1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề vùng đồng bằng sông cửu long

93 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 7,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ đề nghị và mục tiêu, chương trình bồi dưỡng cho học sinh giỏiĐịa lí ở các trường THPT chuyên, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tham khảo, tácgiả đã hệ thống hoá một số nội

Trang 1

HỘI THẢO CHUYÊN ĐỀ TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG

LẦN THỨ XIV

Đề tài:

“VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

Người viết: Nguyễn Thị Thanh Huyền Đơn vị: THPT Chuyên Vĩnh Phúc

/

Vĩnh Yên, tháng 2 năm 2018

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Mục đích của đề tài 4

PHẦN II NỘI DUNG 5

Chương 1 LÍ THUYẾT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 5

1.1 Vị trí địa lý và lãnh thổ5

1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 6

1.3 Tài nguyên nhân văn 13

1.4 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội 15

1.5 Bộ khung lãnh thổ của vùng 27

1.6 Vấn đề sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên 29

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 42

2.1 Phương pháp dạy học 43

2.2 Phương tiện dạy học 48

CHƯƠNG 3: CÁC DẠNG CÂU HỎI VỀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

3.1 Câu hỏi ôn tập dạng giải thích 50

Trang 4

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Địa lí vùng kinh tế Việt Nam là phần kiến thức trọng tâm có nội dung nhiều

và thời lượng giảng dạy lớn trong chương trình Địa lí 12 Tuy không khó nắm bắtnhưng để hiểu sâu được bức tranh kinh tế xã hội của từng vùng thì đòi hỏi ngườihọc phải có kĩ năng tổng hợp các phần địa lí tự nhiên, dân cư và ngành kinh tế đãhọc ở các chương trước đó Ngoài ra, học sinh phải biết so sánh, đối chiếu nhữngvấn đề phát triển kinh tế -xã hội nổi bật giữa các vùng với nhau cũng như hiểuđược vai trò của từng vùng trong sự phân công lao động theo lãnh thổ của cả nước

Trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi quốc gia lớp 12 môn Địa lí từ năm 2009trở lại đây, vùng kinh tế luôn chiếm 3/20 điểm với những câu hỏi có nội dungtương đối khó, tập trung vào tìm hiểu nguồn lực phát triển kinh tế nói chung cũngnhư từng ngành nói riêng và cơ cấu kinh tế của các vùng Đặc biệt, các câu hỏi liênquan đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng thường xuyên xuất hiện trong các

đề thi học sinh giỏi tỉnh ở nhiều địa phương và đề thi học sinh giỏi quốc gia trongnhững năm gần đây

Đối với học sinh và giáo viên các trường chuyên, ngoài việc trang bị đượccác kiến thức cơ bản còn yêu cầu hiểu sâu sắc và rèn luyện các kỹ năng có liênquan, giải các dạng bài tập Tuy nhiên, trong chương trình sách giáo khoa hiệnnay, nội dung chuyên đề chỉ được trình bày ngắn gọn trong một bài học đã khôngđáp ứng được cho việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh các trườngchuyên Bên cạnh đó, các tài liệu nghiên cứu về nội dung này lại chưa gắn kết vớihoạt động dạy học mà chủ yếu phục vụ cho mục đích nghiên cứu, tham khảo

Xuất phát từ đề nghị và mục tiêu, chương trình bồi dưỡng cho học sinh giỏiĐịa lí ở các trường THPT chuyên, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tham khảo, tácgiả đã hệ thống hoá một số nội dung kiến thức và bài tập việc hệ thống nội dung lýthuyết và các dạng bài tập liên quan đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ giúpcác giáo viên và học sinh có được nguồn tài liệu đầy đủ, phong phú, logic nhất vềvấn đề phát triển kinh tế xã hội nổi bật của vùng, tạo điều kiện thuận lợi hơn trongviệc dạy và học ở các trường chuyên

Để đáp ứng các yêu cầu trên, tôi xây dựng chuyên đề “vùng Đồng bằng sông Cửu Long” Đề tài hướng tới đối tượng chính là giáo viên và học sinh các

trường chuyên, nhất là trong quá trình ôn luyện thi học sinh giỏi Quốc gia Tuy

Trang 5

nhiên, các giáo viên và học sinh phổ thông không chuyên cũng sẽ có được nguồntài liệu hữu ích phục vụ kì thi THPT quốc gia

2 Mục đích của đề tài

Đề tài nhằm cung cấp tới người đọc những kiến thức, kĩ năng trọng tâmtrong học và giải quyết bài tập về vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã được đề cậptới trong nội dung của chương trình chuyên sâu Cụ thể là

 Kiến thức

o Phân tích các thế mạnh và hạn chế về nguồn lực phát triển kinh tế – xãhội của vùng

o Phân tích các thế mạnh, hạn chế; trình bày tình hình và các biện pháp

để tăng cường sản lượng lương thực, thực phẩm ở đồng bằng này

o So sánh những thế mạnh để phát triển lương thực, thực phẩm giữaĐồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long

o Xây dựng hệ thống và phân loại các dạng bài tập liên quan

o Giới thiệu các phương pháp và kĩ thuật dạy học đã được áp dụng vàmang lại hiệu quả tự học cao

Trang 6

PHẦN II NỘI DUNG Chương 1 LÍ THUYẾT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Trong cuốn thiên nhiên Việt Nam giáo sư Lê Bá Thảo đã viết: “Có lẽ khi

ông cha ta, trên bước đường ngàn dặm của mình, lần đầu tiên đến đây cũng phải cảm thấy ngất ngây như chúng ta ngày nay Lúc đột nhiên nhìn thấy một đồng bằng mênh mông xứng với cái tên của nó, những dòng sông có bờ xa tít tắp ngày đêm mải miết vận chuyển những lượng phù sa lớn ra biển khơi, những đồng bằng nhiệt đới rộng một cách kì lạ, những vùng nửa đất, nửa nước biểu thị sự tranh chấp đang còn tiếp diễn giữa đất liền và biển cả Nếu có điểm gì khác biệt giữa ngày nay và ngày xưa thì có lẽ là ở chỗ tính chất của một miền đất mới lúc đó còn được biểu thị rõ rệt hơn trong thiên nhiên hoang dại của một miền nhiệt đới ẩm.

Tuy nhiên sau hơn 300 năm bị con người chinh phục, lãnh thổ này vẫn còn giữ được sức quyến rũ của một miền đất mới: từ ruộng lúa, bãi ngô vẫn tỏa ra mùi

vị nồng ấm, cường tráng của những thành tạo sơ sinh, cỏ dại và mía lau mọc thành những búi vừa to vừa khỏe, có những vùng chim yên tâm đỗ thành từng đàn đen ngòm mặt đất như ở buổi chưa có người, thủy triều lên xuống thênh thang trong đồng bằng như ở chính ngoài biển cả.” Đoạn văn trên miêu tả lôi cuốn về

vùng đất tận cùng phía tây nam của tổ quốc – Vùng đồng bằng sông Cửu Long

1.1 Vị trí địa lý và lãnh thổ

Hình 1 Bản đồ vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 7

Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 13 tỉnh, thành phố: CầnThơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang,Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, có diện tích hơn 40nghìn km2 chiếm 12,2 % diện tích tự nhiên của cả nước.

Nằm ở phần cuối của bán đảo Đông Dương, liền kề với vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam nên vùng có mối quan hệ hai chiều rất chặt chẽ và quan trọng.Nằm giáp với Campuchia và cùng chung sông Mê Kông là điều kiện giao lưu hợptác với các nước trên bán đảo Đồng bằng sông Cửu Long nằm giữa khu vực kinh

tế năng động và phát triển, liền kề với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam, có hơn 340 km đường biên giới trên bộ giáp Campuchia, làkhu vực duy nhất của cả nước tiếp giáp Biển Đông và Biển Tây với bờ biển dài

750 km, chiếm 23% chiều dài bờ biển quốc gia; hơn 360 ngàn km2 vùng biển vàđặc quyền kinh tế, có gần 200 đảo và quần đảo, đặc biệt là đảo Phú Quốc lớn nhấtViệt Nam

Nằm ở vùng tận cùng Tây Nam của Tổ quốc có bờ biển dài và nhiều đảo,quần đảo như Thổ Chu, Phú Quốc là vùng đặc quyền kinh tế giáp biển Đông vàvịnh Thái Lan; gần tuyến hàng hải Đông - Tây, là luồng hàng hải quốc tế sôi độngnhất, hiện diện nhiều nền kinh tế lớn của thế giới Vùng nằm trong khu vực cóđường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế giữa Nam á và Đông Nam ácũng như với châu úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương Vị trí này rấtquan trọng trong giao lưu quốc tế

1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

1.2.1 Địa hình

Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từnhững trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển;qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển

Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù

sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đấtphèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác LongXuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau Địa hình của vùng tươngđối bằng phẳng, độ cao trung bình là 3 - 5m, có khu vực chỉ cao 0,5 - 1m so vớimặt nước biển

Trang 8

Hình 2 Nhiều vùng trũng ngập nước quanh năm

Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta; bao gồmphần đất nằm trong phạm vi tác động trực tiếp của sông Tiền, sông Hậu (thượng và

hạ châu thổ) và phần đất nằm ngoài phạm vi tác động đó

Phần thượng châu thổ là khu vực tương đối cao (2 - 4m so với mực nướcbiển), nhưng vẫn bị ngập nước vào mùa mưa Phần lớn bề mặt ở đây có nhiềuvùng trũng rộng lớn Vào mùa mưa, các vùng trũng này ngập chìm sâu dưới nước,còn về mùa khô chỉ là những vũng nước tù đứt đoạn

Phần hạ châu thổ thấp hơn, thường xuyên chịu tác động của thủy triều vàsóng biển Mực nước ở các cửa sông lên xuống rất nhanh và những lưỡi mặn đãngấm dần vào trong đất Ngoài các giống đất ở hai bên bờ sông và các cồn cátduyên hải, trên bề mặt với độ cao 1- 2m còn có các vùng trũng ngập nước vào mùamưa và các bãi bồi trên sông

Phần đất còn lại tuy nằm ngoài phạm vi tác động trực tiếp của sông Tiền vàsông Hậu, nhưng vẫn được cấu tạo bởi phù sa sông (như đồng bằng Cà Mau)

1.2.2 Đất

Đất là tài nguyên quan trọng hàng đầu của vùng

Về hiện trạng sử dụng đất: Với diện tích 4,0 triệu ha đã sử dụng trong nôngnghiệp (63,07%), lâm nghiệp (8,29%), đất chuyên dùng (5,77%), đất thổ cư(2,71%) chưa sử dụng 20,16%, đất chưa sử dụng chiếm tỉ lệ cao nhất là Cà Mau

và Bạc Liêu

Diện tích đất trong vùng bao gồm các nhóm đất sau:

Đất phù sa: Phân bố chủ yếu ở vùng ven và giữa hệ thống sống Tiền và sôngHậu, diện tích 1,2 triệu ha chiếm 29,7% diện tích đất tự nhiên toàn vùng và khoảng1/3 diện tích đất phù sa của cả nước Nhóm đất này có độ phì cao và cân đối, thíchhợp đối với nhiều loại cây trồng lúa, cây ăn quả, màu, cây công nghiệp ngắn ngày

Trang 9

Hình 3 Bản đồ tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nhóm đất xám: Diện tích trên 134.000 ha chiếm 3,4% diện tích toàn vùng.Phân bố chủ yếu dọc biên giới Campuchia, trên các bậc thềm phù sa cổ vùng ĐồngTháp Mười Đất nhẹ, tơi xốp, độ phì thấp, độc tố bình thường

Ngoài ra còn có các nhóm đất khác như đất cát giông, than bùn, đất đỏ vàng,đất xói mòn… chiếm diện tích không đáng kể khoảng 0,9% diện tích toàn vùng.Nhìn chung đất đai ở đây rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thích hợp trồnglúa, dừa, mía, dứa, cây ăn quả Tuy nhiên để mở rộng diện tích nông nghiệp, cầnphải cải tạo hai nhóm đất phèn mặn Sử dụng đất trong công nghiệp, giao thông,

cư trú, gia cố, bồi đắp nâng nền đòi hỏi chi phí nhiều

1.2.3 Khí hậu

Khí hậu nền chung là nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt.Nhiệt độ TB năm 24 - 270C, biên độ nhiệt TB năm chỉ 2 - 30C, chênh lệch nhiệt độngày - đêm ít Tổng nhiệt độ hoạt động năm 9.500 - 10.0000C, ít có bão hoặc nhiễuđộng thời tiết (tuy nhiên, gần đây cũng có xảy ra tai biến thiên nhiên - cơn bão số5/1997 – Linda, cơn bão số 12/2017)

Trang 10

Lượng mưa

lớn, tập trung từ

tháng V - X chiếm

99% tổng lượng

mưa cả năm Mùa

khô (XII - IV),

mùa này hầu như

Ở vùng này, ngoài 2 vụ chính, một số địa phương đã đưa lên 3 vụ trong năm (vụmùa, vụ chiêm - xuân và vụ hè - thu)

của S.Mê Công, khi vào

Việt Nam được chia làm 2

nhánh Tiền Giang và Hậu

Giang đổ ra biển bằng 9

cửa sông Tổng lượng

nước của hệ thống S.Cửu

Long 500 tỉ m3 (S.Tiền

79%, S.Hậu 21%) Hình 5 Một đoạn hạ lưu sông Cửu Long

Trang 11

Chế độ thủy văn thay đổi theo mùa Mùa mưa, nước sông lớn nhất vào tháng

IX - X làm ngập các vùng trũng ở Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên (có nơingập sâu tới 3 m); mùa này nước sông mang nhiều phù sa cho đồng bằng Về mùakhô lượng nước giảm hẳn, chỉ còn ~ 200 m3/s Do vậy, thủy triều đã lấn sâu vàođồng bằng làm cho các vùng đất ven biển bị nhiễm mặn nghiêm trọng, gây trở ngạicho sản xuất nông nghiệp Vùng có hệ thống kênh rạch khá dày đặc, tạo điều kiệnthuận lợi cho phát triển GT đường thủy và phục vụ sản xuất, sinh hoạt

Vùng có 752,2 ngàn ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, chiếm 71,5% cả nước(trong đó, 10 vạn ha nước lợ nuôi tôm xuất khẩu) Cá biển ở đây tập trung 54% trữlượng cả nước Biển rộng và nông, có nhiều đảo, thềm lục địa rộng, nhất là gần cáccửa sông có nhiều phù du làm thức ăn cho tôm cá, ít có nhiễu động về thời tiết nênthuận lợi cho nuôi trồng - đánh bắt cá quanh năm

Chế độ thủy triều của vùng cũng có những đặc trưng riêng giữa bờ đông và

bờ tây (phía đông có chế độ bán nhật triều, biên độ triều ~ 3,0m; Bờ tây có chế độnhật triều, biên độ 0,7m) Bờ biển hàng năm được phù sa bồi đắp mở rộng (nhất làvùng Đất Mũi)

Nước ngầm của vùng khá phức tạp, thường ở độ sâu > 100m Một số nơinhư Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ đã khoan giếng sâu để lấy nước ngọt phục vụ sảnxuất và sinh hoạt Tuy nhiên, việc khai thác nước ngầm cũng cần phải lưu ý, nếukhai thác quá mức, mạch nước ngầm bị hạ thấp dẫn đến hiện tượng ngấm nướcmặn và ảnh hưởng đến hệ sinh thái

1.2.5 Sinh vật

Vùng có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đặc trưng nhất của Việt Nam

▪ Về thực vật tự nhiên: quan trọng nhất là rừng ngập mặn ven biển Ở Bạc

Liêu và Cà Mau có > 150.000 ha (với ~ 46 loài khác nhau, chủ yếu là đước) ỞKiên Giang chủ yếu là rừng tràm, nhiều nhất là U Minh (171.000 ha) Xét về kinh

tế, rừng ven biển có giá trị ~ lớn (14 loài cây cho ta nanh, 30 loài cho gỗ và củi, 24loài phân xanh, 14 loài làm thức ăn cho người và gia súc, 5 loài làm thuốc, 21 loàicho hoa để nuôi ong lấy mật) Rừng ngập mặn còn góp phần giữ phù sa bồi đắpcho đồng bằng và cải tạo đất

▪ Về động vật: có ý nghĩa kinh tế nhất là cá tôm, có trữ lượng lớn nhất cả

nước, phân bố chủ yếu ở cửa sông và vùng vịnh Thái Lan Riêng vùng vịnh TháiLan (36% cả nước), cá nổi (20%), tôm (50% trữ lượng tôm cả nước) ĐB sôngCửu Long là vùng có năng suất nguyên sinh cao nhất cả nước (năng suất cao gấp

Trang 12

10 lần các vùng ven biển khác của cả nước), có nhiều giống tôm, cá quí như cá bạc

má, cá lẹp, trích, nục, thu, ngừ tôm có tôm he, tôm vộ mực nang, mực ống Ngoài ra còn có đồi mồi, rắn, trăn các loại

▪ Về thủy sản nội địa: chủ yếu là tôm cá nước ngọt và lợ trong các sông

ngòi, kênh rạch Nhiều loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh, cá chép, cá

ba tra, cá bống

▪ Về động vật trên cạn: quan trọng nhất là chim tự nhiên (với ~ 386 loài), đã

hình thành nhiều khu vực trú ngụ của các loài chim tạo thành vườn chim rất độcđáo Đây thực chất là hệ sinh thái đặc trưng của vùng (tràm - chim) tạo thành mộttrạng thái cân bằng ổn định, nếu một phần nào bị mất đi thì các thành phần kháccũng bị ảnh hưởng Các vườn chim tự nhiên nổi tiếng là Ngọc Hiển, Cái Nước,Vĩnh Lợi (Bạc Liêu, Cà Mau), vườn Cù Lao Đất (Bến Tre), vườn U Minh, GiáRai, Hồng Dân Về mặt kinh tế, đây là nguồn thực phẩm có giá trị (thịt, trứng),nguồn phân bón cho sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu, là nơi thu hút khách dulịch tham quan và các nhà khoa học Về thú có ở các dải rừng ven biển như khỉ,lợn rừng, động vật có vú ăn cá

Hình 5 Hệ sinh thái rừng ngập mặn và Tràm Chim của vùng sông Cửu Long

▪ Ý nghĩa kinh tế của rừng ngập mặn:

Rừng ngập mặn ở Việt Nam phân bố dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam,nhưng hầu hết là ở ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Bến Tre,Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Tp HCM), nhiều nhất làvùng Đất Mũi Hệ sinh thái rừng ngập mặn của vùng này là nguồn tài nguyên quantrọng, có giá trị không chỉ về kinh tế, mà còn về sinh học và môi trường, đangđược nhiều nhà kinh tế, môi trường và sinh học quan tâm

Rừng ngập mặn là vùng có hệ sinh thái đặc biệt, đem lại nhiều lợi ích chocon người từ nhiều góc độ khác nhau Rừng ngập mặn ảnh hưởng cả trực tiếp và

Trang 13

gián tiếp tới sản xuất, sinh hoạt và môi trường của địa phương (ảnh hưởng trực tiếpcủa nó là các loại thực phẩm như cá, hải sản, nguyên liệu lợp nhà và các loại dượcliệu) Rừng ngập mặn là nơi trú ngụ và môi trường sinh sản của các loài thủy-hảisản; có chức năng như hệ thống đê tự nhiên ngăn chặn một phần sự xâm nhập mặncủa biển vào đất liền; như một hệ thống lọc, làm giảm các độc tố gây ảnh hưởngtới nguồn nước mặt và nước ngầm cũng như đất canh tác Rừng ngập mặn còn giữvai trò như một vùng đệm chống sự tàn phá của bão biển; ngăn chặn sự xâm lấncủa biển; tạo môi trường sinh sống cho các loài sinh vật (tôm, cá, lưỡng cư, bò sát,các loài chim và thú); là cơ sở thuận lợi để nuôi trồng thủy sản

Hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Năm Căn (Cà Mau) diện tích lớn thứ 2 ởĐông Nam Á, đây là phòng thí nghiệm sinh động về hệ sinh thái rừng ngập mặn ởViệt Nam và khu vực với đặc thù là rừng tràm đước và chim Hai sân chim VĩnhThành (Vĩnh lợi) và Tân Khánh (Ngọc Hiển) là các điểm du lịch rất hấp dẫn đốivới khách du lịch trong và ngoài nước Ở đây có thể xây dựng cụm di lịch sinh tháiNăm Căn (Cà Mau) và phụ cận với rừng tràm U Minh và các sân chim nổi tiếng

1.2.6 Khoáng sản

Trữ lượng khoáng sản không đáng kể Đá vôi phân bố ở Hà Tiên, KiênLương dạng núi vách đứng với trữ lượng 145 triệu tấn Phục vụ sản xuất xi măng,vôi xây dựng; cát sỏi ở dọc sông Vàm Cỏ, sông Mê Kông trữ lượng khoảng 10triệu mét khối; than bùn ở U Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, tứ giác Long Xuyên.Ngoài ra còn các khoáng sản khác như đá, suối khoáng…

Vùng nghèo khoáng sản, chủ yếu là đá vôi, cát ở vùng Bảy Núi và than bùn

Đá vôi: phân bố chủ yếu ở Hà Tiên, Kiên Lương; dạng núi cách đứng, diện

tích không lớn (~ vài chục km2), trữ lượng ~145 triệu tấn Đã khai thác phục vụcho các nhà máy xi măng Kiên Lương, Sao Mai và nhà máy của tỉnh; ngoài ra, cònphục vụ để sản xuất vôi cho xây dựng

Đá anđensit, granit phân bố chủ yếu ở núi Sam (Châu Đốc), núi Tra Sự

(Tịnh Biên), núi Cấm, Lương Phí, Bà Đội, Bà Thể và núi Sập (An Giang) Diệntích vài trăm km2 Tổng trữ lượng các loại gộp lại ~ 450 triệu m3

vực đầm lầy và ven bờ Phân bố ở Tứ giác Long Xuyên (3.500 ha), Cần Thơ, Sóc

Trăng, U Minh (32.000 ha), Cà Mau (2.900 ha) và Kiên Giang (3.000 ha) Trữlượng 400 triệu tấn (riêng U Minh 300 triệu tấn) Đang khai thác phục vụ cho sản

Trang 14

xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa chất và các phụ gia công nghiệp, sản lượng ~50,0 vạn tấn/năm.

Emelit phân bố dọc ven biển từ TP HCM qua Bến Tre đến Cà Mau và Bạc

Liệu (tập trung chủ yếu tại cửa sông Hậu); đây cũng là loại khoáng sản ít nhiều có

giá trị Do mới phát hiện nên chưa xác định được trữ lượng

Nguồn nước khoáng: hiện nay đã xác định có ở một số nơi như Trung

Lương (Tiền Giang) nhiệt độ nước 380C, độ khoáng hóa 0,5 gam/lít; ở Vĩnh Long(390C và 0,4 gam/lít), ở Sóc Trăng (39,50C và 3,9 gam/lít) và Bạc Liêu (380C và1,3 gam/lít)

Ngoài ra, còn có sét làm gạch ngói, cát sỏi; môlípđen ở núi Sam (An

Giang), đá huyền Phú Quốc (Kiên Giang) làm đá trang sức, bentônít nằm ở độ sâu5-10m dưới bề mặt đồng bằng

1.3 Tài nguyên nhân văn

Xét về lịch sử khai thác lãnh thổ, vùng này được khai thác muộn hơn so vớicác vùng khác trong cả nước Vào thế kỷ XVII, người Việt lần lượt vào chinh phục

và khai thác đồng bằng (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp - lúa nước và đánh bắtthủy sản) Cùng với người Việt là người Khơme, người Chăm đến sinh sống Sốdân lúc đó 20,0 vạn người Đến 1936 có 3,7 triệu người Năm 2016 dân số củavùng 17,69 triệu Mật độ dân số trung bình 433 người/km2

Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên còn cao, gia tăng cơ học cũng ở mức caohơn so với các vùng khác So với Đồng bằng sông Hồng, thì Đồng bằng sông CửuLong có mức gia tăng cơ giới cao hơn nhiều Nhưng về qui mô số dân, thì Đồngbằng sông Hồng tăng vẫn nhanh hơn

Cấu trúc dân số trẻ Theo kết quả tổng điều tra dân số 2009: Độ tuổi  20tuổi (53%); từ 20 - 34 tuổi (24,3%);  35 tuổi (22,7%) Tỉ lệ nam giới chỉ chiếm47,4%, nữ là 52,6%, hiện nay đang có sự thay đổi về cơ cấu giới tính cũng như tỉ

lệ nữ trong các nhóm tuổi Về thành phần dân tộc: Người Việt (92,0% dân số củavùng); Người Khơme (6,1%) ở An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, VĩnhLong, Trà Vinh; Người Hoa (1,7%) ở An Giang, Cà Mau, Bạc Liệu, Sóc Trăng,Cần Thơ; Các dân tộc khác (0,2%)

Bảng 1 Dân số của các vùng thời kỳ 1995-2016 (nghìn người)

Trang 15

Cả nước 71.995,5 83.106,3 86210,8 92.695,1Đồng bằng sông Hồng 16.136,7 18.028,3 18.545,2 21.133,8

Đồng bằng Sông Cửu Long 15.531,9 17.256,0 17.695,0 17.660,7

Niên giám thống kê, NXB Thống kê năm 2017

Dân cư phân bố cũng không đều, tập trung đông là các tỉnh dọc Sông Tiền

và Sông Hậu như Cần Thơ (836 ng/km2), Vĩnh Long (723 ng/km2), Tiền Giang(701 ng/km2), An Giang (636 ng/km2); trong khi đó ở Cà Mau chỉ 235 ng/km2.Người dân trong vùng có truyền thống, tập quán và kinh nghiệm trong sản xuấtnông nghiệp (đặc biệt là trồng lúa nước ở các loại địa hình khác nhau, chọn ranhững giống lúa đặc trưng, thích hợp cho vùng sinh thái này) Một số giống lúacòn được xếp vào danh mục tiêu biểu của khu vực Đông Nam Á và là cơ sở choviệc lai tạo, bình tuyển giống lúa trong khu vực Hiện nay, việc áp dụng những tiến

bộ của khoa học, kĩ thuật vào sản xuất đã làm cho các loại nông sản hàng hóa củavùng ngày càng chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài nước

Tỉ lệ dân thành thị năm 2016 là 25,2% (cả nước 34,5%), những tỉnh, Tp có tỉ

lệ dân thành thị cao nhất xếp theo thứ tự là Cần Thơ (51,90%), An Giang(28,60%), Bạc Liêu (26,80%), Kiên Giang (26,00%) Đặc điểm người dân Đồngbằng là cần cù lao động, thẳng thắn, thật thà, có lòng yêu nước, trải qua nhữngthăng trầm trong lịch sử, kẻ thù đã không khuất phục được ý chí của người dân

vùng "đất nổi" này; trong cơ chế thị trường, người dân lại thích ứng nhanh với quá

trình đổi mới, đây là động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội

Tóm lại, nằm giữa một khu vực kinh tế năng động, giáp với vùng kinh tế

trọng điểm phía Nam, là một đồng bằng châu thổ phì nhiều của khu vực ĐôngNam Á, là vùng quan trọng về sản xuất lương thực, thủy - hải sản và cây ăn tráilớn của cả nước Có đường bờ biển dài, thềm lục địa rộng, thuận lợi cho phát triểnkinh tế biển Là vùng có khối lượng hàng hóa nông sản nhiệt đới vào bậc nhất cảnước (đặc biệt là lúa gạo và nguồn lợi thủy hải sản trên vùng biển) Nhân dân trongvùng giàu truyền thống cách mạng, thông minh sáng tạo, có kinh nghiệm trong sảnxuất hàng hóa, có thể thích ứng nhanh trước đòi hỏi của khoa học – kĩ thuật côngnghệ và cơ chế thị trường Sản phẩm lớn nhất của vùng là lương thực đến hoa quả,thực phẩm, nông, thủy sản, vật liệu xây dựng

Trang 16

▪ Những khó khăn, hạn chế lớn nhất của vùng: Kết cấu hạ tầng (nhất là

GTVT, điện, nước, TTLL) đang trong tình trạng yếu kém, đòi hỏi phải có thời gian

và vốn đầu tư lớn Vấn đề lũ lụt là một hạn chế cần khắc phục, mà một trongnhững giải pháp là "sống chung với lũ" Trình độ dân trí thấp, thiếu lao động có kĩthuật Công nghiệp chưa phát triển mạnh, mặc dù nông nghiệp, ngư nghiệp pháttriển mạnh, nhưng thu nhập của người dân vẫn thấp Tỉ lệ tích lũy từ nội bộ nềnkinh tế kém Nếu chỉ dựa vào phát triển sản xuất ở các khu vực truyền thống(nông-ngư) thì sẽ về lâu dài vẫn gặp khó khăn

1.4 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội

1.4.1 Tình hình phát triển

Nhìn chung Đồng bằng sông Cửu

Long là vùng có nền kinh tế phát triển

thứ ba của nước ta chỉ sau vùngĐông

Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng

Vùng chiếm khoảng 15% GDP của cả

nước năm 2016 Tuy nhiên do tốc độ

tăng trưởng kinh tế chậm hơn các vùng

khác nên tỉ trọng GDP của vùng so với

cả nước có xu hướng giảm nhẹ

Cơ cấu GDP của vùng nhìn chung còn lạc hậu nhưng đã có những chuyểnbiến tích cực trong những năm gần đây

Tỉ trọng nông lâm ngư nghiệp giảm nhanh, từ chỗ chiếm tỉ trọng cao nhất là40,1% năm 2010, thì đến năm 2014 giảm còn 33,6% Tỉ trọng công nghiệp và dịch

vụ của vùng đều tăng theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần pháthuy các nguồn lực cụ thể của vùng và hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trang 17

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân toàn vùng giai đoạn 2001-2010đạt khoảng 11,5%/năm (năm 2012 đạt gần 10% so cả nước tăng hơn 5%) Cơ cấukinh tế chuyển dịch tích cực Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu toàn vùng năm

2012 đạt 14,27 tỉ USD (chiếm khoảng 9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước).Trong đó, xuất khẩu đạt 10,07 tỉ USD, nhập khẩu: 4,2 tỉ USD, xuất siêu 5,87 tỉUSD Năm 2012, thu nhập bình quân đầu người đạt 32,33 triệu đồng người/năm(tương đương 1.525 USD), gần bằng bình quân chung của cả nước, cao hơn vùngTây Bắc, Tây Nguyên

Môi trường đầu tư vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày càng tốt hơn, chỉ sốnăng cạnh tranh (PCI) của các tỉnh, thành trong vùng các năm qua nhìn chungđược cải thiện khá tốt, hầu hết đều nằm trong nhóm khá, tốt và rất tốt Riêng nămPCI 2012, vùng đồng bằng sông Cửu Long có 3 tỉnh trong nhóm 5 và 6, nhóm 10tỉnh, thành dẫn đầu; đặc biệt, có Đồng Tháp đứng đầu 63 tỉnh của cả nước

1.4.2 Các ngành kinh tế chủ yếu

a Nông nghiệp (theo nghĩa rộng).

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là ngành sản xuất chủ yếu của hầu hếtcác tỉnh trong vùng, đã đóng góp 40% GDP Sự phát triển không ngừng của ngànhnày đã góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của vùng (nhất là cơ cấu kinh tếnông nghiệp) Khối lượng sản phẩm nông nghiệp và thủy sản tăng lên rõ rệt đãthúc đẩy sự gia tăng các ngành khác như công nghiệp chế biến, giao thông vận tải

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã có sự chuyển dịch theo hướng sảnxuất hàng hóa, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, ngành nghề gắn với chế biến nông– lâm – thủy sản

Nông, lâm, ngư nghiệp phát triển toàn diện, từng bước hình thành vùng sảnxuất tập trung, chuyên canh, phát huy lợi thế sản phẩm chủ lực của vùng (lúa gạo,thủy sản, trái cây), thể hiện vai trò trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng,đánh bắt thủy sản của cả nước

Trong cơ cấu nông nghiệp, cây lương thực-thực phẩm chiếm ưu thế tuyệt

đối Năm 2016, diện tích cây lương thực: 4333,4 ngàn ha (48,4% cả nước), sản

lượng 24420 ngàn tấn (50 % cả nước) Bình quân lương thực theo đầu người đạt1382,7 kg (cả nước 526,9 kg/người, Đồng bằng sông Hồng 331,8 kg/người)

Trong đó, diện tích trồng lúa là 3858,9 ngàn ha và sản lượng 20.681,6 ngàntấn (chiếm 52,0% về diện tích và 53,41% sản lượng lúa cả nước) Năng suất lúangày càng nâng cao (năm 1986 là 20,1 tạ/ha, năm 2005 là 50,4 tạ/ha, năm 2016 là

Trang 18

56.4 tạ/ha (chỉ đứng sau đồng bằng sông Hồng 60,1 tạ/ha, cả nước 50 tạ/ha) Năngsuất cao nhất là vụ đông xuân (64,4 tạ/ha, cả nước 60,8 tạ/ha); hè thu (47,8 tạ/ha,

cả nước 48,8 tạ/ha); lúa mùa (40,2 tạ/ha, cả nước 44,2 tạ/ha ) Sự gia tăng về năngsuất, sản lượng trong những năm qua là do vùng tăng cường đầu tư khoa học côngnghệ, vốn để cải tạo vùng đất phèn, đất mặn ven biển và tạo ra được những giốnglúa mới có nguồn gốc từ giống lúa trời vùng ven sông Mê Công Cây lúa đã đượcthuần chủng, lai tạo thành hàng trăm giống khác nhau có những đặc tính kinh tế -

kĩ thuật riêng (ngắn ngày, chịu mặn, chịu sâu bệnh) thích hợp với các điều kiệnsinh thái trên từng khu vực

Bảng 2 Tình hình sản xuất lúa của Đồng bằng sông Cửu Long năm 2016

Diện tích(1000 ha)

Sản lượng(1000 tấn)

Năng suất(Tạ/ha)

- Cây màu lương thực chỉ chiếm 1,53% diện tích cây lương thực Nhiều nhất

là cây ngô (năm 2008, diện tích 40,9 ngàn ha, sản lượng 229,6 ngàn tấn), ngô trồngchủ yếu trên đất bãi ven sông, nhiều nhất là An Giang Ngoài ra, có khoai lang (ởVĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng); cây sắn (Long An, Vĩnh Long, TràVinh) diện tích và sản lượng không đáng kể

Trang 19

- Cây trồng khác như cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả chiếm ~

22 - 25% giá trị gia tăng của ngành trồng trọt Cây ăn quả có xu hướng tăng cả vềdiện tích, năng suất và sản lượng do có giá trị cao, đầu tư ban đầu không lớn Diệntích năm 2005 là 170,0 ngàn ha (nhiều nhất là cam, chuối, quít, canh, xoài, ổi,nhãn, táo ) Cây ăn quả được trồng theo 3 dạng (vườn tạp, vườn hỗn hợp và vườnchuyên); vườn hỗn hợp chiếm 50% diện tích và hiệu quả đạt rất cao Cây khóm(dứa) có diện tích 28.300 ha; cây dừa 185.000 ha

▪ Về chăn nuôi: Đàn trâu giảm nhanh (1985 có 329,0 ngàn con đến năm

2008 còn 43,1 ngàn con) Đàn bò có xu hướng tăng (1995 là 149,9 ngàn con, năm

2008 tăng lên 713,5 ngàn con) Đàn lợn năm 2008 là 3630,1 ngàn con (13,6% đànlợn cả nước), so với tiềm năng thực tế của vùng thì số đầu lợn còn ít Gia cầm,vùng có truyền thống nuôi vịt lấy thịt, trứng và lông xuất khẩu, nguồn thức ănchính là lúa rơi rụng trong mùa gặt và nguồn thuỷ sản (tôm, cá, ốc, cua ), tổngđàn gia cầm năm 2008 là 47,52 triệu con (chiếm 19,20% cả nước), chủ yếu là vịt ởBạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh

Hình 8 Sản xuất lương thực – thực phẩm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Thủy - hải sản Với đường bờ biển dài (736 km), vùng thềm lục địa rộng lớn chiếm

23% chiều dài bờ biển cả nước Tiềm năng hải sản có khả năng khai thác 60,0 63,0 vạn tấn/năm Ở đây có 25 cửa luồng lạch thuận tiện cho tàu thuyền đánh cá,cùng với bãi triều rộng tới 48,0 vạn ha (trong đó, gần 30,0 vạn ha có khả năng nuôitrồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ) và gần 1.500 km sông ngòi, kênh rạch cũng cóthể nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản củavùng năm 2016 là 852,2 ngàn ha (chiếm 79,5% của cả nước)

Trang 20

-Từ 1991 đến nay, nghề cá của vùng phát triển mạnh cả về sản lượng và giátrị kim ngạch xuất khẩu (năm 2015 kim ngạch xuất khẩu chiếm 42% cả nước).Phương tiện đánh bắt đã được trang bị lại với công suất lớn > 45 CV/tàu thuyền.Năng suất đánh bắt đạt 0,9 tấn/CV, 30 - 35 tấn/thuyền, 5 tấn/1 lao động.

Năm 2016: sản lượng thuỷ sản của vùng là 3.8 triệu tấn (55,9 % của cả

nước), cao nhất là Kiên Giang (683 ngàn tấn, chiếm 14,9% của cả nước) và CàMau (491 ngàn tấn – 6,30% cả nước) Trong đó, cá biển đạt 563,0 ngàn tấn(38,15% cả nước), cao nhất là Kiên Giang (253,0 ngàn tấn, 17,14% cả nước) và CàMau (101,3 ngàn tấn – 6,86% cả nước);

Về nuôi trồng: sản lượng 2536,4 ngàn tấn (69,4% cả nước), cao nhất là An

Giang (343,6 ngàn tấn – 12,8% cả nước), Đồng Tháp (474,9 ngàn tấn – 11,4% cảnước) Tôm nuôi 307,0 ngàn tấn (79,0% cả nước), cao nhất là Cà Mau (24,28% cảnước), Bạc Liêu (16,48% cả nước), Sóc Trăng (15,14% cả nước) Cá nuôi 1,41triệu tấn (76,16% cả nước), cao nhất là An Giang (16,84% cả nước), Đồng Tháp(15,01% cả nước), Cần Thơ (9,75% cả nước)

Các ngư trường tập trung chủ yếu ở Rạch Sỏi, Rạch Giá (Kiên giang), Gành

Hào (Bạc Liêu) Ngoài ra, trong vùng còn nuôi nhiều loại thủy sản khác có giá trị

kinh tế cao như lươn, ốc, cua, ếch, rùa, đồi mồi Đây cũng là nguồn hàng xuất khẩu

An Giang 364.843,0 21.212,0 343.631,0 313.739 1.297 Kiên Giang 683.221,0 485.994,0 253.000 197.227,0 44.445 28.601

Trang 21

Cần Thơ 166.134,0 5.926,0 160.208,0 181.656 81

Sóc Trăng 233.015,0 65.813,0 23.500 167.202,0 79.000 58.790 Bạc Liêu 302.444,0 107.276,0 58.100 195.168,0 51.940 63.984

Cà Mau 491.013,0 209.000,0 101.300 282.043,0 70.575 94.291

Niên giám thống kê, NXB Thống kê năm 2017

Vấn đề cần quan tâm là: Do nhu cầu ở trong nước và thị trường thế giới,

tôm là loại hàng hóa rất được ưa chuộng Tôm được nuôi thành các "vuông" venbiển; dưới rừng đước cho năng suất cao Những mô hình nuôi tôm được áp dụngnhư lúa - tôm, rừng – tôm (năng suất đạt 400 kg/ha/năm), trong đó tôm càng xanh

có năng suất cao nhất Ngoài ra, trong vùng còn có tập quán nuôi cá bè, hoặc cá tratrong các ao đìa (nổi tiếng nhất là Châu Đốc) Vì chạy theo lợi nhuận, mà nhiềukhu rừng đước, rừng tràm đã bị chặt phá trên một diện rộng không theo qui trìnhquy phạm, không tuân thủ các qui luật sinh thái cơ bản Hậu quả với môi trường làrất nghiêm trọng; việc tăng diện tích nuôi tôm cũng đồng thời làm giảm diện tíchrừng ngập mặn Điều này cần được nghiên cứu kĩ để vừa phát triển bền vữngnguồn lợi hải sản, vừa bảo vệ môi trường sinh thái (năm 1995, diện tích rừng bịchặt phá lên tới 2.592 ha , riêng Cà Mau 2.392 ha)

Hình 9 Ngành thủy sản và lâm nghiệp

Lâm nghiệp Diện tích rừng trong thời gian qua có xu hướng suy giảm, mặc

dù ngành lâm nghiệp đã có nhiều cố gắng phục hồi lại vốn rừng trên đất phèn mặn,

mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển; phát động phong trào trồng cây phântán, nhưng do mùa khô kéo dài nên thường xảy ra nạn cháy rừng (năm 1995 diệntích rừng bị cháy là 2.072 ha, năm 2005 lại tăng lên 1399 ha và năm 2008 là 306,9

Trang 22

ha) Diện tích rừng trồng tập trung có xu hướng giảm qua các năm, năm 1995 là

39,5 ngàn ha, năm 1999 chỉ trồng được 17,2 ngàn ha và năm 2008 là 6,9 ngàn ha

Bảng 4 Diện tích rừng và sản lượng gỗ khai thác từ 1995 – 2008

Niên giám thống kê, NXB Thống kê năm 2009

Sản lượng gỗ khai thác 1995 là 520.700 m3, đến năm 2008 là 632.100 m3

(17,7% sản lượng gỗ cả nước), đây cũng là vùng khai thác gỗ lớn của cả nước, chỉđứng sau Đông Bắc (29,5% cả nước) và Duyên hải Nam Trung Bộ (18,8% sảnlượng gỗ cả nước)

b Công nghiệp

Công nghiệp được chú trọng phát triển, đi dần vào khai thác các thế mạnhcủa vùng về công nghiệp chế biến nông sản, bước đầu tập trung đầu tư phát huy lợithế về công nghiệp dầu khí, năng lượng, nhiệt điện và cơ khí

Giá trị sản xuất công nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng bình quângiai đoạn 2001-2010 là 18,8%/năm, năm 2012 giá trị sản xuất công nghiệp (giá cốđịnh 1994) đạt 157.665 tỷ đồng, tăng 15,13% so năm 2011 Các mặt hàng có sảnlượng tăng khá và góp phần giữ vững mức tăng trưởng chung của ngành là chếbiến thủy sản đông lạnh, công nghiệp giày, phân bón, xi măng Sản phẩm chế biếnthủy sản phát triển mạnh với hơn 60 chủng loại mặt hàng, cung cấp cho cả nướckhoảng 60% sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu, góp phần giải quyết việclàm cho khoảng 6 triệu lao động Một số ngành công nghiệp như năng lượng, hóachất, dược phẩm có bước phát triển khá

Đã hình thành các khu công nghiệp tập trung cấp vùng và quốc gia như nhưTrung tâm khí – điện – đạm Cà Mau, Trung tâm nhiệt điện Ô Môn (Cần Thơ), nhàmáy điện Duyên Hải 1 & 2 (Trà Vinh), Nhà máy nhiệt điện Long Phú (Sóc Trăng),đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn Toàn vùng hiện có 78.931 cơ sở kinh doanhhoạt động trong lĩnh vực công thương Đến nay, đã hình thành hệ thống 51 khucông nghiệp và khu chế xuất, thu hút 366 doanh nghiệp, tỷ lệ lấp đầy hơn 50%, tạoviệc làm khoảng 61.000 lao động

Trang 23

Trong công nghiệp, thì giá trị gia tăng hàng năm được tạo ra từ ngành chếbiến lương thực – thực phẩm chiếm > 60% Các ngành khác như công nghiệp sảnxuất vật liệu xây dựng, dệt, may, hóa chất cũng có sự tăng trưởng nhanh Trongkhi đó, các ngành truyền thống như chế biến gỗ, cơ khí tăng trưởng chậm hoặcgiảm sút công nghiệp dệt và may mặc tuy chiếm tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu côngnghiệp song đang có xu hướng tăng lên.

Là một vùng nông nghiệp, nên công nghiệp chế biến lương thực – thựcphẩm khá phát đạt, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong toàn bộ nền công nghiệp củavùng (> 60%) Tuy công nghiệp thực phẩm có giá trị lớn, song chỉ mới đưa vàochế biến 14 - 15% sản lượng (còn lại là sơ chế, chất lượng và hiệu quả hạn chế).Ngành quan trọng thứ 2 là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 12% giátrị gia tăng của công nghiệp, ngành này phát triển là do nhu cầu xây dựng ngàycàng tăng và có nguồn nguyên liệu tại chỗ (đá vôi, đất sét, cát)

Các ngành sử dụng nguồn nguyên liệu nhập chiếm gần 17% GDP côngnghiệp; trong số này, ngành công nghiệp hóa chất cơ bản phát triển khá do nhu cầucủa thị trường trong vùng lớn (thuốc tân dược, nhựa, bao bì PP ) Các ngành cònlại sản xuất không ổn định và có chiều hướng giảm sút, ngành công nghiệp sảnxuất thiết bị máy móc còn chiếm tỉ trọng thấp, mặc dù máy móc phục vụ nôngnghiệp có nhu cầu lớn Về phân bố, công nghiệp tập trung chủ yếu ở các đô thịlớn

c Dịch vụ

Thương mại, dịch vụ, du lịch có bước phát triển khá, đáp ứng nhu cầu sảnxuất, tiêu thụ và đời sống nhân dân Là một trong những ngành kinh tế phát triểnkhá nhanh Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng từ 43,5 ngàn tỷđồng năm 2001 lên 279 ngàn tỷ đồng năm 2010, tăng bình quân 20,8%/năm Tổngmức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ toàn vùng năm 2012 đạt 428.877 tỷđồng, tăng 17,2% so năm 2011 Toàn vùng hiện có 1.857 chợ; trong đó, có 1.797chợ hạng 3 (chiếm tỷ lệ 87,82%), 51 siêu thị, 09 trung tâm thương mại Bước đầuhình thành trung tâm thương mại cấp vùng ở Cần Thơ và các trung tâm cấp tỉnh.Các địa phương có đường biên giới với Campuchia đã khai thác lợi thế để pháttriển kinh tế biên mậu và các khu kinh tế cửa khẩu, các loại hình siêu thị miễnthuế, đã hình thành các khu kinh tế cửa khẩu ở Kiên Giang và Đồng Tháp

Về du lịch, các địa phương đã chú ý phát huy tiềm năng, thế mạnh, liên kết

chặt chẽ với thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong

Trang 24

việc khai thác, phát huy lợi thế sông nước, biển đảo Du lịch phát triển ngày càng

đa dạng và phong phú các loại hình du lịch sinh thái, sông nước miệt vườn; đầu tưtạo ra nhiều điểm du lịch mới Các điểm du lịch đã góp phần làm thay đổi nhanhchóng cơ cấu du lịch, dịch vụ trong vùng Ngoài ra, du lịch và dịch vụ du lịch ởcác địa phương ven biển, biên giới còn gắn với công tác quốc phòng, an ninh trênbiển, vùng biên giới

Cơ sở vật chất phục vụ du lịch được chú trọng đầu tư, nâng cấp, đặc biệt tạicác tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long Năm 2016,toàn vùng thu hút hơn 21,8 triệu lượt khách du lịch (trong đó có khoảng 2 triệulượt khách quốc tế), tăng 6% so năm 2011, doanh thu đạt 4.456 tỷ đồng

▪ Vùng có tiềm năng và đã hình thành các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia như:

- Điểm du lịch Cần Thơ mang sắc thái riêng của một Tây Đô, có vẻ đẹp bình

dị, nên thơ của làng chài, bến nước Nổi tiếng nhất là bến Ninh Kiều

- Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cà Mau là phòng thí nghiệm sinh động về các

hệ sinh thái rừng ngập mặn lớn Ở đây nổi tiếng với những sân chim, rừng đước,rừng tràm và những cánh đồng bát ngát Hai sân chim nổi tiếng là Vĩnh Thành

(Vĩnh Lợi) và Tân Khánh (Ngọc Hiển)

Hình 10 Điểm du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long

- Điểm du lịch Phú Quốc (Kiên Giang), đây là hòn đảo lớn nhất nước ta

(557 km2) Đảo được bao trùm bởi diện tích rừng rộng lớn Khí hậu tốt, tạo điềukiện cho cây cối phát triển, cùng với bãi biển đẹp và các tài nguyên khác có sứcthu hút khách du lịch

- Núi Sam (An Giang) là một thắng cảnh nổi tiếng Núi cao 250 m, có nhiều

di tích như chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang, lăng Thoại Ngọc

Hầu, Ngoài ra, còn có hàng loạt các điểm du lịch khác: Long An có Bảo tàng

Trang 25

Long An, sông Vàm Cỏ (Long An); chùa Vĩnh Trang, cù lao Thới Sơn, trại rắnĐồng Tâm, chợ nổi Cái Bè, cù lao Tân Phong (Tiền Giang) Vĩnh Long có cù laoHòa Bình Phước, khu du lịch Trường An Bến Tre có di tích đồng khởi Mỏ Cày,sân chim Ba Tri, làng cây cảnh Cái Mơn, cù lao Phụng Đồng Tháp có mộ cụ PhóBảng Nguyễn Sinh Sắc, vườn có Tháp Mười, vườn sếu Tam Nông, vườn cây cảnh

Sa Đéc Sóc Trăng có bảo tàng Khơ Me, chùa Dơi An Giang có khu di tích đồiTức Dụ, nhà lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, đình Châu Phú và Kiên Giang cóhòn phụ tử, đình Nguyễn Trung Trực, Thạch Động, lăng Mạc Cửu

▪ Từ các điểm du lịch trên có thể tạo nên một vài cụm du lịch có giá trị như:

- Cụm du lịch Cần Thơ và phụ cận: chủ yếu là tài nguyên du lịch nhân văn

với các di tích được xếp hạng ở Cần Thơ, các nhà bảo tàng, miệt vườn, cù lao HòaBình Phước, Cồn Ấu, Cồn Sơn, chợ nổi Phụng Hiệp, Phụng Điều

- Cụm du lịch Tiền Giang và phụ cận: với những tài nguyên du lịch tiêu biểu

của vùng là chùa Vĩnh Trang, cù lao Thới Sơn, Tân Phong, chợ nổi Cái Bè Ngoài

ra, còn có tràm chim Tam Nông, vườn chim Ba Tri, HST ngập nước Đồng ThápMười, trại rắn Đồng Tâm, Mộc Hóa

- Cụm du lịch Châu Đốc (An Giang)-Kiên Giang và phụ cận: với 2 điểm du

lịch nổi tiếng là khu di tích Núi Sam và Phú Quốc, ở đây có di tích của nền văn

hóa Óc Eo, những thắng cảnh đẹp ở Hà Tiên, hòn Phụ Tử (?)

- Cụm du lịch Năm Căn (Cà Mau) và phụ cận: tài nguyên du lịch chủ yếu là

HST rừng ngập mặn Năm Căn, rừng tràm U Minh và sân chim nổi tiếng

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng có nhiều cố gắng Hạ tầng giao thông có nhiều chuyển biến, gắn kết với thủy lợi Toàn vùng cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ, các đô thị được đầu tư, nâng cấp Hạ tầng giao thông, thủy lợi có bước phát triển, gắn kết giao thông liên vùng,

góp phần làm thay đổi nhanh diện mạo đô thị, nông thôn và vùng đồng bào dân tộcthiểu số, bước đầu đáp ứng nhu cầu đầu tư, phát triển và an sinh xã hội Hệ thốnggiao thông huyết mạch, nhiều cầu vượt sông lớn giảm ách tắc giao thông liên tỉnh,liên vùng Đến cuối năm 2012 đã hoàn thành việc nâng cấp, mở rộng tuyến Quốc

lộ 1A từ Mỹ Thuận - Cần Thơ, tuyến tránh thành phố Bạc Liêu, dự án thành phần

2 đường 2 cầu Cổ Chiên; tổng vốn đã bố trí là 1.817 tỷ đồng Triển khai đầu tư 34

dự án và tiểu dự án thuộc vốn trái phiếu Chính phủ với tổng vốn đã bố trí là 18.151

tỷ đồng Đối ứng vốn cho các dự án ODA (dự án đường hành lang ven biển phíaNam đoạn Rạch Giá - Cà Mau, các hạng mục bổ sung của dự án cầu Cần Thơ…)

Trang 26

với số tiền 2.341 tỷ đồng Nâng cấp tuyến đường tỉnh 931, 937 trên địa phận tỉnhHậu Giang và tỉnh lộ 42 trên địa phận tỉnh Sóc Trăng thành tuyến quốc lộ 61B nối

từ Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang) đến đường Quản lộ Phụng Hiệp - địa phận SócTrăng Khánh thành, đưa vào khai thác sân bay quốc tế Phú Quốc, cầu Đầm Cùng,hợp phần A dự án WB5 đoạn qua thành phố Trà Vinh và đoạn Long Vĩnh - Đại

An Ngoài ra, đã khởi công xây dựng cầu Năm Căn và dự kiến hoàn thành trongnăm 2014

Hệ thống thủy lợi và cụm, tuyến dân cư, nhà ở vùng ngập lũ được quan tâm đầu tư Đã huy động tổng nguồn vốn trên 4.600 tỷ đồng xây dựng các công trình

kiểm soát lũ, hoàn thành 35 công trình thủy lợi vừa và lớn, trong đó có 12 côngtrình phục vụ trên 2.000 ha đất nông nghiệp, 20 công trình kiểm soát lũ ở vùng Tứgiác Long xuyên và Đồng Tháp Mười, dự án chống ngập các thành phố và dự án ÔMôn-Xà No, Quản Lộ-Phụng Hiệp; hoàn thành 148 cống cấp 1,2; nạo vết hoànthành 2.000 km kênh cấp 1,2; đã xây dựng hơn 754 km đê sông và đê biển vànhiều công trình thủy lợi đã phát huy tác dụng, mở rộng diện tích khai hoang, tăng

vụ, hình thành những vùng sản xuất mới Một số dự án thủy lợi lớn thuộc vùng bánđảo Cà Mau, Nam Măng Thít có tác dụng quan trọng, gắn ngọt hóa với việc nuôitrồng thủy sản nước mặn, nước lợ Đã cơ bản hoàn thành giai đoạn I chương trìnhcụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ, hoàn thành đắp bờ bao 798 dự án khudân cư, đạt 100%; xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu đạt 96%.Đang tiếp tục triển khai giai đoạn 2, gồm 7 địa phương (thành phố Cần Thơ, ĐồngTháp, An Giang, Kiên Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang)

Xây dựng, phát triển đô thị được quan tâm đầu tư, Chính phủ đã ban hành

Qui hoạch chung xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2050, các địa phương trong vùng tập trung triển khai có hiệu quả

Đã hoàn thành việc nâng cấp thành phố Cần Thơ thành đô thị loại I, thành phố trựcthuộc Trung ương; thành lập mới 10 thành phố thuộc tỉnh, 4 thị xã Đến nay, 100%tỉnh lỵ trong vùng là thành phố Kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các thành phố, thị xã,thị trấn được phát triển khá, các công trình kè sông như kè sông Xà No (HậuGiang), Bến Tre, khu lấn biển Rạch giá làm đẹp đô thị

Giáo dục - đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế có nhiều tiến bộ Giáo dục-đào tạo và dạy nghề là lĩnh vực được

quan tâm đầu tư, góp phần phát triển dân trí, chất lượng nguồn nhân lực của vùng

Đã thành lập mới và mở rộng, nâng cấp nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học

Trang 27

chuyên nghiệp, các cơ sở đào tạo nghề, Đại học Cần Thơ trở thành trường trọngđiểm cấp vùng và quốc gia Mạng lưới trường, lớp mầm non, phổ thông phát triểnrộng khắp các địa bàn dân cư, phân bố ngày càng hợp lý hơn Toàn vùng có 12trường cao đẳng nghề (tăng 01 trường so năm 2011), 37 trường trung cấp nghề(tăng 04 trường), 124 trung tâm dạy nghề và 170 cơ sở dạy nghề khác; tổng sốgiáo viên dạy nghề là 5.046 người, trong đó giáo viên có trình độ sau đại họcchiếm 8,25%, trình độ đại học và cao đẳng chiếm 69,06% Tỷ lệ lao động qua đàotạo nghề của vùng năm 2012 đạt 28% Trong năm 2012 đã giải quyết việc làm cho394.178 người, giảm được 1,29% hộ nghèo so năm 2011, hiện còn 412.023 hộnghèo (chiếm tỷ lệ 10%) và 286.780 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ khoảng 7,04%.

Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt được những thành tựu

quan trọng Mạng lưới y tế trong vùng được tăng cường, cơ sở vật chất bệnh việntỉnh, huyện, trạm y tế xã được đầu tư nâng chất lượng khám, chữa bệnh cho nhândân Xây dựng mới bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ 700 giường, xây dựngmới bệnh viện đa khoa Hậu Giang 500 giường, nâng cấp nhiều bệnh viện tỉnh như:Trà Vinh, Sóc Trăng, Bến Tre, Kiên Giang, cơ bản hoàn thành nâng cấp bệnhviên đa khoa tuyến huyện Chủ trương xã hội hoá trong lĩnh vực y tế đã thu hútđông đảo sự tham gia của cộng đồng, hiện toàn vùng có trên 10 bệnh viện đa khoa

tư nhân hoạt động Công tác y tế dự phòng được chú trọng, phòng ngừa, kiềm chế

và dập tắt kịp thời các loại dịch bệnh xảy ra

Từ năm 2001 đến nay, việc triển khai thực hiện các chính sách dân tộc, cácchương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo trong vùng đồngbào dân tộc thiểu số đã mang lại những kết quả quan trọng Kết cấu hạ tầng kinh tế

- xã hội, xóa đói giảm nghèo được cải thiện rõ nét Ý thức tự lực, tự cường vượtqua đói nghèo trong đồng bào được nâng lên, nhiều hộ đã thoát nghèo vươn lên đủ

ăn, có hộ trở thành giàu có, nhiều nơi xuất hiện mô hình tập thể, cá nhân dân tộcthiểu số làm kinh tế giỏi Công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo được các cấp ủy,chính quyền quan tâm nhiều hơn Các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng đều được tôntrọng và tạo điều kiện thuận lợi, chính sách, pháp luật về tôn giáo từng bước đượchoàn thiện Hầu hết các tôn giáo trong vùng hoạt động đúng luật pháp; nhiều cơ sởthờ tự, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tích cực tham gia các hoạtđộng xã hội, từ thiện

1.5 Bộ khung lãnh thổ của vùng

1.5.1 Hệ thống đô thị.

Trang 28

Tp trựcthuộc tỉnh Quận Thị xã Huyện Phường Thị trấn Xã

Đồng bằng sông

Niên giám thống kê, NXB Thống kê năm 2016

Năm 2016, vùng có Cần Thơ (đô thị loại I – trực thuộc TW), 14 thành phốtrực thuộc tỉnh, 13 thị xã, 120 thị trấn Các Tp, thị xã của vùng là Tân An (LongAn), Cao Lãnh, Sa Đéc (Đồng Tháp), Tp Long Xuyên, Châu Đốc (An Giang), Tp

Mỹ Tho, Gò Công (Tiền Giang), Vĩnh Long (Vĩnh Long), Bến Tre (Bến Tre),Rạch Giá, Hà Tiên (Kiên Giang), Tp Cần Thơ, Vị Thanh (Hậu Giang), Trà Vinh,Sóc Trăng, Bạc Liêu, Tp Cà Mau Hệ thống đô thị phân bố tương đối đều trongvùng, trung bình cứ 414 km2/1 điểm đô thị Tuy nhiên, ở vùng ven S.Tiền vàS.Hậu bình quân 150 - 200km2/đô thị, trong khi ở vùng xa như Đồng Tháp Mười

và Tứ giác Long Xuyên mật độ đô thị lại rất thấp 1.000 km2/đô thị So với ĐBsông Hồng, mật độ thấp hơn 1,5 lần

Tỉ lệ dân thành thị (2016) là 25,2% Cao nhất là: Cần Thơ (51,90%), AnGiang (28,60%), Bạc Liêu (26,80%), Kiên Giang (26,00%), thấp nhất là Bến Tre(9,80%) Nhìn chung, vùng chưa có đô thị gọi là lớn, hầu hết là các đô thị nhỏ -quá nhỏ, chỉ có Tp Cần Thơ là lớn hơn cả Cơ cấu kinh tế của các loại đô thị nàychủ yếu là dịch vụ, rồi mới tới công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Hệ thống đôthị của vùng được hình thành và phát triển chủ yếu nhờ mạng lưới GTVT đườngthủy; Có một số đô thị ở bán đảo Cà Mau và Đồng Tháp Mười hiện tại nối với bênngoài chủ yếu bằng GT đường thủy Tại nhiều đô thị, các phố mặt sông đã hìnhthành từ lâu đời, tập trung buôn bán và dịch vụ ăn uống, các phố mặt sông vẫn lànét đặc trưng của kiến trúc qui hoạch các đô thị trong tương lai

1.5.2 Hệ thống giao thông vận tải

a Đường thủy Hệ thống giao thông đường thủy dày đặc Mật độ

0,68km/km2, cao hơn đáng kể so với Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ

Hệ thống kênh rạch chằng chịt Tổng chiều dài 4.592 km, bao gồm 197 consông và kênh (~88,4% cả vùng Nam Bộ), được phân ra 37 con sông (chiều dài1.706 km, 36% tổng chiều dài của vùng), 137 kênh (2.780 km, 55%), và 33 conrạch (466 km, 9%) Tổng chiều dài các con sông - kênh đào 2.392 km (trong đó, có1.690 km với độ sâu > 2 m; 456 km với độ sâu 1,2 - 2,0m; 246 km có độ sâu <

Trang 29

1,2m) Hệ thống kênh rạch tạo thành mạng lưới liên kết các tỉnh với nhau Từthành phố Hồ Chí Minh có thể đi đến các tỉnh trong vùng như: thành phố Hồ ChíMinh đi Cần Thơ, đi Long Xuyên (An Giang), đi Mộc Hóa (Long An), đi CàMau, đi Kiên Lương (Kiên Giang) Hai tuyến chính, quan trọng nhất là thành phố

Hồ Chí Minh đi Kiên Lương và đi Cà Mau

Hệ thống cảng nội địa trải rộng khắp nội địa với các cảng chính: Mỹ Tho(Tiền Giang), Cao Lãnh (Đồng Tháp), Trà Nóc (Cần Thơ), Long Xuyên (AnGiang), Kiên Lương (Kiên Giang) Khả năng thông qua các cảng là 5,0 - 50,0 vạntấn/năm, tiếp nhận được các phương tiện có trọng tải tàu <500 tấn, xà lan 750 tấn(trên Sông Tiền và sông Hậu có thể tiếp nhận tàu từ 1.000 - 3.000 tấn) Cần Thơđược công nhận là cảng quốc tế cho phép cập bến tàu có trọng tải 5.000 tấn

Ngoài ra, một số bến mới được hình thành gần đây Đó là: Xẻo Rô (trênsông Cái Lớn, Kiên Giang); Vị Thanh (trên sông Xà No, Cần Thơ); Thới Bình(trên sôngTrẹm); các bến của nhà máy xi măng Tân Hiệp; bến tổng kho xăng dầu,bến tổng kho vật tư nông nghiệp (kênh rạch Sỏi); bến tập kết đá xây dựng (kênhRạch Giá, Kiên Lương) Đây là những bến chủ yếu nằm trên 2 tuyến vận tảichính của đồng bằng

b Đường bộ

Tổng chiều dài 5.200 km, có 8 quốc lộ chính với chiều dài 850 km

- Quốc lộ 1A: đi qua vùng phải vượt qua 2 con sông lớn là sôngTiền tại MỹThuận và S.Hậu tại Cần Thơ Số lượng cầu là 64 với tổng chiều dài 3.641 m(không tính cầu Mỹ Thuận) Những cầu chính gồm: cầu Bến Lức, Tân An, AnHữu, Cái Răng, Mỹ Thuận và phà Cần Thơ

Quốc lộ 30: bắt đầu từ An Hữu qua Kiến Vân Cao Lãnh Thanh Bình Hồng Ngự và kết thúc ở xã Thương Tin, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp Dài 119,4

-km, đi dọc theo sông Tiền và Tây Nam của đồng bằng Trên quốc lộ này có 45 cầuvới tổng chiều dài 1.688,7 km

- Quốc lộ 50: được nâng cấp từ liên tỉnh lộ 50 cũ là tỉnh lộ 862 và 863 ởTiền Giang Quốc lộ 53: từ thị xã Vĩnh long đến thị xã Trà Vinh, dài 67,5 km

- Quốc lộ 54: dài 120 km từ phà Vàm Cống (Thanh Hưng, Đồng Tháp) dọctheo S.Hậu qua huyên Lai Vung - Châu Thành (Đồng Tháp) - Bình Minh - Trà Ôn(Vĩnh Long) - Cầu Kè - Tiểu Cầu - Trà Cú - Châu Thành - Trà Vinh, tuyến này có

59 cầu với tổng chiều dài 2.121 m

Trang 30

- Quốc lộ 60: từ Trung Lương (Tiền Giang) qua cầu Rạch Miễu đến BếnTre, qua phà Hàm Luông về Mỏ Cày rồi nối với liên tỉnh lộ 70 ở bên kia sông Cổ

Cò (Trà Vinh) Chiều dài 60 km, có 14 cầu với tổng chiều dài 648 m

- Quốc lộ 61 (96,1 km) từ ngã ba Cái Tắc qua Vị thanh (Cần Thơ), phà Cái

Tư (ranh giới Kiên Giang - Cần Thơ) gặp quốc lộ 80 Trên tuyến có 28 cầu và 44cống với chiều dài 856,56 m

- Quốc lộ 80: từ cầu Mỹ Thuận - Lai Vung (Đồng Tháp) - Thốt Nốt (CầnThơ) - qua các huyện Tân Hiệp - Châu Thành - Rạch Giá - Hòn Hòn Đất, kết thúc

ở Hà Tiên (Kiên Giang) quốc lộ 80 được nối với quốc lộ 17 đi Campuchia Chiềudài là 210,7 km, trên tuyến có 69 cầu (dài 2.067 m)

- Quốc lộ 91: từ Cần Thơ - Long Xuyên - Châu Thành - Tri Tôn - Châu Đốc(An Giang) Từ tỉnh lộ 48 (Châu Đốc) đến biên giới Campuchia Chiều dài củaQuốc lộ 91 là 140km, có 25 cầu (734,6m)

- Quốc lộ 91B: từ giao lộ với Quốc lộ 91- đến đường 3/2 thuộc Cần Thơ, dài12,4 km Tuyến đường 12: từ Rạch Sỏi (Kiên Giang) - qua các huyện Ngọc Hiển -Cái Nước - Thới Bình - Hồng Dân và kết thúc ở Năm Căn (Cà Mau) Chiều dài172,3 km Toàn tuyến có 41 cầu (4,2m/cầu) Ngoài ra, vùng còn có 2.499 kmđường liên tỉnh và huyện, chủ yếu là đường cấp phối

c Đường hàng không: Vùng có 3 sân bay đang khai thác là Trà Nóc (Cần

Thơ) và 2 sân bay của Kiên Giang là Phú Quốc và Rạch Giá)

1.6 Vấn đề sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên

1.6.1 Phương hướng sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên

So với Đồng bằng sông Hồng, thiên nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long cónhiều ưu thế hơn và đang được khai thác mạnh mẽ trong những năm gần đây

Trang 31

đồng bằng thành một khu vực kinh tế quan trọng của đất nước trên cơ sở phát triểnbền vững.

Nước ngọt là vấn đề quan trọng hàng đầu vào mùa khô ở Đồng bằng sôngCửu Long Một khó khăn đáng kể cho việc sử dụng hợp lí đất là việc đất bị nhiễmphèn, nhiễm mặn Do đó, cần phải có nước để thau chua, rửa mặn trong mùa khôkết hợp với việc tạo ra các giống lúa chịu phèn, chịu mặn Ở Tứ giác Long Xuyên,biện pháp hàng đầu để cải tạo đất là dùng nước ngọt từ sông Hậu đổ về rửa phènthông qua kênh Vĩnh Tế,…

- Cần phải duy trì và bảo vệ tài nguyên rừng Trong những năm gần đây,diện tích rừng bị giảm sút do nhu cầu tăng diện tích đất nông nghiệp thông qua cácchương trình di dân khai khẩn đất hoang hóa, phát triển nuôi tôm và cá do cháyrừng Là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo sự cân bằng sinh thái, rừng cần đượcbảo vệ và phát triển trong mọi dự án khai thác

- Việc sử dụng và cải tạo tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long không táchkhỏi hoạt động kinh tế của con người Điều đó phải đòi hỏi chuyển đổi cơ cấu kinh

tế, đẩy mạnh cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị cao, kết hợp với nuôi trồngthủy sản và phát triển công nghiệp chế biến

Trang 32

1.6.2 Những thách thức của đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với ba thách thức lớn do tác độngcủa biến đổi khí hậu, phát triển thiếu bền vững và thủy điện Mêkông

Đồng bằng sông Cửu Long có hai trụ cột kinh tế chính là nông nghiệp vàthủy sản, gồm thủy sản nuôi và thủy sản tự nhiên, nước ngọt, nước lợ và nướcmặn Tất cả những hợp phần kinh tế khác ở Đồng bằng sông Cửu Long như côngnghiệp, xây dựng và dịch vụ đều từ 2 trụ cột kinh tế này xây lên Hai trụ cột kinh

tế chính này lại dựa vào nền tảng chính là đất và nước Đất và nước của Đồng bằngsông Cửu Long phụ thuộc vào dòng chảy và quá trình vận chuyển phù sa sôngMêkông, nước mưa và sự tương tác với biển, thủy triều

Trong quá khứ, ở Đồng bằng sông Cửu Long không có từ “mùa lũ” mà chỉ

có từ “mùa nước nổi” để chỉ mùa nước dâng do nước từ phía thượng nguồn sôngMêkông đổ về, từ tháng 6 -7 đến tháng 12 hàng năm Lũ ở Đồng bằng sông CửuLong lên chậm và rút chậm “hiền hòa” hơn so với ở miền Trung và miền Bắc, do

có hệ thống điều hòa tự nhiên gồm 3 “túi nước” có khả năng hấp thu nước, điềuhòa dòng chảy: hồ Tonle Sap ở Campuchia, vùng Tứ giác Long Xuyên và vùngĐồng Tháp Mười Các khối nước khổng lồ được hấp thu, tạm trữ trong các vùngtrũng này điều hòa dòng chảy, giảm ngập cho phía hạ lưu trong mùa lũ và bổ sungdòng chảy vào mùa khô, giúp cân bằng mặn - ngọt cho vùng ven biển

Trang 33

Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí đặc biệt nhất trong toàn bộ lưu vựcMêkông vì tiếp giáp với biển Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của chế

độ bán nhật triều từ Biển Đông và Biển Tây, tạo nên chế độ thủy văn nội địa vàdòng chảy độc đáo Dòng chảy đảo chiều và mực nước thay đổi trong ngày gọi là

“nước ròng, nước lớn”; thay đổi 2 lần trong tháng theo âm lịch gọi là “nước rong,nước kém”; và hai mùa gọi là “mùa khô và mùa nước nổi”

Chế độ thủy triều độc đáo với nước ròng, nước lớn hàng ngày, nước rongnước kém hàng tháng, và mùa khô, mùa nước là vô cùng quan trọng cho sự hìnhthành và tồn tại của Đồng bằng sông Cửu Long Chế độ thủy văn này hình thànhsinh thái, văn hóa, lối sống và sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.Chế độ thủy triều cũng có tác dụng súc rửa, tự làm sạch cho đồng bằng

Về sinh thái và kinh tế, Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm một vùng nướcven bờ biển gọi là Mekong Plume

Trong khoảng 160 triệu tấn phù sa mịn của sông Mêkông, khoảng 100 triệutấn phù sa và 16.000 tấn dinh dưỡng bám vào phù sa được mang ra vùng nước nàyhàng năm, chưa tính lượng cát, sỏi Lượng phù sa và cát sỏi này có vai trò rất lớn

về địa mạo, giúp bồi lấn ra biển và duy trì bờ biển, tạo nên năng suất thủy sản venbiển, với lượng khai thác khoảng 500.000-726.000 tấn hàng năm

Tuy nhiên, do thiếu dữ liệu về mối tương quan giữa lượng phù sa và năngsuất thủy sản biển và hình thái địa mạo bờ biển, tầm quan trọng của vùng nước này

bị xem nhẹ trong những quy hoạch phát triển Đồng bằng sông Cửu Long Thôngthường, từ góc nhìn nông nghiệp, nước ngọt ở nội địa, đặc biệt từ góc nhìn ưu tiêncây lúa, nước ngọt chảy ra biển bị xem là phí Nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra,nước ngọt chảy ra biển là một quá trình tự nhiên, có vai trò lớn cho vùng ven biển

vì nó ảnh hưởng địa mạo, độ mặn, độ đục, và năng suất thủy sản Vì vậy, vùngnước ven biển này (Mekong Plume) cần được xem là một phần không thể tách rờitrong chiến lược phát triển Đồng bằng sông Cửu Long

1.7.1.Gia tăng ngập và hạn-mặn

Trang 34

Trong 20 năm qua, rất nhiều diện tích ở 2 túi nước Đồng Tháp Mười và Tứgiác Long Xuyên đã bị bao đê khép kín để canh tác lúa vụ ba

Trong 11 năm (2000-2012) diện tích lúa vụ 3 ở 4 tỉnh Kiên Giang, AnGiang, Đồng Tháp, Long An tăng 7 lần, từ 53.500 ha lên 403.500 ha, đặc biệt ở AnGiang và Đồng Tháp Tăng mạnh nhất năm 2005, chững lại vào 2006 - 2008, tănglại vào 2009-2012 Năm 2017, tổng diện tích lúa vụ ba trong mùa lũ trên toàn đồngbằng lên đến 810.000 ha

Những khối nước khổng lồ ngoài các ô đê bao khép kín này không được hấpthu vào các vùng đồng ngập lũ đã gây gia tăng ngập ở các vùng hạ lưu và chảy hết

ra biển trong mùa lũ Đến mùa khô, hai vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng ThápMười không có nước để bổ sung cho dòng chính đẩy mặn ra, làm gia tăng xâmnhập mặn vùng ven biển

Theo Trung tâm quản lý môi trường quốc tế (ICEM), sự tăng diện tích ô đêbao khép kín riêng ở vùng Tứ giác Long Xuyên đã làm giảm khả năng hấp thu lũcủa vùng này từ 9,2 tỉ mét khối năm 2000 xuống còn 4,5 tỉ mét khối năm 2011.Lượng nước bị choáng chỗ đã làm tăng ngập ở Thành phố Cần Thơ năm 2011thêm 4cm Đê bao khép kín vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đã làmtăng mực nước ở Cần Thơ 5cm,ở Mỹ Thuận 3cm

Trang 35

Canh tác lúa ba vụ trong đê bao khép kín cũng làm cạn kiệt nguồn thủy sản

tự nhiên, là nguồn dinh dưỡng quan trọng của người dân nông thôn, và nguồn thunhập cho những người nghèo không đất ở nông thôn

Đê bao khép kín cũng ngăn không cho nước lũ vào đồng Kinh nghiệm chothấy sau khoảng 20-25 năm, đất đai sẽ cạn kiệt chất dinh dưỡng và chi phí canh táctăng cao Một khảo sát của IUCN năm 2014 tại Đồng Tháp cho thấy với một hộgia đình 5 người canh tác lúa ba vụ, nếu diện tích đất dưới 1 ha thì thu nhập không

đủ sinh sống và buộc phải di cư đi nơi khác tìm việc làm Một nghiên cứu kinh tế

đã cho thấy canh tác lúa ba vụ liên tục trong 15 năm trên diện tích 1 ha, nếu cộng

cả chi phí đắp, duy tu, bảo dưỡng đê và các chi phí khác, xã hội sẽ bị lỗ 47,8 triệuđồng Hay nói cách khác, càng canh tác lúa ba vụ,sẽ càng nghèo thêm

1.7.2 Khai thác nước ngầm, ô nhiễm nước mặt, sụt lún đất

Báo cáo của Đại học Utrectch, Hà Lan cho biết sự sụt lún liên quan đến khaithác nước ngầm đã tăng dần Trong 25 năm (1991-2016), Đồng bằng sông Cửu Long đã sụt lún trung bình 18cm do khai thác nước ngầm Tốc độ sụt lún trung bình hiện nay do khai thác nước ngầm là 1,1cm/năm, có nơi sụt lún 2,5cm/năm, cao hơn 10 lần so với tốc độ nước biển dâng

Trong 25 năm qua, những vùng lớn của Đồng bằng sông Cửu Long đã bị hạmực nước ngầm hơn 5m Tầng nước càng sâu càng sụt giảm nhiều và những vùng

Trang 36

sụt giảm mạnh là ở xung quanh các đô thị lớn, các khu công nghiệp có khai thácnước ngầm nhiều như Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Tân An TPHCM có nhữngvùng sụt giảm hình nón đối với tất cả các tầng nước, với mực nước ngầm giảm hơn20m, có nơi hơn 40m Báo cáo cũng dự báo rằng với xu hướng nhu cầu nước ngầmngày càng tăng ở Đồng bằng sông Cửu Long, tốc độ sụt lún sẽ càng gia tăng trongtương lai gần.

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sự phụ thuộc vào nước ngầm Đối vớivùng ven biển, nước ngọt cho sinh hoạt và thủy sản thâm canh chủ yếu dựa duynhất vào nước ngầm Đối với vùng nội địa, trên phần lớn Đồng bằng sông CửuLong, kể cả ở vùng nông thôn nhiều sông rạch, nguồn nước cho sinh hoạt cũng chủyếu là nước ngầm do nguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng từ nhiều nguồngồm nước thải sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản và quan trọng nhất là nước thải từnông nghiệp canh tác thâm canh ba vụ lúa một năm chứa nhiều dư lượng phânbón, nông dược

Việc làm này dẫn tới sự phụ thuộc vào hóa chất nông nghiệp vì đê bao ngăncản phù sa vào đồng ruộng, làm đất đai bạc màu, chi phí canh tác tăng Ước tínhmỗi năm Đồng bằng sông Cửu Long tiêu thụ 1,5-2 triệu tấn phân bón và 100.000tấn nông dược, chưa tính lượng hóa chất sử dụng cho thủy sản và vườn cây ăn trái,tổng cộng 700.000 ha

Bên cạnh đó, khoảng 100 triệu mét khối nước thải sinh hoạt, 600.000 métkhối chất thải rắn không xử lý đã được xả thẳng ra môi trường nước Nhiều nhàmáy công nghiệp cũng xả thẳng nước thải và chất thải rắn ra sông ngòi, gây ônhiễm nguồn nước nghiêm trọng

Như vậy, vấn đề sụt lún của Đồng bằng sông Cửu Long đáng lo ngại hơnnhiều so với nước biển dâng (trung bình chỉ khoảng 3mm/năm) Để cứu Đồngbằng sông Cửu Long khỏi bị chìm nhanh, chỉ có cách duy nhất là phải giảm khaithác nước ngầm Đối với vùng ven biển có thể áp dụng các công nghệ lọc nướcbiển như màng Nano và RO Đối với vùng nội địa, cần phải khôi phục chất lượngnước mặt bằng cách giảm ô nhiễm từ hai nguồn lớn là công nghiệp và nông nghiệpthâm canh Cần thay đổi chiến lược nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long sanghướng nông nghiệp sạch, giảm thâm canh, chú trọng chất lượng và đầu tư vàochuỗi giá trị nông sản Công nghiệp cho Đồng bằng sông Cửu Long nên theohướng công nghiệp chế biến, hỗ trợ cho nông nghiệp, áp dụng công nghệ hiện đại,giảm ô nhiễm

Trang 37

1.7.3 Sạt lở bờ sông, bờ biển do thủy điện và khai thác cát

Đồng bằng sông Cửu Long do quá trình bồi đắp của phù sa, cát sỏi tạo nêntrong quá trình “kiến tạo đồng bằng” Trong quá trình đó, sạt lở và bồi đắp là mộtquá trình tự nhiên

Tuy nhiên, trong quá khứ (trước năm 1992 khi các đập dòng chính sôngMêkông bắt đầu được xây dựng ở Trung Quốc), trong quá trình kiến tạo đồngbằng, tổng lượng bồi đắp của Đồng bằng sông Cửu Long lớn hơn tổng lượng sạt

lở Trong quá khứ không có hiện tượng sạt lở trên diện rộng và trung bình trong6.000 năm qua, đồng bằng được mở rộng về phía đông với tốc độ 26m/năm và vềhướng mũi Cà Mau với tốc độ 16m/năm, tức là khuynh hướng bồi luôn trội hơnkhuynh hướng lở

Trong 25 năm vừa qua, khuynh hướng sạt lở có khuynh hướng trội hơnkhuynh hướng bồi đắp, nhất là trong 10 năm và 5 năm gần đây nhất, sạt lở cànggia tăng Hiện nay, hơn 50% tổng chiều dài bờ biển của Đồng bằng sông CửuLong đang bị sạt lở dữ dội, có nơi bờ biển thụt lùi đến hơn 50m, và trung bình mỗinăm mất khoảng 500 ha đất ven biển Sạt lở bờ sông cũng đang diễn ra dữ dội trêndiện rộng Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tổng chiều dài sạt lở bờ sông, bờbiển Đồng bằng sông Cửu Long là 891km

Trang 38

Có 2 nguyên nhân chính có biến động đáng kể từ sau 1992 làm tăng sạt lở làtải lượng phù sa mịn và lượng cát bị mất đi do khai thác cát trên sông Mêkông Sốliệu của MRC cho biết, so giữa 1992 và năm 2014, tải lượng phù sa mịn sôngMêkông đã giảm 50%, từ 160 triệu tấn/năm còn 85 triệu tấn/năm Số liệu phù sanói trên chưa bao gồm thành phần cát, sỏi di chuyển ở đáy sông.

Trong 10 năm (1998-2008), cát trên sông Tiền và sông Hậu đã bị khai thácrất nhiều Báo cáo của giáo sư Bravard (Đại học Lyon) và tiến sĩ Goichot (WWF)cho biết, từ 1998 đến 2008 sông Tiền đã mất khoảng 90 triệu tấn vật liệu đáy sông,sông Hậu mất 110 triệu tấn Tốc độ khai thác hàng năm khoảng 27 triệu mét khối(57 triệu tấn) trong khoảng 2008-2012

Dự báo sau khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất, tải lượng phù sa mịn

sẽ giảm 50% một lần nữa, còn 42 triệu tấn, tức ¼ lượng cũ trước năm 1992 và100% lượng cát sỏi di chuyển ở đáy sông sẽ hoàn toàn bị các đập giữ lại Khi đó,sạt lở sẽ diễn ra dữ dội hơn, khó có biện pháp tại chỗ nào ở Đồng bằng sông CửuLong, công trình hay phi công trình, có thể cưỡng lại được khuynh hướng này

Các hố xoáy tự nhiên hoàn toàn không phải là nguyên nhân gây sạt lở, vì các

hố xoáy là một phần tự nhiên của hệ thống sông Mêkông Trên toàn sông Mêkông

có đến gần 500 hố, có hố sâu đến 90,5m, hố dài nhất đến 17,5km Ở Đồng bằngsông Cửu Long có 22 hố tự nhiên đã được khảo sát Sự thiếu hụt cát mới là nguyênnhân chính làm các hố sâu dịch chuyển và mở rộng

1.7.4 Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, El Nino, La Nina

Biến đổi khí hậu đang diễn ra, ảnh hưởng mọi mặt đời sống và sản xuất ởĐồng bằng sông Cửu Long với các biểu hiện như tăng nhiệt độ, nắng nóng, mưatrái mùa, tăng tần suất các sự kiện cực đoan Về nước biển dâng ở Đồng bằng sôngCửu Long, kịch bản 2016 về nước biển dâng của Bộ TN&MT, dự báo đến cuối thế

kỷ 21 là 53cm, và 55 cm cho vùng Biển Đông và Biển Tây

Từ sau trận lũ lớn năm 2011, nước lũ về Đồng bằng sông Cửu Long thường

là lũ trung bình và thấp Đỉnh điểm là lũ thấp cực đoan năm 2015 dẫn đến tìnhtrạng hạn mặn mùa khô 2016 Năm 2016 lũ có về, nhưng vẫn thấp hơn đỉnh trungbình nhiều năm, nên gây ra cảm nhận rằng từ nay Đồng bằng sông Cửu Longkhông còn lũ do các đập thủy điện chặn dòng

Trước tiên nên xét nguyên nhân gây ra lũ thấp Đồng bằng sông Cửu Longphụ thuộc lượng nước Mêkông, tổng dòng chảy trung bình 475 tỉ mét khối mỗinăm, trong đó phần Trung Quốc đóng góp 16%, Myanmar 2%, còn lại 82% từ biên

Trang 39

giới Lào-Trung Quốc trở xuống, trong đó mưa ở Lào, đông bắc Thái Lan, vàCampuchia quan trọng nhất Mưa tại chỗ ở Đồng bằng sông Cửu Long khoảng1,400-2.000mm/năm đóng góp 11%.

Về thủy điện, các đập Trung Quốc và các đập chi lưu là các đập có hồ chứalớn, trữ nước mùa lũ, xả ra phát điện trong mùa lũ và mùa khô Còn 11 đập dự kiếntrên dòng chính ở Lào và Campuchia vận hành theo ngày, tích nước khoảng 16giờ, xả ra khoảng 8 giờ

Trong những năm bình thường, các đập ở Trung Quốc không có khả năngnhiều trong việc kiểm soát nguồn nước do phần đóng góp ít và vì các đập cũngphải xả ra để phát điện Trong những năm khô hạn, các đập này gia tăng trữ nước

và làm tồi tệ thêm tình hình Năm ngoái, một El Nino cực đoan làm mưa ít kỷ lụctrên toàn lưu vực, dẫn đến mực nước mùa lũ thấp kỷ lục, mặn xâm nhập gay gắt ởĐồng bằng sông Cửu Long Vậy, nguyên nhân ban đầu của hạn - mặn Đồng bằngsông Cửu Long là El Nino; thủy điện là tác nhân thứ hai gây tồi tệ thêm chứ khôngphải là nguyên nhân ban đầu

El Nino là hiện tượng xảy ra theo chu kỳ 2-7 năm một lần, và có những lầncực đoan dẫn đến khô hạn Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các sự kiện cực đoanđược dự báo sẽ diễn ra thường xuyên hơn; ví dụ từ 100 năm một lần xuống còn 20-

25 năm một lần, nhưng dù sao cũng không phải là tình hình chung cho tất cả cácnăm Ngược với El Nino là La Nina có thể dẫn đến mưa lũ nhiều, theo quy luật bùtrừ, vì vậy đang khi hạn mặn do El Nino phải luôn luôn dè chừng La Nina sau đó

Còn 11 đập ở hạ lưu vực, tới nay có 3 đập đã khởi công nhưng chưa hoàntất, nên chưa phải là nguyên nhân Sau này khi hoàn tất, trong những năm bìnhthường các đập này không ảnh hưởng lớn đến mực nước Đồng bằng sông CửuLong, nhưng những năm khô hạn mỗi đập có khả năng giữ nước từ 1,5 đến 18ngày, làm nước về chậm cả tháng khi đi qua chuỗi đập Khi đó, tình hình sẽnghiêm trọng

1.7.5 Tác động của thủy điện Mêkông

Trang 40

Nằm ở phía cuối của lưu vực

Mêkông, Đồng bằng sông Cửu Long

chịu tác động rất lớn của sự phát

triển thủy điện ở lưu vực Mêkông

Giảm phù sa mịn Hiện tượng

này gây bạc màu đất, ảnh hưởng

nông nghiệp; gây ra hiện tượng

“nước đói phù sa” dẫn đến sạt lở bờ

sông, bờ biển; giảm lượng dinh

dưỡng mang ra biển, ảnh hưởng

năng suất thủy sản ven biển trong

vùng Mekong Plume Thiếu phù sa

trong vùng nước biển ven bờ, giảm

bồi đắp và gia tăng sạt lở bờ biển,

nhất là đoạn bờ biển bùn phía Biển

Đông từ Sóc Trăng đến mũi Cà Mau và phía Biển Tây từ mũi Cà Mau đến HàTiên Thiếu dinh dưỡng cho hệ sinh thái thủy sinh, ảnh hưởng đến năng suất thủysản nước ngọt

Theo Ủy hội Mêkông quốc tế, so giữa 1992 và 2014, tải lượng phù sa mịnsông Mêkông đã giảm 50%, từ 160 triệu tấn/năm còn 85 triệu tấn/năm Số liệu phù

sa nói trên chưa bao gồm thành phần cát, sỏi di chuyển ở đáy sông, ước lượngkhoảng 30 triệu tấn/năm Dự báo sau khi 11 đập ở hạ lưu vực xây dựng xong,lượng phù sa mịn còn lại sẽ bị giảm 50% một lần nữa xuống còn 42 triệu tấn/năm

Chặn toàn bộ cát, sỏi về Đồng bằng sông Cửu Long Hiện nay toàn bộ cát

sỏi từ phía thượng lưu vực đã bị chặn Sau khi 11 đập ở hạ lưu vực hoàn tất, 100%cát, sỏi sẽ bị chặn tiếp Khi đó sạt lở sẽ diễn ra dữ dội đối với bờ sông Tiền, sôngHậu và bờ biển, nhất là đoạn bờ biển cát dài 250km ở vùng cửa sông Cửu Long từTiền Giang qua Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng đến Bạc Liêu

Mất 100% cá trắng Khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất, 100%

lượng cá trắng, tức các loài cá phải di cư ngược dòng hàng năm để sinh sản, sẽhoàn toàn biến mất Sự tổn thất cá trắng sẽ ảnh hưởng lớn đến dinh dưỡng và thunhập của người dân Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là người nghèo nông thôn vàảnh hưởng đến các loài ăn cá và tác động dây chuyền đến toàn bộ hệ sinh tháiĐồng bằng sông Cửu Long

Ngày đăng: 18/08/2020, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w