặn dao động theo mùa nên việclựa chọn cây dừa, một loại cây đặc biệt thích nghi với vùng lợ, là một lựa chọn rất phùhợp với môi trường nơi đây Cả nước hiện có khoảng 200.000 ha trồng dừa thì Bến Tre làtỉnh dẫn đầu trên cả hai mặt: diện tích (khoảng 72.022 ha) và sản lượng (612.5 triệutrái/năm), tăng 7.2% và năng suất tăng 6.9% (số liệu năm 2018)
Bên cạnh đó, Bến Tre có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu các mặt hàng từ dừa nhưsữa dừa, cơm dừa, nước cốt dừa đóng lon, Theo báo cáo, năm 2011 các sản phẩm chếbiến từ dừa Bến Tre xuất khẩu sang 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, đến năm 2015 tăng lêncon số 105; trong đó thị trường châu Á chiếm 68,85% kim ngạch; thị trường Nhật Bảndẫn đầu với 48,06% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh và giảm phụ thuộc vào thịtrường Trung Quốc
Trang 7Nguồn: Sở công thương Bến Tre
Bảng 1 Tình hình xuất khẩu các sản phẩm dừa trong tháng 12/2017 tỉnh Bến Tre
3.1.1.2 Bười da xanh
Ngoài ra, tỉnh Bến Tre cũng có tiềm năng phát triển bưởi da xanh vô cùng lớn Với
ưu thế khí hậu nhiệt đới ven biển và nhiều cửa sông cuối nguồn bồi đắp phù sa cho ba dải
cù lao, Bến Tre hình thành nên một vùng bưởi da xanh xanh tốt, giúp cho các nhà vườnnâng cao hiệu quả Bến Tre có nhiều cơ sở cung cấp giống bưởi da xanh chất lượng cao,thuần chủng Từ điều kiện thời tiết, khí hậu không cực đoan, nông dân có thể điều chỉnhcho cây ra hoa và cho trái rải vụ quanh năm phục vụ cho thị trường tiêu dùng Đây là lợi
Trang 8thế vượt trội mà không phải địa phương nào cũng làm được Về liên kết tiêu thụ sảnphẩm, đa phần sản lượng bưởi da xanh của tỉnh được tiêu thụ qua hệ thống thương lái,còn một phần sản lượng được nông dân ký hợp đồng bán cho cơ sở thu mua thông qua tổhợp tác Với vị trí thuận lợi như vậy thì việc vận chuyển bưởi da xanh đến các tỉnh, thànhphố khác, đặc biệt Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như xuất khẩu sang các nước trongASEAN là dễ dàng
Một trong những cây ăn quả phổ biến ở Bến Tre là chôm chôm Bến Tre là mộttrong hai tỉnh có quy mô trồng chôm chôm lớn nhất Đồng bằng Sông Cửu Long Toàn bộdiện tích chôm chôm của Bến Tre tập trung tại 3 huyện của vùng quy hoạch (Châu Thành,Chợ Lách và một ít ở Mỏ Cày Bắc) Năng suất chôm chôm Bến Tre cao hơn năng suấtbình quân toàn vùng ĐBSCL 7,1% (187 tạ/ha / 175,3 tạ/ha), chất lượng, mùi vị trái chômchôm Bến Tre ngon hơn, hấp dẫn hơn so với các địa phương khác do điều kiện tự nhiên,thổ nhưỡng của Bến Tre quy định nên
3.1.1.3 Chôm chôm
Chôm chôm được trồng trên nhóm đất thuộc loại tốt nhất tỉnh, có thành phần cơ giới
từ thịt nhẹ đến hơi nặng Do được phù sa hàng năm bồi tụ nên khá màu mỡ
Ngày nay, bên cạnh các cây trồng khác thì Bến Tre đang tích cực chuyển sang trồnggiống nhãn Idor Cuối năm 2016, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre xây dựng mô hình
“Chuyển đổi giống nhãn tiêu da bò sang giống nhãn Idor để tăng hiệu quả trong sản xuất”với diện tích 10ha, 30 hộ nông dân tham gia ở các xã Long Hòa, Châu Hưng, Thới Lai(huyện Bình Đại)
Việc phát triển mở rộng diện tích nhãn Idor sẽ duy trì và phát triển vùng nhãn hànghóa, giảm rủi ro và nâng cao thu nhập cho nông dân Hiện, một số hộ trong mô hình đãđẩy mạnh chuyển đổi diện tích còn lại sang trồng nhãn
3.1.2 Đối với chăn nuôi
Nghề chăn nuôi ở Bến Tre đang chuyển dịch nhanh từ hệ thống chăn nuôi nhỏ lẻsang nông hộ chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung với quy mô vừa và lớn, đáp ứngmục tiêu nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, từng bước nâng cao thu nhập vàcải thiện đời sống cư dân nông thôn, góp phần thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông
Trang 9nghiệp trong tỉnh Diện tích đất rộng, khí hậu thuận lợi để phát triển chăn nuôi các vậtnuôi như trâu, bò, lợn gà Tổng số trang trại cho chăn nuôi của tỉnh Bến Tre lên tới 701trang trại năm 2017 và có xu hướng ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, các sản phẩm từ chăn nuôi của Bến Tre như thịt lợn, thịt bò,thịt vịt, thịtgà, đều được cung cấp ra thị trường với giá tương đối cao Do thời tiết Bến Tre thuậnlợi, dịch bệnh không diễn biến phức tạp, vật nuôi phát triển khỏe mạnh, tỉ lệ xuất chuồngcủa vật nuôi cao Tổng đàn bò toàn tỉnh là 209.650 con (2018), tăng 1,65% so với cùng kìnăm trước
Trang 103.1.3 Đối với đánh bắt thủy hải sản
Bến Tre có đường bờ biển dài 65 km, hệ thống sông ngòi dày đặc, thuận lợi cho nuôitrồng và đánh bắt thủy hải sản Đó là lí do vì sao trong những năm qua, tốc độ tăng trưởngngành thủy sản của tỉnh Bến Tre luôn ở mức cao Đến nay, toàn tỉnh có 3.975 tàu cá đăng
ký, trong đó tàu đánh bắt xa bờ chiếm 52,2%, sản lượng khai thác hằng năm trên 200.000tấn
Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, tổng diện tích nuôi trồng khoảng46.000 ha Trong đó, tôm biển 35.000 ha, cá tra thâm canh 770 ha, nhuyễn thể 5.200 ha Đặc biệt, trên địa bàn tỉnh có hơn 600 ha nuôi tôm hai giai đoạn với năng suất bình quân
từ 60 đến 70 tấn/ha mặt nước/vụ (mỗi năm nuôi ba vụ) Toàn tỉnh có 13 nhà máy chế biếnthủy sản phục vụ chế viến xuất khẩu với công suất thiết kế 150.000 tấn nhưng chủ yếu sảnxuất, chế biến các sản phẩm từ cá tra, nghêu (chưa có nhà máy chế biến tôm) Thị trườngxuất khẩu chủ yếu là: Nhật, Mỹ, EU, các nước Trung và Nam Mỹ, châu Á…
Nguồn: Tổng cục thống kê
Bảng 3 Sản lượng thủy sản của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2014-2017
Sản lượng thủy sản tỉnh Bến Tre tương đối cao trong khu vực, khoảng 45,2 tấn(2017), đứng thứ 4 trong cả khu vực
3.1.4 Đối với lâm nghiệp
Hiện nay, tỉnh Bến Tre có diện tích rừng ngập mặn là 3.900 ha, trong đó rừng tựnhiên 1.000 ha, rừng trồng 2.900 ha gồm các loại cây chủ yếu như đước, đưng, bần, mắm,phi lao… được phân bổ ở 3 huyện Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú Tuy diện tích khôngnhiều nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ bảo vệ môi trường Ngoài
ra, đai rừng ngập mặn của tỉnh đã phát huy hiệu quả chức năng phòng chống xói lở bờbiển, cố định đất ở các bãi bồi, góp phần đẩy nhanh tốc độ bồi tụ, mở rộng đất sản xuất,đặc biệt là bảo vệ sản xuất nông nghiệp, thủy sản và bền vững ở khu vực vùng ven biểncủa tỉnh
Diện tích rừng ngập mặn ở Bến Tre ngoài việc cung cấp nguồn gỗ, củi và đặc biệt làchức năng phòng hộ chống xói lở, duy trì cân bằng sinh thái ở vùng cửa sông, còn có tác
Trang 11dụng bảo vệ tính đa dạng sinh học, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất lâmnghiệp, nuôi trồng thủy sản, cung cấp nguồn giống động thực vật và an ninh quốc phòngvùng ven biển
Trang 123.2 Tiêu cực
Bên cạnh những thuận lợi mà vị trí địa lý đem lại cho tỉnh Bến Tre, những tháchthức từ đó cũng không thể bỏ qua Để đưa nền kinh tế nông nghiệp tỉnh Bến Tre phát triểnlâu dài, bền vững thì chính phủ cũng như các cơ quan chức năng tỉnh cần có những biệnpháp phù hợp để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực này
3.2.1 Đối với trồng trọt
Tuy có lượng đất phù sa màu mỡ nhưng lượng đất phèn, đất mặn của tỉnh Bến Trechiếm một lượng tương đối lớn Một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại,Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừaphèn, cây trồng càng khó sinh trưởng Đất cát vốn là loại đất chủ yếu và phù hợp để trồnglúa Tuy nhiên, dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người quahàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiệnnay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịtnhẹ dày từ 30 đến 50 cm Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao sovới các loại đất khác Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầngmặt thường rất khô Do đó, ở Bến Tre lúa không phải là cây trồng chủ yếu, sản lượng lúacủa tỉnh tương đối thấp so với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long
Nguồn: Tổng cục thống kê
Bảng 4 Sản lượng lúa cả năm của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2014-2017
Ngoài ra, vào mùa mưa, cùng với lượng sông ngòi chằng chịt, nước lũ gây ảnhhưởng vô cùng nghiêm trọng trong việc trồng lúa và cây ăn quả Việc này làm giảm sảnlượng của ngành nông sản và suy giảm chất lượng của các sản phẩm để xuất khẩu
3.2.2 Đối với chăn nuôi
Theo dự báo của cơ quan khí tượng thủy văn, trong thời điểm hiện nay Bến Tre làmột trong những địa bàn chịu ảnh hưởng năng nề của tình trạng xâm nhập mặn Nướcmặn đã xâm nhập vào khu vực nội đồng khoảng 55 – 60 km, bao gồm các huyện Ba Tri,Chợ Lách, Châu Thành Tình trạng xâm nhập mặn không những là mối đe dọa lớn trongtrồng trọt mà còn là mối nguy cho hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh